(họ đạo An Hòa, xã An Hòa,

quận (cũ) Kiên Lương,

tỉnh Kiên Giang)

An Hòa không hẳn là một nông trường được dựng nên từ thời còn mồ ma Tây còn “nô lệ” dân ta như Nông Trường Cờ Đỏ hay nông trường Nam Thái Sơn như tôi nói ở bài trước.

Kể ra, nếu nói về “chương trình” mở mang đất Miền Tây Nam Bộ để trồng lúa thì lớn lắm, nhiều lắm. Tây còn cho đào kinh ở Miệt Thứ – Miệt Thứ xa lắm – “Má ơi đừng gả con xa, Con về Miệt Thứ biết nhà má đâu!” Trong một bài trước, tôi đã giải thích Miệt Thứ là ở “lộ mô?” – “Lộ mô?” là ở chỗ nào – Tiếng “Quảng Trị tui” đấy.

Ngoài Nam Thái Sơn, đi thêm khoảng 5 cây số nữa, cũng trên lộ 80 (?) Rạch Giá / Hà Tiên qua khỏi ấp Tri Tôn, xã Tín Đạo, quận Kiên Lương, thì tới cầu Lình Quỳnh, cái tên nửa Miên, nửa Nôm. Thật ra, nó là tên Miên hoàn toàn. Đây là nơi quân của Mạc Thiên Tứ đánh nhau với quân Thái Lan hồi cha con Mạc Cửu từ bên Tầu sang mở mang đất Hà Tiên thành nơi tù phú. Cũng xin nói thêm một chút. Bây giờ mà nói Hà Tiên, người ta thường nghĩ tới “thị trấn Hà Tiên”, bên kia Đông Hồ – bên nầy là xã Thuận Yên. Hà Tiên ở bên kia, thuộc xã Mỹ Đức, là xã của thị trấn Hà Tiên. Thời Tây cai trị, Hà Tiên là một tỉnh. Tỉnh Hà Tiên ranh giới tới gần Vàm Rầy là bản quán cua “Chị Tư Nết”/ con gái ông Chủ Ry. Xưa nữa thì Hà Tiên bao gồm cả Rạch Giá, khi Rạch Giá chưa phải là tỉnh lỵ tỉnh Kiên Giang.

Từ cầu Lình Quỳnh tới cầu Vàm Rầy khoảng chưa tới 10 cây số là vùng “Rừng Cấm”. “Rừng Cấm” là trong địa bộ nói như thế, chớ ở đây, tôi “lội” qua lại hằng tuần, có thấy rừng rú gì đâu. Vùng lau sậy thì đúng hơn. Mùa xuân, mùa hè, lau sậy lên um tùm, sợ Việt Cộng phục kích nên khi nào cũng phải dặn “tà-lọt”: Đạn lên nòng, khóa an toàn. Thu đông lau sậy chết hết, không có chỗ cho Việt Cộng ẩn núp nên “an toàn xa lộ” hơn.

Trong vùng nầy, Tây Thực Dân đã chuẩn bị làm ruộng nên “giấy tờ quan trên tư về là rừng cấm” nên không ai được cấy cày, dựng nhà, dựng cửa gì hết. Kinh đã được đào ngang, đào dọc… nhưng rồi bỏ hoang bởi vì “La mère patrie” (nước mẹ Pháp) đầu hàng Hitler, Nhật đã vào Đông Dương nên “Cỏ mọc trên chì, voi bò trên giấy, Đi đời Thầy Tăng (1) Trong bài Kinh Xáng Hà Tiên “Tha hương ngộ cố tri”, nói về việc dự trù định cư cho 5 ngàn người dân “Quảng Trị tui” là tôi nói tới vùng đất nầy.

Đi tiếp về phía tây, qua khỏi ngã ba, một nhánh kinh xáng đi thẳng ra biển, sau khi ngang qua Nhà Máy Xi-Măng Hà Tiên. Nhánh kinh xáng thứ hai đi ngang qua Núi Trầu, gặp thị trấn Hà Tiên ở Đông Hồ.

Trên kinh xáng nầy, một bên là Núi Trầu, bên kia cũng là vùng ruộng, nông trường chưa thành hình, nhưng cũng có những con kinh đào rất thẳng. Thẳng nhứt và dài nhứt là kinh 1. Tôi không rõ trước kia, Tây đã có làm ruộng ít nhiều gì chưa. Trong chiến tranh thì bị hoang hóa. Dân chúng chỉ đủ sức canh tác những đám ruộng nhỏ, chỉ đủ ăn, một phần vì chiến tranh, một phần vì không có vốn, lại một phần nữa, việc thương mại quá kém. “Đốt lò vôi, dễ kiếm ăn hơn.”

Trên con Kinh 1 nầy, có lần bộ chỉ huy các đơn vị tấn công Nhà Máy của Việt Cộng chạy trối chết vì bị phe ta phát hiện. Hai phi tuần nghiêng cánh bỏ bom làm chúng phát hoảng.

Núi Trầu là núi Đá Vôi. Nó có những cái hang “kỳ diệu”. Nói là kỳ diệu là nghe dân chúng nói lại, chớ tui chưa chui vào những cái hang đó bao giờ. Thời “chín năm”, tiếng địa phương nói tới thời kỳ “kháng chiến chống Pháp 1945/ 54” – Tính từ tháng 9/45 Tây trở lại Saigon, các hang đá vôi ở chân Núi Trầu là “công binh xưởng” của Việt Minh, nơi nầy chế tạc đạn như bom, mìn, lựu đạn nội hóa, ống phóng hỏa tiễn. Sau năm 1954, chính quyền Quốc Gia được thành lập ở vùng nầy, nhất là sau khi dựng Nhà Máy Xi Măng Kiên Lương ở núi Còm, thì có một trung đội Nghĩa Quân đóng ở Núi Trầu. Không đủ lính canh gác, chi khu Kiên Lương cho rào kẽm gai và gài lựu đạn ở các cửa hang, ngăn ngừa Việt Cộng quay trở lãi lập căn cứ. Đứng ở cửa hang nhìn vô, tôi đã “ngại”, nói chi vô trong hang.

Tuy vậy, quanh chân núi Trầu hay lưng chừng núi dân xã An Hòa vẫn cứ “bắn đá” để lấy đá nung vôi chở lên bán ở Saigon, Cần Thơ, Vĩnh Long, Mỹ Tho, v.v…

Nung vôi có lời nhiều, nên các ông chủ lò vôi tranh nhau phá đá, đốt vôi. Dĩ nhiên, việc tranh nhau xảy ra xung đột, thưa kiện. Chuyện nầy sẻ kể sau, bởi vì mấy ông chủ lò vôi “chơi” nhau nhiều đòn cũng “độc địa” lắm.

Nhà Máy Xi Măng Kiên Lương khai thác đá ở núi Còm, ngọn núi thuộc “lãnh thổ” xã Bình An, nên sau 10 năm khai thác đá núi Còm, công ty xi-măng Hà Tiên trao cho xã một ngân phiếu hai triệu đồng, là “tiền đá”, không phải là “tiền đất” của xã. Một xã “nhà quê”, bỗng có hai triệu đồng xài chơi, ai cũng ham. Ham nhất không phải là xã trưởng Nguyễn Văn Long, xã An Hòa, là xã có núi Trầu, mà Nhà Máy Xi Măng Kiên Lương, với sự viện trợ của Tây Đức, đang dự trù mở rộng thêm bằng việc sẽ khai thác đá ở núi Trầu, kế cận núi Còm.

Như tôi nói, người ham nhứt không phải là xã Long mà lại chính là linh mục Nguyễn Thượng Hiền, chánh xứ họ đạo An Hòa hay họ đạo Núi Trầu, (cũng là một họ đạo đó mà thôi).

Không chỉ mình tôi nói cha Hiền ham, mà cả dân chúng xã An Hòa cũng như dân xã An Bình, dân thị trấn Kiên Lương nữa. Bỗng một sáng nào đó, trời trong mây tạnh, người ta thấy trên đỉnh núi Trầu, phía gần Kinh Xáng Hà Tiên, sừng sững một cái Thánh Giá, cao khoảng 5 mét, trắng bóc, bằng gỗ hay xi măng trắng tôi không biết. Tôi có leo lên tận đó đâu.

Một hôm, ngồi uống cà-phê sáng với tôi ở cái quán ngay trước nhà tôi, tôi không nhớ ông Giám Đốc Lê Hữu Phước hay ông Phó Giám Đốc Mai nói rằng họ mới trình về cơ quan Trung Ương ở Saigon việc cha Hiền đòi bồi thường hai triệu nếu muốn cha hạ thánh giá xuống cho Nhà Máy khai thác đá ở Núi Trầu. Thánh giá mới đựng được một tháng nay, sau khi Nhà Máy thông báo vá thảo luận với xã An Hòa việc mở rộng Nhà Máy sang Núi Trầu.

Tôi cười, nói: “Việc chính trị, cha Hiền “thính tai” hơn việc khai thác đá làm giàu, nhưng cha cũng biết “kinh doanh” đấy.”

Vốn là dân học bên Tây về, có lẽ giám Đốc Phước không rành về người dân Việt Nam nên “ngơ ngác” hỏi tôi:

-“Nghĩa là sao? Tôi không hiểu gì cả.”

Tôi nói: “Ông” nên nhớ xã An Hòa nằm sát “Mật khu Trà Tiên, cha cũng sợ tụi nó đêm khuya mò ra “hỏi thăm sức khỏe” của cha chớ! Nên dân của xã thì cũng chống Cộng không thua chi các nơi khác, còn cha thì cha nói “cha không biết gì hết”, dù là mấy con chiên của cha vô ra mật khu bắt cá, làm đồng hằng ngày. Muốn có “tin tức Việt Cọng”, đừng hỏi cha mà hỏi con chiên của cha có kết quả hơn.”

Giám Đốc Mai cũng cười: “Tôi về đây mấy năm rồi, tôi cũng nghe chuyện đó. “Phe ta” có than phiền nhưng không ai dám làm gì cha cả.”

-“Thông cảm” đi ông. Dù gì cha ở trong đó, coi như ở “đầu sóng ngọn gió”. Lỡ tụi nó cầm súng AK mò ra thì ai cứu cha. Ban đêm, trung đội Nghĩa Quân của xã đắp mền, ngủ ngon giấc chớ có dám ra ngoài dân đâu! “Đóng đồn” là thua. Kinh nghiệm của tui là vậy đấy. Cha Lộc ở Kinh 1 (Cái Sắn) là ngon. Nghe tin Việt Cộng về bên kia kinh Núi Sập, cha dẫn trung đội Nghĩa Quân dàn ra bên nầy kinh. “Tụi nó lội kinh qua là cha nổ súng đấy!” Cha nói với tôi như thế!”

Kỹ sư Mai nói: “Giám Đốc Phước hỏi là hỏi về vụ Núi Trầu.”

-“Mấy ông rành hơn tui. Quả là cha không “thính tai” nghe tin Nhà Máy khai thác Núi Trầu hơi trễ.”

Tôi nói tiếp:

-“Họp với Nhà Máy xong, xã Long vô nhà thờ báo cáo với cha, cha mới biết đấy. Việc chi cũng phải trình báo với mấy ông cha. Kinh nghiệm tui ở Cái Sắn đấy!”

-“Việc dựng Thánh Giá?” Phó giám Đốc Mai hỏi.

-“Nghe xã Long báo cáo, lại biết thêm xã Bình An được hai triệu, cha vội dựng Thánh giá. Hơi trễ.

-“Trên Võ Duy Nghi (2) người ta không quan tâm đâu! Hai triệu với Tổng Công Ty, đâu có bao nhiêu.”

&

Theo tôi đoán chừng, dân Núi Trầu không phải từ một “gốc” ở ngoài Bắc, như dân Nam Thái Sơn, là từ Nam Định, Thái Bình, Sơn Tây, do Tây mộ phu mà vào Nam. Gốc gác họ từ nhiều tỉnh ở phía Bắc. Sau khi Tây bỏ chạy, họ bị bỏ rơi, bơ vơ rồi nhờ một ông linh mục nào đó, gom họ về Núi Trầu, họp thành một cộng đồng. Vì đi theo một tu sĩ Thiên Chúa Giáo nên cộng đồng nầy, khác với lưu dân các nơi khác, họ đều “rửa tội” cả. Hầu như hơn 90% dân Núi Trầu là “con chiên” của nhà thờ. Nhà thờ nầy cũng được xây từ thời tiền chiến.

Đến thăm xã An Hòa lần đầu tiên, tôi nghĩ rằng họ không khác dân dinh điền Cái Sắn. Không phải vậy. Dân Cái Sắn mới định cư theo chương trình dinh điền của tổng thống Ngô Đình Diệm. Dân An Hòa định cư ở đây từ trước đó lâu lắm, trước chiến tranh. Trong chiến tranh chống Pháp giành độc lập, họ từng theo kháng chiến, tham gia “bộ đội Việt Minh”, như “chú Út” em ông Chủ Ry – xin xem lại “Mộ Cũ”, trong loạt bài nầy, hay như “Chú Tư Cầu” trong “Chú Tư Cầu” của Lê Xuyên, hay tiểu sử Trần Văn Khê, Lý Chánh Trung trong các hồi ký của họ.

Sợ cái gọi là “chính quyền Quốc Gia”, họ giấu lý lịch đã từng theo kháng chiến. Vốn tò mò, tôi thường tới thăm nhà ông Tư, ông Bảy… “rán” ngồi nhậu với họ, để tìm hiểu mà biết thêm về “mấy ông già vang bóng một thời” của họ đạo Núi Trầu.

Họ giống như trong bài thơ “Hận Tha La” của Xóm Đạo Tha La trong “Nửa Bồ Xương Khô” của Vũ Anh Khanh. Pháp tái xâm lược Việt Nam, đầu tiên là ở Nam Bộ, họ cầm tầm vông chống giặc, không những chỉ ở chiến trường Nam Bộ mà vượt biên giới đánh nhau với Tây ở bên Miên:

Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy,

                        Quỳ cạnh Chúa đám chiên lành run rẩy:

                        “Lạy Đức Thánh Cha,

                        “Lạy Đức Thánh Mẹ,

                        “Lạy Đức Thánh Thần…

                        “Chúng con xin về cõi tục làm dân.”

                        Rồi cởi trả áo tu,

                        Rồi xếp kinh cầu nguyện,

                        Rồi nhẹ bước trở về trần…”

            Họ là ai?

Ở Xóm Đạo An Hòa, họ là ông chủ tiệm vật liệu xây dựng Hồng Ràng, là ông chủ ghe đánh cá Ba Hè, là ông chủ lò vôi Ba Nhân, Ba Để, là ông chủ tiệm chạp phô Tàu lai Mao Thạch Thành. Người tôi thường đến “nhờ cậy” sửa máy ghe nhiều nhứt là ông Tư Vịnh. Hồi “chín năm”, ông là thợ tiện trong công binh xưởng Núi Trầu của Việt Minh. Họ có rất nhiều chuyện kháng chiến, những trận đánh vào Hà Tiên hay trên trục lộ Hà Tiên/ Rạch Giá, kể sao cho hết.

Công lao kháng chiến của họ, công lao và cả xương máu, đem cho công cuộc chống Pháp giành độc lập, ngày nay không ai nhớ hay nhắc đến cả. Về phía bên kia, người ta không cần biết tới vì họ ở ngoài đảng; về phía bên nầy, họ bị liệt vào thành phần chống Tây, chống Quốc Gia, là những người có tội đấy. Đáng buồn và đáng tôi nghiệp ho họ biết bao nhiêu!

Năm 1954, họ không “tập kết” ra Bắc, ở lại miền Nam, với Quốc Gia, với Cộng Hòa, nên dưới con mắt những người “ở trong rừng mới chui ra”, hay ở ngoài Bắc “chi viện cho miền Nam”, họ là “thành phần phản động”, có tham gia chính quyền miền Nam hay không? Con cháu họ “đi lính cho ngụy”. Thế là họ có tội rồi đấy, trong khi họ là những người đầu tiên của Nam Bộ Kháng Chiến, không có súng họ cầm gậy tre đi chống giặc.

Khi Việt Cộng tiếp thu xã An Hòa, thấy một toán du kích cầm súng vào nhà thờ, linh mục Nguyễn Thượng Hiền, – dù từng đoán được số phận của mình, nếu một ngày kia Cộng Sản “thắng lợi” ở miền Nam, – linh mục liền đến quỳ trước bàn thờ Chúa. Không để cho linh mục cầu nguyện, bọn chúng vào tận nơi, đứa nắm tay, đứa nắm áo lôi linh mục ra khỏi nhà thờ. Một phần vì tuổi già, một phần vì run sợ, linh mục lập cập bước xuống tầng cấp xây gạch trước cửa giáo đường. Bọn Việt Cộng xô đẩy ông linh mục già, té sấp xuống thềm gạch. Mặt đập vào nền xi măng cứng, máu tuôn ra lênh láng ở mặt, ở miệng. loang trên nền sân.

Bọn đàn ông trốn hết, chỉ có mấy bà già vừa cầu kinh vừa khóc nức nở nhưng cũng phải che mặt, cố giấu.

Bọn chúng đem linh mục đi mất tích, mãi tới 7 năm sau, linh mục mới được tha. Linh mục bị đưa đi “học tập cải tạo” vì tội “thờ Chúa Giê-Su”. Đời bây giờ là vô đạo”:

Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán!

hoàng longhải

(1)-Khoảng thập niên 1940, Tây phát hành một loại tiền chì in hình cây lúa nhưng giống như cây cỏ, và một loại tiền giấy 20 xu, có hình mấy con voi. Bấy giờ trong dân chúng phổ biến mấy câu đồng dao “Bao giờ cỏ mọc trên chì, Voi bò trên giấy đi đời Thầy Tăng.” Thầy Tăng, nói lái là “Thằng Tây”. Người ta còn nói đây là hai câu “Sấm Trạng Trình”. Tôi nghĩ không phải, chỉ là câu tuyên truyền của những người muốn vận động dân chúng “tham gia làm cách mạng chống Tây” của Việt Quốc, Việt Cách hay Việt Cộng không chừng. Nếu là “sấm Trang Trình” thì vào thời kỳ “cụ Trạng” làm gì có Tây mà Cụ phải nói lái, kẻo sợ Tây…

(2)-Võ Duy Nghi, trụ sở tổng Công Ty Xi-Măng Hà Tiên ở đường nầy, tại Saigon.

(3)- Thơ Huy Cận.

>>> Tìm Theo Thể Loại Mà Quý Vị Đang Quan Tâm <<< [Không Quảng Cáo]