hoànglonghải – Bắc, Nam, Trung “khác” nhà?

Hôm nói chuyện về “phong thủy Việt Nam” trên đài SBTN Boston, nhà thơ Trần Trung Đạo hỏi tôi tới hai lần về một vấn đề nhiều người vẫn thắc mắc xưa nay: Về phong thủy Bắc, Trung, Nam, khác nhau như thế nào mà “tinh khí”, bản tính người Việt Nam ba vùng nầy không giống nhau, hay có giống nhau ít nhiều, v.v… và v.v…

Hôm đó tôi phải làm bộ “bỏ cục lơ” hai lần. Tôi không trả lời được. Bất chợt giữa buổi nói chuyện, nhà thơ hỏi ngang như thế, không chuẩn bị gì cả thì trả lời ra làm sao! Không chừng loạng quạng nói bậy, người ta “chưởi” cho! Đành để bụng, tìm hiểu lại xem nào, nếu có dịp xin thưa lại với bà con, và ông bạn thơ, vốn quê ở xứ “hay cãi” bớt phần “thắc mắc” – Tướng Kỳ từng chọc quê giáo sư Phan Ngô là “théc méc” – được chút nào hay chăng?!

Thực ra, sự khác nhau giữa các chủng tộc hay giữa các cộng đồng, ít phụ thuộc vào phong thủy mà chính yếu là ở “phong thổ”, có khi gọi là “thổ nhưỡng”, có khi là “thổ nghi”.

Chữ nghĩa khác nhau như thế, lại là danh từ Hán – Việt, đành xin mượn “Hán Việt từ điển” của Đào Duy Anh để nói thêm cho rõ nghĩa:

Phong thổ:

Phong-tục và thổ-nghi của một địa phương – Khí hậu một nơi (climat)

Thổ nghi:

            Tính chất của đất ấy hợp với thứ cây hoặc vật ấy.

            Thổ nhưỡng:

Trong từ điển (HVtđ) không có hai chữ thổ nhưỡng. Cũng trong từ điển đó, tra chữ “nhưỡng”, thấy cụ Đào Duy Anh viết như sau:

Đất mềm, đất người ta ở.

  • Bàn thêm một chút.

Nói về “thổ nghi”, đất ấy vật ấy làm người ta nhớ câu chuyện Án Anh nước Tề, như thế nầy (trích một đoạn):

. . . . .

Được một lúc, có ba bốn vũ sĩ giải một tên tù đi qua dưới thềm. Sở Linh vương nói:

-“Tên tù ấy người ở đâu?”

Vũ sĩ tâu:

-“Người nước Tề.”

Sở Linh vương hỏi:

-“Phạm tội gì?”

Vũ sĩ tâu:

-“Tội ăn trộm.”

Sở Linh vương ngảnh lại bảo Án Anh rằng:

-“Người nước Tề dễ thường quen tính ăn trộm hay sao!”

Án Anh biết là Sở Linh vương cố ý bày ra chuyện ấy để sĩ nhục mình, mới đáp lại rằng:

-“Tôi nghe nói giống quít ở xứ Giang Nam thì ngọt, đem trồng ở xứ Giang Bắc thì hóa ra chua, là tại thổ nghi không giống nhau.

Nay người nước Tề, khi ở nước Tề thi không ăn trộm, khi sang Sở thì hóa ra ăn trộm, thế là tại thổ nghi nước Sở, chứ có tại gì người nước Tề!”

Sở Linh vương nín lặng hồi lâu rồi nói rằng:

-“Ta định làm xấu mặt nhà ngươi, chẳng ngờ lại bị nhà ngươi chế nhạo!”

Bèn tiếp đãi Án Anh rất trọng thể, cho đến khi về nước Tề.

Ở nước ta cũng vậy chăng?!

Năm 1954, người ngoài kia di cư vào Nam vậy cũng đã hơn nửa thế kỷ. Ai dám chắc “Cam Bố Hạ không thành bưởi Biên Hòa.”

Về thổ nhưỡng, xin hỏi nhà “Thổ nhưỡng học Thái Công Tụng”, cũng “dân Quảng Trị tui”, là chuyên viên cao cấp của Liên Hiệp Quốc về ngành nầy. Nói ra, không chừng lại mắc tội “múa rìu qua mắt thợ” chớ chẳng chơi.

&

Một dân tộc, khi định cư ở một nơi là “trông cậy” vào “Phong thổ” ở nơi ấy để tìm một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Nôm na người ta gọi là “đất sống”. Đất nào là đất sống, nơi có thể sống được.

Trở lại câu chuyện người Tần mở mang bờ cõi về phương nam, xâm chiếm đất Tần Lĩnh ở vùng Hoa Nam của Bách Việt. Bách Việt thua, chịu sự cai trị và đồng hóa; chỉ riêng giống Lạc Việt là không chịu sự đồng hóa ấy, mới tìm đường về phương Nam.

Đến lưu vực sông Nhị Hà, tức là vùng đồng bằng Bắc Bộ, thấy đất đai phì nhiêu, nên người Lạc Việt dừng chân định cư ở đó mà lập thành nước Nam Việt ngày sau, dần dần trở thành nước Việt Nam như bây giờ.

Câu chuyện người Lạc Việt di cư về phương Nam là theo các nhà sử học Aurousseau và Henry Maspero. Học thuyết nầy, cụ Trần Trọng Kim có ghi lại trong cuốn “Việt Nam Sử Lược” mà cụ Kim là tác giả.

Trong “Phong thổ”, điều kiện để định cư là nước, bởi vì có nước người ta mới trồng trọt được, kế tới là đất trồng trọt, nhất là với những dân tộc sinh sống bằng nghề nông. Nước, phân, cần giống… là bốn điều căn bản của nghề nông.

Nhờ trồng trọt được, thực phẩm nuôi sống người dân là cây trái, rau quả… tạo thành “xã hội nông nghiệp”, là xã hội có nền “văn minh ăn rau” – như trong sách Văn Minh Việt Nam của giáo sư Lê Văn Siêu. Dân tộc các xã hội không sống bằng trồng trọt mà bằng chăn nuôi, thì thịt là món ăn chính. Giáo sư Lê Văn Siêu gọi là “xã hội ăn thịt”.

Dĩ nhiên, “xã hội ăn thịt” và “xã hội ăn rau” tạo nên các dân tộc có “tính khí” khác nhau, tư tưởng khác nhau, văn chương nghệ thuật cũng khác nhau, v.v…

Khi vượt biên đến Mã Lai, ở trong trại tỵ nạn, buổi chiều, nghe tiếng cầu kinh của người Hồi Giáo Mã Lai, tiếng cầu kinh kéo dài thật là buồn, làm tôi nhớ tới những cuốn phim nói về các dân tộc ở Trung Đông /Bắc Phi mà thấy nản. Đó là tiếng hát của những người chăn cừu, vào buổi chiều, trên những vùng sa mạc khô cằn, khi họ cho đàn cừu về chuồng. Nó khác với tiếng “trâu bò về chuồng” từng được Phạm Duy mô tả lại trong các bài hát “Nương Chiều” hay “Em Bé Quê” của ông. Tiếng hát đồng quê ở nước ta, hay nói chung ở xã hội nông nghiệp, dù trong buổi chiều tà, nghe vẫn réo rắt và vui tươi, hơn tiếng hát của người chăn cừu trong vùng sa mạc.

Nước ngọt là yếu tố chính của điều kiện định cư, nước ta lại có nhiều sông ngòi, phần nhiều là từ Trường Sơn đổ ra biển, nên dọc theo chiều dài nước ta, từ Bắc chí Nam, trong cuộc Nam Tiến, người Việt định cư ở nhiều lưu vực sông, kể từ sông Hồng, sông Mã, sông Lam… cho tới lưu vực đồng bằng sông Cửu Long ở cuối phần đất nước.

Nước sông và lưu vực sông tạo thành những khu định cư của người Việt Nam, trên con đường di cư về Nam của tổ tiên chúng ta.

Nhìn vấn đề trên bình diện đó, người Việt Nam phải nhớ tới công ơn của Nguyễn Công Trứ khi ông đinh cư dân chúng và lập ra hai huyện Kim Sơn, Tiền Hải, và công ơn của tổng thống Ngô Đình Diệm khi ông cho thành lập các Dinh Điền và Khu Trù Mật để định cư một triệu người Bắc vĩ tuyến 17 sau hiệp đinh Genève 1954.

Nói như thế, cũng không thể quên công ơn người Pháp đã cho đào nhiều kinh rạch, nhất là ở miền Tây Nam Bộ, tổng cộng dài tới 60 ngàn cây số, để biến đất hoang thành ruộng rẫy.

Những con kinh nối liền Hậu Giang (sông Bassac) với vịnh Rạch Giá (vịnh Thái Lan) đã tạo nên những đồng bằng phì nhiêu ở vùng nầy:

-Kinh Thạnh Tây, nối liền sông Hậu với biển, tạo thành vùng Cờ Đỏ là vùng sản xuất lúa gạo phong phú trước 1945.

-Kinh Thạnh Đông (Kinh Long Xuyên – Rạch Giá) là “nguồn sống” của Dinh Điền Cái Sắn.

-Kinh Núi Sập tạo nên đồng Huệ Đức, nổi danh là “đồng chó ngáp” và vùng Nam Thái Sơn.

-Kinh 1 là xương sống của vùng trồng lúa nổi tiếng của ông Chủ Ry và Thầy Ban, với hàng ngàn mẫu ruộng. Vùng nầy bị hoang hóa, kinh thì bị cạn trong chiến tranh làm cho dân chúng  thất tán vì nghèo khổ.

-Kinh Vĩnh Tế dọc theo biên giới Việt Miên, là công lao của Thoại Ngọc Hầu, cũng bị cạn trong chiến tranh, đất đai bị hoang hóa.

Đó là chưa kể vùng Cà Mâu với nhiều kinh rạch chằng chịt, “Miệt thứ”, kinh Thới Bình, kinh sông Ông Đốc và còn nhiều lắm.

&

Nói một cách tổng thể, người ta có thể kể:

Thứ nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ với hệ thống sông ngòi và đồng ruộng của các tỉnh phía Bắc.

Thứ hai là vùng đồng bằng Thanh Nghệ Tịnh với lưu vực sông Lam và sông Cả, sông Mã.

Thứ ba là đồng bằng tỉnh Quảng Bình, chính yếu là vùng trồng lúa hai huyện Lệ Thủy và huyện Khang Lộc vùng sông Gianh (Ranh) và sông Nhật Lệ.

Tục ngữ có câu: “Nhất Đồng Nai, nhì hai huyện” là nói tới sản lượng lúa gạo của đồng bằng hai con sông nầy.

Quảng Trị và Thừa Thiên có những sông không lớn lắm, như sông Bến Hải (Hiền Lương), sông Thạch Hãn, sông Ô Lâu, sông Bồ và sông Hương (vùng tam giang) không có những lưu vực lớn nên nông nghiệp không phát triển như các nơi khác.

Quảng Nam và Quảng Ngãi, giữa hai dãy núi nằm ngang là Hải Vân va Sa Huỳnh, có những sông lớn như Thu Bồn, sông Trà Khúc, sông Trà Bồng…

Bình Định có sông Côn là lớn nhất, thứ đến có (sông) Lại Giang.

Phú Yên có đồng bằng sông Ba là vựa lúa lớn.

Khánh Hòa có sông cái Nha Trang và sông Ninh Hòa.

Miền Đông Nam bộ có các song Đồng Tranh, sông Saigon, sông Vàm Cỏ nơi bắt đầu của vựa lúa sông Cửu Long nổi tiếng thế giới.

Bên cạnh các đồng bằng lớn nhỏ kể từ Bắc vào Nam, “mưa thuận gió hòa” là điều kiện thời tiết để nông dân được mùa. Mặc dù Việt Nam ở trong “Châu Á gió mùa” nhưng thời tiết không khắc nghiệt, thỉnh thoảng mới có những trận mưa bão, lũ lụt lớn.

Việc tranh chấp khai thác sông Cửu Long, nhất là việc đắp đập ở thượng nguồn gây khó khăn cho hạ nguồn không ít. Nếu lưu lượng sông Cửu Long ít đi, vùng Miền tây Nam Bộ sẽ bị nhiễm mặn, việc trồng lúa của nông dân sẽ gặp khó khăn.

Dù các vùng đồng bằng lớn nhỏ khác nhau cũng làm cho đời sống dân chúng được nâng cao. Kinh tế là cơ bản, nhờ đó, đời sống văn hóa, giáo dục, tinh thần của dân chúng cũng được cao lên. Người Việt Nam vốn bản tính hiền hòa, cần cù khai thác tài nguyên của đất nước để tìm một đời sống tốt đẹp hơn là nét chung của dân chúng ba miền. Tuy nhiên, do phong thổ, các tính mỗi vùng có khác nhau nhiều ít.

Nhận xét về nét khác biệt nầy, có tốt có xấu, có hay có dở, rất dễ làm chạm tự ái của người dân mỗi địa phương. Có lẽ nên để cho mỗi địa phương nhận xét về cộng đồng của họ, vừa trung thực, vừa chính xác mà ai cũng không mất lòng ai.

Chỉ một câu “Sơn bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá, nữ đa dâm” mà không địa phương nào chịu nhận rằng câu nói đó là nhận xét về địa phương của mình, vì ý nghĩa của nó là lời chê, đâu phải tiếng khen.

Ngay ở phía Bắc, dân chúng các tỉnh, các vùng quê khác với “Người Hà Nội” thời trước 1954. Người Hà Nội lịch lãm, thanh lịch, khôn ngoan, tế nhị… là những nhận xét đã có từ xưa.

“Dân Nghệ” (nói chung Thanh Nghệ Tĩnh) là “dân cọc cạch”, “cá gỗ” là những người học trò chăm chỉ, học giỏi, thi đâu đổ đấy, không ít những dòng dõi làm quan nhiều đời… Ngày xưa đi lính thì được tuyển chọn làm “ưu binh”, tính kiêu ngạo khiến họ trở thành “kiêu binh”…

Người Huế thì “dòng dõi vua quan”, “các mệ”, lắm người kiêu kỳ, hãnh tiến nhưng không thiếu những người yêu vua, yêu nước. Có những dòng dõi làm quan to nhiều đời như dòng Nguyễn Khoa, Hoàng Trọng, Thân Trọng, Hà Thúc, đến nỗi vua Tự Đức phải nói “Thân Thân Hà Hà, thiên hạ vô gia. Hà Hà Thân Thân, thiên hạ vô dân.

Dân “Quảng Nam hay cãi”. “Quảng Nam hay cãi, Quãng Ngãi hay co, Bình Định hay lo, Thừa Thiên ních hết”. “lý sự” vì tính ngay thẳng, không chấp nhận xấu tốt lẫn lộn. Đất Quảng Nam học giỏi, “ngũ phụng tề phi”. Nhưng chính Quảng Nam là nơi dân chúng có tinh thần bất khuất. Chính vì vậy, khi cụ Phan Bội Châu mượn tiếng “vào giám” để tìm đồng chí thì cụ phải vào Quảng Nam, vì ở Huế cụ Phan chỉ thấy “Xe ngựa ngập trời mây”, “Áo đỏ mũ pha chàm” mà không thấy “đồng chí”. (Xem bài thơ “Vào Thành” của Phan Bội Châu).

Người Quảng Ngãi tự nhận có Thiên Ấn, Thiên Bút, nhưng theo lịch sử, Quảng Ngãi là vùng đất tách rời từ Quảng Nam mà ra. Vùng đất từ đèo Hải Vân về phía Nam xưa là Thừa Tuyên Quảng Nam.

Người miền Nam, tuy thuộc “Nam kỳ thuộc địa”, nhưng người yêu nước không thiếu chi. Độc giả nếu muốn biết rõ hơn, xin đọc sách của nhà văn Sơn Nam, không thiếu chuyện hay, vui, lạ…

Dân chúng miền Nam theo nghĩa quân chống Pháp đông đảo, giúp đỡ quân khởi nghĩa và làm cách mạng. Chính Nam Bộ là nơi đầu tiên đứng lên chống quân Pháp trở lại, dù chỉ bằng gậy tầm vông, giống như giữa thế kỷ 19, khi quân Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông.

“Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo giòng ở lính diễn binh;
Chẳng qua là dân ấp, dân làng, mến nghĩa làm quân chiêu mộ

Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;
Chín chục trận binh thư, không chờ bài bố.

Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bao ngòi,
Trong tay dùng một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gỗ.

Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;
Gươm đeo dùng một ngọn dao phay, cũng chém đặng đầu quan hai nọ.

(Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc –

Nguyễn Đình Chiểu)

Chính vì bản tính hiền hòa, không ưa chém giết, nên người Việt Nam thường nhẫn nhịn, đôi khi tưởng như hèn nhát. Tuy nhiên, mỗi khi đã có lời kêu gọi của vua quan như ngày xưa, “lệnh vua hành quân…” hay của lời sông núi kêu gọi đứng lên, thì người có học cũng như ít học, đều hiểu thấu trách nhiệm của mình tham gia chống lại ngoại bang hay cường quyền, giành quyền sống cho dân tộc.

Trong viễn tượng đó, người Việt Nam, dù ở đâu, trong nước hay ngoài nước, trong hoàn cảnh tự do hay bị đàn áp, tù đày, không bao giờ nguôi lòng hy vọng, ý chí dấu tranh. Họ không có gì khác nhau dù sinh sống ở bất cứ vùng nào Nam, Trung Bắc hoặc ở hải ngoại./

hoànglonghải

Đã xem 976 lần

Chân thành cảm ơn tác giả hoặc quý vị nào đó đã đăng bài viết này lên Quán Văn.

[ Thành viên mới xin ĐĂNG KÝ ]
[ Thành viên ĐĂNG NHẬP ] để đăng bài
(Quý vị sẽ nhìn thấy cách chỉ dẫn đăng bài.)

Máy chiếu VPL-DX240 XGA

Chuyên phân phối MÁY CHỦ DELL POWEREDGE T30 E3-1225 V5

Phân phối thiết bị mạng Cisco FULL mã

Máy in hóa đơn, máy in bill PRP-085 Giá hot

NỆM CAO SU KIM CƯƠNG TỔNG HỢP KHUYẾN MÃI TẶNG GỐI

Thuốc diệt GIÁN thần kỳ

Nhà Hàng SÀI GÒN PHỞ TOMBALL, TX CẦN NGƯỜI

Cần Sang Nhà Hàng Phở Vùng TOMBALL, TX

Bán xe Toyota Camry 2004. 2.4 mới cứng. Hệ thống máy móc tân tiến cùng dàn video từ nước ngoài

Cần bán 4 lô đất khu du lịch Cam Ranh và Diên An – Khánh Hoà

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách