1)-Mộ phu nông trường

            Người Bắc ăn rau muống, người Nam ăn giá, người Trung ăn ớt. Nói như vậy không phải là kỳ thị Bắc, Nam, Trung. Bà Thái Thanh, trong một lần trình diễn ở “Queen Bee” hồi Noel năm 1974, bà cũng nói bà là “người Việt gốc rau muống”, khán thính giả đều cười vui vẻ! Chính là thực tế đời sống người dân mỗi nơi, là đề tài của đám Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ) trường Bộ Binh, nơi thanh niên gốc ba miền học chung với nhau, chọc quê nhau mà chơi. Chuyện nầy xảy ra không ít lần ở Câu Lạc Bộ Xuân Hương trong trường Thủ Đức.

Anh sinh viên gốc Bắc được bạn bè giới thiệu là: “Người Việt gốc rau”. Nghe câu nói đùa như thế, anh SVSQ há cả hàm “hăng rô” ra mà người. (Nên nhớ thủ tướng Phạm Văn Đồng quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi nhưng “gốc Kiến Hòa” / Bến Tre đấy). Anh SVSQ gốc Nam Bộ thì được giới thiệu là “Ngưuời Việt gốc giá”, còn anh SVSQ miền Trung là “Người Việt gốc ớt”. Mấy tay “trọ trẹ” ăn ớt rất “khiếp đảm”. Ở Đại Đội 54 của tôi, – đại đội “Nhứt Sinh, nhì Cự”, – đại đội trưởng là Đại úy Đặng Công Sinh, anh bạn học cũ hồi trung học, nhà ở Gia Hội nổi tiếng “hắc ám” với SVSQ, bởi khóa nào anh ta cũng “dợt” vài lần “phạt dã chiến” cho “tụi” nó làm quen với gian khổ mà “chiến trường bớt đổ máu” như anh ta thường dặn dò “học trò” của anh sau khi phạt xong. Đại đội nầy của tôi có anh chàng Kim Chương lớn con, chuyên lo “vũ khí nặng”. Anh ta chính hiệu là “Người Việt gốc Miên” như ghi trong lý lịch. Các anh “gốc rau”, “gốc giá”… thì khỏi ghi gốc gì!

Một người “lang thang” nhiều nơi như tôi có thể “chứng minh” điều ấy. “Dân Quảng Trị tui” thì ăn rau lang, ít ăn rau muống. Dân Huế thì ăn rau muống nhiều hơn rau lang. Dân Saigon “phức tạp” thì khó phân biệt ăn rau gì, nhưng dân Xóm Mới, dân “xứ Bùi Phát” (trên đường Trương Minh Giảng cũ), dân Nhà Thờ Ba Chuông thì xe ba gác máy phải chở rau muống ùn ùn tới mới đủ… nhu cầu.

Ở Gò Công, dù có ra tới của hàng rau ở chợ, cũng không tìm ra rau muống. Vô “Tiểu khu Gò Công”, tôi thấy chỉ có một ông trung sĩ nói tiếng Bắc, nhưng giọng nói thì đã pha mùi trái Cheery của xứ nầy. Tiếng Bắc không còn ròng thì việc không ăn rau muống mà lại ăn rau lang như người Gò Công là “không thành vấn đề”.

Về Cái Sắn, tôi lại giựt mình. Anh bạn Bắc Kỳ nhà ở “Nhà Thờ Hầm” gần Ngã Tư Bảy Hiền nói với tôi, nghiêm chỉnh, không phải đùa:

            “Mày về dưới đó coi chừng! Dân trong kinh ra (nhà dân di cư ở phía trong kinh, chợ ở phía ngoài đường lộ Long Xuyên / Rạch Giá) bán mười đồng cá (cá đánh được bằng cất lưới), cất 9 đồng mua vàng, năm mươi xu ăn bún riêu (bún riêu có rau muống sống), năm mươi xu mua tờ giấy viết đơn thưa.”

Về tới nơi, tôi không giật mình về việc mua giấy viết đơn thưa mà giật mình về việc trồng rau muống: Nhà nào cũng có, hoặc bên bờ kinh hay ở cái ao nhỏ bên hông nhà vừa để nuôi cá, vừa trồng rau muống.

Về tuốt Hà Tiên, đi chợ cả tháng rồi, “không tìm ra một cọng rau muống” – như vợ tôi than. Gia đình tôi cũng “quen” ăn rau muống. Nhưng về Núi Trầu thì rau muống ở đây… tuyệt vời.

Xã An Hòa nằm quanh Núi Trầu và trải dài trên Kinh Xáng Hà Tiên, đoạn từ ấp Ngã Ba xã An Bình lên tới ấp Hòn Heo, kế xã Thuận Yên của quận (tên cũ) Hà Tiên là vùng “dân Bắc Kỳ đi mộ phu”, – tôi sẽ nói thêm ở phần sau – vì gốc Bắc nên việc trồng rau muống ở vùng nầy khá… phát triển. Thiếu úy Sơn với xã trưởng Long đãi tôi ăn trưa bằng một nồi “vịt nấu chao với bia và rau muống”. Cọng rau muống trắng như cọng giá, dài bằng chiếc đũa, lá to hơn hai ngón tay khép lại. Nhìn thì không biết, ăn vô mới hay rằng đó là… rau muống. Tò mò hỏi thêm, xã trưởng Long dẫn tôi đi coi chỗ “dân Núi Trầu” trồng rau muống. Đám rau muống to như đám ruộng, hột rau rải xuống như nông dân “sạ” lúa, nên cây rau mọc sát nhau như mạ, thân cây trắng vì nắng không chiếu vào được. Đất mùn, đen, ráo nước.

Tôi chợt nhớ ra: Rau muống có hai loại: Rau muống nước, như người Huế trồng ở những hồ quanh trong Thành Nội: hồ Tàng Thơ, hồ cửa Chương Đức, hồ cửa Hòa Bình, Tây Lộc…. – hồ Tịnh Tâm chỉ trồng sen – Cây rau mọc ở nước. Mỗi khi trời “mưa đêm”, cọng rau dài ra một tấc. Trồng trên đất khô, phải tưới nước hằng ngày, gọi là rau muống khô.

&

Rau muống có nằm trong “hành trang” của người Việt trong cuộc Nam Tiến?

Không rõ ngày xưa, giữa Thế Kỷ 16 (1558), khi chúa Nguyễn Hoàng và dân binh của ông “vào trấn đất Thuận Hóa” có mang theo rau muống không thì không thấy sách sử nào nói tới – (Nhưng Chúa có mang theo “Bà Tổ Thợ Rèn” làng Hiền Lương của tôi đấy!). Từ đầu Thế Kỷ 20, những “Đợt người Bắc vô Nam”, đi tới dâu, “dân Bắc Kỳ” trồng rau muống đến đó, ngay cả “Saigon hoa lệ” cũng có nhiều hoa rau muống màu tim tím ở quanh Saigon.

Tại sao người Huế ăn rau muống mà những vùng quanh Huế thì không? Như “Quảng Trị tui” chẳng hạn!

-Tại người Bắc vô Huế làm quan.

Vì Huế là kinh đô! Nhân tài các nơi được gọi về, được bổ làm quan ở Huế. Mỗi ông quan đến kinh đô thường mang theo một cái gì đó. Ngoài Bắc vô, tổ tiên Phạm Xuân Ẩn mang theo nghề “thợ bạc”, tổ tiên cụ cử Võ Bá Hạp mang theo nghề đóng giày. Tổ tiên tôi mang theo nghề rèn. Và họ có mang theo “hột rau muống” không đấy?

Còn những “đợt người Bắc vô Nam” từ đầu Thế kỷ 20 thì sao? Họ vô làm mấy đợt?

Bốn đợt:

1)-Đợt mộ phu đồn điền từ cuối thâp niên 1920 kéo dài đến 1940, khi mẫu quốc Pháp đầu hàng Đức.

2)- Đợt vào Nam từ đầu thập niên 1930 vì hậu quả của cuộc “khủng hoản kinh tế Mỹ”.

3)- Đợt di cư do hậu quả Hiệp Định Genève 1954.

4)- Đợt hậu quả “Công Sản Bắc Việt xâm lược miền Nam” sau tháng Tư/ 1975.

&

1)- Đợt 1,

Quá trình người Pháp xâm lăng nước ta – dù có mấy ông cố đạo thuộc Giáo Hội La Mã trợ lực, hiệp đồng, “hiệp thông”… – cũng không nhanh chóng được. Xem ra, người Việt Nam đâu dễ bị khuất phục. Rigault De Genouilly nghe lời xúi dục của ông giám mục Pellerin đem tầu chiến tấn công Đà Nẵng năm 1857. Đó là tiếng súng khởi đầu cho việc “tấn công nước Đại Nam”. Vậy mà phải tới năm 1884, qua Hiệp Ước Giáp Thân, Thực Dân Pháp mới hoàn toàn cai trị nước ta. Tuy nhiên, mãi đến sau cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân bị thất bại (1916), người Pháp coi như ổn định việc cai trị. Dù nổ súng tấn công rất sớm, nhưng mãi đến đầu Thế Kỷ 20, bọn Thực Dân mở rộng chương trình khai thác vùng đất chúng chiếm được: Đất Nam Kỳ.

Việc mộ phu dân Bắc Kỳ đi đồn điền cao su rất rầm rộ, khiến Việt Nam Quốc Dân Đảng phải ra tay. Ba đảng viên VNQDĐ: Nguyễn Văn Viên, Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Đức Lung ám sát tên mộ phu đồn điền ở Bắc Kỳ tên là Bazin vào đêm giao thừa 1929. Dù có vụ ám sát, việc mộ phu vẫn tiếp tục. Sau đợt đi đồn điền cao su ở miền Đông Nam Bộ, Tân Calédonie, Vanuatu… Bọn Tây quay qua khai thác đồng bằng Miền Tây Nam Bộ. Ở Hậu Giang, có “Đồn điền Cờ Đỏ” ở kinh Thạnh Tây (cũ), quận Thốt Nốt, tỉnh An Giang. Trước  chiến tranh, Tây mở rộng việc làm ruộng ở vùng nầy, với nhiều đồn điền trồng lúa. Tây cho cắm cờ màu xanh, màu đỏ, màu vàng… để phân biệt đồng điền nầy với đồn điền kia, chớ không dính líu gì tới “cờ dỏ” của Việt Cộng cả như có người hiểu lầm. Trong chiến tranh, đồn điền cờ đỏ bị hoang hóa vì Tây bỏ trốn khỏi địa phương.

Trong thời gian đó, tên thực dân Belot xây dựng thêm “Đồn Điền Nam Thái Sơn” tại vùng Sóc Sơn thuộc Tam Sơn – gồm ba ngọn núi “Hòn Me”, “Hòn Đất”, “Hòn Sóc” – thuộc quận (tên cũ) Kiên Thành, tỉnh Kiên Giang, gồm 750 gia đình mộ từ hai tỉnh Nam Định, Thái Bình vào.  Năm 1940, Pháp đầu hàng Đức, quân Nhật vào Đông Dương, tên thực dân Belot bỏ trốn. Không ai cai quản, nông dân Nam Thái Sơn tự mình sinh sống rồi theo Nam Bộ Kháng Chiến, dần dần ngã theo Cộng Sản từ năm 1945.

Tôi thường gọi vùng Nam Thái Sơn là “vùng Cộng Sản ba đời”. Dân ở đây theo Cọng Sản từ thời Nam Bộ Kháng Chiến, khi đó họ khoảng chừng hai mươi tuổi. Ba mươi năm sau, khoảng trước 1975, cháu (đời thứ ba) của những người theo Cộng Sản hồi 1945, tính ra không phải là “ba đời” hay sao. Việc dân ở đây theo Cộng Sản, được nhà văn Anh Đức viết xạo trong cuốn tiểu thuyết “Hòn Đất”, một phần cũng nói lên điều đó. Vùng Nam Thái Sơn tọa lạc tại vùng Tam Sơn, nay gọi là huyện Hòn Đất, một bên là kinh núi Sập, phía Đông – lấy nước từ sông Hậu đưa ra biển. Phía Tây, cũng là một con kinh lớn, đưa nước từ Long Xuyên xuống biển. Phía Nam Nam Thái Sơn là kinh xáng Hà Tiên. Giữa hai kinh lớn nói trên, Tây đã cho đào xong những con kinh ngang, nối hai kinh lớn nói trên với nhau. Kinh ngang đặt theo tên kinh 1, kinh 2, kinh 3…. đến kinh 5 hay kinh 6(?) Việc đào kinh, phát hoang đã làm xong nhưng chưa kịp đưa vào canh tác thì Tây bỏ đi vì chiến tranh.

Vì dân Nam Thái Sơn theo Cộng hoặc thiên Cộng nên phía Quốc Gia không kiểm soát được, mặc dù ở đây có “Đặc Khu Hòn Sóc”. Sau hiệp định Paris 1973, Việt Cộng vi phạm ngưng bắn, tấn công vào xã Tín Đạo, xã của vùng Nam Thái Sơn những hai lần, nhưng không giữ được quá một ngày.

Ở Nam Thái Sơn, “ân oán” Quốc Cộng rất nặng, không ít cán bộ Cộng Sản, giao liên… bị giết, bị thủ tiêu, bị tù… Bộ đội Cộng Sản, cấp tỉnh đội, huyện đội ẩn núp ở các ngọn núi “Hòn Me”, “Hòn Đất”. Riêng tại “Hòn Sóc” là nơi “Quốc Gia” đóng Bộ Chỉ Huy của “Đặc Khu Hòn Sóc”. Việt Cộng chiếm đặc khu nầy từ cuối năm 1974 cho đến ngày 30 tháng Tư, coi như mất luôn. Cựu Thiếu tá Khu, một người tôi quen thân bị mất tích trong trận đánh nầy. Cựu Đại úy Biệt Động Quân Tôn Thất Trực, người Huế, bị trực thăng Mỹ “bắn lầm” cũng chết ở “Hòn Me” khoảng năm 1969.

Về phía Việt Cộng, Nam Thái Sơn thuộc địa phận “huyện Châu Thành B”, bí danh của bí thư huyện ủy là Ba Kiếm. Tôi chỉ thấy tên y trong “Hồ sơ Trận liệt”. Trên thực tế, không ghi nhận được hoạt động cũng như tung tích của y. Ba Nhân, gốc dân họ đạo An Hòa/ núi Trầu, theo Việt Minh từ thời Nam Bộ Kháng Chiến, năm 1954, tập kết ra Bắc, không rõ trở về lại miền Nam năm nào, làm “kinh tài huyện Châu Thành B”. Tôi có nhận được một tập tài liệu – có cả sổ thu/chi của y cùng “nhật ký” ghi lại hoạt động của huyện nầy – do dân chúng đem nộp cho. Khai thác tài liệu một thời gian thì bị cấp trên lấy mất. Theo tin ghi nhận, tập tài liệu “trôi trên kinh”, không có tiền bạc chi cả. Có lẽ y bị “phe ta” phục kích tử trận, xác bị thả trôi ra biển, sau khi tiền bạc trên người y đã bị những người phục kích “tịch thu”.

Theo báo cáo của “Ủy Ban Phụng Hoàng” xã Tín Đạo, khoảng thời gian một tháng trước khi tấn công vào xã nhân dịp “Mừng sinh nhựt Hồ Chí Minh”  năm 1974, Nhân Dân Tự Vệ xã theo dõi và bắt hụt một ông lão giả bộ giăng câu trên đoạn Kinh Xáng Hà Tiên gần. Theo dự đoán, tên nầy “điều nghiên” để mở trận đánh. Nhờ dự đoán đó, ông Nguyễn Văn Toán, xã trưởng xã Tín Đạo, gốc là dân Nam Thái Sơn đã chuẩn bị “chờ” x4 bị tấn công. Nhờ đó, Việt Cộng thất bại, phải rút lui, sau khi giết vợ và ba đứa con nhỏ của thiếu úy Mai Quang Đước, trưởng cuộc Cảnh Sát xã, để trả thù.

Giữa thập niên 1980, Nguyễn Quang Quýnh, gốc Nam Thái Sơn làm bí thư tỉnh ủy Kiên Giang bị thôi chức vì tham nhũng, gồm cả vụ bao che thanh niên khỏi bị gọi “nghĩa vụ quân sự”

Như trên, tôi đã nói, “ân oán giang hồ” giữa hai phe đối nghịch nặng nề biết bao nhiêu! Dòng nước Kinh Xáng Hà Tiên ở đoạn nầy đỏ lòm thù hận!

(còn nữa,

kỳ tới: Họ đạo An Hòa/ Núi Trầu, “Chúng con xin về cõi tục làm dân…”)    

>>> Tìm Theo Thể Loại Mà Quý Vị Đang Quan Tâm <<< [Không Quảng Cáo]