Hồ Tuấn Hùng – Tìm Hiểu Cuộc Đời Hồ Chí Minh

tim-hieu-cuoc-doi-ho-chi-minh

Đã xem 636 lần

Chân thành cảm ơn tác giả hoặc quý vị nào đó đã đăng bài viết này lên Quán Văn.

[ Thành viên mới xin ĐĂNG KÝ ]
[ Thành viên ĐĂNG NHẬP ] để đăng bài
(Quý vị sẽ nhìn thấy cách chỉ dẫn đăng bài.)

Máy chiếu VPL-DX240 XGA

Chuyên phân phối MÁY CHỦ DELL POWEREDGE T30 E3-1225 V5

Phân phối thiết bị mạng Cisco FULL mã

Máy in hóa đơn, máy in bill PRP-085 Giá hot

NỆM CAO SU KIM CƯƠNG TỔNG HỢP KHUYẾN MÃI TẶNG GỐI

Thuốc diệt GIÁN thần kỳ

Nhà Hàng SÀI GÒN PHỞ TOMBALL, TX CẦN NGƯỜI

Cần Sang Nhà Hàng Phở Vùng TOMBALL, TX

Bán xe Toyota Camry 2004. 2.4 mới cứng. Hệ thống máy móc tân tiến cùng dàn video từ nước ngoài

Cần bán 4 lô đất khu du lịch Cam Ranh và Diên An – Khánh Hoà

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

23 Comments

    • Cái này thì Ba Đô nói đúng, Hồ Tuấn Hùng tưởng là HCM sang nên bắt quàng làm họ mà thôi.

  1. HỒ CHÍ MINH CÓ PHẢI LÀ HỒ TẬP CHƯƠNG?
    Nghe đến luận điểm này người Việt ai cũng bịt mũi cười thầm, Người Trung Hoa thật là có truyền thống giỏi tưởng tượng, Hồ Tuấn Hùng sinh năm 1949, người Đài Loan,là một kẻ hậu sinh, ông này cũng bị nhiễm nặng truyền thống này. Ngày xưa Ngô Thừa Ân viết Tây Du Ký, xây dựng nhân vật Tôn Ngộ Không,có 72 phép thần thông. Vì muốn ăn thịt Đường Tăng các con yêu tinh đều muốn biến mình thành Tôn Ngộ Không để lừa Đường Tăng, chúng tinh vi đến nỗi kính chiếu yêu của Ngọc Hoàng cũng khó lòng phát hiện. Sau này bắt chước Ngô Thừa Ân, các nhà làm phim Đài Loan dựng phim dài tập ” Bao Thiên Thanh” khai thác và hư cấu cuộc đời của ông qua các vụ án như phim ” Trạng nguyên giả, trạng nguyên thật”, “Thái tử giả thái tử thật”… nghĩa là toàn những câu chuyện “bịa” về các nhân vật cao sang trong triều đình có quyền quyết định vận mệnh thiên hạ?!!
    Hồ Tuấn Hùng đưa ra việc chủ quản bộ phận người Vn là Vera Vaxilieva 1 phụ nữ Nga đã dành 5 năm giúp Hồ Tập Chương từ Nguyễn Ái Quốc(1890-1933) thành HCM(1933-1969). Bà Vaxieva là người Nga chưa từng đến Vn làm sao mà có thể hướng dẫn Hồ Tập Chương am hiểu văn hóa VN , nhất là ngữ pháp tiếng việt vốn như người ta ví “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp VN”. Làm sao mà Hồ Tập Chương biết được câu ” Nhút Thanh Chương, Tương Nam đàn”, rồi thuộc cả truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm.
    Hồ Tuấn Hùng kể, NAQ chết xong, Hồ Tập Chương gặp Vaillant Cuoturie tại THượng Hải.Và không nói rõ được chóp bu TRung cộng là ai, Mao hay Chu Ân Lại góp phần HCM giả.Khẳng định NAQ chết ở Mát cơ va thì mồ mả ở đâu?
    NHỮNG NGƯỜI CỘNG TÁC VỚI HCM ĐÂU RỒI.
    Luật sư Loseby có công cứu HCM ở Hương Cảng, sau này ông được HCM tiếp đón tại Hà Nọi,lễ nào ông lại nhầm NAQ, với HTC?
    Hồ Tùng Mậu (1896-1951) là một nhà hoạt động cách mạng và chính khách Việt Nam. Ông từng đảng viên của cả Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam, thành viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Thanh tra Ban Thanh tra Chính phủ.Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu, tiếp xúc với một số thành viên của Tâm Tâm xã, kết nạp các thành viên này vào tổ chức Cộng sản đoàn. Trong số các thành viên này có Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn.Ngày 6 tháng 6 năm 1931, nhận được tin Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Anh bắt tại Hương Cảng, ông cùng Trương Vân Lĩnh liên hệ với Hội Quốc tế Cứu tế Đỏ nhờ can thiệp và vận động luật sư Francis Henry Loseby.Ngày 23 tháng 7 năm 1951, ông hy sinh trên đường đi vào Liên khu IV công tác, do bị máy bay Pháp bắn trúng tại Phố Còng, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.
    Cùng hoạt động với HCM có Trần Văn Cung sinh ngày 5 tháng 5 năm 1906 tại làng Kim Khê Trung, tổng Kim Nguyên (nay là xã Nghi Hoa), huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Năm 1925/1926, vào học tại trường Quốc học Vinh, Trần Văn Cung sớm trở thành hội viên Hội Hưng Nam. Lúc này ở Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc thành lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và cho người về nước tuyển lựa những thanh niên yêu nước sang Quảng Châu đào tạo, trong đó có Trần Văn Cung. Trở về nước, Trần Văn Cung gia nhập Kỳ bộ VNCMTN Bắc kỳ.Sau này , Hồ Tùng Mậu,Trần Văn Cung cùng công tác với HCM ở Hà Nội chẳng nhẽ không nhận ra ông này là HTC.
    HCM có rất nhiều người không ưa đường lối của ông,nếu đúng là HTC đóng thế NAQ thì sẽ bị lật tẩy ngay.Không riêng gì những người đồng chí của HCM mà cả những người đối lập đều không chấp nhận HCM là người Đài Loan, một kẻ mạo danh NAQ.
    Cho đến nay chưa có một tài liệu chính thức nào của QTCS, hay một đồng chí nào của HCM nói rằng NAQ đã được HTC đóng thế.
    Câu chuyện của Hồ Tuấn Hùng lố đến nỗi, Vũ Thư Hiên, Bùi Tín là những kẻ chống đối cs cũng không dám thừa nhận.
    Xin lưu ý các bạn VN, để tránh bị dư luận ném đá, Hồ Tuấn Hùng đáng nhẽ lấy tên sách là “Tiểu sử HCM”, nhưng anh này láu cá chỉ dám đặt tên sách là “HCM sinh bình khảo” .Theo nghĩa tiếng Việt ” bình” là bàn, bình luận, ” còn ‘khảo ” khảo sát, khảo cứu” . Nghía là anh ta chỉ dám lấy danh nghĩa nhà khoa học để bàn luận và khảo cứu thôi. Thế mà mấy chú phản động người Việt tưởng bở vớ được tài liệu này coi như vàng để tìm cách bôi xấu NAQ – HCM một người con yêu quý của dân tộc. Làm như vậy , không hiểu rằng cái anh Hồ Tuấn Hùng kia đang cười khẩy vào lũ người dốt nát.

  2. CÁC TÀI LIỆU “NGUỒN GỐC ĐCS VN”, “BIÊN KHẢO VỂ NGUYỄN TẤT THÀNH”,SÁCH “HCM SINH BÌNH KHẢO” – SỰ SAO CHÉP VỤNG VỀ VÀ LỐ BỊCH.
    Ngày cuối tuần Ba Đô tôi lên mạng xem tin tức, dành thời gian hàng tiếng đồng hồ để đọc các tài liệu này của Bùi Anh Trinh và mấy anh chống cộng xem họ nói gì về Vn.Cuối cùng mới nhận ra rằng, bài viết có tên “NGUỒN GỐC ĐCS VN”, “BIÊN KHẢO VỂ NGUYỄN TẤT THÀNH”,thực ra chỉ là một và biên cải thêm một chút cho ra vẻ “nghiên cứu”, chỉ có điều tài liệu này ra vẻ không dám trâng tráo bảo rằng HCM là Hồ Tập Chương đóng thế, một tác phẩm giả tưởng “HCM SINH BÌNH KHẢO” của một anh Ba Tầu ở tận đảo Đài Bắc.
    Hai cuốn “NGUỒN GỐC ĐCS VN”, “BIÊN KHẢO VỂ NGUYỄN TẤT THÀNH” này nói lên điều gì? Nội dung quanh đi quẩn lại vẫn cứ là ĐCS VN chỉ là con rối của QTCS, bị tổ chức này khống chế và lúng đoạn,lịch sử ĐCSVN là các cuộc thanh trừng đẫm máu,các lãnh tụ CSVN từ Trần Phú, HCM ,Trường Chinh ,Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp …luôn hằm hè và tàn hại lẫn nhau vì chức vụ.
    Ai cũng biết đoàn kết là sức mạnh,bất cứ một tổ chức nào mất đoàn kết thì tự nó sẽ bị tiêu vong.Bình NGô Đại Cáo của Nguyễn Trãi luôn ca ngợi sức mạnh đoàn kết của dân tộc dưới ngọn cờ của Le Lợi để chống lại quân Minh:” Nhân dân 4 cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới, tướng sỹ một lòng phụ tử hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh, dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.”Đọc lời này của NGuyễn Trãi, người ta thấy bóng dáng của quân đội nhân dân VN thời đại HCM.
    HCM là linh hồn của các cuộc kháng chiến dành độc lập cho Vn, đoàn kết quanh ông là tập thể Bộ Chính Trị và BCH Trung ương cùng với toàn thể nhân dân, trên dưới một lòng. HCM nói” Đoàn kết, đoàn Kết đại đoàn kết-Thành công thành công đại thành công.” Nếu quả thực ĐCS VN mất đoàn kết và dè chừng nhau như người ta bịa chuyện, thì tự họ đã tan rã, chưa cần đến quân Pháp,Mỹ mang vũ khí vào VN làm gì.
    Tất nhiên, trên con đường cách mạng, không thiếu kẻ bội phản,những kẻ đó hoặc bị tiêu diệt, hoặc tự loại mình ra khỏi đội ngũ, đó là chuyện bình thường của một quá trình dựng nước của bất cứ ai.
    Bảo rằng HCM bị các cấp dưới như Lê Duẩn Lê Đức Thọ coi thường đúng hay sai? Tôi thấy các báo chí Cs , diễn đàn công khai, Lê Duẩn ca ngợi HCM là ” người anh hùng dân tộc vĩ đại”, Tr Chinh ca ngợi là “lãnh tụ ví đại”, Lê Đức Thọ, Võ Ng Giáp… đều có bài viết hoặc lời phát biểu rất tôn trọng HCM. Những người làm chính trị không thể sống tráo trở hai mặt, họ sẽ mất uy tín trước cấp dưới.
    Tại sao chính quyền VNCH được mấy tay bồi bút khen ” tốt” thế mà họ vẫn bị sụp đổ , dù Mỹ tung vào MIền nam tới ngàn tỷ đô? vì sao chí sỹ Ngô Đình Diệm, cố vấn Ngô Đình Nhu thông thái, Ngô đình cẩn quyết đoán như thế là lại bị các đàn em “thịt ” không thương tiếc, đến cơ hội sống lưu vong cũng không có. Chính là chính phủ VNCH bị Mỹ chi phối và lũng đoạn.Sau khi anh em Diệm bị thủ tiêu năm 1963 , Trong thời gian 20 tháng sau cuộc đảo chính 1963, miền Nam phải chứng kiến hơn 10 cuộc khủng hoảng chính trị (chỉnh lý 1964 của tướng Nguyễn Khánh; thành lập Tam đầu chế; phong trào chống Hiến chương Vũng Tàu; chính phủ dân sự Trần Văn Hương lên rồi đổ; chính phủ dân sự Phan Huy Quát lên rồi đổ; đảo chính hụt ngày 13 tháng 9, 1964 của tướng Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát; đảo chính hụt ngày 20 tháng 2, 1965 của đại tá Phạm Ngọc Thảo). Phe quân đội lần lượt hạ bệ lẫn nhau cùng những chính phủ dân sự được dựng lên rồi phải rút lui. Cùng khi đó về mặt xã hội, các khối Phật giáo và Công giáo nhiều lần xuống đường biểu tình làm áp lực. Về mặt pháp lý bản Hiến pháp năm 1956 bị vô hiệu hóa. Thay vào đó là một loạt hiến chương có tính chất tạm thời như:Hiến chương 4 tháng 11 năm 1963. Hiến chương 7 tháng 2 năm 1964. Hiến chương 16 tháng 8 năm 1964 (thường gọi là Hiến chương Vũng Tàu). Hiến chương 20 tháng 10 năm 1964.Mặc dù VNCH có thêm hàng chục vạn lính Mỹ và các đồng minh tham chiến chống lại quân giải phóng mà họ vẫn thất bại trước quân giải phóng vũ khí kém hơn , quân số kém hơn, vì quân giải phóng có lãnh tụ HCM sáng suốt và các tướng lĩnh tài năng và đức độ.

    • Giáo sư Nguyễn Văn Thạc trả lời cho Ba Đô :
      – Các tài liệu biên khảo về Nguyễn Tất Thành hay băng nhóm Nguyễn Tất Thành có rất nhều, kể cả một rừng tài liệu của tuyên giáo CSVN. Nhưng tại sao ngày nay người ta vẫn ùa vào xem các tài liệu mới được giải mã ? Bởi vì đó là những bằng chứng thật không thể chồi cãi.
      – Tài liệu Biên Khảo về Hồ Chí Minh của Bùi Anh Trinh không đưa ra ý kiến riêng của ông ta, mà đưa ra những nhận xét của sử gia quốc tế, so lại với chính hồi ký của Nguyễn Tất Thành và những người thân cận của ông ta. Thí dụ như Vũ Thư Hiên là người từng ngủ chung giường với HCM trong những ngày tháng 8 năm 1945 nhưng ông ta chứng minh không phải bằng ý kiến riêng của mình, mà bằng nhận xét của cha mình, Bí thư của HCM, tức là người thân cận nhất. Dĩ nhiên là người đọc tin Vũ Thư Hiên hơn là tin tuyên giáo CSVN.
      – Sức mạnh của toàn dân là đoàn kết, nhưng đoàn kết cho mục đích gì ? Nếu là đoàn kết cho chống nước và giữ nước thì không cần có HCM người ta vẫn đoàn kết như thường. Trong khi đó HCM đối xử ra sao đối với nhựng đảng phái khác, kể cả các tôn giáo ? Ông ta thịt hết !!! Vì sao ông ta thịt hết ? Bởi vì Mác-Lênin đã dạy rằng phải thanh toán hết những đảng phái nào không phải là ĐCS.
      – Tại sao băng đảng của HCM vẫn tồn tại cho dù không có thực dân Pháp hay đế quốc Mỹ? Là bởi vì ĐCSVN đã thịt hết những ai chống đối họ và bắt giam hết những ai nói xấu họ. Vì vậy đừngngạc nhiên tại sao trong ĐCSVN không có chống đối nhau như trong chế độ VNCH.
      – Tại sao Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ… vẫn ca ngợi HCM trong khi hành động của họ lại coi thường HCM ? Là bởi vì cái trò bịp do Mac-Lenin đã dạy cho họ. Thí dụ như khi Tố Hữu viết : “Vui biết mấy nghe con học nói. Tiếng đầu lòng con gọi Stalin”. Có thực là đứa bé nói tiếng đầu tiên là “stalin”? Không ai tin được là Tố Hữu yêu Stalin đến độ bịa đặt trâng tráo như vậy. Đơn giản là Tố hữu bịp. Ở đây cũng vậy, đừng đánh giá những bài viết ca tụng HCM của những người trong thâm tâm coi thường ông ta.
      – Tại sao Mỹ đổ tiến của VNCH nhiều như vậy mà tại sao VNCH vẫn sụp đổ ? Là bởi vì Lê Duẩn đã xua quân từ Miền bắc vào chết như rạ tại VN . Theo như vợ bé của Lê Duẩn nói trên BBC thì Lê Duẩn nói đã có 10 triệu người Việt Nam chết để chống Mỹ rồi, giờ có chết thêm vài triệu nữa cũng không sao. Như vậy Lê Duẩn thắng là nhờ chiến thuật biển người của Mao Trạch Đông, cứ xua bừa quân của mình lên trước mũi súng của địch, khi nào địch bắn hết đạn, chết hết người mà ta còn người thì ta thắng.
      – Lê Duẩn thắng là nhờ ông ta không tiếc máu xương của dân Việt Nam, trong khi con trai ông ta đứa thì du học bên Pháp, đứa thì nằm bệnh viện tâm thần.
      – Tài liệu biên khảo của các sử gia quốc tế hay của Bùi Anh Trinh không đánh giá về VNCH để bào chữa cho Lê Duẩn. So sánh như vậy không chứng minh được sự thật. Dĩ nhiên là các nhà biên khảo không bao giờ nói ngược lại là VNCH đã thắng, tức là biến trắng thành đen. Nếu họ có làm như vậy thì họ không còn là nhà biên khảo nữa.

  3. Bùi Anh Trinh dẫn nguồn nói về DCSVN và Hồ Chí Minh từ nguồn nào ,có đáng tin cậy hông?
    – Quá trình tim đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là chủ đề được quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu ở cả trong nước và quốc tế.
    Trong số những công trình nghiên cứu nước ngoài được công bố, các nhà Hồ Chí Minh học đều biết đến tác phẩm “Hồ Chí Minh – The Missing Years”, tạm dịch là “Hồ Chí Minh – Những năm tháng chưa được biết đến” của nữ tác giả Sophie Quinn Judge, tiến sỹ triết học – lịch sử, hiện là Phó giám đốc Trung tâm Triết học, Văn hóa và Xã hội Việt Nam – Đại học Temple – Mỹ. Đây là kết quả của công trình nghiên cứu kéo dài hơn 10 năm của tiến sỹ triết học và lịch sử người Mỹ Sophie Quinn-Judge. Hai tiếng Việt Nam đã đến với bà ngay từ những ngày còn là sinh viên Đại học trong phong trào phản chiến tại Mỹ đến các cuộc đàm phán hòa bình về chiến tranh Việt Nam tại Paris khi đang làm việc tại Pháp. Đây là kỷ niệm của những năm tháng ở Việt Nam khi Sophie Quinn làm việc cho 1 chương trình từ thiện của Mỹ tại miền Nam Việt Nam trong giai đoạn cuối của cuộc chiến. Sự gắn bó, những thôi thúc tìm hiểu của một nhà nghiên cứu về vị lãnh tụ của một dân tộc trường kỳ đấu tranh vì độc lập và thống nhất, cùng với những cơ hội mới đã khiến Sophie Quinn quyết định nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tiến sỹ Sophie Quinn-Judge, Phó Giám đốc Trung tâm Triết học, Văn hóa và Xã hội Việt Nam – Đại học Temple, Mỹ nói: “Vào năm 1992, khi đang làm việc tại Nga, kho tư liệu lưu trữ ở đây lần đầu tiên được công bố sau khi Liên bang Xô Viết tan rã. Tôi rất quan tâm đến giai đoạn Hồ Chí Minh ở Nga bởi có nhiều người nói với tôi rằng Hồ Chí Minh đã có nhiều năm hoạt động tại đây và còn nhiều điều mà người ta chưa được biết đến. Do đó tôi đã đọc tất cả những gì mà tôi có thể và tôi nhận ra rằng có rất nhiều hồ sơ về Việt Nam, trong đó có khoảng 20 đến 30 hồ sơ liên quan đến Hồ Chí Minh với cái tên Nguyễn Ái Quốc trong kho lưu trữ này. Rồi những dữ liệu này lại liên kết tới những dữ liệu khác, và không lâu sau đó tôi quyết định cần phải viết cuốn sách này”. Từ những tư liệu ở Nga, Sophie Quinn tiếp tục lặn lội tới các kho lưu trữ của Anh, Pháp, Mỹ và một số nước khác để cố gắng có được thêm những tư liệu phản ánh được đầy đủ nhất có thể cuộc đời hoạt động cánh mạng của Hồ Chí Minh từ năm 1911 cho tới khi trở về nước năm 1941. Tiến sỹ Sophie Quinn-Judge cho biết thêm: “Thực tế, tôi đã phải dành hơn 10 năm để tìm tòi, nghiên cứu cho tới khi cảm thấy rằng mình thực sự hiểu về những tài liệu thu thập được cũng như hoàn cảnh lịch sử giai đoạn đó trước khi quyết định phát hành cuốn sách”. Quá trình nghiên cứu đã giúp Sophie Quinn khẳng định, độc lập cho dân tộc chính là động lực mãnh liệt nhất thôi thúc người thanh niên trẻ vượt mọi gian khổ ra đi tìm đường cứu nước. Tiến sỹ Sophie Quinn-Judge nói: “Khi còn là một thanh niên, Hồ Chí Minh đã nhận ra rằng người Pháp thực hiện quyền lực của mình một cách rất tàn bạo. Điều đó rất quan trọng đối với cả cuộc đời của người. Vai trò của Hồ Chí Minh vào năm 1945 cũng đã chứng tỏ rằng độc lập đối với người quan trọng hơn rất nhiều so với những vấn đề khác như là đấu tranh giai cấp chẳng hạn. Đối với Hồ Chí Minh, giành độc lập là mục tiêu cao cả nhất đối với toàn bộ cuộc đời hoạt động chính trị của người”. Hiện còn có những đánh giá khác nhau về công trình nghiên cứu của Sophie Quinn-Judge, song phần lớn các nhà nghiên cứu nhận định Sophie Quinn-Judge có cái tâm trong sáng của một nhà khoa học, và tác phẩm của bà là một nguồn tài liệu tham khảo phong phú, có giá trị. Tuy vậy về 1 số vấn đề mà một số người ở hải ngọai cố tìm kiếm về đời tư của HCM như vợ con, quan hệ công tác trong quốc tế cs vai trò của HCM đến đâu… thì bà Sofie Quinn Jode rất thận trong và chỉ đưa các giả thiết, chứ không hoàn toàn khẳng đinh. Mấy người hải ngọai vì chống đối cs đã có tình lờ đi sự thận trọng này của bà , rồi trích dẫn tùy tiện để kết luận theo ý chủ quan chụp mũ của mình.
    – Người ta còn viện dẫn Hồi ký Hoàng Tùng, một cán bộ đảng cao cấp của VN, tài liệu này trôi nổi trên Interrnet, chứ không phát hành chính thức, nên không đáng tin cậy.
    – Ngoài ra cũng nên nhắc lại Hồi ký của Hoàng Văn Hoan, ông này bất đồng chính kiến về quan hệ VN – TQ,nên chạy sang TQ vào năm 1979. Phần đông người Việt không đồng tình với ông này, lý do ông ta không thấy dã tâm của TQ khi họ tiến hành chiến tranh phía Bắc VN và ủng hộ Ponpot giết hại bà con VN ở biên giới Tây Nam.Hoàng văn Hoan bị coi là phản quốc, vậy những kẻ tin và lơi dụng ông ta là người như thế nào cũng là điều dễ hiểu.
    – Còn Bùi Tín và Vũ thư Hiên, ta hãy để cho những người dân hải ngoại nhận xét.(người dân.com o Nam Nhân -Lý Tuấn biên soạn:
    Bài “Bùi Tín ngày càng nói láo”.

    Xin trích “Bùi Tín sống như chết trên căn gác xép chật chội cùng một người phụ nữ. Tín bị người Việt hải ngoại nghi kỵ, dò xét. Ngay đến Võ Văn Ái, chủ biên tờ Quê mẹ và Nguyễn Gia Kiểng tờ Thông luận rất phản động cũng viết bài miệt thị coi Bùi Tín là “phần tử bất hảo không đáng tin”. Mới đây thôi ngày 23/6/2012, trong cuộc nói chuyện tại San Joses – Mỹ, chính Bùi Tín đã bị cộng đồng người Việt tẩy chay, chửi rủa, đuổi khỏi diễn đàn. Nhìn cảnh Bùi Tín già nua, dúm dó, bị nhóm cờ vàng la hét, chửi bới, bắt phải quỳ xin lỗi vì đã làm bộ đội giải phóng miền Nam mới thấy hết sự nhục nhã của Tín. Còn đâu Đại tá Bùi Tín, Phó Tổng biên tập báo Nhân dân, vua biết mặt, chúa biết tên, còn đâu nữa bóng dáng hiên ngang của một viên sỹ quan cấp cao của quân giải phóng Việt Nam có mặt tại dinh Độc lập vào đúng ngày giải phóng đất nước 30/4/1975???. Bùi Tín luôn đau ốm, sống đơn độc không bằng hữu. Với đồng lương thất nghiệp nhà nước Pháp cho, Bùi Tín chỉ đủ trả tiền thuê nhà. Không biết buôn, biết bán, Tín cố sống bằng nghề chửi lại đất nước đã sinh ra và nuôi nấng hắn, dẫu cái vốn này đến giờ cũng cạn. Tất cả chỉ mong có miếng mà bỏ vào mồm. Tín đâu còn có thể nghĩ khi Tín chết người ta sẽ tổ chức hậu sự cho hắn thế nào bởi đến miếng ăn hàng ngày y còn chẳng lo nổi. Thật tội cho Bùi Tín song nghĩ cho cùng đó là cái kết cục tất yếu của những kẻ phản bội, bán nước cầu vinh.Trong vai mới, Thành Tín nhận lại cái họ Bùi mà hắn đã quẳng đi thời cải cách ruộng đất. Gốc gác con quan Hình bộ Thượng thư; là cậu ấm ở Quốc học Huế; là “bộ đội quốc gia” của thuở 1946-48; là nhà báo, được đi nhiều, quen nhiều nhà báo, nhà nghiên cứu nước ngoài; là kẻ năm 1963 thâm nhập vào VNCH thám xét, điều nghiên; là kẻ gia nhập làng báo Việt gian cộng sản từ 10-1964, do đích thân tên Nguyễn chí Thanh lựa chọn; là kẻ có mặt trong ngày xích xe tăng của quân xâm lược đỏ nghiến trên đường phố Sài-gòn – thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa; là kẻ mò mẫm khắp các trại tù giam giữ và đày ải quân, dân, chính của VNCH là kẻ đi tiếp đôi chân xâm lược sang Căm-bốt v.v.; là kẻ đeo lon đại tá và giữ chức phó tổng biên tập báo Nhân dân. Nghĩa là vị trí của Bùi. thành Tín trong bộ máy xâm lược đỏ vừa là công cụ chuyên chính về vũ trang vừa là công cụ chuyên chính về mặt tinh thần – tư tưởng!

    Với mũ áo, râu ria, hia ngựa như vậy, Bùi Tín có nhiều thuận lợi để thuyết phục, mua chuộc mấy anh trí thức táo bón thông tin, ngộ độc thông tin; gan muỗi, óc bã đậu, nhanh chóng theo gợi ý của Bùi Tín để đưa ra hàng đống sản phẩm ô uế, đầu độc những người tỵ nạn cộng sản lương thiện. Bùi Tín cũng dễ dàng lôi kéo được một số nào đó, đã “đầu hàng”, “khuất phục” khi bị hành hạ trong trại giam của quân xâm lược đỏ – cả loại cầm súng lẫn loại cầm bút – để tung ra những luận điệu tiếp cận dần dần với quan điểm chủ đạo của Bùi Tín – tất nhiên do sự chỉ đạo của tụi xâm lược đỏ chóp bu từ trong nước.

    Cũng dịp đó, Vũ thư Hiên, đang ở Nga, bị “đánh và bị ăn cắp tài liệu cho cuốn “Ðêm giữa ban ngày”, nên phải chạy tỵ nạn sang Pháp và cho xuất bản cuốn “Hồi ký chính trị của một người không làm chính trị”, có tên “Ðêm giữa ban ngày” (tài thật, lại có tài liệu ở đâu ra mà nhanh hơn điện???)

    Và, thế là nhóm của Nguyễn gia Kiểng, đã cắm rễ ở Pháp từ trước, với món hàng “hòa giải – hòa hợp”, có thêm những quan thầy tiếp sức: một anh đối kháng cuội, một anh tay sai của Nga-xô bị tay sai của Tàu cộng bợp tai – trùm nói dóc, thêm một anh “tù lương tâm” về tội “trung hòa” cùng lũ cơ hội, chủ hàng. tụ họp biểu diễn màn “hòa giải – hòa hợp” ở hải ngoại.

    Các tay sai của Nga-xô xưa kia bị lũ thân Tàu cộng cho đo ván trên võ đài, được Vũ thư Hiên, qua hồi ký chính trị “Ðêm giữa ban ngày”, phù phép thành những người “đấu tranh cho dân chủ” (cuội) – từ cái thời 1960 – 1963!!!
    Cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại, vì lòng chân thật, không thể tin rằng có những tên đại bịp như vậy, nên vô tình tiếp tay đánh bóng, cái lũ Việt gian thờ Nga-xô, ở tầm vóc quốc tế, cũng chính từ những thông tin “bất lương” trong “Ðêm giữa ban ngày”.
    Dù quan điểm của Bùi Tín và Vũ thư Hiên đúng sai thế nào thì mọi người cũng không khó tìm hiểu, nhưng cái quan trọng là nhân cách tráo trở của 2 người này bị người dân hải ngoại coi là là kẻ trá hàng, cơ hội, và ti tiện.

    • Giáo sư Thạc trả lời cho Ba Đô :
      (1) Bùi Anh Trinh dẫn nguồn rất đáng tin cậy : Thí dụ như dẫn chứng bằng Trần Dân Tiên :
      – Bùi Anh Trinh viết về bản Yêu cầu 8 điểm :
      Tuyên giáo CSVN cho rằng Nguyện Tất Thành là tác giả của bản “yêu cầu 8 điểm” ký tên Nguyễn Ái Quốc vào năm 1919. Nhưng Bùi Anh Trinh trích dẫn Trần Dân Tiên cho thấy lúc đó Nguyễn Tất Thành chưa biết viết tiếng Pháp :
      “Sau này các nhà viết sử tuyên huấn của CSVN cố tình gán cho ông Nguyễn Tất Thành là tác giả của bức “Thỉnh nguyện thư 8 điểm”. Tuy nhiên chính ông Thành cho biết trong tự truyện của ông ký tên là Trần Dân Tiên: “Cũng nên nhắc lại ý kiến đưa yêu cầu (8 điểm) do ông Nguyễn đề ra nhưng lại do ông Phan Văn Trường viết, vì lúc bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp”.
      – Bùi Anh Trinh viết về hiệp ước bán nước :
      Năm 1946 một mình Hồ Chí Minh nửa đêm tới nhà riêng của Bộ trưởng bộ Thuộc địa Pháp để ký một hiệp ước với Pháp. Mà hiệp ước này đã bị phài đoàn thương thuyết của Phạm Văn Đồng bác bỏ. Bùi Anh Trinh viết :
      Theo tự truyện của Hồ Chí Minh dưới tên Trần Dân Tiên: “Sau khi ký bản tạm ước, báo chí Pháp và quốc tế có đến phỏng vấn, Hồ Chủ tịch trả lời: Hai vấn đề chính: thống nhất và độc lập của Việt Nam chưa được giải quyết dứt khoát. Nhưng một bản tạm ước còn hơn không có điều ước gì cả” (sic).
      Gọi là hiệp ước bán nước bởi vì nó được ký kết trong một điều kiện mờ ám, tại nhà riêng, vào ban đêm; không có một viên chức cao cấp nào của Chính phủ Việt Nam, cũng không có một nhân viên văn phòng nào của ông Bộ trưởng Pháp. Những gì hai bên thương lượng với nhau hoàn toàn không có ai chứng kiến.
      Có Trời mới biết hai bên đã thỏa thuận với nhau những gì. Nhưng chắc chắn phải là thỏa thuận bất lợi cho đất nước Việt Nam. Nếu không tại sao ông HCM không dám thương lượng công khai và ký kết công khai? Trong khi trước đó phái đoàn thương thuyết của chính phủ Việt Minh đã kiên quyết không nhượng bộ.
      Rõ ràng ông Hồ Chí Minh đã đơn phương nhượng bộ một số điều kiện nào đó nhằm bảo vệ địa vị làm vua của ông ta ( Thà làm Chủ tịch bù nhìn cho Pháp còn hơn trở về quê với tư cách của một người hầu bàn trên tàu buôn ). Còn ông Hoàng Minh Giám được giao cho chức Bộ trưởng Ngoại giao là để bịt miệng về những gì đã thỏa thuận tại nhà riêng của Bộ trưởng Moutet.
      – Bùi Anh Trinh viết về sự kiện ngày 9-3-1945 :
      Theo tự truyện của ông HCM dưới tên Trần Dân Tiên : “ Sau ngày mồng 9 tháng 3 năm 1945, Nhật tuyên bố Việt Nam Độc lập. Bảo Đại tuyên bố bỏ chủ cũ và theo chủ mới là Nhật. Lập tức Việt Minh ra một bản tuyên ngôn nói: Lời tuyên bố Việt Nam độc lập của Nhật là một sự lừa dối…”.
      Đây chính là lời của HCM ghi trên giấy trắng mực đen chứ không ai bịa ra. Rõ ràng người Nhật cướp chính quyền từ trong tay thực dân Pháp và trao lại cho người Việt. Thế nhưng thay vì hoan nghênh nghĩa cử của người Nhật, HCM lại hô hoán lên rằng người Nhật lưu manh (!). Ông ta hô hoán như vậy chỉ nhằm nịnh bợ người Mỹ.
      Hèn hạ hơn nữa, báo chí Pháp -Việt còn lưu lại từng lời từng chữ bản tuyên bố độc lập của Bảo Đại : “Chiếu tình hình thế giới nói chung và tình hình Á Châu nói riêng, chính phủ Việt Nam long trọng công khai tuyên bố, kể từ ngày hôm nay, hiệp ước bảo hộ ký với nước Pháp được bãi bỏ, và đất nước thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia…”.
      Thế nhưng HCM đã dở giọng lưu manh biến lời nói của Bảo Đại thành “tuyên bố bỏ chủ cũ và thay chủ mới” (sic). Đây là bằng chứng chứng tỏ tư cách đạo đức của ông Hồ Chí Minh. Trên cương vị minh chủ phải là một người người quân tử nhưng hành động của ông ta toàn là hành động tiểu nhân.
      – Bùi Anh Trinh viết về những người Pháp chạy loạn chiến tranh năm 1945 :
      Theo tự truyện của Hồ Chí Minh dưới tên Trần Dân Tiên: “…ngay hôm mồng 9 tháng 3, ( Hồ chủ tịch ) đã ban bố khắp nước, bản chỉ thị, nội dung như sau: Người Pháp không còn là kẻ thù của chúng ta nữa (sic), họ đã trở thành những người bị nạn. Vì tình nhân loại, toàn thể đồng bào, trước hết là hội viên Việt Minh phải cố gắng giúp người Pháp bị Phát xít Nhật bức hại…”.
      Lúc này ông HCM đang chuẩn bị dẫn trung úy phi công của Hoa Kỳ sang Trung Hoa. Phi cơ của viên trung úy này bị bắn rơi trong vùng Việt Bắc, anh ta nhảy dù ra và được đồng bào Miền Núi dẫn đến cho ông HCM. Sau đó ông HCM dẫn người phi công sang giao cho Trưởng toán tình báo Hoa Kỳ tại Côn Minh là Thiếu tá Charle Fenn và được kết nạp làm nhân viên tình báo của cơ quan OSS Hoa Kỳ với bí danh Lucius và bí số 19.
      Lại thêm một bằng chứng nữa về tài trở cờ của Hồ Chí Minh, ngay khi vừa mới tuyên bố rằng Bảo Đại bỏ chủ cũ, thay chủ mới thì chính ông bỏ chủ CSQT mà nhận kẻ thù Pháp làm bạn và sẵn sàng làm tay sai cho Mỹ. Rõ ràng HCM là một tay lưu manh bán nước chứ không hề là người yêu nước.
      Năm 1945, tháng 3. Theo tố cáo của ông HCM dưới tên Trần Dân Tiên: “Song những người Pháp đã hợp tác với Nhật. Dâng vợ và con gái cho Nhật để làm thư ký, đánh máy và vân vân…”. Chữ vân vân của ông HCM có nghĩa là còn nhiều chuyện dơ dáy khác mà không nói ra.
      Rõ ràng lời tố cáo này cũng chỉ là tố điêu chứ người Pháp không thể đê hèn đến nỗi dâng vợ con cho kẻ chiến thắng. Họ dâng như vậy thì họ được gì ? Và nếu không dâng thì họ bị gì ? Nhưng nếu quả thật họ không có làm việc đó thì ông HCM đã lòi mặt lưu manh, đặt điều dơ bẩn cho những người mà ông gọi là “đã trở thành những người bị nạn”.
      Nguồn trích dẫn từ Trần Dân Tiên là đáng tin vậy nhất với những người như Ba Đô nhưng Bùi Anh Trinh không coi là quan trọng, mà là các chừng cứ còn lưu lại trong hồ sơ lưu trữ của các quốc gia liên quan. Tác giải đều có ghi xuất xứ của nguồn trích dẫn, có cả hằng ngàn trích dẫn mà Trần Dân Tiên chỉ có khoảng vài chục.
      (2) Về sử gia Qiunn Judge thì Ba Đô cho rằng đáng tin cậy thì Bùi Anh Trinh trích dẫn khoảng trăm lần. Thí dụ :
      – Lúc này Lâm Đức Thụ đã bị lộ diện là mật vụ của Pháp, ông ta đã trốn vào một nơi bí mật; thế mà Nguyễn Tất Thành vẫn còn liên lạc và vẫn tiếp tục giữ quan hệ mật thiết !? Căn cứ vào chi tiết này, Sử gia Quinn Judge cho rằng đây là bằng chứng để người ta “kết án về tư cách đạo đức” của ông Nguyễn Tất Thành, nghĩa là ông ta với Lâm Đức Thụ đồng một ruột Việt gian bán nước! (Ho Chi Minh, The Missing Years, trang 194. Nguyên văn:
      “It is indeed strange that he would have contacted a known informer at this point – perhaps he bilived that no more damage that Thu could do, with the party’s work so badly disrupted. These contacts may have resulted in criticism of Ho’s conduct after his release”:
      ( Thật là lạ lùng khi ông ta vẫn còn liên lạc với một tay chỉ điểm đã bị lộ diện trong thời điểm này. Có lẽ ông ta tin rằng Thụ không còn gì để có thể phá hoại thêm đối với một cái đảng đã khá tan nát. Sự liên lạc này có thể là nguyên do khiến cho ông Hồ bị kết án về tư cách đạo đức sau khi ông ta ra khỏi nhà giam ).
      Trước cáo buộc của sử gia Quinn Judge, các sử gia tuyên huấn CSVN đành phải ngọng vì không thể chối cãi được. Nhưng họ cũng không thể nào chấp nhận nổi chuyện ông Hồ là một người phản quốc. Chuyện này khủng khiếp quá, vì vậy họ đành ém nhẹm bằng cách coi như sử gia Quinn Judge là một nhân vật chưa hề có mặt trên cõi đời, và tác phẩm của bà ta không hề được nhắc đến trong các bài viết của các cây viết tuyên huấn CSVN!
      Tuy nhiên có những chuyện mà Quinn Judge đoán từ các tài liệu khác mà không đúng thì Bùi Anh Trinh đã có nêu phản bác với Qiunn Judge, thí dụ như chuyện HCM có quan hệ tình ái với Nguyễn Thị Minh Khai. Bùi Anh Trinh đã dẫn chứng bằng hồ sơ lưu trữ của CSQT để bác suy đoán của Quinn Judge.
      (3) Về hồi ký của Hoàng Tùng, ông ta là Bí thư của Trung ương Đảng, Tổng biên tập của tờ báo Nhân Dân. Năm 1994 hồi ký của ông xuất hiện trên net nhưng ông không có một lời nào đính chính, lúc đó ông còn sống và minh mẫn. Đó là quyển hồi ký toàn nói tốt cho HCM nhưng nói xấu ĐCSVN. Tuy nhiên sau khi hồi ký được tung lên và ông không cải chính thì ĐCSVN cũng không làm gì được ông. Nếu không phải là của ông thì ĐCSVN sẽ giúp ông cải chính ngay.
      (4) Về hồi ký của Hoàng Văn Hoan thì hoàn toàn ca ngợi HCM nhưng nói xấu Lê Duẩn. Bùi Anh Trinh chỉ trích dẫn những gì HVH ca ngợi HCM chứ không trích dẫn HVH chửi Lê Duẩn. Một khi đã oàn ai thì những lời chứng của họ thường không chính xác.
      (5) Những điều tố cáo của Bùi Tín có đáng tin cậy hay không thì tùy người đọc có phán xét riêng của mỗi người. Cho nên Bùi Anh Trinh không trích dẫn Bùi Tín. Riêng chuyện Bùi Tín nghi ngờ Võ Nguyên Giáp bị Lê Duẩn hạ vì có bằng chứng VNG làm mật thám cho Tây thì Bùi Anh Trinh phản bác.
      (6) Hồi ký của Vũ thư Hiên thì các nhà tuyên giào của CSVN cũng đành ngọng không dàm phản bác một điểm nào thì đủ biết có đáng tin cậy hay không.
      (7) Bùi Anh Trinh không hề trích dẫn Nguyễn Gia Kiểng.

  4. Hồ Chí Minh – Những năm chưa biết đến
    Sophie Quinn-Judge

    Đây là bài phỏng vấn bà Sofie Qiunn-judge đăng trên BBC nói về đời hoạt động của HCM, là nhà nghiên cứu bà căn cứ vào các tư liệu lịch sử mà cố tìm ra” lời giải” về mục đích lý tưởng vai trò của HCM trong phong trào CSQT, và đời tư của HCM.
    HCM sống và hoạt động trong điều kiện nguy hiểm về tính mạng vì luôn bị mật thám Pháp truy bắt, lại khó khăn về tài chính để phục vụ các hoạt động cho mình và cho cả đồng chí ,nhiều vấn đề phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự giúp đỡ của QTCS và TQ. Ngay cả về đời tư nhiều khi ông cũng phải” đóng kịch”để thuận lợi cho công việc, vì không còn cách nào khác, các bạn lưu ý là vấn đề này bà Sofie đã rất thận trọng khi nhận xét, chứ không phải cố gán gép một cách khiên cưỡng.
    Điều quan trọng là trong tác phẩm, bà Sofie Qiunn Judge cũng đã khẳng định , khi còn là một thanh niên, Hồ Chí Minh đã nhận ra rằng người Pháp thực hiện quyền lực của mình một cách rất tàn bạo. Điều đó rất quan trọng đối với cả cuộc đời của người. Vai trò của Hồ Chí Minh vào năm 1945 cũng đã chứng tỏ rằng độc lập đối với người quan trọng hơn rất nhiều so với những vấn đề khác như là đấu tranh giai cấp chẳng hạn. Đối với Hồ Chí Minh, giành độc lập là mục tiêu cao cả nhất đối với toàn bộ cuộc đời hoạt động chính trị của người.
    Cuốn “Hồ Chí Minh: Những năm chưa biết đến” (Hochiminh: The missing years) của tác giả Sophie Quinn-Judge, đại học LSE, London, chủ yếu dựa trên tư liệu về Quốc tế cộng sản được giải mật năm 1992 của Trung tâm lưu trữ quốc gia Nga – và tư liệu từ kho lưu trữ quốc gia Pháp.
    Tập trung vào những năm hoạt động của ông Hồ Chí Minh thời kì trước 1945, quyển sách cố gắng dựng lại chân dung cũng như vị trí thật sự của ông Hồ trong thời kì này. Tiến sĩ Sophie Quinn-Judge, người Mỹ hiện sống tại Anh đã trả lời phỏng vấn của đài Ban Tiếng Việt BBC.
    BBC:Cuốn sách của bà mở đầu bằng hội nghị hòa bình tại Paris năm 1919 khi lần đầu tiên ông Hồ Chí Minh – mà lúc này có tên Nguyễn Ái Quốc – được nhiều người biết tới. Vậy trước giai đoạn này chúng ta có biết gì nhiều về hoạt động của ông, đặc biệt là việc người cha của ông có ảnh hưởng thế nào đến ông không?
    Sophie Quinn-Judge: Cha của ông Hồ là một nhân vật rất đáng chú ý và tôi hi vọng sẽ có thêm tài liệu nghiên cứu tiếng Việt để hiểu rõ hơn thân thế của người này. Nhưng rõ ràng là việc người cha bị thất sủng, không còn là quan cấp tỉnh trong chế độ Pháp đã có tác động đến cuộc sống ông Hồ.
    Bởi sau khi ông Nguyễn Sinh Huy bị miễn nhiệm tại tỉnh Bình Định, con ông Nguyễn Tất Thành buộc phải thôi học ở trường Quốc học Huế và trở thành thầy giáo tại Phan Thiết. Rồi ông vào Nam và như mọi người đều biết, ông đi Pháp năm 1911.
    Nếu cha ông vẫn còn tại chức, thì có lẽ người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã tiếp tục đi học ở Huế và sự nghiệp chống thực dân của ông có thể đã ngả sang một hướng khác. Chúng ta không biết chắc, nhưng những hoàn cảnh bên ngoài đã buộc ông phải ra nước ngoài.
    Tìm đường cứu nước
    BBC:Bà ngụ ý là ban đầu ông Hồ ra nước ngoài không phải với mục đích tìm đường cứu nước?
    Không, ý tôi không phải là như thế. Dựa trên tài liệu của Pháp nói về các anh chị trong gia đình ông Hồ và những lần họ giúp đỡ cho Phan Bội Châu, tôi nghĩ gia đình họ tham gia vào các hoạt động yêu nước chống thực dân từ sớm.
    Tôi tin là ông Hồ Chí Minh cũng sẽ tham gia vào các hoạt động chống thực dân theo cách này hay cách khác. Nhưng bởi vì ông không thể ở lại trường Quốc học, nên ông ra nước ngoài để tìm biện pháp hoặc học thêm để nghĩ cách chống người Pháp.
    BBC:Khi ông Hồ tới hội nghị hòa bình Versailles 1919, người ta nhìn ông Hồ như thế nào?
    Đây là một điều mà chúng ta rất khó biết chắc bởi vì có một khoảng trống lớn trong tiểu sử của ông Hồ. Chúng ta không biết trước năm 1919, ông Hồ hoạt động ở mức độ nào, chuyện chính trị có phải là vấn đề bận tâm duy nhất của ông hay không.
    Nên khi ông xuất hiện tại hội nghị Paris tháng Sáu năm 1919, phân phát bản kiến nghị cho các đại biểu tham dự, mọi người thấy khó chấp nhận ông ấy như một nhân vật ngang hàng với những người nổi tiếng như Phan Chu Trinh hay Phan Văn Trường.
    BBC:Sau hội nghị ở Paris, ông Hồ đến Nga năm 1923 rồi sau đó đi Quảng Đông. Trong khoảng thời gian này, vị trí của ông Hồ trong Quốc tế cộng sản như thế nào, bởi vì một số tác giả cho rằng lúc này ông Hồ đã được Quốc tế cộng sản chú ý nhiều?
    Đầu tiên, ông Hồ lúc đó không phải là thành viên của một đảng cộng sản châu Á nào. Ông ấy đang là thành viên của đảng cộng sản Pháp. Vì thế, ông chưa có vị trí vững chắc trong nội bộ Quốc tế cộng sản. Ví dụ, ông không có chân trong ban chấp hành. Có nhiều nhân vật khác quan trọng hơn như Mahendra Roy từ Ấn Độ hay Sen Katayama của Nhật.
    Nhưng Nguyễn Ái Quốc có một thông điệp rất rõ về việc phong trào cộng sản có thể tham gia thế nào trong phong trào quốc gia tại các thuộc địa. Tôi nghĩ bởi vì thông điệp này nên ông ấy được khuyến khích lên phát biểu tại đại hội lần thứ năm của Quốc tế cộng sản năm 1924. Nhưng lúc ấy, theo tôi, ông Hồ chưa phải là người phát ngôn hàng đầu về các vấn đề thuộc địa trong Quốc tế cộng sản.
    Việc ông Hồ là thành viên đảng Cộng sản Pháp cũng có thể đã khiến vị trí của ông trở nên phức tạp. Trotsky – đối thủ chính trị của Stalin thời bấy giờ – có một ảnh hưởng đáng kể đối với những người cộng sản Pháp. Trong một bãi mìn chính trị như vậy, ông Hồ dường như bắt đầu học cách hợp tác với bất kì ai đang nắm quyền lực và học cách theo đuổi những quan tâm của riêng mình.
    BBC:Một số tác giả như Jean Lacouture nói rằng ông Hồ được gửi tới Quảng Đông để làm trợ lý hay thư ký cho Michail Borodin?
    Tôi nghĩ điều này không chính xác, bởi vì ông Hồ lúc đó từ Nga đi Quảng Đông mà không mang theo một hướng dẫn rõ ràng về những gì ông sẽ làm tại đó. Ban đầu ông ấy không được cho một vai trò chính thức. Có vẻ như người ta đã tìm cho ông công việc làm người dịch thuật tại hãng tin của Nga tại đó để có tiền thực hiện các hoạt động chính trị của ông.
    Chứ còn lúc mới đến Quảng Đông, ông Hồ rất vất vả trong việc có đủ tiền giúp cho việc giúp đưa các thanh niên Việt Nam sang Quảng Đông tham gia các khóa đào luyện. Như vậy, không có một kế hoạch, chỉ thị rõ ràng dành cho ông Hồ và ông phải tự bươn chải, đối phó với các vấn đề khi chúng diễn ra.
    BBC:Chúng ta có biết tâm trạng của ông Hồ lúc này không?
    Tôi nghĩ ông ấy cảm thấy bức bối vì thiếu sự giúp đỡ cụ thể của Quốc tế cộng sản, hay người Nga hay người cộng sản Pháp lúc đó. Trong năm 1924, ông Hồ liên tục gửi thư yêu cầu các lãnh đạo Quốc tế cộng sản chú ý nhiều hơn đến nhu cầu của phong trào tại Việt Nam.
    Cuối cùng thì vào đầu năm 1927, thông qua một đại biểu Quốc tế Cộng sản từ Pháp sang Quảng Đông, ông Hồ nhận được một khoản ngân sách. Nhưng không may là trước khi kế hoạch được thực hiện, xảy ra cuộc đảo chính của Tưởng Giới Thạch và ông Hồ phải rời khỏi Quảng Đông trước khi các khóa đào tạo mà ông muốn tiến hành có thể khởi động một cách toàn diện.
    Tăng Tuyết Minh
    BBC:Trong khoảng thời gian ông Hồ ở tại Quảng Đông, có xuất hiện cái tên của bà Tăng Tuyết Minh với những lời đồn đoán khác nhau. Theo nguồn tài liệu mà bà có, thì Tăng Tuyết Minh là ai?
    Gần đây đã có một chuyên gia Trung Quốc đề cập đến người này. Còn theo tài liệu mà tôi tìm thấy tại Pháp, Tăng Tuyết Minh khi đó là một phụ nữ trẻ ở Quảng Đông. Và có lẽ bà ấy và ông Hồ đã kết hôn vào tháng Mười năm 1926. Họ ở với nhau cho đến khi ông Hồ phải rời Quảng Đông tháng Năm 1927. Như vậy thời gian kéo dài khoảng sáu tháng.
    BBC:Từ mà bà dùng – “có lẽ” – ở đây nghĩa là thế nào?
    Không chắc vào thời kì đó, một cuộc hôn nhân được định nghĩa như thế nào. Ta bắt gặp những ví dụ khác nhau trong các văn bản về phong trào cộng sản. Đôi khi một cuộc hôn nhân diễn ra đơn thuần vì lý do chính trị. Hai người sống chung với nhau như một cách ngụy trang để duy trì các hoạt động chính trị của họ.
    Thí dụ, nếu họ điều hành một tòa soạn báo, sẽ an toàn hơn khi giả làm hai vợ chồng. Và tôi không biết trong các phong trào cách mạng, đâu là các yếu tố tạo nên một cuộc hôn nhân có ràng buộc. Những điều này có vẻ không chặt chẽ, chẳng hạn nếu ta nhìn sự nghiệp của Mao Trạch Đông, một người mà đã nhiều lần thay đổi người nâng khăn sửa túi cho mình.
    BBC:Sau khi rời khỏi Quảng Đông, ông Hồ Chí Minh đã bôn ba nhiều nơi trước khi quay trở lại châu Á. Và rồi chúng ta có sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mà sau đó có tên Đảng Cộng sản Đông dương. Theo quyển sách của bà, thì Đảng Cộng sản thành lập tháng Hai năm 1930 và đến tháng Mười năm đó, ông Hồ Chí Minh đã đánh mất ảnh hưởng của mình trong đảng?
    Cần nhắc là ông Hồ đã trải qua thời gian ở Thái Lan, rồi sang Hồng Kông vào mùa đông 1929. Hồng Kông là nơi mà tháng Hai năm 1930, một đảng cộng sản thống nhất của người Việt Nam ra đời.
    Cùng lúc này thì có nhiều sự không rõ ràng xung quanh việc ai là người ban đầu được chính thức giao trách nhiệm thành lập nên đảng. Bởi vì trước đó Quốc tế Cộng sản gửi về hai người là Trần Phú và Ngô Đức Trì. Hai người này đã học tại Moscow trong khoảng ba năm và trở về mang theo chỉ thị của Quốc tế cộng sản về cách thức thành lập đảng.
    Vậy là sau khi Nguyễn Ái Quốc thành lập đảng cộng sản vào tháng hai, hai người này quay về Việt Nam hoạt động. Cuối cùng đến tháng Mười, diễn ra hội nghị trung ương lần thứ nhất tổ chức tại Hồng Kông.
    Đến lúc này hai người, mà đặc biệt là Trần Phú – theo tôi – đã cố gắng ấn định các chỉ thị mà họ mang theo từ Moscow. Chỉ thị này bao gồm đảng phải là tổ chức của riêng giai cấp lao động, một chủ trương mà sẽ dẫn đến một nỗ lực thanh trừng các thành phần yêu nước gốc trung lưu trong nội bộ đảng.
    Nguyễn Thị Minh Khai
    BBC:Cũng khoảng thời gian này, có một lá thư đề ngày 12-1-1931 của Văn phòng Viễn Đông của Quốc tế Cộng sản nhắc ông Nguyễn Ái Quốc rằng ông cần thông báo cho họ về cuộc hôn nhân của mình hai tháng trước khi cuộc hôn nhân diễn ra. Đây là lúc muốn được hỏi bà, theo bà, thì có cuộc hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Minh Khai và ông Hồ Chí Minh hay không?
    Tôi không chắc đó có phải một cuộc hôn nhân thật sự hay không. Chúng ta biết là khoảng giữa năm 1930, bà Nguyễn Thị Minh Khai được giao đến làm việc tại văn phòng của ông Hồ ở Hồng Kông, rồi sau đó được giao công việc liên lạc với đảng cộng sản Trung Quốc.
    Vào tháng Hai năm 1931, ông Hồ có nhắc việc vợ của ông đang bận chuẩn bị cho ngày Tết và chuẩn bị đón khách từ Việt Nam. Ông Hồ cũng viết thư cho Quốc tế Cộng sản, có vẻ như trong đó ông đề cập tới một đám cưới sắp diễn ra.
    BởI vì sau đó Quốc tế Cộng sản viết thư trả lời, nói ông cần đình hoãn đám cướI cho đến khi có chỉ thị mới. Tôi sẽ ngần ngừ khi nóI liệu ông Hồ có phảI đang nóI về việc làm đám cưới thật sự hay không bởI vì trong các thư từ, họ thường sử dụng nhiều loạI mật mã.
    Nhưng trong trường hợp này, có vẻ như lá thư nói những chuyện thật sự đang diễn ra bởi vì trong cùng một lá thư ông Hồ cũng thảo luận nhiều vấn đề khác một cách công khai. Và từ những gì ngườI ta biết vào năm 1934, Nguyễn Ái Quốc có một người vợ được cử tới đại hội của Quốc tế cộng sản ở Moscow.
    Khi Minh Khai tới Moscow, bà ấy có viết trong lý lịch nói mình kết hôn với “Lin” – bí danh của ông Hồ thời bấy giờ. Vì vậy, người ta có thể ngờ rằng giữa hai người có một mối quan hệ vào năm 1931.
    BBC: Bà nói mình không chắc có thể dùng chữ “hôn nhân” ở đây. Vậy nếu người ta hỏi liệu đã một mối quan hệ tình cảm giữa ông Hồ Chí Minh và bà Nguyễn Thị Minh Khai, vậy bà sẽ trả lời thế nào?
    Tôi nghĩ câu trả lời là Có, đặc biệt nếu chúng ta dựa vào một số chứng liệu khác. Ví dụ vào năm 1945, trong cuộc nói chuyện với một phóng viên Mỹ, ông Hồ Chí Minh có nhắc ông từng có một người vợ, nhưng bà đã qua đời. Hoặc có những đề cập nói rằng vào cuối thập niên 1930, khi Nguyễn Thị Minh Khai quay về Việt Nam, bà đã chia cắt với người chồng là một nhà cách mạng lớn tuổi đang ở nước ngoài. Điều này nghe giống như một sự miêu tả ông Hồ Chí Minh.
    BBC:Nhưng nếu dựa trên những nguồn tài liệu của Pháp, ta có khuynh hướng tin là bà Nguyễn Thị Minh Khai có nhiều mối quan hệ với các đồng chí khác nhau trong khoảng thời gian từ 1930 đến 1940. Vậy thì đâu là thực, đâu là hư?
    Đây chính là điểm làm câu chuyện phức tạp. Thông tin tình báo của Pháp lúc bấy giờ thường đề cập bà Minh Khai có mối quan hệ với nhiều người khác nhau. Ví dụ, năm 1932, mật thám Pháp tin rằng bà là người tình của Trần Ngọc Danh, em trai ông Trần Phú.
    Chúng ta không biết chắc liệu đây có thuộc về dạng hôn nhân cách mạng hay không, khi mà hai người cùng chí hướng đã giả trang làm người yêu để dễ đánh lạc hướng chính quyền đương thời. Hay còn điều gì hơn thế! Thật khó để biết rõ cách thức hoạt động của những người hoạt động cách mạng bởi vì họ có thể xem mình thuộc về một thế giới khác, vượt khỏi các khuôn khổ đạo đức bình thường.
    Mâu thuẩn trong đảng
    BBC: Trong quyển sách, bà viết là đến khi hội nghị trung ương đảng cộng sản Đông Dương họp tại Sài Gòn ngày 12-3-1931, mối quan hệ giữa Ban chấp hành trung ương với ông Hồ Chí Minh đã xuống dốc rất nhiều. Vì sao lại như vậy?
    Thật sự thì Ban chấp hành gồm rất ít người, người lãnh đạo chính là ông Trần Phú. Tôi nghĩ có một sự khó chịu về nhau từ cả hai phía – ông Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông và các ông Trần Phú, Ngô Đức Trì và các lãnh đạo khác ở Sài Gòn.
    Than phiền chính của họ là những khó khăn trong việc liên lạc với Quốc tế cộng sản, mà đại diện là văn phòng phương Đông tại Thượng Hải. Có nhiều lý do vì sao việc liên lạc lại khó khăn. Một trong số đó là chi nhánh đảng cộng sản Trung Quốc tại Hồng Kông đã bị người Anh phát hiện vào khoảng đầu năm 1931. Nên không còn một cơ sở hạ tầng cho việc liên lạc như trước đây.
    Và dĩ nhiên lúc đó đảng cộng sản tại Việt Nam cũng bị tổn hao vì những đợt bắt bớ của người Pháp. Trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, dễ hiểu là vì sao các bên đổ lỗi cho nhau. Ông Hồ không nhận được thông tin từ trong nước, nên ông yêu cầu ban chấp hành ở miền Trung và Hà Nội. Điều này làm các lãnh đạo ở Sài Gòn khó chịu. Vì thế ông Hồ cảm thấy mình không được sử dụng đúng và sau đó đề nghị đảng cho thôi chức vụ của ông tại Hồng Kông.
    BBC:Nhưng bên cạnh đó, một lý do khác dường như là xung đột trong hệ tư tưởng giữa các bên, phải không?
    Vâng, theo tôi, ông Hồ lúc đó bị chỉ trích vì người ta bắt đầu xem ông là một nhà cải cách theo xu hướng quốc gia. Ông ấy coi đảng phải sử dụng những tình cảm yêu nước để thu hút nhiều đối tượng. Trong khi đó, tại Sài Gòn, chi bộ đảng đã bắt đầu đi theo chính sách mới của Quốc tế Cộng sản, tức là đấu tranh giai cấp và đảng chỉ là đảng của người vô sản mà thôi, sinh viên hay tầng lớp trung lưu chỉ đóng vai trò hỗ trợ.
    BBC:Cái vấn đề là người quốc gia hay cộng sản đã được bàn đến nhiều xung quanh ông Hồ Chí Minh. Có người nói là ngay cả khi xem ông Hồ là người theo chủ nghĩa dân tộc, thì thật ra đó không phải lý thuyết của chính ông? Bà nghĩ sao?
    Thật khó để biết đâu là xu hướng riêng trong chính sách của ông Hồ lúc đó, đâu là ông đi theo chính sách của Quốc tế cộng sản thời kì thập niên 1920. Nhưng có thể nói xu hướng của ông Hồ lúc đó phù hợp với chính sách của Quốc tế cộng sản lúc 1920.
    Theo đó, những người cộng sản nên tập trung vào các cuộc cách mạng dân tộc ở các nước thuộc địa bởi vì giai cấp vô sản hay đảng cộng sản còn rất nhỏ, tự mình hành động thì không có lợi. Ông Hồ theo xu hướng này. Còn ông có những ý tưởng nào vượt ra khỏi điều này không, thì tôi không rõ.
    BBC:Chúng ta hãy chuyển sang giai đoạn giữa thập niên 1930 khi ông Hồ quay về Nga. Có vẻ như vị trí của ông trong Quốc tế cộng sản lúc này bị lung lay?
    Stalin lúc này đã củng cố ảnh hưởng của mình. Nói chung những ai đã từng làm việc ở nước ngoài sẽ bị nghi ngờ mang tư tưởng tư sản. Những ai trở về Nga phải tự thú. Có cảm giác kẻ thù ở mọi nơi. Đặc biệt những người như ông Hồ Chí Minh đã từng làm việc với mặt trận thống nhất tại miền nam Trung Hoa.
    Thêm vào điều đó, lại còn những vụ bắt giữ người cộng sản tại Hồng Kông, Thượng Hải năm 1931. Cơ sở của quốc tế cộng sản tại Thượng Hải sụp đổ. Và những người lãnh đạo đảng cộng sản tại Việt Nam cũng bị bắt. Nên dĩ nhiên diễn ra các vụ điều tra xem ai có tội, và ông Hồ chắc chắn trải qua những ngày vất vả khi đó.
    BBC:Sau những vụ thanh trừng tại Nga 1937 – 1938, thì nhiều người tự hỏi vì sao ông Hồ Chí Minh có thể tồn tại sau những ngày như thế?
    Đó là câu hỏi mà các chuyên gia nước ngoài đã tập trung nghiên cứu từ lâu. Quan điểm trước đây của họ cho rằng lý do chính là vì ông Hồ, vào cuối thập niên 30, đã trở thành lãnh tụ của đảng cộng sản nên vì thế được Stalin bảo vệ hay ít nhất cũng là một trong những người được tin dùng.
    Theo tôi, đó là một sự tổng quát hóa không có cơ sở. Stalin có thể diệt trừ những người thân cận nhất của mình, không có ai là an toàn. Những nhân vật thân cận như Kalinin, Molotov cũng là nạn nhân của Stalin (vợ của họ bị bắt và đây có thể xem là một cách để khống chế những người này).
    Nên phải nói ngay từ đầu cái ý nghĩ bạn có thể an toàn khi ở cạnh Stalin là điều không có thật. Và ngoài ra, ông Hồ Chí Minh đã bị cảnh gần như bị giáng chức vào năm 1935 vì cáo buộc ông chịu trách nhiệm cho những vụ bắt giữ năm 1931. Nên không thể nói ông ấy lúc đó là nhân vật hàng đầu trong Quốc tế cộng sản.
    Kết luận lại, tôi nghĩ lý do chính là vì ông đã sống kín đáo, lặng lẽ. Mà thực sự Việt Nam cũng không phải nằm trong danh sách những nước là Stalin lo âu. Ông ta quan tâm hơn đến việc thanh trừng đảng cộng sản ở các nước láng giềng.
    Thời thế đưa đẩy
    BBC:Theo tường thuật của bà trong sách, đường cách mạng của ông Hồ Chí Minh vẫn còn rất gian nan trong thập niên 30. Vậy ông Hồ đã làm thế nào để có được quyền lực trong đảng cộng sản để rồi sau này dẫn tới cách mạng năm 1945?
    Quá trình dẫn đến việc nắm quyền lực năm 1945 của ông Hồ không phải là một tiến trình có sẵn từ đầu. Một trong những điểm tôi cố gắng làm rõ trong quyển sách là quá trình dẫn đến việc nắm quyền lực năm 1945 của ông Hồ không phải là một tiến trình có sẵn từ đầu.
    Năm 1938, khi ông Hồ quay lại Trung Quốc, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập là thuộc trong số những lãnh đạo đảng tại Sài Gòn. Sau đó thì lần lượt từng lãnh đạo tại Sài Gòn bị Pháp bắt sau khi mặt trận bình dân tại Pháp sụp đổ và người Pháp một lần nữa ra chính sách trừ diệt đảng cộng sản. Sau đó, tôi nghĩ có một cuộc khủng hoảng lãnh đạo trong đảng.
    Lúc này, ông Hồ đang ở Trung Quốc xây dựng một nhóm những người yêu nước Việt Nam theo đuổi chính sách thống nhất – một chính sách mà vào lúc này quốc tế cộng sản quay lại sử dụng. Tôi nghĩ đến đầu thập niên 40, ông Hồ Chí Minh là người Việt Nam cần lúc đó, có mặt và sẵn sàng hành động.
    BBC:Như bà viết trong sách, nhiều tác giả – cả cộng sản và không cộng sản – đã phần nào phóng đại vai trò của ông Hồ Chí Minh. Vì sao?
    Tôi nghĩ đó là điều mà trong giới sử học gọi là phát triển bằng cách viết ngược (back formation). Bởi vì ông Hồ trở thành chủ tịch nước năm 1945, người ta đặt ra những tiền đề không có căn cứ về sự nghiệp của ông.
    Và thật dễ dàng để cho rằng ông đã luôn là một trong những nhân vật hàng đầu trong quốc tế cộng sản. Dĩ nhiên đảng cộng sản Việt Nam sẵn sàng chấp nhận suy nghĩ này vì nó cho họ một uy tín trong phong trào cộng sản quốc tế.
    BBC:Nhưng vì sao ngay cả những người không cộng sản cũng có thiên hướng chấp nhận điều này?
    Theo tôi, đó là vì một chân dung như thế cũng hợp với những nghị trình của họ. Họ muốn tin rằng ông Hồ đã luôn là một người cộng sản ẩn đằng sau cái vỏ dân tộc chủ nghĩa.
    Tôi nghĩ những nhà chỉ trích ông Hồ Chí Minh – thuộc cả hai phía cộng sản và không cộng sản – duy trì chân dung về ông như một nhà cộng sản đầy quyền lực bởi vì ông ấy là biểu tượng nổi tiếng nhất của phong trào cộng sản Việt Nam.
    BBC:Khi đọc về những bước đường đầu tiên trong sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh, nó có giúp gì cho người ta hiểu về phần đời sau này của ông hay không?
    Vâng, tôi nghĩ phần nào đó, những gì diễn ra trong thập niên 30 cũng tái lặp trong cuối thập niên 40, đầu 50. Mâu thuẫn trong phong trào cộng sản tại Việt Nam và quốc tế không bao giờ vụt tắt. Một bên muốn đi tới thật nhanh, xây dựng điều mà họ gọi là chủ nghĩa xã hội bằng cách loại trừ tầng lớp trung lưu.
    Một bên lại cho rằng chủ nghĩa cộng sản phải được xây dựng từ từ, trải qua giai đoạn của chủ nghĩa tư bản. Tôi nghĩ người ta cần hiểu hai quan điểm này cứ thay nhau được chấp nhận, rồi gạt bỏ. Cứ như vậy.
    Đó là một trong những lý do – tôi nghĩ – vì sao ông Hồ Chí Minh không phải bao giờ cũng duy trì được vị trí là một nhà lãnh đạo có thực quyền.
    Nguồn: 02 Tháng 9 2003
    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2003/09/030902_hcm_missing_years.shtm

  5. GÓP PHẦN TÌM HIỂU THÊM VỀ BẢO ĐẠI
    Trong cuốn “Bảo Đại – hay những ngày cuối cùng của vương quốc An Nam”, Daniel Grandclément viết:

    Bảo Đại đúng như những gì mọi người Việt đã biết về ông: hào hoa, lịch lãm và sành điệu, săn bắn giỏi, lái xe hơi, máy bay giỏi, khiêu vũ, đánh golf, chơi quần vợt giỏi… Ông chỉ không biết làm vua. Ông vua nước Nam cứ quẩn quanh, thậm chí mưu mẹo chỉ để có được từ chiếc xe hơi, máy bay cho đến khẩu súng săn, cuốn album bìa da, thỏa mãn những thú vui vật chất.
    Như lời Bảo Đại thú nhận: “Người Pháp lúc nào cũng muốn tôi ngồi yên một chỗ, không cho thân mật với dân nên trong hai mươi năm trời làm vua tôi ra Bắc một lần, vào Nam kỳ một lần, cũng là đi lướt qua, không thấy rõ ràng một điều gì. Xung quanh tôi họ đặt toàn những người mật thám. Tôi rất buồn biết mình không thể làm chi có ích cho đất nước…”.
    Ông mơ hồ tin tưởng vào “nền độc lập trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp” đạt được dễ dàng cùng với các điều kiện vật chất. Quen sung sướng, quen được cung phụng, Bảo Đại dường như chưa bao giờ nghĩ đến việc đi tìm độc lập bằng con đường nếm mật nằm gai như các vua Hàm Nghi, Duy Tân trước ông.
    Ông đã khước từ những cơ hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo ra, mang đến cho ông… Khước từ cơ hội đi chung đường với cả dân tộc, dù ông đã cùng chính phủ cộng hòa non trẻ ngồi họp bàn từ việc lớn đến việc nhỏ trong những ngày khai sinh nhà nước. Con đường mà Bảo Đại chọn cuối cùng đã dẫn đến kết cục “ông hoàng bị quét đi như quét một hạt bụi vô giá trị…”.
    Hành động lớn nhất trong đời ông là thoái vị, và ông đi vào lịch sử chỉ bằng một câu nói: “Tôi muốn làm dân một nước tự do hơn là làm vua một nước nô lệ”.
    Đề tỉnh quốc dân ca (Bài ca thức tỉnh quốc dân), Lời than của nhân dân ta về Bảo Đại thời thuộc Pháp:
    NON SÔNG THẸN VỚI NƯỚC NHÀ
    VUA LÀ TƯỢNG GỖ, DÂN LÀ THÂN TRÂU”

  6. Tạm ước Việt – Pháp hay Thỏa hiệp án Việt – Pháp là một ký kết tạm thời (thuật ngữ ngoại giao viết theo tiếng Latinh: modus vivendi) được ký ngày 14 tháng 9 năm 1946 giữa đại diện Cộng hòa Pháp là Marius Moutet và đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Hồ Chí Minh. Tạm ước này có thể coi là thành quả mà hai bên Pháp và Việt Nam đạt được tại Hội nghị Fontainebleau tuy hội nghị chính không mang lại thỏa thuận.Từ ngày 19 tháng 4 đến ngày 11 tháng 5 năm 1946 tại Đà Lạt, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tổ chức một hội nghị trù bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho Hội nghị Fontainebleau chính thức khai mạc vào tháng 7 năm 1946.

    Ngày 31 tháng 5 năm 1946, phái đoàn chính phủ do Phạm Văn Đồng dẫn đầu khởi hành sang Pháp tham dự Hội nghị Fontainebleau. Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lên đường sang Pháp tiếp xúc với chính giới Pháp và cộng đồng người Việt tại Pháp.

    Hội nghị Fontainebleau sau đó diễn ra kéo dài hơn hai tháng, từ 6 tháng 7 tới 10 tháng 9 năm 1946 nhưng không đem lại kết quả cụ thể nào vì hai bên đã bế tắc ở hai điểm bất đồng then chốt:

    Việc thống nhất ba kỳ: Bắc, Trung, Nam
    Trao trả độc lập cho nước Việt Nam.

    Hội nghị Fontainebleau vì vậy tan vỡ. Tuy nhiên Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp Marius Moutet không chấp nhận thất bại. Trong khi Phạm Văn Đồng bỏ về nước, Hồ Chí Minh, Hoàng Minh Giám và Dương Bạch Mai nán lại Paris. Hồ Chí Minh đã khẩn khoản nói với Marius Moutet đừng để ông về nước tay không. Hồ Chí Minh thảo một bản nghị ước vào chiều ngày 11 và trao cho Marius Moutet. Ba ngày sau, Marius Moutet hồi đáp với một bản nghị ước khác. Đạt được đồng thuận, Hồ Chí Minh đã đến tư dinh của Marius Moutet để ký văn bản này, tức Tạm ước Việt – Pháp.

    Sau khi ký Tạm ước Việt – Pháp, Hồ Chí Minh về nước.Hồ Chí Minh lấy lý do không quen đi máy bay để yêu cầu về nước bằng tàu thủy. Ông từ Paris đến Toulon để lên chiến hạm Dumont d’Urville về Việt Nam.

    Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thành lập “Ủy ban nghiên cứu và điều khiển thi hành tạm ước Việt-Pháp 14-9-46” gồm 15 thành viên: Phan Anh, Phạm Văn Bách, Trịnh Văn Bình, Cù Huy Cận, Bùi Bằng Đoàn, Phạm Khắc Hoè, Vũ Đình Hoè, Vũ Văn Hiên, Lê Văn Hiến, Nguyễn Văn Huyên, Đặng Xuân Khu, Nguyễn Văn Tào, Nguyên Văn Tày, Bùi Công Trừng, Trần Công Tường.

    Nội dung

    Bản tạm ước gồm 11 khoản, tóm tắt lại thì nội dung 11 khoản này là:]

    Khoản 1: Những kiều dân Việt ở Pháp và những kiều dân Pháp ở Việt Nam đều được hưởng quyền tự do cư trú như người bản xứ và tất cả các quyền tự do dân chủ.
    Khoản 2: Những tài sản và xí nghiệp của người Pháp ở Việt Nam, cũng như của kiều dân Việt Nam tại các xứ thuộc Liên hiệp Pháp sẽ được hưởng sự ngang hàng về chế độ như dành cho tài sản và xí nghiệp của người bản xứ, nhất là về thuế khoá và luật lao động. Chế độ này hiện có ở Việt Nam chỉ có thể thay đổi do sự thoả thuận chung giữa Pháp và Việt Nam. Tất cả những tài sản mà hai bên trưng dụng hoặc tước của nhau sẽ trả lại cho người có quyền hưởng thụ, với cách thức hoàn lại sẽ do một Uỷ ban Việt – Pháp định ra.
    Khoản 3: Cho phép trường học Pháp các cấp được tự do mở trên đất Việt Nam và sẽ mở rộng cho cả học sinh Việt Nam. Những trụ sở nào dành cho những trường học ấy sẽ được thoả hiệp riêng. Kiều dân hai bên sẽ được hưởng quyền tự do nghiên cứu khoa học và mở những viện khoa học trên đất của nhau. Khôi phục tình trạng của Viện Pasteur và Trường Viễn Đông bác cổ.
    Khoản 4: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ ưu tiên dùng người Pháp làm cố vấn hoặc chuyên môn, đặc quyền này chỉ hết hiệu lực khi nước Pháp không cung cấp được nhân viên mà Việt Nam cần.
    Khoản 5: Đồng bạc Đông Dương sẽ là thứ tiền duy nhất tiêu dùng trong toàn cõi Đông Dương sau khi giải quyết vấn đề điều hoà tiền tệ hiện thời, và do Ngân hàng Đông Dương phát hành trước khi thành lập một viện phát hành tiền tệ. Một uỷ ban gồm đại biểu của tất cả các nước hộ viên của Liên bang Đông Dương sẽ nghiên cứu chế độ pháp lý của viện phát hành ấy, và có nhiệm vụ dung hợp tiền tệ và hối đoái đồng bạc Đông Dương thuộc về khối đồng Franc.
    Khoản 6: Việt Nam cùng với các nước Liên bang Đông Dương họp thành một quan thuế đồng minh, trên khắp Đông Dương sẽ không có hàng rào quan thuế nội địa và thuế xuất nhập cảng sẽ đánh đều nhau. Một uỷ ban dung hợp quan thuế và ngoại thương (có thể là uỷ ban dung hợp tiền tệ, và hối đoái nói trên) sẽ nghiên cứu những phương sách thi hành cần thiết và sắp đặt việc tổ chức quan thuế Đông Dương.
    Khoản 7: Một uỷ ban Việt – Pháp để điều hoà giao thông sẽ nghiên cứu những phương sách tái lập và cải thiện tất cả các đường giao thông liên lạc giữa Việt Nam với các nước Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp.
    Khoản 8: Trong khi chờ đợi hai bên ký kết một hiệp định dứt khoát giải quyết vấn đề ngoại giao của Việt Nam với ngoại quốc, một uỷ ban chung Việt – Pháp sẽ ấn định việc đặt lãnh sự Việt Nam tại các nước lân bang và sự giao thiệp giữa Việt Nam với các lãnh sự ngoại quốc.
    Khoản 9: Chính phủ hai bên cùng ấn định những phương sách: a) Đình chỉ mọi hành động xung đột và vũ lực; b) Bộ tham mưu hai bên sẽ ký những hiệp định định rõ điều kiện thi hành và kiểm soát những phương sách này; c) Định rõ và phóng thích tù nhân chính trị đang bị giam giữ, trừ những trường hợp “thường tội” đại hình và tiểu hình; cũng như tù nhân bị bắt trong các cuộc hành binh. Hai bên bảo đảm không truy tố và sẽ không tha thứ một hành động vũ lực nào đối với những người trung thành với quốc gia hai bên; d) Hai bên bảo đảm cho nhau những quyền tự do dân chủ đã định trong khoản thứ nhất; đ) Hai bên đình chỉ việc tuyên truyền không thân thiện về nhau; e) Chính phủ hai bên hợp tác để những kiều dân các nước trước kia là thù địch không thể làm hại được nữa; g) Một nhân vật do Chính phủ Việt Nam chỉ định và được Chính phủ Pháp công nhận, sẽ được uỷ nhiệm bên vị thượng sứ để xếp đặt sự cộng tác cần thiết cho việc thi hành những điều thoả thuận này.
    Khoản 10: Chính phủ hai bên cùng tìm cách ký kết những bản thoả thuận riêng về bất cứ vấn đề nào có thể thắt chặt liên lạc và dọn đường cho một hiệp ước chung dứt khoát. Theo đó, các cuộc đàm phán sẽ sớm tiếp tục, chậm nhất là vào tháng 1 năm 1947.
    Khoản 11: Bản thoả hiệp này ký làm hai bản. Tất cả các khoản sẽ bắt đầu thi hành từ 30 tháng 10 năm 1946.

    Hệ quả;
    Xóa bỏ cơ chế Toàn quyền Đông Dương do Pháp áp đặt suốt 80 năm đô hộ VN.Đảm bảo cho chính phủ VNDCCH tồn tại.
    Tạm ước để ngỏ quyền lợi về ngoại giao với thế giới của VNDCCH mà không phụ thuộc vào ý chí của người Pháp.

    Tạm ước Việt – Pháp về mặt quân sự giữ nguyên tình trạng chiếm đóng của các phe tham chiến, trong đó có cả quân đội VNDCCH và Pháp. Tuy nhiên có điều đáng kể là người Pháp tái lập ưu thế kinh tế của họ ở Đông Pháp qua hai điểm:

    a) Các công ty của Pháp được quyền hoạt động trở lại ở Đông Dương sẽ “không phải chịu một chế độ khe khắt hơn chế độ dành cho tài sản và xí nghiệp của người Việt Nam” (Khoản 2 trong tạm ước),
    b) Thuế quan, nguồn lợi tức đáng kể nhất trong ngân sách Liên bang Đông Dương, sẽ do người Pháp tiếp tục đảm nhiệm

    Những điểm về chính trị chỉ xác nhận những gì đã thỏa thuận trong Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt 1946 ký 6 tháng trước.
    Theo các nhà nghiên cứu ,ý Tạm ước V-Ph này mục đích là Việt Minh có thực tâm quan hệ với Pháp về lâu dài, nhất là về kinh tế, và VNDCCH muốn từng bước giành độc lập mà không đổ máu của cả 2 bên.
    Tạm ước này đã được các đồng chí của HCM ủng hộ như các ông Trường Trinh và Võ Ng Giáp,và Việt Minh gọi là sách lược “Hòa để Tiến” tuy vậy cũng gây hiểu lầm cho 1 số người khác, khi họ chỉ muốn đẩy Pháp ra biển Đông mà chưa biết thực lực của VN khi ấy chỉ có gậy tầm vông và bom 3 càng cảm tử, còn quân Pháp thì vũ khí trang bị tận răng, có xe tăng, tàu chiến, Đại bác 105 ly, và cả nhiều tên tay sai người Việt hỗ trợ.
    HCM muốn nhân nhượng Pháp để có hòa bình và bắt tay với Pháp xây dựng tình hữu nghị có lợi cho 2 dân tộc Việt Pháp,những người VN là quan lại làm việc cho Pháp rất bất bình, họ chỉ muốn cam tâm làm nô lệ cho Pháp và không đếm xỉa đến quốc xỉ.
    Vì bị những ẻ hoạt đầu người Việt xúi dục, người Pháp đã ra tối hậu thư yêu cầu Việt Minh bỏ vũ khí,giành cho Pháp quyền kiểm soát Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố lớn ở VN, buộc lòng HCM phải ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, trong đó có câu: ” Chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng muốn cướp nước ta một lần nữa.,Hoặc “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước , không chịu làm nô lệ…”
    XIN LƯU Ý với các bạn là cho đến nay, không có một hiệp ước đi đêm nào của HCM ký với Pháp, vì dù muốn hay không các tạm ước , hay hiệp ước trước sau thì đều phải công khai, lịch sử không nên nói bừa chụp mũ mang lý sự người Mèo của Nguyễn Văn thạc.

  7. XIN CÓ MẤY CÂU HỎI “DÁO SƯ” NG VĂN THẠC.
    Ngày nay những người quan tâm đén sử Việt đều muốn tìm lại bản chất của các cuộc chống ngọai xâm thời hiện đại của nhân dân VN, ngõ hầu đoàn kết người Việt với nhau, hãy đừng bị chia rẽ vì những vấn đề Lịch sử.
    Người VN đã giành độc lập và thống nhất Tổ quốc vào sau ngày 30/4/1975, chúng ta đã phải đổ máu rất nhiều mới giành được thắng lợi này. Một câu hỏi đặt ra, tại sao Pháp, sau rồi Mỹ cứ muốn can thiệp vào VN, thậm chí đổ nhiều tiền của sinh mạng vào Việt Nam để rồi chuốc lấy thất bại thảm hại trước một đát nước nhỏ bé, trình độ cơ khí mới chỉ sản xuất được Khẩu súng săn, và đại bác bắn bằng châm lửa hậu.Phải chăng VN đe dọa an ninh của Pháp và Mỹ?
    Năm 1945, trong khi vua Bảo Đại cầm quyền,nhưng VN đã bị người Pháp xé ra làm ba miền, cộng với 2 vùng Lào và Căm pu chia thành 5 vùng thuộc Liên Bang Đông Dương. Từ nay người ta chỉ biết có Liên Bang Đông Dương, còn VN hoàn toàn bị xóa trên bản đồ thế giới.Bảo Đại làm vua mà ăn lương Pháp. Bảo Đại quân đội không có, nếu có chỉ là lính ăn lương Pháp để đánh lại người Việt muốn giành tự do. Bảo Đại chịu sự bảo hộ của người Pháp( nhục), sau thì người Nhật, hơn hai triệu người VN chết đói, và đang đến bờ diệt vong.
    Tôi rất muốn biết “dáo sư” Ng Văn thạc giải thích điều này thế nào, ông Bảo Đại trước vận mệnh quốc gia ảm đạm như thế có nên phải thay thế hay không, Thực dân Pháp có nên bị đánh đổ hay không? VN bị xóa tên trên bản đồ thế giới có thấy nhục hay không?Có cần ra đời một mặt trận Việt Minh hay không?
    Tiền đề của việc đánh giá các nhân vật lịch sử và nỗi đau của dân tộc Việt là từ những việc trên. Xin dáo sư Thạc trả lời trực tiếp bằng ý kiến cá nhân,không dẫn nguồn.

    • Không hiểu tại sao Minh Lý lại sợ giào sư Thạc dẫn nguồn, thì đây giáo sư trả lời mà không cần dẫn nguồn :
      (1) Ngày 30-4-1975 không phải là ngày độc lập thống nhất. Mà là ngày Lê Duẩn xua quân từ Miền Bắc tràn vào Nam ăn cướp đất đai tài sản của nhân dân Miền Nam. Cái nào chở đượcthì ngày đêm chở về Bắc, số nào không chở được thì ngày đêm chở về Bắc, cài nào không chở được như nhà của đất đai thì Lê Duẩn và phe đàng đem vợ con vào chiếm ngụ.
      (2) Đúng là Bộ đội Miền Bắc (chúng ta) đã chết hằng triệu người mới làm nên chiến thắng đó, nhưng trong khi Lê Duẩn và phe đàng hưởng giàu sang phú quý thì gia đình bộ đội chỉ được cấp cho cái bằng liệt sĩ và mỗi năm chỉ được cấp nửa cân đường và 2 lạng trà.
      (3) Tại sao Pháp muốn can thiệp vào Việt Nam? Là vì Pháp chiếm Việt Nam làm thuộc địa, không riêng nước Pháp mà nước Tàu hằng nàng năm trước cũng vậy.
      Thế chiến thừ 2 quân Đức xâm lăng nước Pháp, nghười Pháp nhờ quân Mỹ vào Pháp để đánh bật quân Đức ra khỏi Pháp. Năm 1950 quân Bắc Hàn tràn qua vĩ tuyến 38 xuống chiếm thủ đô Seoul của Nam Hàn. Người Nam Hàn nhờ quân Mỹ đổ bộ vào Nam Hàn để đẩy lùi quân Bắc Hàn về bắc vĩ tuyến cho tới ngày nay.
      Năm 1965 quân Bắc Việt tràn qua Vĩ tuyến 17 xâm lăng Nam Việt. Người Nam Việt cũng nhờ Mỹ vào Nam Việt để đẩy quân Bắc Việt về bắc vĩ tuyến 17 nhưng quân Mỹ không thành công.
      (4) Nước Việt Nam bị xe ra làm ba miền là vào năm 1885, dưới triều vua Kiến Phước, chứ không phải năm 1945.
      (5) Liên bang Đông dương được thành lập vào tháng 8 năm 1946 chứ không phải là năm 1945, lúc đó Hồ Chí minh đang làm chủ tịch nước chứ không phải Bảo Đại.
      (6) Bảo đại làm vua mà ăn lương Pháp bởi vì Pháp chiếm toàn nước Việt vào năm 1885, đuổi vảu Hàm Nghi chạy lên chiến khu, rồi thuê ông nội của Bảo Đại là Đồng Khánh tiếp tục làm vua của triều đình Huế, dĩ nhiên chỉ là vua bù nhìn. Không phải vua Việt, mà vua Lào, Miên và các nước thuộc địa khác của Pháp cũng vậy. Và các nước thuộc địa khác như Ấn Độ cũng vậy.
      (7) Trước vận mạng như thế thì ngày 9-3-1945 quân Nhật đánh đuổi quân Pháp và trao trả độc lập cho Bảo Đại. Bảo đại thành lập chính phủ quân chủ lập hiến, do Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Nên đánh đổ thực dân Pháp nhưng người nhật đã đánh đổ rồi. Ngày đó mặt trận Việt Minh chưa xuất hiện và ông Hồ Chí Minh thì đang làm việc cho tình báo Mỹ tại Tân Trào.
      Hy vọng Minh Lý thỏa mãn. Những kiến thức này chỉ cần dở sách của Viện sử học Hà Nội ra cũng có, không cần phải dẫn nguồn.

  8. Dáo sư Ng Văn Thạc nói thế thì sai lắn!
    1. Trả lời Liên bang Đông Dương có từ bao giờ ?
    – Thực tế là vào khoảng giữa thế kỷ 19, triều đình phong kiến nhà Nguyễn tại Việt Nam bắt đầu suy yếu. Nhân cơ hội ấy, vào tháng Chín năm 1858, lực lượng viễn chinh Pháp cùng sự hỗ trợ của Tây Ban Nha nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà (ngày nay thuộc Đà Nẵng), mở đầu cho cuộc xâm lăng Đông Dương của thực dân Pháp. Đến ngày 17 tháng 10 năm 1887( chứ không phải 1885 như văn Thạc nói), Liên bang Đông Dương đầu tiên được chính thức thành lập với bốn thuộc địa là Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Campuchia; Lào gia nhập vào năm 1893 và Quảng Châu Loan( nay thuộc Tầu cộng) được sáp nhập năm 1900. Thủ phủ của Đông Dương ban đầu đặt tại Sài Gòn, sau chuyển ra Hà Nội năm 1902( theo Agonie de Indochine, Đông dương hấp hối,Hồi ký Heri Navarre).
    Liên bang Đông Dương là một chế độ nửa thuộc địa, nửa phong kiến. Đứng đầu liên bang là một Toàn quyền (Gouverneur Général de l’Indochine française từ 1887 đến 1945) hay một Cao ủy (từ 1945 đến 1954) của chính phủ nước bảo hộ Pháp. Một số chính quyền địa phương đặt dưới quyền các vị vua địa phương mà thực chất là bù nhìn, vì quyền lực vẫn nằm trong tay các quan chức thực dân Pháp..
    Như vậy cho đến trước tháng 3/1945 khi chưa bị Nhật đảo chính thì LBĐD vẫn còn tồn tại.
    Sau này Bảo Đại rời bỏ Việt Minh và tiếp tục nhận sự bảo hộ của Pháp, Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée, thành lập một chính quyền Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, gọi là Quốc gia Việt Nam, đứng đầu là Bảo Đại.Quân đội quốc gia của Bảo Đại nằm trong khối quân đội Liên Hiệp Pháp phục vụ lợi ích Thực dân Pháp chống lại Việt Minh, nghe nói sỹ quan của quân đội quốc gia là Phạm văn Phú đã từng hát quốc ca Pháp khi bắn lại quân Việt Minh của tướng Giáp ở Điện Biên Phủ, rốt cuộc Phú bị bắt làm tù binh, được trao trả về cho Pháp, sau này Phạm văn Phú bị quả báo, khi mang lon trung tướng quân lực VNCH , rồi bị thất trận ở Ban Mê Thuột, ông ta đã tự sát. Đó điểm nhấn thất bại của lính đánh thuê cho Pháp và Mỹ, dáo sư Thạc có biết không?
    – Về Liên Bang ĐD sau này , nhờ có sự hỗ trợ trên danh nghĩa của Bảo Đại nên nó còn kéo dây ra ít năm nữa, Liên bang Đông Dương chỉ thực sự tan rã sau khi Pháp bại trận ở Điện Biên Phủ và Hiệp ước Genève được ký kết năm 1954.
    Trả lời câu này văn Thạc sai hoàn toàn với hiện thực Lịch sử .
    2.Vai trò của Bảo Đại , phần này Thạc nói tạm được, ví dụ như Thạc công nhận ” Bảo đại làm vua mà ăn lương Pháp bởi vì Pháp chiếm toàn nước Việt vào năm 1885, đuổi vua Hàm Nghi chạy lên chiến khu, rồi thuê ông nội của Bảo Đại là Đồng Khánh tiếp tục làm vua của triều đình Huế, dĩ nhiên chỉ là vua bù nhìn. Không phải vua Việt, mà vua Lào, Miên và các nước thuộc địa khác của Pháp cũng vậy. Và các nước thuộc địa khác như Ấn Độ cũng vậy”. Chỗ này không thấy văn Thạc công nhận thân phận bù nhìn có nhục hay không, chỉ cần bạn nói : xê-o-co – sắc – có ” thì bạn mới được coi là người biết tôn trọng nhân cách và và đau nỗi nhơ quốc thể.
    Hoặc gợi ý , nếu văn Thạc thêm ý là “Bảo Đại nên bị lật đổ vì vô dụng và đây là nỗi nhục mất nước” thì câu (6 ) của Thạc sẽ được 10 điểm.
    Trong câu (7) của văn Thạc cũng cố tình quên sự kiên năm 1945, hơn 2 triệu người VN chết đói, tội ác trời không dung đất không tha của Pháp và Nhật, và là một trong những nguyên nhân Việt Minh nổi dây, những lãnh tụ Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp… xuất hiện. Vậy mà Thạc chỉ nêu được sự kiện “ngày 9-3-1945 quân Nhật đánh đuổi quân Pháp và trao trả độc lập cho Bảo Đại. Bảo đại thành lập chính phủ quân chủ lập hiến, do Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Nên đánh đổ thực dân Pháp đã được người Nhật đã đánh đổ rồi.”
    Xin lưu ý văn Thạc, bạn vẫn còn lẩn tránh một điều là dù có thành lập chính phủ Quốc gia, Bảo Đại chỉ là con rối cho Nhật sau là Pháp, vì sao, vì Bảo Đại không có quân đôi, tài chính, đi đâu Bảo Đại cũng bị người Pháp giám sát khống chế, người Pháp bị Nhật đánh đổ nhưng ngựa quen đường cũ, Pháp không chịu cho VN độc lập, vậy theo bạn Bảo Đại có nên làm quốc trưởng không? Hãy nghe lời nói của cựu sỹ quan tình báo Mỹ bên cạnh Hồ Chí Minh năm 1945 “Archimedes L.A Patti nhận xét: “Tất nhiên họ (Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại ) đã lầm, không bao giờ Pháp cho Việt Nam độc lập để mất Đông Dương. Bảo Đại trở về Việt Nam và cho rằng ông ta đã làm hết sức mình để người Pháp phải giữ lời cam kết. Ông sẽ chờ và xem. Có thể người Mỹ sẽ khích lệ giúp đỡ. Nhưng sau một ngày ở Sài Gòn, thấy Pháp từ chối không cho ông sử dụng dinh Norodom, trụ sở chính quyền thuộc địa Pháp, Bảo Đại liền rút lui về nhà ở Đà Lạt. Sự việc này cho thấy rõ tình hình chẳng có gì thay đổi cả”.(^ Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008, trang 655).
    Tuy không nói rõ ra, nhưng thực tế Văn Thạc luôn ảo tưởng là có Bảo Đại rồi có chính phủ Quốc gia do Pháp nặn ra rồi thì Việt Nam có độc lập mà không tốn 1 viên đạn, đó là nhận xét rất sai lầm, Văn Thạc không nhận ra tội ác của Thực dân Pháp khi họ đàn áp , bỏ tù và giết hại những người VN yêu nước như các cụ Trương Định, Phan Đình Phùng , Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thiện Thuật…và cả những người ôn hòa như cụ Phan Chu Trinh cũng bị đày ải nơi nhà tù Côn Đảo, vậy thì Bảo Đại , một ông vua chỉ biết ăn chơi và lũ quần thần xu nịnh làm nên trò trống gì?.
    Chính từ xuất phát điểm như vậy mà suốt các buổi tranh luận tôi nhận ra bạn chỉ loanh quanh tìm cách bới lông tìm vết bôi nhọ Việt Minh cs những người có công đánh giặc cứu nước.
    Xin nhắn bạn Văn Thạc một điều, cái mà bạn phóng đại sự hy sinh của những người lính Việt Nam khi chiến đấu giải phóng đất nước, cốt để mọi người hiểu lầm là quân đội giải phóng hiếu chiến và cuộc giải phóng MN là đổ máu vô ích. Văn Thạc không biết một điều số binh sỹ của quân giải phóng chết là vì họ là lực lượng tấn công, chưa kể là vũ khí Mỹ nhiều và hiện đại hơn. Nhưng chết nhiều vẫn là dân, các vụ mà người Mỹ công khai thừa nhận như vụ Mỹ Lai, Thạnh Phong ở Miền nam , hàng trăm người già phụ nữ trẻ em trong tay không một tấc sắt bị lính Mỹ tàn sát, Hiện nay còn hàng chục nghìn người ở VN còn bị nhiễm chất độc đi-ô-xin/da cam do quân đội Mỹ thả xuống cánh rừng và đồng ruộng VN,gây nên dị tật bẩm sinh, sống dở chết dở, hoặc không được làm người. Mỹ dùng B52 tấn công hà nội là hàng nghìn thường dân bị thiệt mạng. Nếu họ là người anh em , bố mẹ ruột thịt thì văn Thạc có thể ngồi yên được không?
    Cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp và Mỹ đã bị nhân dân 2 nước này coi là cuộc “chiến tranh bẩn thỉu”. Hàng trăm triệu người trên thế giới đã biểu tình phản đối, dân nước Anh đã lập tòa án Béc-tơ-ranh Rút-xen để kết án tội ác chiến tranh của Mỹ, hàng trăm nghìn thanh niên Mỹ đã đốt thẻ quân dịch( trong đó ông Bill Clinton, sau này là tổng thống Mỹ). Đến người nước ngoài không anh em thân thiết gì họ còn có tình thương yêu như thế, vậy mà Văn Thạc cứ đổi lỗi cho những người chiến đầu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vậy xin hỏi bạn có phải là người VN không?
    Bạn văn Thạc quên một điều là người Vn có câu ” chết vinh còn hơn sống nhục” Thân luồn cúi đỉnh chung cũng nhục, thân tự do rau cháo mà vinh” (Á Nam Trần tuấn Khải).
    Trần Hưng Đạo, Quang Trung Lê Lợi đánh giặc có phải hy sinh những chiến sỹ ưu tú của mình không? tất nhiên là rất nhiều , nhưng Lịch sử luôn dành cho họ những lời ca ngợi , và không ai phản bác sự nghiệp của họ cả, trừ những loại người như bè lũ Lê Chiêu Thống mới chửi bới anh hùng như Quang Trung mà thôi.
    Cổ xúy cho những tội ác xâm lược, dè bỉu sự nghiệp giải phóng đất nước của những người anh hùng Vn chống xâm lược , Thạc đang đứng về phe nào, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, hay Bảo Đại ,Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu?
    Rất mong được Văn Thạc ” dũng cảm” trả lời thẳng các câu hỏi này và các câu hỏi trên, tôi sẽ hiểu thực chất Văn Thạc là con người như thế nào, có phải là “Giáo sư” như Văn Thạc đã tự nhận???

    • Trở lại thắc mắc ban đầu của Minh Lý đã hỏi giào sư Thạc tôi:
      (1) Lý cho rằng ngày 30-5-75 là ngày độc lập và thống nhất nhưng giào sư Thạc tôi đã nói rằng đó là ngày Lê Duẩn xua quân vào cướp đất đai tài sản của nhân dân Miền Nam. Thạc tôi trả lời như vậy đúng hay sai sao không thấy Lý trả lời ?
      (2) Lý cho rằng bộ đội CSVN đổ máu rất nhiều mới chiếm được Miền Nam nhưng Thạc tôi nói rằng những người đổ máu ra cho Lê Duẩn và phe đảng thì nhận được gì? Sao không thấy Lý trả lời?
      (3) Lý hỏi tại sao Pháp quan tâm tới VN thì Thạc tôi nói vì muốn chiếm VN làm thuộc địa. Giáo sư thạc tôi trả lời như vậy đúng hay sai sao không thấy Lý trả lời?
      (5) Lý nói có Liên Bang Đông dương vào năm 1945 nhưng Thạc tôi nói năm đó chưa có LBĐD. Câu này thì Lý mới trả lời phản bác, lý cho rằng LBĐD được thành lập 1887. Tời đây thì Thạc tôi mới hiều tại sao Lý không muốn Thạc tôi trích dẫn tài liệu, để rồi Lý sẽ trích dẫn theo ý của Lý nhưng không ai tìm đâu ra những gì mà Lý trích dẫn.
      Riêng chuyện thành lập Liên Bang đông dương thì Thạc tôi trích sách Paris-Saigon-Hanoi của Philippe Devillers mà Hà Nội xuất bản, Hoàng Hữu Đản dịch, trang 230 có ghi rằng chương trình nghị sự ngày 9-7-1946 của hội nghị Fontainebleau gồm có mục thứ 2 là bàn về dự thảo thành lập Liên Bang Dông Dương. Như vậy là cho đến ngày 9-7-46 chưa có LBĐD phải không?
      Để cho Lý vỡ ra thêm, Thạc tôi trích dẫn sách cảu Bùi Anh Trinh giải thích chi tiết về vụ thành lập LBD9D như sau :
      “Ngày 23-7, trong khi cuộc đàm phán về Việt Nam đang diễn ra tại Pháp thì tại Việt Nam Cao ủy D’Argenlieu tuyên bố sẽ tổ chức một hội nghị thành lập Liên Bang Đông Dương tại Đà Lạt vào ngày 1-8 gồm các đại biểu nước Căm Bốt, nước Lào, nước Nam Kỳ, Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Tây Kỳ (Cao nguyên Trung Việt hay còn gọi là Tây Nguyên)”.
      “Đây mới là mưu tính thực sự của các chính trị gia Pháp. Họ muốn thành lập một quốc gia liên bang tại Đông Dương gồm 6 nước là Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cam Bốt, Lào và Tây Nguyên. Giống như người Anh thành lập Liên Bang Đại Mã Lai Á. Mục đích của họ là trả lại độc lập cho người bản xứ nhưng những người bản xứ sẽ tranh chấp với nhau và vì thế cần có sự trọng tài của thực dân quan thầy. Báo chí Đông Dương sôi nổi với hội nghị Liên bang Đông Dương trong khi không có tin tức gì về hội nghị của phái đoàn Hồ Chí Minh tại Pháp. Phái đoàn Hồ Chí Minh tại Fontainebleau nhận được tin về Hội nghị Đà Lạt đã bỏ cuộc họp ra về để phản đối”.
      “Ngày 28-7, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Moutet gởi một công hàm cho Cao ủy D’Argenlieu: “Công hàm ngày 24 vừa qua của ngài thông báo về cuộc hội nghị mới ở Đà Lạt ngày 1-8 về kế hoạch thành lập Liên Bang làm tôi hết sức ngạc nhiên. Chính phủ chưa bao giờ được hỏi ý kiến xem cuộc hội nghị này có đúng hay không, trong khi cuộc hội nghị Fontainebleau còn đang tiếp diễn…” (Hsltr/Quốc gia Pháp).”
      Ngày 1-8, sau khi được tin D’Argenlieu khai mạc hội nghị thành lập Liên Bang tại Đà Lạt. Ông Phạm Văn Đồng đọc trước hội nghị một công hàm gửi cho phái đoàn Pháp. Trong công hàm nói rằng nếu D’Argenlieu tiếp tục thành lập Liên Bang thì Thỏa ước 6-3 không còn giá trị và vì thế hội nghị Fontainebleau không còn lý do để tiếp tục
      Hóa ra Lý không muốn Thạc tôi trích dẫn Bùi Anh Trinh vì ở trong nước không có sách của Bùi Anh Trinh và CSVN cấm tuyệt những ai chuyền tay nhau sách của BAT. Nhưng Lý có thể hỏi lại những người ở hải ngoại, nhờ họ dở lại sách “Bối Cảnh Lịch Sử Chính Trị Việt Nam” của Bùi Anh Trinh, quyển thượng, trang 440 và 441. Sách do Làng Văn xuất bản tại Canada năm 2008.
      Ngoài ra giáo sư Thạc tôi có nói rằng lúc Nhật trao trả độc lập cho Bảo Đại thì Hồ Chí Minh đang hoạt động tình báo cho Mỹ tại Tân Trào. Không thấy Lý nòi gì về câu này nhưng Lý cho biết đã có đọc hồi ký của thiếu tá tình báo Mỹ Patti do Đà Nẵng xuất bản thì có nghĩa là Lý cho Thạc tôi nói đúng.
      (6) Lý hỏi Thạc tôi là tại sao Bảo đại làm vua mà lại ăn lương của Pháp. Câu này thì Lý cho 10 điểm bởi vì nó đúng ngay cái thắc mắc lâu nay của Lý.
      (7) Lý hỏi tôi có nên đánh đổ thực dân Pháp hay không? Thạc tôi trả lời là nên đánh đổ nhưng Nhật đã đánh đổ rồi. Không thấy Lý nói tôi nói đúng hay không mà lại xoay ra trách Nhật gây ra nạn đói. Chuyện này thì ai cũng biết chứ đâu phải một mình Lý biết.

  9. Lý (ML) Trả lời Nguyễn Văn Thạc
    • Văn Thạc : Trở lại thắc mắc ban đầu của Minh Lý đã hỏi giào sư Thạc tôi:
    – (1) Lý cho rằng ngày 30-5-75 là ngày độc lập và thống nhất nhưng giào sư Thạc tôi đã nói rằng đó là ngày Lê Duẩn xua quân vào cướp đất đai tài sản của nhân dân Miền Nam. Thạc tôi trả lời như vậy đúng hay sai sao không thấy Lý trả lời ?
    ML : – Về vấn đề này ML Lý trả lờii, Ông Lê Duẩn giải phóng Miển nam để VIệt nam thống nhất theo đúng nguyện vọng của nhân dân VN, không có cảnh cướp bóc đát đai tài sản nhân dân MN như Văn Thạc vu khống, chỉ có 1 số kẻ là tay sai của Mỹ, thua trận theo đuôi Mỹ về Mỹ , và 1 số nhà tư sản , phần đông là người Hoa lũng đoạn kinh tế Miền Nam, làm giầu trên xương máu của nhân dân VN thì cần phải nghiêm trị và tịch biên tài sản sung công.
    o *) Văn Thạc : – (2) Lý cho rằng bộ đội CSVN đổ máu rất nhiều mới chiếm được Miền Nam nhưng Thạc tôi nói rằng những người đổ máu ra cho Lê Duẩn và phe đảng thì nhận được gì? Sao không thấy Lý trả lời?
    o ML trả lời : Người dân đổ máu vì giải phóng miền nam được gì mà không thấy thì chỉ có kẻ điếc và mù mới không biết đó là:
    o – Về lâu dài VN thống nhất có sức mạnh đoàn kết, quan hệ ngoại giao với bất kể các nước trên thế giới là quyền của mình, TỪ NGÀY 2/9/1945 Hồ Chí Minh đã lấy lại tên VN trên bản đồ thế giới, VN không phải tủi nhục như các vua nhà Nguyễn thời Pháp,hoặc như thời Ngô Đình Diệm Mỹ cho sống thì sống ,Mỹ cho chết thì chết, hoặc như thời Ng văn Thiệu ăn theo nói leo, Mỹ cắt viện trợ là bỏ của chạy lấy người sang Mỹ vì không có tiền trả lương cho lính.
    o – Sau ngày 30/4 nhân dân cả nước từ Mục Nam quan đến Mũi cà mau, được thoải mái đi lại, không còn cách trở như trước. Đường cao tốc, cầu xi măng hiện đại Vn ngày nay ngon lành, đặc biệt giao thông vùng đồng bằng sông Cửu Long gấp 15 lần thời VNCH. Các thành phố Hà Nội Hải phòng, Đà Nẵng ,Sài gòn to đẹp gấp 10 đến 15 lần trước ngày 30/4. VN thừa ăn và xuất xuất khẩu trên 3 triệu tấn gạo, nhiều dân nông thôn và miền núi đã săm được ô tô hạng sang…v.và v..v.
    o *) Văn Thạc : (3) Lý hỏi tại sao Pháp quan tâm tới VN thì Thạc tôi nói vì muốn chiếm VN làm thuộc địa. Giáo sư thạc tôi trả lời như vậy đúng hay sai sao không thấy Lý trả lời?
    o ML : – Câu này Thạc trả lời đúng, nhưng thiếu đó là cần phải khẳng định đó là nõi nhục của dân tộc, nhân dân VN cần đánh đổ Pháp( chỗ này Văn Thạc lẩn tránh trả lời)
    *) Văn Thạc : – (5) – Lý nói có Liên Bang Đông dương vào năm 1945 nhưng Thạc tôi nói năm đó chưa có LBĐD.
    o ML – LB Đông Dương, điều này đã giải thích không nhắc lại. nay nói lại cho rõ, : – Liên bang Đông Dương thành lập năm 1887 theo” Đông dương hấp hối “ của Henri Navarre bại tướng Pháp tại VN. Bách khoa thư mở wikipedia VN còn giải thích thêm “ đứng đầu LB ĐD là Toàn quyền Đông Dương (tiếng Pháp: Gouverneur-général de l’Indochine française), là chức vụ cao cấp của quan chức cai trị thuộc địa Pháp, đứng đầu trong Liên bang Đông Dương. Trong văn bản chính thức bằng chữ Hán với triều đình nhà Nguyễn, chức vụ này được viết đầy đủ là Đông Dương tổng thống toàn quyền đại thần (chữ Hán: 東洋總統全權大臣).
    Sau Thế chiến thứ hai, nhằm tránh khơi gợi lại thời kỳ thuộc địa, chức vụ Toàn quyền được thay thế bằng chức vụ thành Cao ủy Đông Dương hay Cao ủy Đông Pháp (tiếng Pháp: Haut-commissaire de France en Indochine). Cuối tháng 4 năm 1943, chức vụ này một lần nữa được thay đổi đến năm 1953 thì gọi là Tổng ủy Đông Dương (tiếng Pháp: Commissaires généraux en Indochine). Sau ngày 21 tháng 7 năm 1956, chức vụ này bị bãi bỏ theo tinh thần của Hiệp định Genève, 1954.
    – điều quan trọng là VN bị xóa trên bản đồ thế giới, nỗi nhục nữa do Pháp gây nên mà Văn Thạc lẩn tránh không muốn khẳng định.
    o *) Văn Thạc nói: “Riêng chuyện thành lập Liên Bang đông dương thì Thạc tôi trích sách Paris-Saigon-Hanoi của Philippe Devillers mà Hà Nội xuất bản, Hoàng Hữu Đản dịch, trang 230 có ghi rằng chương trình nghị sự ngày 9-7-1946 của hội nghị Fontainebleau gồm có mục thứ 2 là bàn về dự thảo thành lập Liên Bang Dông Dương. Như vậy là cho đến ngày 9-7-46 chưa có LBĐD phải không?
    Để cho Lý vỡ ra thêm, Thạc tôi trích dẫn sách cảu Bùi Anh Trinh giải thích chi tiết về vụ thành lập LBD9D như sau v..v ..va ..v.v..
    o ML : Hội nghị Đà lạt và Fontainebleau nội dung trước sau thì phía Pháp cũng chỉ muốn chia cắt và áp đặt chế độ thực dân ở Vn. Sách Bùi Anh Trinh sặc mùi nô lệ không có giá trị tham khảo.Vấn đề ở đây là vai trò Bảo Đại và âm mưu của Pháp dụng Bảo Đại áp đặt nô lệ lên VN , tại sao Việt Minh phải chống lại? Bùi Anh trinh cũng không thấy nói đến

    *) Văn Thạc nói” Ngoài ra giáo sư Thạc tôi có nói rằng lúc Nhật trao trả độc lập cho Bảo Đại thì Hồ Chí Minh đang hoạt động tình báo cho Mỹ tại Tân Trào. Không thấy Lý nòi gì về câu này nhưng Lý cho biết đã có đọc hồi ký của thiếu tá tình báo Mỹ Patti do Đà Nẵng xuất bản thì có nghĩa là Lý cho Thạc tôi nói đúng.
    o ML : – ML đã đọc Why Vieetnam? Của Archimedes L.P.Patti, ông này rất phục HCM về tinh thần yêu nước và lòng dũng cảm. Hồ Chí Minh quan hệ rất tốt với Mỹ khi đó, HCM từng gặp tướng Mỹ Chennault , ông này tặng ảnh cho HCM, kèm dòng chữ “ Bạn chân thành của anh. Claire L.Chennault.”, sau này Mỹ có cung cấp cho Việt Minh một số vũ khí, trong đó có điện đài để ông liên lạc trực tiếp với Mỹ, khi ấy Việt Minh không có người biết tiếng Anh,và 6 khẩu súng lục, Việt Minh đã dùng bảo vệ HCM trong lễ tuyên ngôn độc lập.
    o – Có thể HCM tự mình là điện báo viên,cũng như đánh máy chữ ông thường tự làm, nhưng không phải là gián điệp hay nói khác đi làm tình báo cho Mỹ. Chính Hồ Chí Minh ít lâu sau đã gửi thư cho TT Mỹ Truman, Tưởng giới Thạch, Stalin với cương vị chủ tịch nước VNDCCH.
    o *)Văn Thạc: – (6) Lý hỏi Thạc tôi là tại sao Bảo đại làm vua mà lại ăn lương của Pháp. Câu này thì Lý cho 10 điểm bởi vì nó đúng ngay cái thắc mắc lâu nay của Lý.
    o ML : – Việc này ML đã rõ từ lâu. Tiếc rằng văn Thạc chưa thấm nỗi nhục này !
    *) Văn Thạc : – (7) Lý hỏi tôi có nên đánh đổ thực dân Pháp hay không? Thạc tôi trả lời là nên đánh đổ nhưng Nhật đã đánh đổ rồi. Không thấy Lý nói tôi nói đúng hay không mà lại xoay ra trách Nhật gây ra nạn đói. Chuyện này thì ai cũng biết chứ đâu phải một mình Lý biết.
    o ML : – Thủ phạm gây nên nạn đói là Nhật và Pháp chứ không phải là chỉ riêng Nhật, vì Pháp cai trị Vn, nhưng bỏ rơi VN và đã đầu hàng Nhật vô điều kiện một cách nhục nhã, Bảo Đại đang là Hoàng đế tuy chỉ là bù nhìn, nhưng ông ta cũng phải chịu liên đới.
    – – Đó chính là nguyên nhân nhân dân VN căm thù Pháp Nhật , nên đã vùng lên chống lại chúng. Bảo Đại khi ấy đã thoái vị và trao lại ấn kiếm cho Việt Minhvới câu nói nổi tiếng” Trẫm thà làm dân một nước tự do , còn hơn làm vua một nước nô lệ.” điều quan trọng là VN bị xóa trên bản đồ thế giới, nỗi nhục nữa do Pháp gây nên mà Văn Thạc lẩn tránh không muốn khẳng định.Ý chừng như bạn vẫn cứ níu kéo cái chế độ thực dân mà VN đã chôn vùi?Có một số kẻ cho rằng giải pháp Bảo Đại và chính phủ Quốc gia của Bảo Đại do Pháp đẻ ra thì không cần vai trò của HCM và nước VNDCCH nữa, đây chỉ là ảo tưởng mơ hồ, nhưng lại là ý tưởng của những kẻ đã từng làm tay sai cho Pháp lo sợ Việt Nam độc lập họ bị mất quyền lợi mà thôi.
    – Cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp và Mỹ đã bị nhân dân 2 nước này coi là cuộc “chiến tranh bẩn thỉu”. Hàng trăm triệu người trên thế giới đã biểu tình phản đối, dân nước Anh đã lập tòa án Béc-tơ-ranh Rút-xen để kết án tội ác chiến tranh của Mỹ, hàng trăm nghìn thanh niên Mỹ đã đốt thẻ quân dịch( trong đó ông Bill Clinton, sau này là tổng thống Mỹ). Đến người nước ngoài không anh em thân thiết gì họ còn có tình thương yêu như thế, vậy mà Văn thạc cứ đổi lỗi cho những người chiến đầu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vậy xin hỏi bạn có phải là người VN không?
    – Bạn văn Thạc quên một điều là người Vn có câu ” chết vinh còn hơn sống nhục” Thân luồn cúi đỉnh chung cũng nhục, thân tự do rau cháo mà vinh” –( Á Nam Trần tuấn Khải). Trần Hưng Đạo, Quang Trung Lê Lợi đánh giặc có phải hy sinh những chiến sỹ ưu tú của mình không? tất nhiên là rất nhiều , nhưng Lịch sử luôn dành cho họ những lời ca ngợi , và không ai phản bác sự nghiệp của họ cả, trừ những loại người như bè lũ Lê Chiêu Thống mới chửi bới anh hùng như Quang Trung mà thôi.
    Cổ xúy cho những tội ác xâm lược, dè bỉu sự nghiệp giải phóng đất nước của những người anh hùng Vn chống xâm lược , bạn văn Thạc đang đứng về phe nào?
    Những câu hỏi này của ML chưa thấy Văn thạc trả lời!

    • Chữ viết của Minh Lý còn rành rành đó mà còn chạy chối đi đâu?
      Có phải đầu tiên trò Lý viết : Xin có mấy câu hỏi “dáo sư” Ng Văn Thạc. Có đúng vậy không? Thế thì giáo sư Thạc tôi trả lời cho trò Lý vì nghĩ rằng trò Lý cần mở mang kiến thức.
      (1) Ngay trong câu hỏi đầu tiên trò Lý hỏi rằng : Người VN đã giành độc lập và thống nhất Tổ quốc vào sau ngày 30/4/1975 có phải không? Giáo sư Thạc tôi trả lời rằng không phải, đó là ngày Lê Duẩn xua quân cướp đất đai tài sản của nhân dân Miền Nam và đuổi người Miền Nam chạy ra nước ngoài.
      Thư trả lời của trò Lý không thấy nói giáo sư tôi trả lời như thế là đã vừa ý hay chưa, cho nên giào sư tôi phải hỏi là sao không thấy trả lời?
      (2) Câu thứ hai trò Lý nói rằng “chúng ta”, tức là bộ đội CSVN, đã đổ nhiều máu mới đành được thằng lợi 30-4-75. Giáo sư Thạc tôi trả lời là sau chiến thắng thì Lê Duẩn và phe đảng của Lê Duẩn chiếm hết chiến lợi phẩm, nhà cao cửa rộng, ruộng vườn hạng nhất. Còn hằng triệu gia đình liệt sĩ chỉ được mỗi năm nửa cân đường với 2 lạng trà.
      Thư trả lời không thấy trò Lý nói gì cho nên giáo sư tôi mới hỏi lại là sao không cho biết đã thỏa mãn hay chưa. Vì vậy giáo sư tôi mới hỏi lại.
      (3) Câu thứ 3 trò Lý hỏi tại sao Pháp và Mỹ cứ muốn can thiệp vào Việt Nam? Giáo sư Thạc tôi trả lời là vì Pháp muốn chiếm VN làm thuộc địa, còn Mỹ thì muốn giúp Miền Nam Việt Nam không bị rơi vào tay Lê Duẩn.
      Thư trả lời không thấy trò Lý nói gì nên giáo sư tôi phải hỏi lại.
      (4) Câu thứ 4 trò Lý nói nước VN bị xé ra làm 3 Miền vào năm 1945. Giáo sư Thạc tôi sửa lại là VN bị xé làm 3 miền từ thời Kiến Phúc, bởi hiệp ước Patenotre 1885, trong đó ghi rõ ranh giới từng Kỳ.
      Cũng không thấy trò Lý trả lời cho nên giáo sư tôi phải hỏi là đã hiểu chưa?
      (5) Câu thứ 5 trò Lý nói rằng Liên bang Đông Dương được thành lập năm 1945. Giáo sư tôi trả lời rằng LBĐD được thành lập tháng 8 năm 1946. Thư trả lời trò Lý cho biết là “ngày 17-10-1887 Liên bang Đông Dương đầu tiên được chính thức thành lập với bốn thuộc địa là Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Campuchia; Lào gia nhập vào năm 1893 và Quảng Châu Loan( nay thuộc Tầu cộng) được sáp nhập năm 1900.
      Theo đó thì Liên bang Đông dương mới đầu chỉ có Việt Nam và Campuchia, rồi sau thêm Lào và Quảng châu loan là 6. Cái này thì trò Lý có nghe ai nói liên bang ĐD gồm có 4 hay 6 thành phần bao giờ chưa? Không biết trò lý tìm ở đâu ra cái này.
      Vì vậy giáo sư Thạc tôi mới dẫn nguồn Deviller và Bùi Anh Trinh để cho trò Lý thấy Liên bang Đông dương được D’Argianglieur thành lập tại Đà lạt vào ngày 1-8-1946.
      (6) Câu thứ 6 trò Lý hỏi giáo sư tôi là tại sao Bảo Đại làm vua mà ăn lương của Pháp? Giáo sư Thạc tôi trả lời là vì năm 1885 Pháp chiếm kinh thành Huế, đuổi vua Hàm Nghi chạy lên rừng, xong rồi thuê ông nội của Bảo Đại là Đồng Khánh lên làm vua, sau đó Đồng Khánh truyền chừa vua thuê cho Khải Định, rồi tới Bảo Đại.
      Câu này thì trò Lý chịu lắm và trong thư trò Lý có ngỏ lời khen giáo sư tôi.
      (7) Câu thứ 7 trò Lý hỏi giáo sư tôi là trong tình hình ảm đạm của đất nước vào năm 1945 thì có nên lật đổ Pháp hay không? Giáo sư tôi trả lời rằng nên lật đổ, nhưng người Nhật đã lật đổ người Pháp vào ngày 9-3-1945 rồi.
      Thế rồi giờ đây với thư thứ 3 trò Lý lại hỏi vặn vẹo tôi về quan điểm chính trị của giáo sư tôi. Đâu có được!… Người trò đâu có đủ tư cách để vặn vẹo giáo sư của mình? Vả lại trình độ của trò Lý quá tệ, nói đâu sai đó thì làm sao mà giáo sư tôi thổ lộ cho biết được ? Ít ra cũng phải qua bậc tiểu học chứ! Trình độ tuyên giáo thôn xã thì làm sao mà giáo sư tôi hướng dẫn đây?

  10. NÓI CHUYỆN VỚI NGUYỄN VĂN THẠC- NƯỚC ĐỔ ĐẦU VỊT.
    – Minh Lý hỏi Nguyễn văn Thạc về quan điểm chính trị là để cho vui thôi, chớ làm sao Thạc dám trả lời là Thạc theo Bảo Đại,Ngô Đình Diệm , Nguyễn Văn Thiệu, bởi vì những lũ người này đã xếp vào xó rác lịch sử, người Mỹ thì coi như đồ bỏ đi ăn hại đái nát. Nếu Thạc mà khen những người này thì hóa ra Thạc tự bôi nhọ mình và khen thì bọn không dám , bởi đây toàn là những loài bán nước hại dân!
    Thạc đâu là người VN nữa, mình hỏi Thạc có căm thù lũ ném bom giết hại người việt, thả chất độc da cam làm hại nòi giống Việt, việc Thực dân Pháp xóa tên VN bản đồ thế giới có nhục không thì Thạc lờ tịt không dám trả lời, và bảo là không có được hỏi quan điểm chính trị(sic!).
    Tranh luận để tìm ra bài học lịch sử mới đáng quí, chớ như loại người như Bùi Anh Trinh , NGuyễn văn Thạc tự cho là ngiên cứu tài liệu đã giải mật của ngoại quốc rồi ra vẻ “khách quan”, rút cục chỉ là mục đích khí dối trẻ con ăn cứt gà sét rồi bảo đó là kẹo mạch nha.
    – Làm người Vn mà nước mất mà không biết thẹn, mang lời gian rối che đậy cho tội các quân thù mà biết dơ, lại bới lông tìm vết, cắt xén tài liệu vu cáo người yêu nước mà không biết mình là loại mặt trơ tráo.
    Loại Nguyễn Văn Thạc, Bùi Anh Trinh dù có dạy bảo thì cũng như nước đổ đầu vịt vì độ trơ tráo của họ đã ăn sâu và trí não.Fiu!

  11. Bây giờ thì lòi mặt dư luận viên CSVN rồi phải không ? Bây giờ thì lộ mặt căm thù lũ ném bom giết hại người Việt rồi phải không? Bây giờ mới lộ mặt căm thù lũ Diệm Thiệu đã quăng vào xọt rác rồi phải không?
    Phải như vậy mới được, cứ đường hoàng chính chính xưng danh rồi nói gì thì nói, đừng có nấp nấp lén lén giả danh QLVNCH để đâm sau lưng chiến sĩ VNCH.
    Bây giờ thì muốn nói gì cứ nói đi, anh văn nô tuyên giáo CSVN

  12. Bạn Thạc ngu lắm, tranh luận là tìm ra chân lý, cần gì quan tâm dư luận viên hay hông.Nói phải củ cải cũng nghe . Nếu là cộng sản thì đã sao. Nguyễn Văn LẬP, THIẾU ÚY quân đội VNCH lên TIVI tại HOA KỲ chửi lũ tướng quân lực VNCH,ngu hèn trước quân đội cs , là kẻ đánh thuê cho Mỹ, nào anh ta có sợ gì, NGUYỄN CAO KỲ , nguyên phó TT vnch nói bọn Nguyễn văn Thiệu chỉ là lũ ăn hại, đấy, cũng là dư luận viên của cs đó!

  13. Thà nói như dư luận viên Vân Long Beach mà Thạc tôi chịu. Cứ vỗ ngực đứng ra chửi thẳng Thạc tôi, chửi Nguyễn Cao Kỳ, chửi thiếu úy Lập thì Thạc tôi nể. Còn Thạc tôi có ngu hay Nguyễn Cao Kỳ, hay Nguyễn Văn Lập , hay Vân Long Beach có ngu hay không thì để thiên hạ người ta đánh giá.

Comments are closed.