1)-Kinh Xáng, công lao của Tây

Cách đây mấy năm, ông cựu thiếu tá Đinh Sơn Tuyền, sau khi được người bạn nào đó, gọi điện thoại cho ông, nói rằng trong cuốn “Hương Tràm Trà Tiên” (1) có kể chuyện “ông Chủ Ry” ở Dzàm (vàm) Rầy, quê hương bản quán của ông Tuyền nên ông Tuyền có tìm đọc cuốn sách nói trên. Đọc xong, ông Tuyền gọi điện thoại cho tôi, cho tôi biết thêm vài chi tiết của gia đình họ Đinh nầy. Xem lại, tôi thấy công nghiệp của “ông Chủ Ry” ở đây thật lớn: Phá rừng, đào kinh làm rẫy, những khoảng 5 ngàn mẫu, đóng góp kinh tế cho tỉnh Rach Giá ngày xưa, đem lại công ăn việc làm cho hàng ngàn tá điền. Chiến tranh tàn phá tất cả. Em út ông Chủ Ry hy sinh khi theo “Nam Bộ Kháng Chiến”, trong khi “ông chủ Ry” lại sợ Việt Minh mà phải đem vợ con chạy về Rạch Giá, để phải mang tiếng là “theo Tây”. Năm ngàn mẫu ruộng của ông bị hoang hóa mấy chục năm. Lau sậy, cỏ rác mọc tùm lum, trong khi đó, không còn chủ, tá điền của ông Chủ Ry xiêu lạc tứ tán cả. Những gia đình còn lại thì thiếu gạo ăn, gần muốn chết đói trên đám ruộng hoang của ông chủ cũ.

Ông Chủ Ry là “người Tây lai”. Thân phụ ông là một ông Tây chính cống, gốc ở đảo Corse thuộc Pháp ở Địa Trung Hải, người cùng xứ với ông tướng nổi tiếng Napoléon của Pháp.

Hồi thực dân Pháp muốn mở mang đất ruộng miền Tây Nam Bộ, thuê ông ta qua đây để lái xáng đào kinh. Xáng là một loại tàu hay xà-lan trên đó có cái máy đào kinh. Có hai loại dụng cụ đào kinh trên xáng, chạy bằng động cơ nổ: Một là loại xáng múc, tức là đưa cái “gàu” múc đất mà đổ lên bờ. Hai là loại xáng thổi, tức là hút bùn từ giữa kinh mà thổi “đất bùn” lên bờ.

Đất được đổ hay thổi lên bờ kinh để làm con lộ. Cho nên, dọc theo kinh là một con lộ. Song song với kinh Long Xuyên – Rạch Giá là một con lộ, có tên là Liên Tỉnh Lộ 80 (hình như bây giờ nâng lên Quốc Lộ). Dọc theo kinh Rạch-Giá – Hà Tiên là liên tỉnh lộ 80, nay cũng gọi là Quốc Lộ.

Kinh Vĩnh Tế nối từ Châu Đốc xuống Hà Tiên, dọc theo biên giới Việt Minh là kinh đào. Lấy sức người mà đào kinh, nên người ta không gọi là kinh xáng. Còn như các con kinh được Tây cho đào hồi cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 phần nhiều là “kinh xáng” là do xáng đào hay múc, không dùng sức người. Chữ “kinh xáng” tôi dùng trong sách nầy là có ý nghĩa như thế.

Nhìn vào bản đồ miền Tây Nam Bộ, tức là phía hữu ngạn sông Bassac, tên Việt là Hậu Giang, người ta thấy nhiều kinh rất thẳng, thì đó là kinh đào hay kinh xáng. Kinh thiên nhiên thi chẳng thẳng bao giờ.

Nếu kể từ Hậu Giang ra biển có thể có những kinh xáng sau đây: sâu nhất (12mét) và rộng nhất (30 mét) là kinh Long Xuyên (từ Ngã Ba Lộ Tẻ) đến Rạch Sỏi (ngoại ô thị xã Rạch Giá) dài khoảng 70km. Kinh nầy còn gọi là kinh Thạnh Đông. Ở biên giới Long Xuyên (vùng Cờ Đỏ) / Rạch Giá, song song với kinh Thạnh Đông là kinh Thạnh Tây, nối từ Cờ Đỏ đến Minh Lương hay An Biên bằng những kinh thiên nhiên. Do dó, kinh Thạnh Tây không dài như kinh Thạnh Đông. Hai kinh nầy song song và cách nhau 12km. Về phía Tây của kinh Thạnh Đông là kinh Núi Sập – tên chữ là Thoại Sơn. Kinh nầy cũng từ Long Xuyên, qua núi Sập mà ra biển, ở phía Tây thị xã Rạch Giá. Kinh nầy không rộng và sâu bằng kinh Thạnh Đông. Nếu kể về đường thủy, các ghe lớn đi từ Hà Tiên lên Saigon/ Chợ Lớn thường đi theo kinh Hà Tiên / Rạch Giá rồi từ Rạch Giá theo kinh Thạnh Đông mà ra “sông Hậu”.

Kinh xáng Hà Tiên là kinh do xáng đào, từ Rạch Giá đi Hà Thiên. Kinh nầy rất thẳng, bên tả ngạn kinh nầy là vịnh Rạch Giá. Kinh chỉ hơn cong ở Sóc Sơn và cong khoảng 30 độ ở Xóm Đạo thuộc xã Đức Phương (tên nôm na là Dzàm (vàm) Rầy), phía ngoài sở ruộng của ông Chủ Ry ngày trước. Ngay Dzàm Rầy cũng có kinh xáng, gọi là “kinh Xà Tón” (hay kinh Một), nối từ Châu Đốc ra biển, nhưng kinh nầy cạn, hẹp. Vã lại mấy chục năm chiến tranh, kinh nầy cũng như kinh Vĩnh Tế đi ngang đường giây 1-C là đường giao liên của Việt Cộng. Việt Cộng cấm không cho dân chúng di chuyển. Lâu ngày bỏ hoang, kinh đã cạn, không xử dụng được nữa.

Kinh Xà Tón (hay kinh Một) là nơi ông Chủ Ry và ông Thầy Ban cho dẫn nước vào ruộng của họ, theo hai con kinh cùng tên Chủ Ry và Thầy Ban. Hai kinh nầy, trong chiến tranh cũng bị bỏ hoang. Lại một sự hoang phí của chiến tranh. Bọn Tàu, Nga, Mỹ, Pháp khi đem chiến tranh đến cho đất nước Việt Nam nầy là chúng đã đem lại bao nhiêu tai hại cho người dân Việt Nam.

Kinh xáng Hà Tiên từ Rạch Giá vào tới “Ấp Ngã Ba” thuộc xã An Hòa thì chia làm hai: Nhánh thứ nhất, bên phải thì rẽ lên Đông Hồ. Đông Hồ là thắng cảnh của Hà Tiên.

Thật ra, gọi là “hồ” nhưng trong thực tế, nó là đoạn cuối của kinh Vĩnh Tế, phía nam của Giang Thành. Giang Thành cũng như Đông Hà là hai trong 10 thắng cảnh của Hà Tiên: “Hà Tiên thập cảnh”. Nhà thơ Hà Tiên Lâm Tấn Phát lấy Đông Hồ làm bút hiệu của ông. Ông có làm thơ vịnh 10 thắng cảnh xứ nầy, bài “Đông Hồ Ấn Nguyệt” (ấn là in – bóng trăng in xuống Đông Hồ) như sau:

Bài chữ Hán:

Đông Hồ ấn nguyệt

Vân tế yên tiêu cộng diểu mang,

Nhất loan phong cảnh tiếp hồng hoang.

Tình không lãng tịnh truyền song ảnh,

Bích hải quang hàn tẩy vạn phương.

Trạm khoát ứng hàm thiên đãng dạng,

Lẫm linh bất quý hải thương lương.

Ngư long mộng giác xung nan phá,

Y cựu băng tâm thượng hạ quang.

 

Đông Hồ dịch:

 

Khói lạnh mây tan cõi diểu mang,

Một vùng phong cảnh giữa hồng quang.

Trời xa mặt sóng in đôi bóng,

Biển bạc vành gương dọi bốn phương.

Rộng đã sánh cùng trời bát ngát,

Sâu còn so với biển mênh mang.

Cá rồng tỉnh giấc chi tan vỡ,

Một tấm lòng băng vẫn chói chang

 

Bản chữ nôm:

 

Khói lạnh mây tan cõi diểu mang,

Một vùng phong cảnh giữa hồng quang.

Trời xa mặt sóng in đôi bóng,

Biển bạc vành gương dọi bốn phương.

Rộng đã sánh cùng trời bát ngát,

Sâu còn so với biển mênh mang.

Cá rồng tỉnh giấc chi tan vỡ,

Một tấm lòng băng vẫn chói chang./

 

Nhánh thứ hai đi thẳng ra biển. Nhánh nầy phải ngang qua Ba Hòn, sát bờ biển. Ba Hòn cũng là thắng cảnh, gồm ba ngọn núi nhỏ. Lưng chừng hòn lớn nhứt, có hang thờ Phật. Hồi chiến tranh, thỉnh thoảng có vài sư Bà, sư Cô đến cầu kinh, cúng Phật rồi đi, không ở lâu, có lẽ vì không có nước ngọt.

Phía ngoài cửa kinh nầy là một quần đảo, có tên là “Quần Đảo Hải Tặc”. Tại sao lại có tên đó?

Từ Rạch Giá theo sông Cái Lớn về Gò Quao thuộc quận Hiếu Lễ thời VNCH, nay thuộc tỉnh Cà Mau. Vùng nầy thời Pháp thuộc có nhiều kinh xáng đổ nước ra biển, lấy đất làm ruộng, có nhiều “điền chủ”. Những kinh xáng nầy song song vơi nhau, đặt tên theo thứ tự kinh thứ nhất, kinh thứ 2, kinh thứ 3… nên dân chúng thường gọi là “Miệt Thứ”.

Đây là vùng tận cùng đất nước. Ngày xưa, phương tiện di chuyển khó khăn, ai về “Miệt Thứ” là coi như “đi dễ khó về”. Ca dao có câu:

 

Sương khuya ướt đẫm giàn bầu

                        Em về miệt thứ bỏ sầu cho ai!

 

                        Em yêu anh nên đành xa x

                        Xuôi ghe chèo “miệt thứ” Cà Mau

 

Địa lý vùng Hà Tiên.

          Hồi các năm 1956,57 ở Saigon có tờ tạp chí “Chỉ Đạo”, có lẽ là cơ quan tuyên truyền, giáo dục gì đó của “Ủy ban Trung ương Chỉ đạo Chiến dịch Tố Cộng” củ ông Ngô Đình Nhu. Ông Nguyễn Mạnh Côn làm chủ bút hay tổng thư ký gì đó. Tờ báo có đăng một truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc, nhan đề “Rung Cây Dừa”. Chuyện kể hồi kháng chiến chống Pháp, có anh thanh niên “chạy trốn thế sự” bèn bỏ đất liền ra sinh sống ngoài hòn. Tôi không nhớ là hòn gì! Hồi nầy, dân ở đảo còn thưa thớt. Thỉnh thoảng Tây đi lùng các hòn bằng Tàu sắt. Anh chàng canh chừng, mỗi khi thấy khói tàu, biết Tay sắp tới, anh ta trèo lên cây dừa, rung mạnh tàu lá dừa để dân chúng biết mà chạy trốn lên núi. Tây đi lùng thường tàn ác vô cùng: Thanh niên bị Tây bắn chết hay bắt đi ở tù, còn đàn bà con gái bị Tây hiếp dâm.

Sách của Sơn Nam hấp dẫn tôi hơn bởi vì nhà văn nầy thường kể những chuyện lạ ở vùng Hâu Giang nầy, như cuốn “Hương Rừng Cà Mâu”, “Tìm hiểu đất Hậu Giang.” Cuốn phim “Mùa Len Trâu” mới quay mấy năm trước là lấy ý từ câu chuyện cùng tên trong “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang”.

Câu chuyện “Mùa Len Trâu” làm tôi nhớ tới người dân Vàm Rầy kể vài chuyện về ông Chủ Ry cho tôi nghe. Họ bảo hồi xưa, chưa có máy cày như thời Cộng Hòa, ông Chủ Ry nuôi chừng hai trăm con trâu, để cày ruộng cho ông ta và cho người ta thuê. Đến “mùa nước nổi”, khoảng tháng 9 tháng 10 dương lịch, nước sông Cửu Long dân lên ngập hết ruộng đồng, không có cỏ cho trâu ăn, bọn mục đồng phải cho “len” (tiếng Campuchia, nghĩa là lùa trâu đi) lên vùng đất cao để có cỏ cho trâu ăn. Trâu của ông Chủ Ry phải lùa lên núi Cô Tô bên Châu Đốc, cách chừng hai chục cây số. Đến khi nước rút, đất ruộng lộ ra, lau lách cỏ lác mọc lên, lại cho trâu về.

Nhớ những câu chuyện của nhà văn Sơn Nam, và thấy thích thú khi so những chuyện vui lạ ông kể trong sách của ông mới biết là chuyện thật.

Trở lại câu chuyện địa lý vùng Hà Tiên, người ta thấy vùng nầy là vùng núi non, gồm núi đất và núi đá, có khi một hòn núi đất đá lẫn lộn.

Hòn núi lớn nhất là núi Tà Lơn (2) bên Campuchia, như là một trung tâm. Từ đó, nhiều hòn núi trãi rộng ra, qua phía Đông, phía Hà Tiên hay xuống phía Nam, như những hòn đảo trong vịnh Rạch Giá.

Trong đất liền, có những núi hoàn toàn là đá vôi, như núi Còm, núi Trầu, núi Nai, núi An Hải, tên chữ là An-Hải Sơn, là núi có Chùa Hang, núi Moso – nơi từng gọi là “Bệnh viện Nguyễn Tấn Dũng”, bởi vì có lẽ có thời gian ông ta làm y tá ở đây, sau khi thôi làm du kích ở ấp Tà Keo, xã Mỹ Lâm. Ngay Hà Tiên thì có Thạch Động trong câu chuyện Thạch Sanh – Lý Thông, “Đàn kêu tích tịch tình tang, Ai đem công chúa lên thang mà về.” hay núi Đá Dựng, nơi “Quốc – Cộng” đánh nhau cũng “da diết” vô cùng khi còn chiến tranh.

Tổng thống Ngô Đình Diệm cho dựng nhà máy sản xuất xi-măng ở núi Còm thuộc quận Kiên Lương. Núi Còm nằm sát bờ con kinh từ Ngã Ba đi ra biển. Năm 1972, ông kỹ sư Mai, phó giám đốc nói với tôi: “Anh biết không! Núi Còm nầy khai thác từ 1962, đến nay đã 10 năm mà đỉnh núi vẫn còn cao. Phần nổi trên mặt đất là phần nhỏ, chỉ bằng một phần ba phần chìm ở dưới.”

Tôi cười hỏi: “Khi nào thì lấy hết đá?”

-“Còn lâu! Với tiến độ nầy, vài chục năm năm nữa cũng chưa tới đâu. Bên Tây – (Tây là châu Âu đấy, tg) – người ta có cả chục cái ống khói; ở đây chỉ có một. Bây giờ, hiện Nhà Máy đang liên lạc với Đức, họ sẽ viện trợ để mở rộng thêm.” Kỹ sư Mai nói.

-“Hèn chi tui thấy Nhà Máy đang khoan lấy đá để thử ở núi Trầu. Tôi có vô An Hòa – (nơi có núi Trầu – tg), dặn thiếu úy Sơn coi chừng. Việt Cộng lén về phá nổ cái máy khoan đá đó. Bọn nó ở trong rừng nhưng mình làm gì ngoài nầy, chúng nó biết hết.”

Thiếu úy Kiệt, đang phụ trách ngành Đặc Biệt, nói đùa: “Mỗi ngày đi đái mấy lần tụi nó cũng biết cả.”

Tôi hỏi: “Xi-măng nội địa giá cao quá, gần với gia xi-măng Mỹ. Tui nghĩ hàng nội phải rẻ hơn nhiều chớ!”

Kỹ sư Mai nói: “Ông” không biết đấy. Có muốn có giá thấp cũng không thấp được. Tụi Mỹ nó không cho mình sản xuất xi-măng với giá thấp. Tiền dầu – (dầu đốt lò nung -tg) phải qua “Viện Trợ Mỹ”, phụ gia cũng vậy, phải nhập giá cao thì làm sao có xi-măng rẻ.”

-“Tụi Mỹ đểu dữ!” Xong, tôi lại hát đùa: “Cao ngất Trường Sơn…” là giá xi-măng…”

Ngang với Nhà Máy, bên phía núi Hòn Chông, có một cái hồ nước hình vuông, rộng mỗi bề nửa cây số, là hồ nước của Nhà Máy. Mỗi năm, đến mùa nước nổi, tức là nước đổ về, lên cao, hồ được bơm nước từ kinh xáng lên. Thời điểm nầy là lúc “độ phèn pH” của nước xuống thấp, bơm vào hồ, phèn lắng xuống, rồi bơm lên các chateau d’eaux để lọc, xong mới đem dùng. Nhà Máy cho dân chúng dùng tự do, không phải trả tiền.

Tôi không hiểu tại sao Nhà Máy phải đào một cái hồ chứa nước rộng như thế, chỉ có lợi cho những người đi săn chim. Mùa hè, vịt trời về hồ nhiều lắm. Lính tráng thường xách súng vào bắn chim, trong khi dân chúng cũng vào hồ tắm. Người ta rất sợ tai nạn nhưng không có cách chi ngăn cấm được. Săn như cách của Hai Điếc, nhân viên của tôi thì lại càng nguy hiểm hơn. Thấy đàn vịt trời đang đậu, ông ta lặn xuống nước, tới gần. Chờ khi đúng tầm lựu đạn quăng tới, ông ta mở chốt lựu đạn rồi la to mấy tiếng. Đàn vịt trời sợ hãi bay lên. Vừa lúc đó, ông ta tung lựu đạn. Làm cách nầy, một quả lựu đạn của ông đem lại kết quả năm bảy chú vịt như không. Trò đi săn nầy, tới năm 1974, tôi không cấm, ông ta cũng chấm dứt. Lính tráng muốn có lựu đạn đánh giặc, còn phải mua từ bộ Chỉ Huy Bốn Tiếp Vạn tuồng ra, đâu có phát không như hồi trước.

Một hôm, đi ăn mừng một ông Tàu Lai, con ông Mao Thạch Thành ở ấp “Lò-Bôm” mới thụ phong linh mục, tò mò về những câu chuyện của “đất nước lạ lùng nầy, (Tới đây đất nước lạ lùng, Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh), bèn hỏi ông Thành về những điều tôi muốn biết:

-“Chú Thành nầy, hồi “9 năm” (9 năm kháng chiến chống Pháp, tiếng địa phương), núi Trầu là “công binh xưởng” của Việt Minh phải không?”

-“Đại úy hỏi ông Năm Vịnh thì rõ. Hồi ấy làm trưởng toán sản xuất “ống phóng” đấy.”

Năm Vịnh vậy giờ làm nghề sửa máy đuôi tôm tại nhà. Mấy hôm sau tôi tới nhà anh ta, hỏi thẳng:

-“Không phải tui đi điều tra anh, nhưng tò mò hỏi chơi! Hồi “chín năm” anh làm trưởng toán sản xuất ống phòng, tại sao ấp nầy lại có tên là ấp Lò Bom. Ai phụ trách chế bom?”

-“Đại úy lầm rồi.” Năm vịnh nói. “Lò Bom” là tiếng Miên. Ngày xưa, đất nầy là đất của họ. Tới mùa cá, cá đồng về bắt không kịp, ăn không hết, muốn xẻ ruột phơi khô thì lại nhằm mùa mưa, nên họ phải xây lò sấy cá. “Lò Bom” là lò sấy cá của họ. Mình cứ cái tên Miên của họ mà dùng.”

-“Thế “Cà bây ngọp” ở đầu ấp Rạch Đùng. Tui lội vô tới đó rồi.” Tôi hỏi.

-“Ở đó có cài đìa phải không? “Cà bây ngộp”, tiếng Miên là đầm trâu chết. Hồi xưa lắm, có một trận dịch trâu. Trâu kéo nhau về cái đầm đó mà chết đầy đầm.”

-“Anh có nhớ quê anh đâu ở ngoài Bắc không?” Tôi hỏi.

-“Không đại úy à! Tôi nhớ hồi tôi theo ông già vào đây thì còn nhỏ lắm. Mấy tram người theo Tây vô đây làm ruộng. Bỗng Tây bên mẫu quốc đầu hang Đức, Tây bên Đông Dương lo chạy trốn tụi Nhựt, bỏ dân bơ vơ. May có ông cha Việt đem dân về đây lập làng, phá đất làm ruộng, đám dân bơ vơ nầy mới có đời sống ổn định.”

-“Để nhớ ơn ông cha Việt, dân xứ anh rửa tội theo đạo hết?”

-“Đúng đó! Đại úy.”

-“Vậy sao hồi “9 năm” lại theo Việt Minh?”

-“Theo Việt Minh giành độc lập thì ai mà không theo. Dân họ đạo An Hòa tui cũng là người Viẹt Nam mà.”

-“Xin lỗi! Tui nói theo cái định kiến của người ta. Nghe nói dân xứ An Hòa nầy hồi “9 năm” theo Việt Minh qua đánh Tây tận bên Miên.”

-“Ông Hồng Ràng đó! Bữa nào nhậu với ông, ổng kể cho mà nghe! Nhiều chuyện lạ lắm!”

Cách tu đạo Phật của người miền Nam khác với cách tu của các tu sĩ Phật giáo ở ngoài Trung, ngoài Bắc. Ngoài đó người dân theo phái Đại Thặng (Thừa – Mahàyàna) còn ở miền Nam theo phái Tiểu Thặng (Thừa – Hinayàna). Người tu phía Nam thường gọi là “ông Đạo”. Thông thường họ tu một mình, ở một cái hang động nào đó trong các ngọn núi đá vôi ở vùng Hà Tiên. Nếu không có hang động thì leo lên tu ở ngọn dừa như “ông Đạo Dừa” ở cồn Phụng – Bến Tre –

Ông Đạo Còm, Người ta gọi như thế vì lưng ông còm – cong như cái cung – mà không biết tên ông là chi. Ông ở trên núi Còm, ngọn núi được đặt theo cái tên Còm của ông. Khi chính phủ Ngô Đình Diệm dựng nhà máy ở đây, người ta tìm thấy một bộ xương người trong một cái hang ở trên núi. Có phải bộ xương của ông Đạo Còm? Ông chết rũ trong hang đá hồi nào mà không ai hay. Có lẽ Nhà Máy hốt cốt của ông mà chôn đâu đó đàng hoàng. Tôi cứ lấy làm tiếc hồi đó, tôi tới Nhà Máy rất nhiều lần mà quên không hỏi coi thử mộ ông Đạo Còm ở đâu để thắp cho một kẻ tu hành chân chính một nén hương!

Ghi chú: Có lẽ ông Đinh Nam Triệu, người viết bài về “Tiểu đoàn 66 Biệt Đông Quân Biên Phòng” in trong cuốn “Hương Tràm Trà Tiên” của tôi, biết câu chuyện nầy. Ông ta lớn lên ở ấp Xà -Ngách – ấp sát Nhà Máy, hầu như hơn chín mươi phần trăm là người Campuchia – từ năm 1955, trước khi Nhà Máy xi Măng làm lễ khánh thành những 7 năm (1962).

Có những ngọn núi không toàn là đá vôi mà pha lẫn với đất rừng, đất từng là đáy biển tự nhiên dâng cao. Bên phía Campuchia, núi Tà Lơn, theo một vài tài liệu về lịch sử địa chất, người ta cho rằng xưa kia nó là đáy biển. Trên núi có một loại cát giống như cát biển. Ai đem cát biển lên núi hay chính nó là đáy biển dâng cao. Hòn Đất ở Tri Tôn của vùng Tam Sơn Kiên Giang cũng có tính chất như thế. Hòn Chông cũng là một núi đất và đá lẫn lộn. Đó cũng là “đặc tính chung” của những ngọn núi ở Quần Đảo Hải Tặc.

Hòn Phụ Tử cũng như Chùa Hang và các ngọn núi đá vùng nầy, chỗ ngang với mặt nước thường bị nước ăn khuyết vào trông giống như “ngòi viết lá tre” của cách anh chị học trò trước 1945, thường chấm vào bình mực để viết bài. Vì chỗ khuyết đó, sức vững vàng của ngọn núi yếu đi, làm cho ngọn núi có thể gãy ngang ở chỗ khuyết mà đổ ùm xuống nước. Đó là trường hợp “Hòn Phụ Tử”. Hòn Phụ đã đổ mấy năm trước, nay chỉ còn Hòn Tử.

Năm 1974, ông đại tá Huỳnh Thanh Sơn đến thanh tra tôi. Cùng đi với ông, có ông trung tá Đức, chánh sở An ninh Cảnh lực.”

Sau khi tôi tình bày về việc “giải hóa hạ tầng cơ sở Cộng Sản” xong, ông hỏi tôi về tình hình an ninh Nhà Máy, tôi cũng trả lời xong. Ông đại tá hỏi, ngoài đề tài thanh tra:

-“Anh có biết tại sao các hòn đá biển ở đây lại bị khuyết vào như vậy.”

-“Đó là hiện tượng “xâm thực”. Hàng triệu năm trước, chỗ bị khuyết là mực nước biển. Sóng biển bào mòn đá ở đó, khiến nó bị khuyết vào. Sau đó, vì một chấn động hay động đất, đáy biển dâng cao lên, nước biển rút xuống, tạo ra cái hình ảnh như ta thấy ngày nay.”

-“Làm gì mà có việc đáy biển nổi lên cao như thế?” Ông đại tá, tỏ vẻ cho rằng tôi nói ẩu.

Tôi nói tiế: “Không chỉ ở đây đâu, thưa đại tá. Ngay chính đỉnh núi Tà Lơn bên Miên, các nhà thổ nhưỡng học, địa lý học cũng cho là cái đáy biển nâng cao lên đó!”

-“Anh nói bậy không!” Nói xong, ông ta quay đi. Ông trung tá Đức cũng cười đồng tình với ông đại tá.

Tiễn hai người đi rồi, long tôi băn khoăn. Ông đại tá gốc là lính của ông Năm Lửa, trình độ kiến thức thấp, còn dễ hiểu. Còn như ông truang tá Đức, cử nhân luật đại học Saigon mà cũng có trình độ kiến thức như vậy hay sao! Hay cái cười của ông Đức, chỉ là cái cười “vuốt đuôi” ông đại tá!?

Việc “Hòn Phụ” bị đổ khiến người dân Kiên Giang nghĩ tới mọt điềm trời nào đó cua hai cha con ông cựu thủ tướng của chế độ Cộng Sản. Sau khi Hòn Phụ đổ, trong dân chúng bỗng truyền nhau câu ca dao:

 

Than ôi Hòn Phụ đổ rồi,

                 Dũng còn chi nữa mà ngồi khóc than!

 

(Còn tiếp)

(1)-“Hương Tràm Trà Tiên” (Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng, – (Cùng tác giả – “Văn Mới” xuất bản – đt: 310-366-6867)

(2)-Tà-Lơn là một ngọn núi mang tính chất linh thiêng và thần bí của người Miên và Phật Giáo Tiểu Thừa, bùa chú và phép tắc giống như Mật Tông của Tây Tạng. Người ta có thể lên núi Tà-Lơn để học đạo và xin bùa chú. Các ông Đoàn Minh Huyên của Bửu Sơn Kỳ Hương, Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ của Phật Giáo Hòa Hảo, Ngô Văn Chiêu của Cao Đài đều có đến tu học ở đây. Có người còn cho rằng, ông Đoàn Minh Huyên nhờ có bùa mà đẩy lui được trận dịch đã giết hàng ngàn người ở Cái Tầu Thượng hồi thế kỷ 19.

2)-Huyền thoại và lịch sử

          Nơi nầy có rất nhiều huyền thoại, về cả hai mặt thỏ địa và lịch sử.

Huyền thoại là vì vùng đất nầy có rất nhiều cái “âm u” và lạ lẫm: Về núi, về sông, về đầm ao, đồng ruộng…

(xem tiếp phần 2…)

>>> Tìm Theo Thể Loại Mà Quý Vị Đang Quan Tâm <<< [Không Quảng Cáo]