“Tới đây đất nước lạ lùng,

Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kiêng.”

(ca dao)

Đâu có phải sợ con chim hay con cá. Trước kia thì người thương người. “Thương người xa xứ lạc loài tới đây.” Bây giờ không phải là người xa xứ, mà lại là người cùng xứ. Người cùng xứ giết nhau không gờm tay! Ấy là vì ai? Là vì chủ nghĩa? (Cộng Sản), vì người? (Cộng Sản) hay vì cuồng tín? (tôn giáo) hay vì cái gì nữa? Biết bao nhiêu là cái vì?

Một hôm tôi nhận được cái giấy mời đi ăn giỗ. Thư viết tay, giấy xé từ tập học trò nhưng bỏ trong bì thư đàng hoàng. Người mời là “trưởng ban”. Không nói ban gì. Hỏi ông thượng sĩ Lê Đức Vũ, nhân viên của tôi, “rân ri cư”, – như tôi thường nói đùa -. Ông ta bảo: “Đây là mấy ông cựu Dân Xã Đảng”. Ông Vũ nói tiếp: “Cũng lạ! Xưa nay họ không mời ai! Sao bây giờ lại mời Chỉ huy trưởng?”

Từ giữa thập niên 1950, tôi có nghe báo chí nói về “Dân Xã Đảng”. Đó là tiếng gọi tắt “Dân Chủ Xã Hội Đảng” do giáo chủ Huỳnh Phú Sổ thành lập năm 1946, với sự góp sức của ông Trần Văn Ân, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Bảo Toàn để chống Pháp lẫn Việt Minh (Cộng Sản), với mục đích thực hiện một cuộc cách mạng con người, dân tộc và xã hội. Tổng Bí Thư là ông Nguyễn Bảo Toàn. Ông nầy lại là một tín đồ Thiên Chúa Giáo (1), lại chính là người đề xướng lên việc “truất phế Bảo Đại”, mời ông Diệm lãnh đạo đất nước năm 1955.

Tôi đến dự bữa giỗ đó, tại “trụ sở” của họ. Đó là một gian nhà tranh nhỏ, nằm sâu trong một con hẽm, gần phía đồng lúa. Hẽm nầy cách chợ Kiên Tân chưa tới nửa cây số.

Khi tôi tới, các cựu đảng viên Dân Xã Đảng đã tới hết, khoảng gần hai chục người. Phần đông họ đã già, trông qua, biết họ gốc là nông dân, không đến nỗi vai u thịt bắp, nhưng trông ai cũng mạnh khỏe, dân lao động.

Tôi được mẹ dạy từ nhỏ: “kính lão đắc thọ”, nôm na là kính trọng người lớn tuổi, nên khi vào đây, tôi cất mũ, đứng qua một bên cửa, chào mọi người. Có mấy bàn tiệc, họ mời tôi ngồi bàn giữa. Tôi xin phép ngồi bàn để một bên, sát vách. Có lẽ họ mến tôi vì thái độ ấy. Quanh cái bàn tròn là mấy ông già, vui vẻ, hiền, cứ nhìn tôi cười. Tôi hỏi thăm sức khỏe từng vị. Tôi lấy làm lạ: Những “ông già” hiền từ nầy là những người nầy một thời nổi tiếng giết người không gớm tay hay sao!

Tôi nghĩ thầm: Ai cũng có vẻ hiền từ, vậy mà một thời nổi tiếng hung dữ tàn ác.

Câu chuyện như vầy: Sau khi giáo chủ Huỳnh Phú Sổ của Phật Giáo Hòa Hảo bị Việt Minh thủ tiêu, chuyện trả thù giữa hai bên xảy ra bằng sự chém giết lẫn nhau rất tàn bạo. Hễ bên nầy bắt được bên kia là giết, thả trôi sông. Thả trông sông một người hay năm ba người cột liền với nhau bằng một cây tre. Có khi người ta chèo ghe trên sông, bị gọi vào bờ, biểu mua một cánh tay, một cái chân hay một cái đầu người. Người dân thấy mà khiếp nhưng vẫn phải mua, mua xong đem ra giữa sông, thả xuống nước. Việc ấy xảy ra nhiều năm mãi đến khi Việt Minh phải rút khỏi vùng Hậu Giang, tình hình mới êm.

Tò mò chuyện nầy, muốn hỏi cho biết, nhất là với những ông già nầy là người trong cuộc. Chờ đến cuối tiệc, khi đã vãn, chỉ còn mấy ông cụ, tôi bèn hỏi họ. Một ông già trông có vẻ hiền hậu, tên thường gọi là ông Tư, nhà ở bên kia kinh xáng, nơi tôi từng đến thăm ông, nhà ông chuyên làm “bánh tráng chuối”  – bánh tráng có chuốn xắt lát mỏng đặt lên trên, ăn khá ngon – giải thích:

-“Chuyện đó không phải là không có, nhưng tùy nhóm” – theo tôi hiểu là tùy lực lượng Hòa Hảo khác nhau. “Lực lượng Ba Cụt” (Lê Quang Vinh), “lực lượng Năm Lửa” (Trần Văn Soái), “lực lượng Nguyễn Giác Ngô”, “lực lượng Lâm Thành Nguyên”… –   Ông Tư nói tiếp: “Có nhóm thì hiền, có nhóm thì dữ. Nói chung, vấn đề tôn giáo mà ông. Việt Minh họ vụng tính, chủ quan. Đụng tới giáo chủ của người ta thì người ta để yên sao được! Kết lại, là do Việt Minh thủ tiêu “Đức Thầy”. Giết bao nhiêu Việt Minh mới bù cho đủ tính mạng “Đức Thầy”?

Tôi ra về, thấy lòng buồn lắm. Người dân miền Tây Nam Bộ hầu hết là lưu dân. Có những người lưu lạc vào đây từ thời nhà Nguyễn “mở đất phương Nam”, có những người gốc Quảng Nam, Quảng Ngãi, không theo Tây Sơn mà theo chúa các chúa Nguyễn, chiến đấu dưới ngọn cờ của Nguyễn Vương, đến khi “Gia Long tẩu quốc” thì họ không theo Nguyễn Ánh sang Xiêm La được. Hai mươi năm, khi Nguyễn Ánh trở về phục hồi cơ nghiệp thì họ cũng đã già, có con có cháu, lo “làm ăn” mà quên chuyện chiến tranh. Rồi khi Gia Long lên ngồi trên ngai vàng ở Huế, trả thù người dân Qui Nhơn từng theo phò ba anh em nhà Tây Sơn, thì những người nầy lại bỏ xứ vào miền Tây Nam Bộ. Những kẻ thù cũ gặp nhau, là những lưu dân như nhau, thương yêu đùm bọc nhau.

Câu chuyện buồn về cuộc Nam Tiến của người Việt ở cuối phần đất nước không thiếu cảm động, nhất là môi khi tôi nghe câu hò:

Rồng chầu ngoài Huế,

                        Ngựa tế Đồng Nai

                        Nước sông xanh sao lại chảy hoài?!

                        Thương người xa xứ lạc loài tới đây!

            Câu ca dao mô tả kiếp người Việt lưu vong ở đất Nam Bộ. Tình thế đã yên, vua đã lên ngồi trên ngai vàng (Rồng chầu). Việc cai trị cũng đã xong đâu đó (Ngựa tế Đồng Nai – con ngựa tế là con ngựa đi chậm rãi, đưa quan đi). Vậy mà“nước sông xanh vẫn chảy” – người dân vẫn tiếp tục cuộc đời lưu lạc – Như tôi vậy chăng, từ “giới tuyến” mà cuộc đời đưa đẩy tôi vào tận miền đất xa xôi nầy – Vậy đó! Vì hoàn cảnh đáng thương ấy nên người ta thương nhau, thương người “xa xứ”, thương kẻ “lạc loài”…

Vì đâu mà ngày nay, những người thương nhau vì “xa xứ” lại giết nhau một cách bạo tàn như vậy?! “Đức Thầy”, “Phật Thầy Tây An” hay “Đức Thầy Hùynh Phú Sổ” dạy tu hiền, dạy thương yêu! Vây ai dạy hận thù? Ai dạy “Đấu tranh giai cấp”, ai dạy “Giết! Giết nữa bàn tay không ngừng nghỉ…”

Vùng Cái Sắn ngày nay không còn những huyền thoại như ngày xưa nữa bởi vì sau khi lập dinh điền (dinh điền Cái Sắn), người ở ngày càng đông, nhà cửa ngày càng nhiều, đất hoang lùi dần vào… dĩ vãng, nay chỉ còn toàn là ruộng thì sinh vật vùng đất thấp Hậu Giang đã mai một, tuyệt chủng hay càng ngày càng ít đi. Cá sấu thì nay không tìm được con nào. Giống nầy mất dạng. Tôi nhớ tới câu chuyện bắt cá sấu trong “Hương Rừng Cà Mâu” của Sơn Nam, thấy tiếc một chút như thế nào ấy. Tôi cũng nghĩ tới cái dạ dày của con người ta. Có con vật nào thoát khỏi bị tiêu hóa!?

Thượng sĩ Trần Thông Đến, nguyên là con một ông chủ điền giàu có ở vùng nầy, kể:

-“Bây giờ không còn “mùa đốt đồng”. Ngày xưa vui lắm! Sau khi gặt hái xong, rơm rạ để lại ngoài đồng. Ít lâu sau, lau sậy mọc đầy. Quá nửa mùa hè, lau sậy bắt đầu khô. Bọn tôi chờ ngày nào có gió lộng thì đi đốt đồng. Giăng một cái lưới ngang phía dưới gió, rồi lên trên gió, cầm mồi lửa mà đốt. Lửa cháy rần rần. Vậy là thỏ, chồn, rùa rắn, đủ thứ loại, kéo nhau chạy xuống cuối gió. Đến đó thì hết chạy, chúng chui vào lưới rồi nằm yên, chờ người đến bắt.

-“Nhậu hết?” Tôi hỏi.

-“Nhậu thế nào mà hết được! Đem bán, chở lên Saigon.” Ông Đến nói.

Tôi nghĩ tới những bữa tiệc ở Saigon tôi từng được ông anh tôi cho đi theo! Thịt rừng, thủy sản. Còn những con đuông bắt trên ngọn dừa, hay chà là thì gọi nó là gì? Không là thủy sản, không là lâm sản thì nó là “không sản” vì bắt nó trên không! Không cần đi đâu xa, cứ ở Saigon, món ngon vật lạ nào mà thiếu được. Lại nghĩ tới cái dạ dày của con người mà khiếp thật.

Đem ý ấy mà nói với ông Đến, cứ ở Saigon, món gì cũng có. Ông Đến nói:

-“Nghèo mà! “Chỉ huy trưởng”! Dù ngon, dù muốn ăn, cũng phải nhịn để kiếm ít tiền.”

Tôi hỏi đùa: “Anh nghĩ nhân loại nầy có hòa bình được không?”

Anh ta hỏi ngược tôi: “Chỉ huy trưởng muốn nói gì?”

Tôi cười: “Chuyện gì nữa! Chuyện ăn. Ăn là chuyện “loạn trên đời”. Vì ăn mà thiên hạ đại loạn; xưa cũng vậy, nay cũng vậy, sau nầy cũng vậy.”

Chúng tôi đều cười.

Một lúc, thượng sĩ Đến nói với tôi: “Ở đây, lúa thì không bao giờ thiếu, không bao giờ đói được. Người ta có giết nhau là vì những lý do khác, chớ không vì đói. Cờ bạc là lý do thông thường. Đâu cũng đánh bạc. Thua hết tiền thì đi ăn cướp chớ có ai đi ăn cướp vì đói đâu. Ông có thấy những cái cà-tang lúa mà khiếp không?

-“Lúa đâu mà dữ vậy. Mới trông, xa xa, tôi tưởng là ngọn đồi. Mới mấy hôm trước, đi ngang có thấy gì đâu!”

Trăn hội

Nói về thú hoang, ở Cái Sắn không còn cá sấu, nhưng trăn thì còn! Trưởng ấp Đông, đệ tử linh mục Nguyễn Bá Lộc, có nuôi một con trăn. Con trăn nầy rất tạp ăn. Gà dịch, vịt chết, heo chết… thả vào lồng sắt cho nó, nó ăn hết. Thỉnh thoảng, sổ lồng, nó bắt gà hàng xóm, khiến hàng xóm bắt đền trưởng ấp Đông.

Có một sự kiện mà sau nầy, khi đọc tập sách “Mao Trạch Đông, tấn thảm kịch của đảng Cộng Sản Trung Quốc” tôi mới “ngộ” ra mà thấy hay. Trăn mà ít đi thì chuột lại nhiều. Khi đến mùa sạ, chuột đồng lông vàng và mập, đầy đồng. Mầm lúa sạ là món ăn ngon và tốt. Chuột lại mắn đẻ, một tháng đẻ một lần thì làm sao diệt cho hết được. Một hôm, trời mới sáng, khi tôi tới gần bến đò Tân Hiệp thì thấy bên đường có một bức tường đen quá đầu người, dài khoảng hai chục mét. Tới gần nữa thì toàn là những lồng chuột được sắp chồng lên nhau như một bức tường. Lồng nào cũng đầy chuột. Người ta đang chờ xe đến để chở chuột lên Saigon bán.

Chuột là mồi ngon của trăn. Trăn không còn thì chuột mặc sức đẻ. Nông dân có dùng bẫy chuột thì cũng không hết được. Đó là chưa kể loài chuột rất tinh khôn, không thể bẫy nó nhiều lần được. Câu chuyện nầy cũng giống như “chiến dịch chim sẻ” của Mao. Chim sẻ chết hết thì sâu ra nhiều, phá hoại lúa còn hơn chim sẻ. Tạo hóa sinh ra muôn loài muôn vật là đã tính chuyện “điều hòa” giữa chúng với nhau. Đi ngược lại con đường đi của Tạo Hóa làm sao được.

Trăn vùng rừng tràm Trà Tiên “phong phú” hơn vì đất hoang, rừng rậm còn nhiều. Một hôm, vừa về đến nhà, nhà tôi nói:

-“Ông thượng sĩ Năm Huê vừa đem cho một khúc thịt trăn. Sợ quá, em bảo tài xế Thành đem cho mất rồi. Thành nói: “Khúc thịt trăn dài hơn gang tay, to bằng bắp chân, thịt trắng thấy ngon mà “cô” sợ.” “Cô” là tiếng nhân viên của tôi gọi nhà tôi. Tôi nói: “Thôi mấy ông chia nhau mà nhậu đi!”

Tôi nhớ một câu chuyện cũ, tận mắt tôi thấy, tôi cũng “ngán”, nên tôi không tiếc khúc thịt trăn đem cho. Hồi còn trẻ, tôi hay đến chơi với Phan Xuân Phú, bạn học. Thân sinh Phan Xuân Phú là ông Phan Xuân Sang, nổi tiếng hai việc: Chủ tiệm may “đồ Tây Xuân Sang” đẹp nhất và lớn nhất ở thị xã Quảng Trị. Ông là người đi săn giỏi, bạn cùng đi săn với ông Ngô Đình Nhu trước 1945. Có lần ông kể: Năm 1956, ông lái xe từ Khe Sanh về Đông Hà, dọc theo đường số 9. Trời tối đen, khi gần tới một khúc quanh, ông thấy một đống gì đó, phản ánh đèn xe Jeep của ông, chiếu lấp lánh nhiều mầu xanh đỏ, rất đẹp. Qua khỏi khúc quanh, ông ta mới biết cái đống lấp lánh đó là một con trăn rất lớn, nằm khoanh lại bên đường. Ông ta quyết định bắn con trăn đó. Hai người đi săn cùng ông bảo “đừng”. Con trăn to quá, họ sợ. Ông Sang quay xe lui, chiếu đèn xe vào con trăn. Con trăn vẫn nằm im. Có lẽ nó đang ngủ. Ông Sang núp bên thành xe, ngang đầu máy, kê súng nhắm bắn. Ông ta cũng sợ. Lỡ bắn trật, con trăn bị thương, không chết, nó sẽ vùng lên tấn công. May mắn, sau khi nổ súng, ông ta giết được con trăn. Con trăn rừng – đây là con trăn rừng – to quá, mình to như cái cột nhà. Ba người phải hè nhau hết sức mới đem con trăn lên thùng xe được. Chết rồi mà cái đuôi con trăn còn vùng vẫy. Hai người cùng đi sợ quá, phải leo lên ngồi trên thành xe. Khi Phú chỉ cho tôi xem một khúc thịt trăn, miếng thịt còn nhúc nhích, giựt từng chặp. Thịt trăn khác với các loài thịt khác như thịt cọp hay thịt nai, phải lâu lắm, miếng thịt trăn mới chết hẳn.

Con trăn đồng – trăn ở miền Tây Nam Bộ là trăn đồng – nhỏ hơn trăn rừng. To lắm thì mình nó bằng cổ chân hay bắp chuối, da vàng chớ không đen như trăn rừng. Mấy hôm trước, đi ngang một căn nhà ở ấp Lò Bôm, thấy đông người, tôi dừng xe lại hỏi. Té ra nhà nầy là nơi mua trăn, lột da phơi khô. Thịt trăn thì đem bán. Da trăn sống phơi khô, bán lên Saigon. Ở đó, mấy chú Ba sẽ “thuộc”, nhuộm, bán cho các tiệm may bóp, giày cho phụ nữ hay trẻ con.

Năm Cẩn, nhân viên của tôi, nhà sát nhà lột da trăn, giải thích với tôi:

-“Tới mùa trăn hội thì trăn về nhiều lắm!”

Giọng nói Nam Bộ, anh ta phát âm “trăn” cũng giống như “trăng”, nên tôi hỏi, có ý đùa:

-“Trăng thì chỉ có một vầng trăng, làm gì có nhiều trăng mà “hội?”

-“Trăn là con trăn đó!” Cẩn giải thích. “Hội là chúng nó “hội” nhau lại. Tới mùa con trăn cái động đực, cả chục con trăn đực tìm tới. Cả chục con trăn đực mới làm cho con trăn cái đậu thai. Sau đó, nó đẻ mấy chục cái trứng. Người ta chờ tới mùa “trăn hội” thì đi bắt trăn. Bắt trăn dễ lắm, chỉ cần một cái khăn rằn và một cái bị bàng sâu, khâu nhỏ miệng lại để con trăn không chui ra được. Người ta theo dấu con trăn bò trên mặt đất, đến chỗ nó hội. Khi thấy con trăn, chờ nó ngóc cao đầu, thì người ta phất cái khăn ngang mặt nó. Nó đớp cái khăn nên bị mắc kẹt, khi đó người ta chỉ cần chụp đầu con trăn đè xuống rồi bắt bỏ vào bị bàng.” (2) Có khi hai con trăn đang “xà nẹo” nhau, kết lại như sợi giây đay, “anh chị đang đờ đẫn”, bắt dễ ợt.

“Người đi săn tài lắm. Nhìn lằn con trăn bò trên mặt đất, người ta biết đó là con trăn đực hay trăn cái. Có con bị tật, người ta cũng biết!”

-“Tật như thế nào?” Tôi hỏi.

-“Ví dụ xương sống đuôi bị gãy. Đường nó bò không ngay! Nhìn thì biết!” Cẩn giải thích.

-“Chắc họ có kinh nghiệm!” Tôi nói.

-“Nghề gì mà không có kinh nghiệm, như tui làm thợ mộc vậy!” Nói xong, anh ta nhìn tôi, nhoẻn miệng cười.

Ông Hồng Ràng, chủ tiệm buôn bán vật liệu ở ấp Ngã Ba, gần chợ Kiên Lương, là con chiên của linh mục Nguyễn Thượng Hiền ở họ đạo An Hòa. “Hồ sơ trận liệt” ghi nhận, hồi 9 năm (3) ông ta theo Việt Minh, hoạt động vùng Kiên Lương/ Hòn Chông/ Hà Tiên quá tới Trà Phô bên Miên. Có lần, trong một bữa nhậu, có cả ông thiếu tá Sầm Long, quận trưởng và linh mục Lương Công Đại, cha xứ họ đạo An Bình của thị trấn Kiên Lương, tò mò, tôi hỏi:

-“Xứ nầy tức cười! Đạo Thiên Chúa với Cộng Sản như nước với lửa, vậy mà hồi 9 năm, dân An Hòa theo Việt Minh không sót mặt nào!”

Ông Hồng Ràng nói, có vẻ gay gắt:

-“Yêu nước mà ông! Chống Tây giành độc lập, ai không theo! Trong Rạch Đùng (4), còn sót mấy ông cha Tây trong Dòng Tu, dù không ưa Việt Minh cũng không dám chống. Chúng tôi cũng thông cảm. Cha Tây là người Tây thì ủng hộ Tây. Nếu là người Việt, theo Tây mới là vấn đề!”

-“Có người Việt nào theo Tây không?” Tôi hỏi, nhẹ nhàng vì sợ mất lòng ông Hồng Ràng như câu tôi vừa nói ở trên.

-“Giáo dân thì không nhưng cũng có vài ông cha người Việt. Mấy ông cha nầy chạy trốn về Long Xuyên cả. Việt Minh giết như không! Hồi đó, Việt Minh, Hòa Hảo giết nhau như giết gà!” Ông Hồng Ràng nói, vẻ bất mãn.

-“Hồi đó Việt Minh hoạt động qua tận bên Miên?” Tôi hỏi.

-“Đất hai bên dính liền nhau. Kinh Vĩnh Tế là do ông Thoại Ngọc Hầu đào mà thôi. Xưa kia đất hai bờ kinh là một. Khi Tây nó lùng lắm hay bên đó kêu cứu thì mình dọt qua bên đó. Khi cần thì về bên nầy. Rút qua rút lại như đưa võng.” Ông Hồng Ràng giải thích.

-“Bây giờ Việt Cộng nó cũng vậy, thường theo con đường ở mật khu Trà Tiên.” Tôi nói.

Ông Hồng Ràng cười: “Việt Cộng cái gì! Con đường đó là con đường của tụi tui “khai sơn phá thạch”. Sau nầy Việt Cộng đi theo.”

-“Quốc Gia cũng biết. Ông nhớ bên kia có đồn Trà Phô.” Tôi nói.

Bấy giờ quận Long mới tham gia:

-“Trà Phô trước là “căn cứ Mỹ”, sau nầy Mỹ rút, giao lại cho Biệt Động Quân Biên Phòng. Cái đồn đó là ngọn dao kề cổ Việt Cộng đó.”

-“Chận đường di chuyển, như “Cây Số 15?” (5) Tôi hỏi.

-“Căng hơn!” Quận Long nói. Lính không nằm im trong đồn. Ban đêm, bung ra phục kích. Việt Cộng biết phục kích chỗ nào mà tránh, bị “dính chấu” hoài.”

-“Tại sao bây giờ rút bỏ Trà Phô? Vị trí đó quan trọng lắm mà!” Tôi hỏi.

-“Ai mà biết! Quân Khu bảo rút thì rút! Nơi sanh tử, Việt Cộng chết nhiều mà mình cũng hao!” Quận Long trả lời tôi.

-“Hồi đó, rừng Trà Tiên là rừng nguyên sinh, ông Hồng Ràng có thấy gì không?” Tôi hỏi.

Ông Hồng Ràng kể:

-“Một hôm có lệnh bên Miên rút về. Trước hết, cho hai người đi tiên phong dò đường. Hai anh nầy đi mất tiêu, không thấy tăm hơi gì cả, không quay lui báo cáo tình hình để có thể về hay không! Cuối cùng, chỉ huy ra lệnh về, vừa đi vừa dò đường. Về tới rừng Trà Tiên, phát hiện hai con trăn lớn lắm, có người bảo là thuồng luồng chớ không phải trăn. Tụi tui bắn chết một con, con trăn đực, nó cứ lảng vảng không chịu đi. Có người nói nó muốn bảo vệ cho con cái. Mổ bụng ra, một anh bộ đội còn nguyên trong đó. Té ra, hai anh bộ đội bị trăn nuốt mất rồi.”

Thấy câu chuyện có vẻ huyễn hoặc, tôi không tin nhưng không nói gì. Một người ngồi chung bàn nhậu cười nói: “Trăn mà làm như người. Con đực không chịu đi vì lo bảo vệ con cái. Bộ “Anh yêu em xuốt đời” sao?”

Nghe câu nói đùa, ai nấy đều cười.

Một lúc quận Long nói:

-“Chuyện ông Hồng Ràng, hồi còn trẻ, tôi cũng có nghe dân Hà Tiên kể lại. Hồi xưa, vịnh Rạch Giá thiếu gì thuồng luồng. Ông nội tôi kể, hồi còn trẻ, ông đi ghe buồm, thuồng luồng ngóc cao đầu đuổi theo ghe là thường. Ghe phải căng buồm mà chạy cho mau. Đuổi kịp, nó mổ một anh mà nuốt như rắn nuốt ếch chớ khó gì?”

-“Ông nói là thuồng luồng ngóc đầu đuổi theo ghe? Ai dám đi biển!” Tôi nói.

-“Ông ở ngoài kia vô đây nghe dzậy tưởng lạ. Thời Tây, thuồng luồng còn đầy. Mấy năm chiến tranh, tàu Tây bắn chết nhiều lắm. Bây giờ nó “di tản” qua vùng khác chớ chưa tuyệt diệt đâu.”

Quận Long kể một câu chuyện khác: “Gần Chùa Hang có con kỳ đà ở trong hang. Nó không cần ra khỏi hang. Nước lên, cá theo nước ở ngoài vào. Nước xuống, cá kẹt lại trong hang, làm mồi cho con kỳ đà. Ăn riết, to quá, cái miệng hang thì nhỏ, có muốn ra khỏi hang cũng không ra được.”

-“Rồi nó chết già trong hang, như ông đạo Còm?” Tôi hỏi.

-“Làm gì có. Lính nghe dân nói, vô hang, bắn chết, xẻ thịt đem ra! Dễ không?” Quận Long cười.

-“Lính của ông?” Tôi hỏi.

-“Đâu có, chuyện nầy là chuyện hồi chín năm. Tàu Tây hay đi tuần!”

Tôi cũng tò mò, muốn đi xem cho biết, nhưng rồi chỉ xem được Hang Tiền mà thôi.

Gần Ba Hòn, có một cái hang nhỏ, miệng hang thấp, ngang mặt biển, gọi là Hang Tiền. Tôi nghe nói cha Đại (linh mục Lương Công Đại), xứ đạo Kiên Lương cho dựng một cái thánh giá ngay miệng hang. Tôi rủ cha Đại vô hang một lần, tò mò vì nghe người ta nói ngày xưa, thời “Gia Long tẩu quốc”, đây là nơi Nguyễn Ánh cho đúc tiền hay giấu tiền gì đó, trong hang còn những cái khuôn đúc tiền bằng đá. Vô đó rồi, tôi có thấy gì đâu. Nếu thật, đây là một di tích lịch sử, phải gìn giữ mới được.

Đang ngồi nói chuyện, có nhiều chuyện liên hệ đến “hồi 9 năm”. Tôi hỏi ông Hồng Ràng:

-“Hồi đó, ông có tham gia việc làm cản đến không?”

Ông Hồng Ràng cười:

-“Cha trung sĩ Lợi, “đệ tử” của ông chớ ai! Nghề thợ mộc nhà ấy là “cha truyền con nối”.

-“Ông ta làm gì?” Tôi hỏi.

-“Cưa, đục, làm mộng! Làm “cản” không cho tàu Tây qua lại.”

-“Sau nầy mới phá?”

-“Sau nầy đâu! Hồi đó đánh Tây, mình còn quê. Tưởng đóng cọc, giăng ngang cây làm cản, Tây chịu thua. Tàu nó có đại bác, bắn một phát, bay hết!”

Nói xong, ông ta cười! Ai nấy cũng cười theo.

Tôi kể:

“Hôm mới về, nghe nói phía ngang núi Trầu, trên kinh Kiên Lương/ Hà Tiên có cái cản, tôi cứ tưởng như cọc gỗ trên sông Bạch Đằng. Tới nơi coi chơi, tôi thấy chỉ còn mấy cái đầu cọc. Sợ nguy hiểm cho ghe tàu, tôi biểu xã trưởng Long cho nhổ đi, nhưng ông ta nói không nhổ được. Để có dịp, ông ta cho người lặn xuống đáy kinh, buộc mìn vào đó, cho nổ, công việc dễ hơn. Tôi có hứa tôi sẽ xin chất nổ của Nhà Máy cho ông ta.”

Giữa năm 1974, tôi về Rạch Giá. Tham dự một buổi họp chuẩn bị thành lập một tỉnh mới, tên là tỉnh Kiên Hà, lấy tên từ Kiên Giang và Hà Tiên. Tỉnh mới gồm có 3 quận cũ là Phú Quốc, Hà Tiên và Kiên Lương. Một quận mới sẽ được thành lập là quận Giang Thành, từ xã Giang Thành cũ là một phần đất cuối kinh Vĩnh Tế. “Xếp” của tôi nói: “Tôi đã đề nghị Philip Đạt làm chỉ huy trưởng. Chú làm chỉ huy phó. Philip Đạt còn trẻ lại ham chơi, chú lớn tuổi hơn, chín chắn hơn. Công việc mới được tốt đẹp.”

Tôi nói: “Mình chia lãnh thổ nhỏ ra để dễ kiểm soát. Việt Cộng gặp khó khăn nhiều hơn. Mình làm, chúng nó phá. Việc nầy giống như việc thành lập tỉnh Phước Thành thời Ngô Đình Diệm. Tỉnh Phước Thành chưa yên chỗ, chưa hoàn tất hệ thống phòng thủ thì Việt Cộng tấn công, bắt sống tỉnh trưởng. Kiên Hà rồi cũng sẽ như vậy. Về nắm tỉnh nầy, lạnh giò lắm.”

-“Chú biết như vậy thì chú nên về đấy. Kinh nghiệm là cần thiết.”  Xếp nói.

Tôi nói nửa đùa, nửa thật

-“Quả thật là nguy hiểm, nhưng trung tá yêu cầu, em sẽ về, nhưng nếu “Tổ Quốc ghi ơn”, trung tá nhắc với chính phủ đừng quên vợ con em.”

Sau đó, về Kiên Lương, được ít hôm, tôi lên ấp Hòn Heo, nơi sẽ lập tỉnh lỵ mới, thay vì Hà Tiên hay Kiên Lương.

Từ Ba Hòn, cửa biển Kinh Xáng Hà Tiên đi lên hướng Hà Tiên là ấp Cần Thăng. Đây là vùng đất hơi cao, không làm ruộng lúa mà làm ruộng muối vì đất pha mặn. Từ Cần Thăng đi lên, đất càng lúc càng cao: Ấp Hòn Heo, ấp Bãi Chà Và. Qua khỏi mũi Hòn Cọp là xã Thuận Yên thuộc Hà Tiên. Xã nầy có núi Tô Châu, không cao lắm. Hết núi Tô Châu là Đông Hồ.

Nhìn kỹ, ấp Hòn Heo là một dãi đất cao, dài, từ hướng Núi Trầu kéo ra tận bờ biển. Sát bờ biển là một ngọn núi không cao lắm, có con đường đất vòng quanh núi rồi trở lại địa điểm cũ. Ở đây, có ngôi chùa, tương đối vắng khách thập phương. Trụ trì là một ông thầy chùa trẻ, là một ông thầy mượn cớ tu hành để “hoãn dịch vì lý do tu sĩ” khỏi đi lính chớ chẳng tu hành gì đâu! Biết vậy, nhưng tôi làm gì được khi ông ta co giấy hoãn dịch của Nha Động Viên của ông tướng Bùi Đình Đạm.  Kinh nghiêm làm việc khiến tôi rất ngại mấy ông thầy chùa nầy. Học hành ít, dễ tin, dễ bị Việt Cộng tuyên truyền, lại thiên tả, dễ làm giao liên cho Việt Cộng. Qua đầu năm sau, Danh Chịa, một trung đội trưởng Nghĩa Quân giỏi bị chết vì mìn gài ở ngọn núi nầy. Thiếu Tá Sầm Long chảy nước mắt khi được báo tin Danh Chịa tử trận. Dấu hỏi về ông thầy chùa càng to hơn, nhưng tôi chưa làm gì được!

Quách Thị Hoa, mới ở tù Côn Đảo về. Thiếu úy Chiếu báo cáo với tôi là ông ta đang theo dõi “con nhỏ” nầy tái hoạt động. Thị mới về, ai móc nối thị? Móc nối ở đâu? Lúc nào? Thị cũng là người nhạy bén, biết bị động, thị đổi vùng vô Chùa Hang, rồi lại móc nối với thị Vinh ở ấp Lung Lớn, kéo nhau về Rạch Giá mất! (6)

Vùng nầy không trồng trọt gì được cả, toàn cây cỏ hoang, với một vài cây dừa, hay mãng cầu – sách tập đọc gọi là “a quả na” – người ta trồng nhưng bỏ hoang đã lâu.

Tôi dừng xe ngoài đường lộ – liên tỉnh lộ 80 – đi bộ về phía Núi Trầu. Đất cao và khô, bỏ hoang đã lâu. Nhìn lên Núi Trầu, tôi biết phía bên kia, xa xa là Rừng Tràm Trà Tiên, là Mật Khu Trà Tiên, là căn cứ Việt Cộng, là căn cứ tỉnh ủy Long Châu Hà – tỉnh của Việt Cộng, liên kết giữa ba tỉnh Long Xuyên/ Châu Đốc/ Hà Tiên. Thế nào khi đặt tỉnh lỵ ở đây, chúng nó sẽ về phá, mà phá nát ra, không cho tỉnh Kiên Hà hình thành, như chúng đã làm ở Phước Thành. Chính phủ Nguyễn Khánh phải giải thể tỉnh nầy trước kia vậy.

Tôi hơi lo. Từ quê quán bên bờ sông Thạch Hãn, tôi vô tới đây, đánh nhau với Việt Cộng ở đây, biết đời tôi sẽ còn mất như thế nào!? Sao đời lính đưa tôi đi xa quá vậy? Xa như thế nầy, đến tận đây, một vùng đồi hoang nơi tận cùng đất nước. Bất chợt, tôi thấy một cây mắc cỡ bên cạnh con đường mòn. Đây là vùng đất đỏ, nên cây mắc cỡ xanh tốt, to rậm, không như mắc cỡ ở truông Ai Tử. Ái Tử là vùng đất cao, đầy cát khô, nên cây mắc cỡ nhỏ, hoa lá không sum suê. Ái Tử là nơi rất nhiều kỷ niệm, nơi tôi từng “đi chơi” với nhà tôi nhiều lần, khi chúng tôi chưa cưới.

Biết khi nào không còn chiến tranh, tôi lại về Huế dạy học, lại về Ái Tử đi chơi cùng cô ấy như ngày xưa, hơn là ở lại nơi hoang vắng nầy.

Tôi bỗng nhớ một bài hát của Trần Thiện Thanh viết về cây  mắc cỡ: “Tôi không phải là vua nên mộng ước thật bình thường.” Tôi là lính, tôi không phải là vua… Bảo Đại. Nhưng rõ ràng bên cạnh chân tôi là một bụi hoa:“Hoa trinh nữ không mặn mà” mà tất cả bọn con nít, rất thích “một loài hoa trên vùng đá sỏi buồn phiền”.

Đá sỏi buồn phiền chỉ là nhân cách hóa. Buồn phiền chính là ở lòng tôi, một người lính đang “lang thang” trên một vùng “đất nước lạ lùng…”./

hoànglonghải

(1)-Ông Nguyễn Bảo Toàn bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt và thủ tiêu ở trên sông Nhà Bè. Đại úy (cấp bậc năm 1956, trước 1975 là cựu đại tá) Đào Quang Hiển là người thi hành việc nầy, do lệnh ông Ngô Đình Nhu

(2)- Đệm, tiếng miền Trung/ Bắc

(3)-“Hồi 9 năm”, tiếng địa phương: 9 năm kháng chiến chống Pháp.

(4)- Ấp cuối của núi Hòn Chông, căn cứ cũ của Nguyễn Trung Trực. Sau khi cuộc kháng chiến tan rã, thực dân Pháp thu nhỏ vùng nầy, thành lập quận Hòn Chông để dễ kiểm soát, quận lỵ ở đầu núi, phía Chùa Hang. Cuối ngọn núi nầy, là một Dòng Tu Thiên Chúa Giáo, đào tạo tăng lữ. Nhiều người “rửa tội”. Họ đạo Hòn Chông được thành lập.

(5)-“Cây số 15”, cách Rạch Giá 15km, trên liên tỉnh lộ 80, là điểm chính trên đường giây 1-C của Việt Cộng, di chuyển từ hướng Campuchia về Cà Mau. (Xem Hương Tràm Trà Tiên, cùng tg).

(6)-Sau 75, cả hai thị “liên hệ” với cựu xã trưởng Hồ Văn Chánh, bị Công An bắt vì tội “đưa người vượt biên.”

>>> Tìm Theo Thể Loại Mà Quý Vị Đang Quan Tâm <<< [Không Quảng Cáo]