2)-Huyền thoại và lịch sử

          Nơi nầy có rất nhiều huyền thoại, về cả hai mặt thổ địa và lịch sử.

Huyền thoại thường có tính cách huyền bí cỡ như “Thất Sơn huyền bí”. Thất Sơn là nói theo tiếng Nho, nôm na là “Bảy Núi” như Việt Cộng thường nói (huyện Bảy Núi, tỉnh Châu Đốc), nhưng gọi là “Bảy Núi” thì cái tính chất “huyền bí” cũng mất đi ít nhiều. Người ta thường nói “Nôm na là cha mách qué” mà!

Thật ra, những điều “huyền bí” như vừa nói, đâu có phải cho một vùng Thất Sơn, mặc dù, núi Cấm, là ngọn núi cao nhất vùng nầy, là nơi từng có nhiều huyền thoại. Bên cạnh Núi Cấm, còn có núi Dài, núi Cô Tô, núi Két “bí hiểm” cũng không kém chi.

Tính cách huyền bí của vùng nầy, kể về “trung tâm điểm” là phải kể từ núi Tà Lơn bên Miên, vì Tà Lơn linh thiêng và “bùa chú” hơn hết, như tôi đã nói ở phần trước, “giáo chủ” các tôn giáo ở vùng sông Bassac (Hậu Giang) đều “tầm sư học đạo” ở núi nầy. Xưa nhứt, có thể kể là “Đức Phật Thầy Tây An” tức “Ông Đạo Đoàn Minh Huyên”, “giáo chủ Huỳnh Phú Sổ” của đạo Hòa Hảo và cả ông Ngô Van Chiêu, nhân vật thứ hai sau “Cao Đài Tiên Ông”.

Nhìn chung thổ địa vùng nầy, tính cách huyền bí bao trùm toàn vùng hữu ngạn sông Hậu, nhất là vùng Rạch Giá / Hà Tiên/ Châu Đốc và vùng Kampot ở xứ Miên.

Huyền thoại về xứ nầy thì nhiều lắm, không ít lần tôi nghe người dân kể chuyện đạo giáo, bùa chú một cách tin tưởng, nhiều khi làm tôi cũng phải “suy nghĩ lại” cái tính ngang ngược của tôi, cái tính hay báng bổ chuyện mê tín, dị đoan và ngay cả sự cuồng tín tôn giáo, bất cứ đạo nào.

Năm 1974, tôi lên chùa Xà-Xía thăm Đại Đức “Công-Xa-Phan” (theo cách gọi thông thường của tín đồ, theo tên Miên như thế nào đó). Bấy giờ, ông hoàng Sihanouk đã bị lật đổ, tướng Lon Nol làm tổng thống, chiến tranh xứ Chùa Tháp càng ngày càng khốc liệt, dân Miên chạy loạn về đây nương nhờ Đại Đức. Họ dựng tạm mấy chục cái chòi tranh, tạm trú quanh chùa Xà-Xía, được chính phủ VNCH trợ giúp, về lương thực và an ninh. Tôi cũng có tham gia công việc nầy, nên rất được cảm tình của ông tu sĩ Phật Giáo Tiểu Thừa. Hôm tôi thăm ông, ông cho tôi một cái “nanh heo gởi” (1), đã tạc thành hình một ông Phật, to bằng ngón tay út, bảo:

-“Cái nầy linh lắm. Người ta cho Thầy – (ông xưng với tôi bằng “Thầy” – khi Thầy đi tu bên Lào.”

Tôi cũng sợ “bom đạn”, nên cám ơn Thầy rồi đem tượng Phật về đưa cho nhà tôi. Nhà tôi đem thợ vàng bọc và làm sợi giây chuyền đeo ở cổ, mỗi khi đi hành quân.

Sau 1975, tôi ở tù cải tạo, vì nghèo, nhà tôi lột vàng đem bán, còn tượng Phật để đâu đó. Bị đánh tư sản, nhà tôi dắt các con chạy quanh Saigon như mèo tha con, nên tượng Phật lạc mất, tìm không ra. Tôi vẫn tiếc hoài, không phải vì ý nghĩa hay giá trị cái nanh heo chạm hình Phật, mà vì  cảm tình của một ông đại đức dành cho tôi; một tu sĩ hiền từ, đức hạnh, được dân chúng người Miên cũng như người Việt vùng sông Hậu kính mến, tôn trọng. Sau 1975, ông cũng bị tù như tôi hơn 5 năm và cũng phải vượt biên trốn chạy khỏi nơi nầy sau khi được tha.

(Cũng xin kể thêm một chuyện nầy. Bùa phép là chuyện rất phổ biến ở miền Tây Nam Bộ cũng như bên Miên. Năm 1976, cựu đại úy Nguyễn Thụy Hiền, cùng ở trại Suối Máu với tôi kể: “Thời Lon-Nol, quân đội VNCH có nhiệm vụ hỗ trợ cho quân đội Miên. Tui (tức Hiền) làm đại đội trưởng, cùng một đại đội Miên “vô mục tiêu” ở Kompong-Trach, gần biên giới. Trước khi tiến quân, đại đội trưởng Miên chắp tay niệm Phật, đọc kinh, xong anh ta cầm cái tượng Phật nhỏ đeo ở cổ, ngậm vào miệng. Một lát sau, lính Miên khiêng đại đội trưởng của họ ra, bị Miên Cộng bắn một phát toác mồm, chết rồi).

&

Hồi còn dân sự, tôi đọc sách báo đâu đó, có nghe nói về “Đức Phật Thầy Tây An”, về giáo phái “Bửu Sơn Kỳ Hương” và “Phật Giáo Tứ Ân”, “Tứ Ân Hiếu Nghĩa” nhưng khá mù mờ. Thế rồi, sau khi nhập ngũ, tôi có việc đến Cục Quân Huấn trong khu vực Trại Lê Văn Duyệt Saigon, tình cờ thấy trên kệ sách nằm ở phòng tiếp khách có cuốn sách của cơ quan nầy ấn hành, giới thiệu các tôn giáo của người Việt Nam, trong đó, có một bài viết về “Bửu Sơn Kỳ Hương” và ông Đoàn Minh Huyên, giáo chủ tôn giáo nầy, người được dân chúng miền Tây tôn vinh làm “Đức Phật Thầy Tây An”. Sách nầy mới in sau khi Ngô triều sụp đổ – trước kia thì đừng hòng. Sách nhằm mục đích làm gia tăng kiến thức cho sĩ quan Quân Lực VNCH. Sách chỉ còn một cuốn trên kệ, nhắm bộ xin không được, mà cô thư ký thì đang cười ngoắc nghẻo vì đang bị anh bạn đẹp trai cùng đi với tôi tán sàn sạt. Lợi dụng cơ hội đó, tôi bèn lén đút cuốn sách vào túi đem về, đọc kỹ, cho đã.

Sau nầy, khi về miền Tây, dân ở đây kể nhiều chuyện về “Đức Phật Thầy”. Nhờ đó, tôi khám phá một điều khá thú vị: Điều mà giáo sư Thạc Đức (2) thường giảng “Phật giáo hiện đại hóa” hay “Đạo Phật đi vào cuộc đời” phải kể khởi thủy là “Ông” nầy, tức “Đức Phật Thầy Tây An”, tức ông Đoàn Minh Huyên. “Phật giáo hiện đạo hóa” là tư tưởng mới của ông Thạc Đức hay ông từng liên hệ với ông Hồ Hữu Tường về Minh Đạo, hay từng “nghiên cứu” về “Đức Phật Thầy” thì tôi không rõ. Tuy nhiên, cả ba điều tôi vừa nói, đều liên hệ khắn khít với nhau, như một con đường thẳng, chạy xuyên suốt “ba vùng tư tưởng”, tưởng như khác nhau mà thật ra chỉ là một.

Đầu tiên, dân chúng tin “Đức Thầy” là người có “phép lạ”. Tôi nói “Phép lạ” là nói thật, không phải theo cách nói như mấy ông tu sĩ “giảng đạo” cho con chiên.

Đời Thiệu Trị, vùng Cái Tàu Thượng, – vùng tả ngạn sông Hậu, thuộc Sadec, gặp một nạn đói và một trận dịch lớn, kinh khủng, hàng ngàn người chết. Nhà nhà đêm đêm đóng cửa tắt đèn, chó không sủa, gà không gáy. Đây cũng là quê hương của ông Đoàn Minh Huyên. Bấy giờ ông đi tu từ bên núi Tà Lơn về, thấy nạn dịch, ông bèn ra tay cứu giúp dân chúng địa phương, đẩy lùi trận dịch, giúp dân ổn định đời sống. Ngoài việc trị bệnh bằng nước lã, ông còn khuyến khích dân chúng tu hành theo “khuynh hướng Phật giáo”, bằng sấm ký do ông soạn ra. Tôi nói “khuynh hướng Phật Giáo” là phần tu học và nghi thức theo đạo Phật, nhưng mang tính chất “bình dân” của người dân quê Nam Bộ, của những kẻ “lưu dân”, không có tính chất “bác học” của những người học Phật “thiên kinh vạn quyển”. Ăn hiền ở lành, giúp đỡ người hoạn nạn, nghèo khổ là điều chính yếu, bằng câu thường nhựt là “tu hiền”. Họ học đạo – không hẳn là học Phật – bằng “Sấm Ký” do “Đức Thầy” soạn ra. “Sấm ký Đức Thầy” là những lời thơ lục bát, nôm na, bình dị, dễ hiểu, là niềm tin to lớn và mạnh mẽ của tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương và Phật Giáo Hòa Hảo miền Tây Nam Bộ.

Ngoài việc trị bệnh, giúp dân ổn định cuộc sống, ông còn là người có nhãn quan xa rộng. Ông kêu gọi dân chúng đi vào vùng đất hoang, khai phá đất đai lập làng, đặt cho những làng nầy cái tên nôm na là “trại ruộng”.

Khi tôi về làm việc tại vùng “Dinh Điền Cái Sắn”, nhớ lại cuốn sách “Minh Đạo” (còn có tên là “Trầm Tư của một người tội tử hình”, và thấy việc thành lập dinh điền, khu trù mật của anh em ông Ngô Đình Diệm, cũng như tư tưởng của ông Hồ Hữu Tường trong cuốn sách nói trên là những điều hay, có lợi cho dân chúng, giúp đất nước phát triển, rồi đến khi “tham quan”, hiểu biết về trại ruộng của “Phật Thầy Tây An” mới thấy rằng quan điểm về phát triển và xây dựng đất nước, trại ruộng của ông Đoàn Minh Huyên “đi trước” công trình của anh em ông Diệm và tư tưởng của ông Hồ Hữu Tường cả trăm năm.

Thật vậy, trại ruộng của ông Đoàn Minh Huyên, ngoài việc xây dựng những gì thuộc về kinh tế – nông nghiệp là căn bản – còn lưu tâm đến mặt y tế, giáo dục, giao thông, thương mại… ông Đoàn Minh Huyên không quên mặt quân sự bởi vì mỗi trại ruộng là một đơn vị chiến đấu, chống lại những cuộc tấn công từ bên ngoài. Ý tưởng của ông Đoàn Minh Huyên, thời bấy giờ là nhằm chống lại cuộc tấn công của người Miên – từ bên kia biên giới Việt Miên kéo sang tấn công người Việt Nam như họ từng làm – hay chống lại cả bọn hải tặc và người Thái Lan như trong lịch sử, họ đã tấn công và chiếm đất Hà Tiên của Mạc Cửu (1764) hay ông ta tiên đoán được cuộc xâm lăng của thực dân Pháp sau nầy?

Tuy nhiên, khi Pháp xâm lăng miền Tây Nam Bộ, các trại ruộng là những “phòng tuyến” chống lại thực dân Pháp mạnh mẽ và hiệu quả hơn hết, hơn cả binh lính của triều đình Huế. Trại ruộng là cơ sở căn bản cho cuộc “Khởi nghĩa Bảy Thưa” (1867-1873), nghĩa quân hầu hết là tín đồ của “Đức Thầy”, lãnh đạo là ông Trần Văn Thành, một đại đệ tử “Phật Thầy Tây An”.

Tức giận trước những cuộc phản công của tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương, thực dân Pháp triệt hạ tất cả những trại ruộng do “Đức Thầy” lập ra trước kia. Ngày nay, chỉ còn lại trại ruộng Láng Linh ở Châu Đốc và trại ruộng Thới Sơn (Hưng Thới và Xuân Sơn kết hợp lại) ở vùng Núi Két, Tịnh Biên (An Giang).

Tôi không bàn tới bùa phép, mà bùa “Cà-Tha” là một loại bùa phổ thông và rất nổi tiếng của người Miên, tôi sẽ nói ở phần sau, khi tôi viết về chuyên bùa phép Miền Tây Nam Bộ để độc giả “đọc chơi”! Bùa phép là chuyện huyền bí, kẻ tin người không, nhưng chỉ riêng việc dùng nước lã đẩy lui trận dịch ở Cái Tàu Thượng là một chuyện lạ. Lạ nhưng y học bây giờ có người giải thích được đấy, theo khoa hoc. Còn như việc vừa khai hoang lập làng, vừa dùng tôn giáo để dạy dân về luân lý, đạo đức thì phải kể công lao của “Đức Phật Thầy” là rất lớn. Ấy là chưa kể công của “Thầy” về sau, còn đóng góp vào việc chống ngoại xâm. Điều ấy còn lạ lùng hơn nữa! Thành ra, “Bửu Sơn Kỳ Hương” là nguồn cội cho Phật Giáo Hòa Hảo của giáo chủ Huỳnh Phú Sổ sau nầy. Tính cách đặc biệt của hai tôn giáo mà coi như một nầy, giải thích cho tôi hiểu tại sao đã tu hành, giáo chủ Huỳnh Phú Sổ còn thành lập “Dân Xã Đảng” và lực lượng quân sự khi thực dân Pháp trở lai xâm lăng nước ta lần nữa!

“Đức Phật Thầy Tây An” là một người tu hành, yêu nước. Ông phổ biến giáo lý của ông là “Tứ Ân”, gồm có “Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân Tam Bảo và Ân đồng bào nhân loại. (Về sau đệ tử của ông phát triển thành “Tứ Ân Hiếu Nghĩa” hay còn gọi là “Phật Giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa” (3), vừa cho thuốc cứu người, vừa kêu gọi dân chúng khai hoang lập làng… Người tu hành đạo Phật không còn ngồi trong cốc, trong am như phái Tiểu Thừa; không ở trong chùa cầu an cầu siêu cho đệ tử như Đại Thừa mà phải dấn thân vào việc xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho dân chúng, như vai trò các linh mục trong các khu trù mật, dinh điền hay tu sĩ Phật giáo trong Minh Đạo của ông Hồ Hữu Tường.

Đây mới chính là “Phật giáo hiên đại hóa” hay “Đạo Phật đi vào cuộc đời” của “Phật Thầy Tây An”.

Năm 1945, khi thực dân Pháp quay lại Miền Nam VN xâm lăng nước ta lần nữa, thì miền Nam rộn lên phong trào “Nam Bộ Kháng Chiến”, ai ai cũng hăng hái tham gia các lực lượng chống lại Pháp. Lực lượng chống Pháp ở Nam Bộ có gì?

Sơ khởi thì không có tổ chức nào lớn mạnh. Người Nam Bộ đứng lên chống xâm lăng chỉ có tầm vông, giáo mác. Không phân biệt tôn giáo hay màu sắc chính trị, ai ai cũng hăng hái gia nhập phong trào, dù lương hay giáo, dù Hòa Hảo hay Cao Đài. Bài thơ “Hận Tha La” trong cuốn tiểu thuyết “Nửa Bồ Xương Khô” của Vũ Anh Khanh (4) cho ta thấy một trường hợp điển hình:

. . . . . . . . . . . . .
Não nùng chưa!
Tha La nguyện hy sinh.
Ơ… ơ… hơ… có một đám chiên lành.
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy.
Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:
Lạy Đức Thánh Cha!
Lạy Đức Thánh Mẹ!
Lạy Đức Thánh Thần!
Chúng con xin về cõi tục để làm dân…

Rồi… cởi trả áo tu.
Rồi… xếp kinh cầu nguyện.
Rồi… nhẹ bước trở về trần…

Họ là “Người nước Việt ra đi vì nước Việt, để cuối cùng “Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn.” (bđd)

Các lực lượng quân sự tham gia Nam Bộ Kháng Chiến đáng kể gồm có “Đệ Tam Sư Đoàn”, – chỉ huy là ông Nguyễn Hòa Hiệp, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng – ; lực lượng quân sự của Cao Đài (Trình Minh Thế, Văn Thành Cao, Nguyễn Thành Phương); của Thiên Chúa Giáo (5); của Hòa Hảo như lực lượng của ông Năm Lửa (Trần Văn Soái) của Ba Cụt (Lê Quang Vinh), Lâm Thành Nguyên, Nguyễn Giác Ngộ… cùng nhiều lực lượng, tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy khác nữa,v.v… và v.v.

Điều người viết muốn trình bày ở đây là thay vì đoàn kết, góp sức chống kẻ thù chung là thực dân Pháp thì họ lại chia rẽ, chưa kể tới sự phản bội. Chia rẽ là vì tranh quyền, muốn giành độc quyền.

Tình hình ở trong Nam cũng giống như ngoài Bắc. Cộng Sản loại hết các lực lượng, tổ chức không nằm dưới sự chỉ huy, khống chế của họ. Họ đã tiêu diệt, loại trừ Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt ở phía ngoài đó vậy. Việc Cộng Sản thủ tiêu giáo chủ Huỳnh Phú Sổ ở Đồng Tháp Mười là hành động cuối cùng làm sụp đổ công cuộc Nam Bộ Kháng Chiến, khiến các lực lượng giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo quay về ủng hộ Quốc Trưởng Bảo Đại, mà trong thực tế là hợp tác với thực dân Pháp. Đến thời Ngô Đình Diệm, hành động đó lại được tái diễn, các lực lượng giáo phái hoàn toàn bị tiêu diệt.

Cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm trên lãnh thổ nước ta, tuy được tuyên truyền là “giành độc lập” hay “chống Mỹ cứu nước”, thực chất là một cuộc tương tàn, người Việt Nam giết người Việt Nam, sinh mạng tới hàng mấy triệu người. Trong đó, người Việt miền Tây Nam Bộ hy sinh không ít, tính mạng, tài sản và hạnh phúc. Họ – người dân miền Tây Nam Bộ, bị đàn áp, tàn sát những mấy lần. Ban đầu là thực Dân Pháp khi chúng tái chiếm Việt Nam các năm 1945, 46. Thứ đến là Việt Minh, – thực chất là Cộng Sản – đàn áp và giết chóc họ, mà khởi điểm là khi Cộng Sản muốn giành chính quyền cho một mình chúng. Thứ ba là do chính sách độc tài của anh em Ngô Đình Diệm. Thứ tư, một lần nữa, “chống Mỹ cứu nước” của Cộng Sản Bắc Việt, chính là việc xâm lăng miền Nam, tàn sát những ai chống lại chúng.

Tôi từng “lang thang” vùng hữu ngạn sông Bassac, từ Cờ Đỏ, Cái Sắn, Núi Sập, Châu Đốc, Kiên Lương, Hà Tiên và cả “Quần đảo Hải Tặc”. Chiến tranh lâu dài. Bao nhiêu thế hệ thanh niên có đi mà không về: Ruộng đồng bỏ hoang, ghe thuyền nằm ụ vì không còn ai cày cấy, lèo lái… trong khi người dân chỉ muốn yên ổn làm ăn mà không sao có được! Nỗi bi thảm to lớn đến chừng nào.

Theo bước chân của một người lính gốc gác ở vĩ tuyến 17, lưu lạc vô tới Hà Tiên, Châu Đốc, thường tôi thấy lòng buồn và đau xót khi nghĩ đến phận mình, đến đồng bào mình, nhiều khi tôi nhớ lại mấy câu thơ của Đỗ Phủ mà tôi từng dạy cho học trò của tôi mấy năm trước, khi chưa nhập ngũ:

Bà già van đà khổ!
Van rằng: “Có ba trai
Thành Nghiệp đều đi thú.
Một đứa gửi thư nhắn,
Hai đứa vừa chết trận.
Đứa chết đành thôi rồi,
Đứa còn đâu chắc chắn!
Trong nhà không còn ai,
Có cháu đang bú thôi.
Mẹ cháu chưa rời cháu,
Ra vào quần tả tơi…

Cuộc chiến tranh ở nước ta trong mấy chục năm qua là cuộc “chiến tranh nhân dân”, yếu tố dân chúng tham gia chiến đấu chống lại kẻ thù là rất quan trọng. Dân chúng đứng về phía nào thì trước sau, ngắn hạn hay dài lâu, bên đó sẽ thắng. Trong khi đó, Cọng Sản dùng sách lược của Mao Trạch Đông “nông thôn bao vây thành thị” là điều rất rõ ràng, nhiều người hiểu được và thấy được. Trong viễn tượng đó, Cộng Sản phải “cắm” cho được “cơ sở” trong dân chúng, tức là chúng phải “xây dựng hạ tầng cơ sở” trong mỗi thôn áp, từ đó dần dần phát triển chiến tranh càng ngày càng lớn, chúng càng mạnh. Ở những địa phương Cộng Sản không thực hiện được mưu đồ nầy, dần dần chúng bị tiêu diệt. Ở những vùng dân chúng theo đạo Hòa Hảo, tín đồ Thiên Chúa Giáo, Cao Đài Giáo, không thể nào tìm thấy cán bộ Việt Cộng xuất hiện. Ấy là chưa nói đến các lãnh vực khác, nhờ không có Việt Cộng hoạt động, tình hình an ninh tốt, nên kinh tế, nông nghiệp, thương mại… phát triển. Dân chúng ở những vùng nầy, tương đối khá giả hơn những vùng có chiến tranh. Long Xuyên, Gò Công, một phần Châu Đốc, một phần Kiên Giang ở trong tình trạng nầy.

Tiếc rằng, cuộc xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt (1960-75), không những ngăn cản sự tiến bộ của miền Nam mà còn tàn phá tất cả những gì người miền Nam đã xây dựng được.

Đó là sự bất hạnh của dân tộc.

hoànglonghải

(còn tiếp)

  • Nanh (heo) gởi: Khi già, nanh heo mọc ngược dài thêm, đâm vào mũi. Con heo phải đâm mạnh cái nanh heo vào gốc cây, vặn cho cái nanh heo gãy ra. Cái nanh heo dính vào gốc cây, gọi là “nanh gởi”.
  • Giáo sư Thạc Đức: Giáo sư dạy ở “Phật Học Viện Nam Việt (?). Có người nói đó là bút hiệu của ông Nhất Hạnh khi dạy ở đây.
  • Phật giáo “Tứ Ân Hiếu Nghĩa” là một “giáo phái” của ông Ngô Lợi, một đệ tử của “Đức Thầy”. Hiếu nghĩa chỉ là nhấn mạnh thêm về “Tứ Ân” của giáo chủ. Ông Ngô Lợi lãnh đạo một lực lượng quân sự chống Pháp xâm lăng Miền Tây Nam Bộ. Khi vua Hàm Nghi bị bắt và bị đày đi Algérie, ông Ngô Lợi qua đời thì lực lượng quân sự tan rã, tổ chức nầy chỉ còn hoạt động tôn giáo mà thôi.
  • Nhà Văn Vũ Anh Khanh: Hoạt động văn nhệ ở Saigon khoảng các năm 1949, 50, sau ra bưng, tập kết 1955. Sau đó, ông trốn về miền Nam, bị bắn chết (bằng tên thuốc độc) ở Bến Tắt, thượng nguồn sông Bến Hải.
  • Lực lượng Thiên Chúa Giáo chống Pháp. Cụ Mỹ Tín kể cho tôi và bác sĩ Đặng Ngọc Cương, hồi Nam Bộ Kháng Chiến cụ tham gia một lực lượng kháng chiến của Thiên Chúa Giáo chống Pháp trở lại Việt Nam. Năm 1946, trong một trận đánh chận quân Pháp ở Phú Lâm, cụ bị thương vì đạn bắn từ phía sau. Hỏi cụ ai bắn từ “phía sau”, cụ bảo: “Mấy ông biết rồi, hỏi chi nữa!”

>>> Tìm Theo Thể Loại Mà Quý Vị Đang Quan Tâm <<< [Không Quảng Cáo]