Vụ án mạng bà Huỳnh Thị Chè hồi cuối mùa hè 1974 không làm cho tôi “phiền toái” gì nhiều, nhưng tôi lại được nghe nhiều điều hay.

Bà Huỳnh Thị Chè quê ở Phước Tuy, trước kia làm công nhân cho hãng thầu Mỹ RMK&BRJ., hãng thầu xây xa lộ Saigon – Biên Hòa, trước khi được tuyển vào làm công nhân cho Nhà Máy Xi Măng Kiên Lương (Kiên Giang). Bà học nghề và làm tài xế lái xe xúc khi làm cho hãng Mỹ, nên khi được tưyển vào làm cho Nhà Máy, bà đảm trách công việc lái xe xúc, hằng ngày xúc đá ở đống đá từ trên núi Còm chuyển xuống, đổ vào cối xay đá, trước khi đá được chuyển vào lò nung.

Cối xay đá không cao lắm. Xe xúc của bà Chè, sau khi xúc đá xong, xe leo lên một cái cầu dốc. Tới miệng cối, đá được đổ vào đó; xong bà Chè cho xe “de” lui, tới đống đá, xúc tiếp; lại đổ tiếp lên cối đá. Công việc tuy vất vả, mệt nhọc, nhưng bà Chè được hưởng lương chuyên viên, khá cao, đủ nuôi hai đứa con đang ở với mẹ. Chồng bà, một ông thượng sĩ Cảnh Sát, phục vụ ở Vũng Tầu, ở với người vợ mới, không rõ đẹp xấu như thế nào. Ông ta cũng đã có con với đời vợ sau. Coi như bà Chè mất chồng, sống côi cút ba mẹ con với nhau. Người vợ thì không chồng, con thì không cha.

Khi thượng sĩ Bùi Văn Hai, Trưởng ban Tư Pháp, đang điều tra vụ án mạng, thì thượng sĩ Cảnh Sát Đặc Biệt Lâm Tấn Tài, người “đặc trách an ninh” nhà máy, báo cáo với tôi: Trong giới công nhân có dư luận cái chết của bà Chè là do đốc công Hoạt gây ra. Chiếc xe xúc hôm đó bị hỏng thắng, bà Chè báo cáo cho đốc công, nhưng đốc công biểu bà Chè cứ lái, nên tai nạn mới xảy ra. Khi đổ đá vào cối xong, bà Chè “de” xe lui, nhưng xe không có thắng, bị tuột dốc, lệch qua một bên, lật ra khỏi cầu. Xe đè lên người bà Chè. Bà chết liền tại chỗ.

“Tai nạn nhà máy” là chuyện xảy ra rất thường. Đầu tiên, khi tôi mới nhận việc ở xứ nầy, là cái chết của kỹ sư Thanh. Ông nầy là chuyên viên, du học kỹ sư ở bên Tây về, chưa được bao lâu thì chết vì một thanh sắt lớn rơi từ trên cao xuống, trúng vào đầu. Mặc dù ông ta có đội nón nhựa an toàn, nhưng thanh sắt rơi mạnh quá, cái nón nhựa bị bể làm ba, không bảo vệ cái đầu của ông ta được. Thứ hai, cũng là một tài xế xe xúc. Hôm nhà máy bắn chất nổ phá cái chỏm núi Còm để lấy đá xong, tới phiên các xe xúc leo lên núi để ủi đá xuống, thì một hòn đá khá lớn, rơi trúng ngay đầu người tài xế xe xúc. Không những hòn đá trúng đầu, lại còn đè đầu ông ta xuống, khiến mặt ông đâm nhằm cái cần trong phòng lái. Cái cần đâm vào mặt ông ta, mặt bể ra, trông đến khiếp. Nay lại đến phiên bà Chè. Không rõ cái gì ở chiếc xe, đè dẹp lồng ngực bà ấy ra, trông đến tội nghiệp. “Sinh nghề tử nghiệp” mà. Ông bà dã nói như vậy rồi.

Tôi vốn nhát gan, không bao giờ tôi dám nhìn thẳng vào xác những người chết vì tai nạn như thế. Với hồ sơ thuộc ngành tư pháp, có giấy chứng tử của bác sĩ là được rồi. Ngành tư pháp không phải ngành y, chẳng chứng nhận được gì, chết rồi hay chưa chết, chết như thế nào, là công việc, trách nhiệm của mấy ông bác sĩ. Tôi tránh mặt xem xét xác chết!

Nhưng về phía dư luận của các công nhân Nhà Máy khiến tôi không thể làm việc qua loa được. Sau khi nghe thượng sĩ Lâm Tấn Tài báo cáo xong, tôi biểu ông Tài qua ban Tư Pháp, gặp ông Hai, rồi cả hai người qua gặp tôi.

Khi cả hai người ngồi trước mặt tôi, tôi nói:

-“Mấy ông, nhất là ông Hai phải điều tra kỹ vụ nầy. Không phải làm khó ai, nhưng Cảnh Sát rất thường mang tiếng “ăn hối lộ”. Điều tra sơ sài rồi kết thúc hồ sơ, trong khi dư luận trong giới công nhân qui tội cho đốc công Hoạt, người ta sẽ cho rằng ông Hoạt đút tiền cho Cảnh Sát nên Cảnh Sát bênh mà không truy tố tội ông ta. Còn như điều tra đi, đi điều tra lại thì bên phía ông Hoạt, lại cho rằng ông Hoạt chưa “lòi” tiền cho Cảnh Sát nên Cảnh Sát chưa để yên. “Lạ gì một thói sai nha, Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.” Truyện Kiều nói như vậy đấy, liệu mà tránh, đừng để tui mang tiếng.”

-“Theo Chỉ Huy trưởng, tui phải làm sao cho khỏi mang tiếng chi cả?” Thượng sĩ Bùi Văn Hai hỏi tôi.

-“Vì vậy nên tui mới nói ông Tài ở lại đây. Về mặt điều tra thì ông Hai làm, còn như về mặt dư luận, ông Tài phải theo dõi giới công nhân. Mấy ông “làm thầy bàn” hay bày đặt ý kiến, “tham mưu” đúng sai chưa rõ, nhưng thường tạo ra dư luận. Có ki người ta phản ứng mạnh đấy, “Nghiệp Đoàn” họ lên tiếng, ngay phía ban giám Đốc Nhà Máy cũng ngại. Mình làm sao mà dẹp hết dư luận là hay nhứt.

Một lúc, tôi quay qua hỏi ông Hai:

-“Thượng sĩ lấy lời khai đốc công Hoạt chưa?”

-“Chưa! Tui hỏi các nhân chứng trước rồi mời “nhân vật chính” sau.” Thượng sĩ Hai trả lời.

-“Làm như vậy là đúng đấy. Lấy dữ kiện từ những nhân chứng, dễ “chuy” thằng chả. Xe hư mà vẫn bắt bà Chè lái xe hả?” Tôi hỏi.

Thượng sĩ Lâm Tấn Tài nói:

-“Dư luận thì như thế, nhưng không biết chắc có đúng hay không! Tay đốc công nầy ít được người ta ưa, không phải chả làm khó ai, nhưng tính tình y rất nguyên tắc, phiền người ta lắm. Theo tôi nghĩ, chắc vậy thôi.”

-“Tui dặn như thế nầy nè! Xe hư hay không hư, phải có người chịu trách nhiệm. Đốc công hay bà Chè, chỉ là người xử dụng xe. Việc bảo trì, sửa chữa, phải do phòng “công xa” chớ!

Kêu ngay anh trưởng ban xe cộ nầy mà điều tra, yêu cầu xác nhận xe có hư hay không, có báo cáo cho bên bộ phận “nung lò” biết hay không? Nhà máy làm việc có qui củ lắm, có trách nhiệm cả đấy. Bên “công xa” xác nhận là mình “bắt thằng có tóc, ai bắt thằng trọc đầu”. Còn thượng sĩ Tài, anh nào hay phát biểu lung tung, đưa tên cho thượng sĩ Hai kêu tới hỏi: “Xe hư thắng hả? Ai nói, tại sao biết, “chuy” riết, mấy tay nói bậy sợ trách nhiệm, không dám nói bậy nữa nên im mồm. Làm vậy, trắng ra trắng, đen ra đen, chớ mình không bênh ai bỏ ai. Mấy ông nên nhớ, tâm lý “Nghiệp Đoàn” thường ưa chống lại chủ. Ở Saigon, có mấy ông linh mục đang lợi dụng nghiệp đoàn để chống chính phủ đấy. Đừng cho nó lan xuống đây! Bên Nghiệp Đoàn họ có tới 412 công nhân đấy, không phải là lực lượng nhỏ.”

-“Vụ Pin Con Ó” đó Chỉ Huy trưởng. Thượng sĩ Bùi Văn Hai góp ý.

-“Hồ sơ xong rồi, tôi qua Nhà Máy nói chuyện với Giám Đốc Phước để ông ta rõ sự việc. Lỡ Nghiệp Đoàn có nêu ý kiến, ông ta có tài liệu để trả lời với họ.

-“Ông Trưởng có đi thăm đám bà Chè không?” Thượng sĩ Tài hỏi.

-“Có chớ!” tôi trả lời. “Thăm một chút cho phải phép. Dù sao, cái chết của bà ấy làm cho dư luận Nhà Máy xôn xao hơn mấy cái chết trước. Ngày nào đưa?” Tôi lại hỏi.

-“Hôm qua mới có máy bay Nhà Máy đưa ông chồng với “ông già” bà Chè về tới đây. Ngày mốt có xe đưa quan tài với thân nhân về Vũng Tàu an táng. Chuyện tiền bạc cũng lôi thôi!”

-“Có tranh chấp hả?” Tôi hỏi.

-“Không phải tranh chấp!” Thượng sĩ Tài giải thích. “Tiền tử do Nhà Máy trả thì ông chồng nhận. “Ông già” bà Chè không nhận tiền nhưng lại nhận hai đứa cháu ngoại đem về nuôi.”

-“Ai nhận tiền thì nuôi con chớ!” Tôi nói.

-“Ông chồng nhận hết tiền mà không nuôi con, không biết có chia tiền cho bố vợ để bố vợ nuôi con cùa mình không? Dư luận là ở chỗ đó.”

-“Rắc rối dữ! Luật pháp không buộc chia tiền cho cha vợ, gặp thằng chồng tham tiền thì hết ý kiến! Đời mà!”

&

Tối hôm đó, tôi đi thăm đám bà Chè. Bà thuộc hàng “chuyên viên”, được cấp một căn phố lầu ở dãy phố phía ngoài chợ Tròn, – chợ của Nhà Máy. Nhà theo đạo Phật nhưng không có bàn thờ Phật. Phía vách trong chỗ đặt quan tài, treo một bức tranh Phật A-Di-Đà, có lẽ mới treo trước khi đem quan tài về làm đám ma ở đây. Trời nóng vì cuối hè, không mưa nên khách thăm đám, sau khi làm lễ thắp nhang chia buồn cho người quá cố xong, ra ngồi uống nước ở ngoài hành lang con phố, chỗ nầy tráng xi măng sạch sẽ. Phía bên cạnh, nhà hàng Thanh Lan mở cửa, lính tráng tới lui. Bà chủ Thanh Lan là vợ hờ ông đại tá Xảo, chánh sở 4 An Ninh Quân Đội, lính tráng có vô ra nhiều, cũng không dám ồn ào vì sợ ông đại tá chức to. Sĩ quan cũng bị phạt, bị thuyên chuyển như không, lính tráng thì “nhằm nhò” gì. “Sợ cọp, người ta cũng sợ cứt cọp.” Tục ngữ nói vậy rồi.

Cắm nhang lên bình nhang xong, tôi làm như mọi người, ra ngồi ngoài hè phố. Có mấy bà cũng là công nhân nhà máy – thường gọi là “chị em với nhau”, rót nước tiếp khách giùm tang gia. Bà Chè qua đời rồi, nhà chỉ còn hai đứa con nhỏ, chúng còn chưa biết mẹ chết là cái gì nữa là, biết gì mà tiếp khách, lo đám. Có lẽ ban Giám Đốc Nhà Máy cũng như Nghiệp Đoàn hợp tác lo việc đám ma cho gia chủ.

Thấy tôi đi ra, anh Đoàn Phục ngồi qua cái ghế bên cạnh, mời tôi ngồi vào giữa, một bên là anh Phục, một bên là chị Thoại Châu.

Đoàn Phục là một người học trò cũ của tôi. Tôi làm giáo sư dạy môn Việt Văn năm anh học lớp Đệ Tứ, cách nay đã 14 năm rồi. Sau khi thi đậu Tú Tài, học một năm dự bị Khoa Học ở Huế, anh thôi học, khỏi bị gọi đi lính vì mắt anh bị lác (lé) nặng, xin vô làm Nhà Máy Xi Măng Hà Tiên. Đơn nộp ở Saigon, nhưng Saigon chuyển về tận Kiên Lương/ Hà Tiên. Chưa vợ, vả lại xin việc cũng khó, nên anh nhận việc ở đây, sống một mình. Cha mẹ vẫn còn ở Huế.

Tôi với anh ta thuộc hàng thầy trò cũ mà lại “Tha hương ngộ cố tri.” Hôm tôi mới về đây, qua thăm Nhà Máy, giám đốc Nhà Máy dẫn tôi đi quanh quanh thăm Nhà Máy cho biết. Tình cờ gặp tôi, anh ta “chào Thầy” tôi mới nhớ ra. Công việc của Đoàn Phục là thử nghiệm độ cứng, bền của từng “mẻ” xi măng khi được xuất lò. Khi có một mẻ xi măng mới, thường hai ba ngày có một lần, Phục lấy mẫu về trộn đều với phụ gia, nhiều nhất là đất xét đã xay nhuyễn, với một lượng nước vửa đủ. Trôn xong. Cho vào khuôn, để qua một bên, chờ đúng 21 ngày sau – 21 ngày là thời gian qui định để xi măng kết tinh đủ tới độ cứng nhất, bền nhất – để vào máy ép có dồng hồ đo, ghi nhận, đánh giá, xong báo cáo lên Văn Phòng Giám Đốc.

Nơi tôi chú ý nhất, không phải lò nung mà lại hầm chứa chất nổ. Chất nổ dùng để phá đá. Chất nổ để trong một cái hầm đá, hai lớp cửa sắt, mỗi cửa một ổ khóa to. Mỗi khi mở hầm lấy chất nổ phải có “bốn phe”: Nhân viên chất nổ thuộc Khối Khai Thác của Nhà Máy là một; thứ hai là đại diện Ban 2 Chi Khu, thứ ba là đại diện Chi An Ninh Quân Đội, thứ tư là đại diện Cảnh Sát. Thượng sĩ Lâm Tấn Tài là người thay mặt tôi, phía Cảnh Sát, để ký biên bản xuất kho. Có một lần, tôi có mặt để coi cách thức xuất kho như thế nào. Có thể có một cách nào đó chất nổ thất thoát được không?! Trước kia, có một lần, nhân viên chất nổ ăn cắp chất nổ đã được lấy ra, đem bán cho một ông “Chủ Lò Vôi”. Việc bị phát giác, anh chàng ấy bị đưa ra tòa, vô tù. Các ông “Chủ Lò Vôi” rất “thèm” chất nổ, không có nó lấy gì bắn đá để nung vôi. Ở Saigon, Cần Thơ, v.v… người ta có vôi để quét vách tường là do mấy ông “Chủ Lò Vôi” nầy cung cấp cả đấy. Không mua được chất nổ của Nhà Máy, họ thuê người cưa trái nổ để lấy thuốc súng. Những quả mortier, đại bác có khi có cả bom không nổ được mang về, cưa đôi, xong moi thuốc nổ ra. Họ vừa cưa vừa đổ nước lạnh vào chỗ cưa, để vết cưa không phát ra lửa thì trái đạn không nổ được. Nói như thế là về nguyên tắc. Trong thực tế, tai nạn vẫn thường xảy ra. Có lần hai người đang cưa cũng như người tưới nước đều chết cả vì trái đạn nổ “bất tử”. Ông “Chủ Lò Vôi” Đức Thắng, thường gọi là “Thắng Cụt” vì cụt mất một bàn tay cũng một lần cưa đạn như thế. May sao, ông chỉ bị cưa mỗi một bàn tay mà thôi.

Tôi không có quan hệ công việc gì với anh Đoàn Phục, nhưng vì tình cũ nên chúng tôi gạp nhau để chuyện trò. Qua anh Phục tôi quen biết thêm chị Thoại Châu, cũng là một người Huế. lưu lạc vào đây, sau vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở ngoài đó.

Chị Thoại Châu hơn tuổi tôi, nên tôi gọi bằng chị. Ban đầu chị gọi tôi bằng cấp bậc, tôi nói với chị nên bỏ cách gọi ấy đi. Tôi nhỏ tuổi hơn, gọi tôi bằng tên hay gọi bằng cậu, như một người em cho thân mật. Năm Mậu Thân (1968), gia đình chị bị Việt Cộng bắt và mất tích cả, gồm tất cả 3 người: Cha mẹ và chồng. Chị kể:

            “Sáng mồng hai Tết, họ tới nhà chị gần Đàn Nam Dao bắt chồng chị. Anh ấy trốn được. Khoảng hai mươi ngày sau, trước khi rút đi, họ đến nhà bắt chồng chị một lần nữa. Chồng chị trốn trên đầu hồi nhà. Họ hỏi có ai trên đó không? Ba chị nói không có. Họ hỏi chắc không? Mẹ chị nói chắc chắn không có ai! Đến khi họ bắt thang lên đầu hồi xét, bắt được chồng, họ bắt luôn cha mẹ chị đi theo, bảo là “nói dối với cách mạng”. Sau đó, chị đi tìm cha mẹ với chồng khắp mọi nơi. Hễ nghe ở đâu có chôn người là chị tìm đến, suốt mấy tháng trời, không tìm được ai cả, dù chỉ là xác người cũng không thấy.”

“Vợ chồng chị chưa có con, mặc dù cưới nhau đã lâu. Mấy tháng trời, cứ đêm tới là chị thấy cô đơn kinh khủng, nhiều đêm thức trắng. Chị nghĩ chắc không sống nỗi, nhưng tự tử thì chị không dám. Con gà, con vịt chị chưa cắt cổ được nó, làm sao chị có thể mình tự giết mình. Một năm sau, khi đã hoàn toàn tuyệt vọng, chị bỏ nhà, bỏ Huế, vô Saigon. Tình cờ chị gặp Phục là người cùng xóm ở Huế ngày trước, qua Phục chị xin làm việc ở Nhà Máy. Phó giám đốc Phúc cũng là người Huế, biết chị, thay vì để chị làm công nhân, ông ta đưa chị làm việc ở phòng phát lương, công việc được nhẹ nhàng. Gần cuối tháng, chị coi tên từng người trong sổ lương, đếm tiền đủ, bỏ vào phong bì, đề tên từng người. Xong chờ phát tận tay công nhân vào ngày cuối tháng. Chưa bao giờ chị làm lương sai, phát lương không đúng người…”

Phục nói: “Thầy biết không! Ở đây không ai gọi tên chị, dù có biết tên chị hay không. Họ gọi chị là “Chị Hai phóng sanh”.

Chị ấy chỉ cười, không nói gì!

Phục nói tiếp:

-“Chị ấy ăn chay, không phải chay trường mà chỉ những ngày sóc, ngày vọng mà thôi.”

-“Còn “ông” thì sao?” Tôi hỏi.

-“Em cũng ăn chay nhưng không phóng sanh như chị Châu!”

-“Tôi không hiểu việc phóng sanh?” Tôi thành thật nói.

-“Phóng sanh là như thế nầy. Đạo Phật thường có tục lệ phóng sanh, nhất là người Huề. Ngoài Huế, ngoài đêm phóng sanh, người ta còn có tục thả đèn trên sông Hương, rất ngoạn mục. Cậu nhớ vào những ngày vía lớn, người ta phóng sanh cá chim, thả trên sông Hương. Chị không giải thích việc ấy. Là người Huế, chắc cậu cũng hiểu.”

-“Tôi hiểu! Nhưng tôi muốn biết tại sao chị làm việc phóng sanh ở đây?” Tôi nói.

-“Có gì đâu! Từ ngày cha mẹ với chồng chị bị giết mất ở đâu đó, nghĩ tới việc giết người của họ. Chị thấy kinh hoàng, không những vì những cái chết trong gia đình chị mà ở Huế chết chóc tràn lan. Hầu như nhà nào cũng có người bị chết. Con người ta phải biết tôn trọng sự sống chớ! Người ta đâu có thể nhân danh Trời Phật mà giết người được. Giết một con vật cũng phải còn kinh tay nữa là.  Cho nên từ ngày vô đây, nghĩ tới đời mình cô quạnh ở xứ người, nghĩ tới cha mẹ với chồng, nghĩ tới người mình ngoài ấy, chị thấy lòng chị không khi nào được yên. Nhiều lần nghĩ tới chuyện chết, chị nghĩ nên làm một việc gì cho sự sống thì hay hơn. Ngay khi một người nào đó mình quen biềt, khi nghe tin họ chết, chị bèn làm một việc phóng sanh. Như cái chết của bà Che nầy, hôm qua chị phóng sanh mấy con cá ở bến đò ấp Ngã Ba. Chị làm việc phóng sanh như ông bà mình đã làm. Cũng như mỗi khi làm một điều gì sai, mỗi khi qua khỏi một tai nạn, chị phóng sanh để tạ ơn Trời. Phật – Sau khi xa xứ rồi, chị gặp một vài tai nạn mà qua được là chị phóng sanh. Có lần chị bị xe đụng ở Saigon tưởng chết mà rốt lại không can chi, một lần đi máy bay Nhà Máy từ Saigon về, ông đại úy phi công cho máy bay bay cao, tránh được hỏa tiển từ dưới phóng lên mà không tới. Lần khiếp nhất là hỏa tiển bắn trúng nhà ông anh Năm Hùng, ông chết ngay tại chỗ mà nhà chị sát bên cạnh không can chi cả. Ngoài chuyện tụng kinh niệm Phật, chị mua chim mua cá phóng sanh, cũng là một cách tạ ơn Trời Phật đó cậu. Chị làm nhiều lần, người ta biết, người ta cũng hoan hô chị, nên họ mới gọi chị là “Chị Hai phóng sanh”. Chị thứ hai.

Tôi cười nói đùa: “Chị coi chừng mấy bợm nhậu. Tụi nó biết chị phóng sanh ở đâu, tụi nó canh chừng tới bắt về đem nhậu hết là coi như chị công cốc! – Chị phóng sanh cá lóc, Cá lóc nướng trui là mồi bắt rượu dữ lắm, số một.”

-“Cậu nói giởn! Không có đâu cậu. Chị cũng có canh chừng chớ. Thường Chị đem chim lên chùa Ông Bổn để thả. Không ai lên đó săn bắt gì đâu.”

Chùa Ông Bổn nằm trên một ngọn đồi nhỏ nằm phía ngoài sân bóng tròn của Nhà Máy. Khu đó hơi vắng nên tôi sợ Việt Cộng lẻn về móc nối mấy ông thầy chùa già thật thà nên tôi thường lưu ý nhân viên theo dõi họ. Nghĩ vậy nên tôi hỏi chị Châu:

-“Chị có đi Chùa Ông Bổn?”

-“Không! Chùa ngay quận thì từ ngày bị cháy tới giờ chưa dựng lại được. Còn Chùa Ông Bổn, ngoài mấy ông thầy già tu cho có tu, chớ chị biết mấy ông có rành kinh kệ gì đâu. Còn lại thì có hai ba chú trốn lính núp lén trong chùa! Nơi nào, chị cũng chỉ là người “Đứng ngoài cửa Phật” mà thôi!

hoànglonghải

>>> Tìm Theo Thể Loại Mà Quý Vị Đang Quan Tâm <<< [Không Quảng Cáo]