Kể chuyện ông chín Vĩnh tôi phải nói luôn về Tổ Hợp Lò Vôi, hay văn vẽ hơn Tổ Hợp Sản Xuất Vôi của quận Kiên Lương. Công việc làm ăn chính của ông là sản xuất vôi nên nó có liên hệ đến tổ hợp nầy. Ngoài ra, ông Chín còn là chủ cây xăng, thầu cung cấp đất cát cho nhà máy ximăng Hà Tiên với số lượng lớn. Trúng thầu các vụ nầy, ông kiếm tiền khá bộn. Không biết ông ta gốc gác ở đâu, về làm ăn ở Kiên Lương từ 1962. Mười năm sau, ông trở thành triệu phú.

            Vùng Kiên Lương có nhiều núi đá vôi. Bên kia kinh (Ngã Ba – Ba Hòn) là núi Còm, bên nầy là thị trấn Kiên Lương. Thị trấn Kiên Lương tức quận lỵ Kiên Lương mới thành lập, sau khi quận Kiên Lương lập ra dưới thời Ngô Đình Diệm. Chính quyền Ngô Đình Diệm cho thành lập quận nầy vì đây là nơi dựng nhà máy ximăng Hà Tiên. Cơ quan hành chánh trung ương thì ở Saigon, trên đường Võ Di Nguy, nhà máy ximăng Hà Tiên ở Thủ Đức thì xay và vô bao. Nhà máy Kiên Lương có nhiệm vụ lấy đá ở núi Còm, đưa vào lò vôi đốt, trộn với đất sét, xay thành clinker, một dạng ximăng nhưng hột còn to – lớn nhứt là bằng hột bắp. Clinker được chở lên Thủ Đức bằng xà-lan. Nhà máy trên đó tiếp tục công trình sản xuất.

Ngoài núi Còm là núi lớn nhứt, xã An Hòa có núi Trầu, lớn thứ hai, đang được nhà máy ximăng Hà Tiên nghiên cứu và sẽ khai thác trong thời gian tới. Ngoài ra, quanh vùng nầy, xa một chút hay gần thị trấn Kiên Lương hơn, có núi Nai, núi Mo-So, v.v… đều là núi đá vôi cả.

            Về nhà máy Kiên Lương, về núi Trầu, núi Nai, tôi sẽ kể thêm về sau.

            Từ trước 1945, người dân ở đây, nhứt là ở xã An-Hòa, xã nằm quanh khu vực núi Trầu, người dân đã biết khai thác đá vôi, lấy về đốt thành vôi. Vôi ở đây có loại màu hơi đỏ, dùng để ăn trầu được người ăn trầu khen ngon. Phần nhiều dùng để làm vôi quét tường. Dĩ nhiên, thị trường tiêu thụ vôi là ở Saigon hay Cần Thơ, các thành phố lớn.

            Số người làm chủ lò vôi ngày càng đông, số lượng sản xuất ngày càng nhiều, nhất là sau khi giá dầu ma-zút (mazout) rẻ hơn, các chủ lò bây giờ đốt vôi bằng dầu, không đốt bằng củi như trước Nhờ đốt bằng dầu, sức nóng lớn hơn, hiệu quả hơn nên sản lượng mỗi lò đốt cũng nhiều hơn. Đốt một lò vôi, chủ lò kiếm lời một triệu bạc là thường. Do đó, xảy ra cạnh tranh giữa các chủ lò, thưa kiện, tranh giành, v.v…

            Để giải quyết tình trạng đó, thiếu tá Nguyễn Đình Phúc, quận trưởng, cùng với ông Nguyễn Đức Nghiêm, phó quận trưởng họp các chủ lòi vôi lại, thành lập “Tổ hợp lò vôi”, mục đích là để họ chia phiên nhau đốt lò, tránh sự tranh giành như trước kia. Khi tôi làm việc ở đây, chủ tịch tổ hợp là ông Ba Để, tên thật là Lý Văn Gia.

            Sau khi về làm việc ở đây chưa lâu, tôi mời ông Ba Để lên nói:

            “Phòng giam tội ở đây tối tăm và thiếu phương tiện, mất vệ sinh. Tôi muốn xây hai phòng giam ở phía ngoài, một cho nam, một cho nữ, có chỗ nằm và phương tiện đi tiêu, đi tiểu. Tuy nhiên, tôi không có ngân khoản để thực hiện việc ấy. Bác là chủ tịch tổ hợp, nhiều người khá giả. Bác hãy vận động các tổ viên thực hiện việc xây các phòng giam nầy. Bác giúp tôi nhưng thực ra là giúp dân chúng ở đây vậy.”

            Thực ra, việc xây phòng giam có lý do quan trọng hơn. Mấy năm trước, có một nhân viên, đệ tử của ông xếp cũ, đã lợi dụng tình trạng phòng giam tối, hiếp dâm một nữ tù nhân. Dân nhà quê thiệt thà, không biết luật lệ, lại hay sợ hãi nên không dám thưa. Anh nhân viên nói trên cùng xếp của ông cố giàn xếp, nên việc thông qua. Tôi không muốn chuyện ấy xảy ra một lần nữa.

            Sau khi tôi nói chuyện với ông Ba Để cỡ một tuần lễ, ông cho người chở gạch, cát, ximăng tới xây phòng giam mới. Tôi làm văn thư cảm ơn.

            Cửa phòng giam mới mở ra sân sau, có song sắt để được thoáng. Trong sân sau lại có một ngôi mộ xây, sơn trắng. Một hôm, có một thanh niên bị giam vì tội giao liên, thấy tôi, nói như muốn khóc:

            – “Ông trưởng ơi! Ông cho tui về đi, tui không dám làm gì cho Việt Cộng nữa đâu. Ở đây, tui sợ quá!”

            Giựt e vì chuyện xảy ra trước kia, nghi có chuyện gì vi phạm luật lệ, tôi hỏi:

            – “Có ai làm gì anh?”

            – “Dạ không! Không ai làm gì hết, nhưng đêm nào tui cũng thấy một cô gái mặc áo quần trắng hiện lên ngồi trên mộ. Tui sợ lắm!”

            Đó là ngôi mộ một cô gái mới 16 tuổi, em một anh Cảnh Sát Dã Chiến, bị pháo kích chết năm Mậu Thân. Cha mẹ chết hết, hai anh em đùm bọc nuôi nhau. Lúc ấy trận chiến hai bên đang hồi dữ dội, không đem chôn ở nghĩa địa kế bên chùa ông Bổn được, chôn tạm ở đó. Nay anh Cảnh Sát Dã Chiến đã đổi đi xa, chẳng ai nghĩ tới chuyện dời mộ làm gì!

            Hôm đó, tôi vội họp ủy ban an ninh, để tha cho anh giao liên về. Hú vía cho anh ta, khỏi còn thấy ma hiện ra mỗi đêm nữa.

&

            Ông Chín Vĩnh, ngoài ba lò vôi bên kia kinh như tôi đã nói trong bài trước, kẹt phải nằm trong tổ hợp, không bung ra làm ăn được nên ông xây một lò vôi thật lớn ở Mỹ Tho. Đá vôi ở đây chở lên đó nung, một mình một cõi, chẳng sợ ai cạnh tranh.

            Giữa năm 1974, linh mục Lương Công Đại, cha xứ họ đạo Kiên Lương, (1) đang xây nhà thờ thì hết tiền. Cha bèn “ngoại giao” với tổ hợp để cha đốt một lò ngoại lệ – vì cha không phải là chủ lò vôi, không phải là thành viên tổ hợp – để lấy tiền xây tháp chuông nhà thờ. Xây xong tháp chuông là coi như phần chính đã hoàn thành. Phần đông các ông chủ lò vôi là con chiên họ đạo Kiên Lương của cha Đại hay họ đạo An Hòa của linh mục Nguyễn Thượng Hiền, nên để giúp đỡ cha mà cũng góp phần xây dựng họ đạo, tất cả thành viên tổ hợp đều đồng ý.

            Linh mục Lương Công Đại mượn lò vôi kế chân núi Ba Hòn của một tổ viên để đốt lò. Mọi việc đều có con chiên của cha lo liệu hết. Chỉ có hai đêm lò cháy, cha phải có mặt ở đó để canh lửa cùng với nhân viên. Cả hai đêm đó, tôi đem trà, càphê, phin lọc đến uống với cha, chuyện trò cho vui.

            Năm đó, nhờ sau hiệp định Paris 73, tình hình yên ổn đôi chút, thương mại phát đạt, nên việc xây dựng cũng nhiều, nhờ đó, vôi bán chạy lắm. Đốt lò xong, vôi của cha Đại chở lên Saigon giao cho vựa bán mấy hôm là hết. Có tiền xây nhà thờ, cha rất vui. Để góp phần với cha, tôi yêu cầu mấy ông chủ xe đò cho tôi hai chục cái ghế sắt Thái Lan – (Hồi đó ghế Thái Lan nổi tiếng đẹp). Tôi biếu cha để trong phòng ăn nhà thờ.

&

            Vì cạnh tranh, các ông chủ lò vôi “chơi” nhau nhiều trận cũng căng lắm.

            Đầu kinh 1, (kinh từ nhà máy Kiên Lương vô ấp Rạch Đùng, kế chân núi Hòn Chông), là cái lò vôi lớn của ông Ba Nhân, chủ tịch hội đồng giáo xứ của cha Đại, bị ông Chín Vĩnh “chơi” mấy đòn thất điên bát đảo.

            Đòn thứ nhất là ông Chín Vĩnh cho ông mượn một cái giấy phép mua dầu ma-dzút. Có giấy đó, ông Ba Nhân mua dầu chở về chuẩn bị đốt lò. Bỗng cảnh sát tỉnh Kiên Giang ở Rạch Giá gọi ông Ba Nhân điều tra vì xử dụng giấy phép mua dầu bất hợp pháp. Té ra, ông Chín Vĩnh, sau khi cho ông Ba Nhân mượn giấy phép, bèn làm đơn trình với Cảnh Sát Kiên Giang rằng ông ấy đi xích-lô làm rớt mất giấy phép, nay ông Ba Nhân bắt được, nhờ Cảnh Sát can thiệp. Kết quả, ông Ba Nhân trả lại giấy phép cho ông Chín Vĩnh, giao luôn cả số dầu ông Ba Nhân chở về. Rốt lại, ông Ba Nhân mua dầu cho ông Chín Vĩnh đốt lò!

            Lần thứ hai, vì Việt Cộng pháo kích vào Nhà Bè, kho dầu ở đó của hang Shell bị cháy, dầu chảy ra các đường mương. Công ty xăng nhà bè bèn cho không bộ chỉ huy Cảnh Sát Nhà Bè số dầu đó. Đây là một món hàng đặc biệt, phế thải vì chiến cuộc. Ông Ba Nhân mua lại số dầu đó, vét lên xà lan, chở về Kiên Lương, có giấy chứng nhận của đại úy Trần Phú Trắc, chỉ huy trưởng. Về tới nơi thì thượng sĩ Trần Phạm Sĩ thuộc bộ Chỉ Huy Kiên Giang từ Rạch Giá vào lập biên bản dầu bất hợp pháp.

            Đúng ra, hôm xà-lan dầu của ông Ba Nhân về tới Kiên Lương, ông Chín muốn “chơi” ông ba Nhân, bèn gặp thiếu úy Kiệt để nhờ lập biên bản điều tra về việc mua dầu bất hợp pháp. Thiếu úy Kiệt không thể tự ý làm việc đó vì phần hành của ông Kiệt không thuộc tư pháp nên đề nghị với tôi. Tôi cười, nói:

            – “Đừng có dại. Họ “chơi” nhau, mình đút đầu vô đó làm chi? Trước hết là mình phải tự trọng. Không lý vì chút tiền mà mình biến thành phương tiện để họ chơi nhau?! Mình còn “kẹt” với cha Đại. Ông Nhân là chủ tịch hội đồng giáo xứ. “Ăn” của ông Chín bao nhiêu mà mình kẹt đủ thứ.”

            Nghe lời tôi, thiếu úy Kiệt biểu ông Chín ra tỉnh. Ngoài đó mới sai Trần Phạm Sĩ vào.

            Quả thiệt vụ xà-lan dầu kẹt lung tung. Ông Ba Nhân phải chạy, nhờ cây xăng Nhà Bè xác nhận một lần nữa là dầu phế thải, đại úy Trần Phú Trắc xác nhận có ký giấy bán cho ông Ba Nhân số dầu ấy. Giấy tờ đi đi lại lại cả năm trời. Chủ xà-lan là bà bác sĩ Phạm Văn Hải ở Saigon cho người thuê xà lan chở dầu cả năm mà không thấy trả, rồi cho người đi tìm, thưa gởi lung tung. Tội nghiệp ông Ba Nhân, xây một cái lò vôi mới, thiệt lớn, nhưng chỉ đốt được một lần rồi thôi. Tới khi Việt Cộng ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương thì xà-lan dầu của ông Ba Nhân bị Việt Cộng tịch thu. “Trai cò tranh nhau, ngư ông đắc lợi.” Hay tục tỉu hơn thì rõ ràng “Cầm c. chó đái” như tục ngữ nói vậy.

            Khi giá dầu rẻ, đốt lò vôi bằng dầu, các ông chủ lò vôi lén nới rộng lò vôi ra, để sản lượng được nhiều mà vẫn đóng thuế thấp cho quận. Khi giá dầu mắc, họ thu hẹp lò vôi lại, lại làm đơn xin quận giảm thuế. Thật là “mệt” với mấy ông chủ lò vôi nầy. Mệt nhứt là với ông chủ lò Đức Thắng.

            Ông chủ lò vôi Đức Thắng, thường gọi là “Thắng cụt” có đòn chơi rất độc. Gọi là Thắng cụt vì khoảng chục năm trước, ông mua chất nổ về bắn đá ở núi Trầu, bị tai nạn cụt mất một bàn tay.

            Mỗi khi đốt lò xong, ông trả tiền công cho công nhân. Rồi tối đó ông tổ chức nhậu và đánh bạc ngay tại nhà. Ai ăn ai thua ông không cần biết, nhưng chủ sòng thì thâu tiền xâu suốt đêm khá bộn. Nhiều người ngày đêm đập đá, chất đá, đốt lò, cuối cùng thua bạc hết chỉ còn hay tay trắng, lấy gì nuôi vợ con. Tiền Thắng cụt chi ra, lại chui vào túi ông, chẳng mất gì hết. Tật xấu nầy của chủ lò Đức Thắng xảy ra đều đều, năm nầy qua năm nọ mà chẳng ai nói chi.

            Khi biết chuyện, tôi gặp linh mục Nguyễn Thượng Hiền, chánh xứ An-Hòa để nói với cha về việc làm bất lương của chủ lò vôi Đức Thắng. Tôi rút kinh nghiệm làm việc với mấy ông cha đạo từ hồi ở Cái Sắn. Mấy ông cha hay nghe lời con chiên xúi dục thưa bậy, nếu không nói trước thì mấy ông lại cho rằng chính quyền làm khó dân để kiếm tiền.

Tôi cũng có nói chuyện ấy với cha Đại. Cha bảo: – “Làm sao cha có thể để con chiên sát phạt nhau như thế được! Nhắc nhở hoài mà chăng ai thèm nghe!”

            – “Cha có chịu đưa mấy ông nầy ra tòa không?” Tôi hỏi.

            – “Ông cứ làm thẳng tay. Trước nay chính quyền không cứng rắn với họ nên tệ trạng xảy ra hoài.”

            Vậy rồi tôi họp riêng với thượng sĩ Hai Râu, giao cho anh theo dõi việc Đức Thắng đốt lò.

            Một hôm, thượng sĩ hai Râu nói với tôi:

            – “Ngày mai thằng cha Đức Thắng cho cân vôi.” (Có nghĩa là giao hàng và nhận tiền).

            – “Anh rình y. Hễ y tổ chức đánh bài, anh thộp cổ nó cho tôi.”

            Hôm sau, nhà Đức Thắng tổ chức cờ bạc thật sự. Nhà gạch, cửa gỗ, đóng thật chặt. Nếu hai Râu kêu cửa, chúng nó phi tang thì công cốc. Do đó, hai Râu cùng mấy đệ tử của anh, chờ phía bờ kinh gần suốt đêm. (Nhà Đức Thắng quay lưng ra phía kinh.) Gần sáng, khi sắp tan sòng, hai Râu cùng nhân viên chèo ghe đến vách nhà sau, bắc thang leo lên cửa sổ, chỉ súng bắt mọi người ngồi im, rồi mới biểu chủ nhà cho người ra mở cửa trước. Trên một chục tay cờ bạc bị tôi nhốt vào khám hết. Hai linh mục, cha Hiền và cha Đại, ông nào cũng vui lòng, chẳng ông nào đến can thiệp, xin tha. Chỉ có ông đại úy Kiệm, chi khu phó, vì có một đệ tử là ông trung sĩ nào đó, em ông chủ tịch hội đồng xã An Hòa, đến xin tôi tha cho ông chủ tịch nầy.

Tôi gọi ông chủ tịch lên bảo: “Vì ông là chủ tịch, nễ tình dân xã An Hòa nên tôi cho ông về. Ông có hợp đồng gì với Thắng cụt mà bóc lột công nhân không?”

            Ông ta chối bai bải, thú thật chỉ vì tính ham cờ bạc nên tới đánh chơi, chớ ông ta không dính gì tới âm mưu xỏ lá của Thắng cụt hết.

            Tôi đưa cả đám ra tòa, trình với biện lý rằng Thắng cụt là tên đầu bầy. Ra tới nơi, vì đã có người ra gặp biện lý xin xỏ trước rồi, nên cả đám được tha ngay.

            Sau đó ít lâu, tôi lái xe chở đệ tử đi ăn sáng ở Chợ Tròn, khi ngang nhà Đức Thắng, thượng sĩ “Năm Hùng đầu bạc” nói với tôi: “Đức Thắng bỏ nhà đi đâu ông ơi!”

            Tôi cười, nói đùa:

            – “Đi luôn là phải. Ở đây, tui cho thằng chả “đứt thắng” luôn. Xe đổ đèo Hải Vân mà “đứt thắng” là coi như về âm phủ.”

            Từ đó cho tới 30 tháng Tư, tôi không gặp Thắng cụt. Có phải câu nói chơi của tôi tới tai y nên y sợ? Người ta sợ mình đến nỗi phải bỏ xứ mà đi? Đó không phải là “Hà chánh mãnh ư hổ” hay sao? Tôi đem chuyện ấy nói ra trong buổi họp với nhân viên, nói để cười mà chẳng thấy ai cười?!

            Điều đáng nói nữa là năm 1984, con gái tôi vượt biên tới Bidong. Khi nó đang còn ở đảo, tôi đi tìm dân Kiên Lương để hỏi địa chỉ cha Đại. Dĩ nhiên là tôi không về Kiên Lương. Tôi đi dọc bến Chương Dương, qua bến Hàm Tử, tới các vựa bán vôi để hỏi thăm có ai dưới Kiên Lương lên bán vôi không.

            Tổ hợp Lò Vôi tan hàng rồi. Ế quá! Dân chúng nghèo quá, có ai làm nhà, sửa nhà gì đâu mà đốt lò bán vôi. Mấy ông chủ lò vôi giải nghệ, đi đốn tràm, bắt cá đồng sống qua ngày. Chỉ còn ông Ba Để, trước kia là chủ tịch tổ hợp, nay già lắm, không đi làm đồng được, lâu lâu ông đốt một lò nhỏ, lấy công làm lời. Ba tháng rồi, ông không chở vôi lên Saigon.

            Cuối cùng, tôi tới vựa vôi Đức Thắng ở bến Hàm Tử. Gặp tôi, ông mời uống nước trà và biểu tôi tìm ông Ba Nhân. Ông Ba Nhân mới có địa chỉ cha Đại ở Mỹ. Ông Ba đang ở Kiên Lương, lâu lắm không thấy lên Saigon.

Tôi chào ông Đức Thắng ra về, lấy làm lạ là tại sao không thấy Thắng cụt nhắc lại chuyện “ân oán giang hồ” ngày trước. Ông ta quên chuyện cũ rồi hay ông không nhớ mặt tôi, không biết tôi là ai.

            Tôi buồn phiền vì việc không tìm được địa chỉ cha Đại để nhờ cha lo giùm cho con gái tôi.

            Thế rồi một hôm tôi đi bộ trên đường Trương Minh Giảng, trước rạp ciné cũ, và thấy ông Ba Nhân đang ngơ ngơ ngác ngác như đang đi tìm ai. Thấy ông, mừng lắm, tôi gọi: “Ông Ba, đi đâu đây?”

            Ông Ba nhìn tôi, nhận ra người cũ, cười, trả lời:

            – “Chẳng biết đi đâu nữa. Đang chạy xe ngang đây bỗng bị xẹp vỏ, đang vá ở đàng kia. Bỗng nhớ hình như tôi có nhà ai quen quen ở đây, bèn đi tìm thì gặp ông.”

            Tôi hỏi:

            – “Có địa chỉ cha Đại không? Tôi cần lắm.”

            Ông nói:

            – “Có đây, có đây.” Vừa nói ông ta vừa đưa tay đập mấy cái vào cái bị rết đeo bên hông. “Nhưng vô đây uống càphê đã, gặp ông mừng ghê! Về hồi nào? Trông già lắm, không như hồi xưa. Tù chắc cực lắm?”

            Về là đi tù cải tạo về. Tôi nói:

            – “Về được hai năm. Có đứa con vượt biên, đang ở đảo, tính nhờ cha bảo lãnh cho nó qua Mỹ.”

Tôi không nói chuyện đi ở tù cực. Chuyện đó ai chẳng biết, than vản làm gì!

            – “Dễ thôi! Cha viết thư về có dặn ai vượt biên, đi Mỹ, cần thì báo cha biết để cha lo.”

            – “Ông dưới đó mới lên?” Tôi hỏi.

            – “Lâu lắm tôi mới lên. Có công việc gì đâu! Lâu lâu lên Saigon chơi vậy thôi! Tình cờ gặp ông.”

            Tôi kể cho ông Ba Nhân nghe chuyện đã hai tháng nay đi tìm dân Kiên Lương để hỏi địa chỉ cha Đại. Hỏi Đức Thắng thì Đức Thắng không có. Nay tình cờ gặp ông ta.

            Ba Nhân nói:

            – “Chuyện tình cờ mà cũng kỳ. Ở dưới đó, không có việc gì mà tôi lên đây làm chi. Rồi đi ngang chỗ nầy, tự nhiên xe bị xẹp vỏ mà gặp ông. Ông cũng chẳng có chuyện gì, đi lang thang qua đây mà gặp tôi. Không phải tình cờ đâu. Chúa sắp đặt cả đấy.”

            Tôi chỉ cười, không phủ nhận mà cũng không xác nhận. Quả thật, ở đời có những chuyện tình cờ hết sức lạ lùng, như có đấng thiêng liêng sắp đặt vậy. Ai không tin rồi cũng phải tin!

            hoànglonghải

(1)-Giữa linh mục Lương Công Đại và tôi, thiệt là ơn tri ngộ. Năm 1974, khi mấy ông giám mục, linh mục họp ở Long Xuyên để lên “bảng phong thần”  trong phong trào chống tham nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh, linh mục Đại cương quyết không chịu để tên tôi trong bảng phong thần đó, như mấy chục ông chỉ huy trưởng vùng IV.

Trước cử tọa, cha Đại bênh vực, khen ngợi tôi hết lời, nhờ vậy mà tôi thoát nạn. Vậy mà chẳng bao giờ cha kể công với tôi. Linh mục Đại rời Việt Nam trưa ngày 30 tháng Tư-1975, định cư ở Mỹ. Năm 1984, khi con gái tôi vượt biên, tới Bidong, tôi báo cho linh mục biết. Linh mục Đại đón con gái tôi về đây, – thành phố tôi đang cư ngụ – giới thiệu lên Đức Ông. Đức ông cho con tôi quà giáng sinh năm đó – người độc nhứt được quà giáng sinh của Đức Ông – Đức Ông giao cho gia đình ông Dr. Blute nhận làm con nuôi. Hai ông bà nầy có 11 người con (Gia đình Mỹ có 11 người con là một hiện tượng đặc biệt). Con gái tôi cùng tuổi con gái út hai ông bà. Họ lo cho con gái tôi đi học trở lại vì ở Việt Nam nó phải bỏ học vì lý lịch số 13. Con gái tôi tốt nghiệp kỹ sư hóa học, làm việc cho cơ quan khoa học của MIT, chuyên nghiên cứu về hỏa tiễn phóng từ tiềm thủy đĩnh.

Diễn Đàn Facebook
Advertisements

hoànglonghải - Hương Tràm Trà Tiên