Sông Tiền, sau khi qua khỏi thành phố Mỹ Tho, chia làm hai nhánh, một nhánh nhỏ, đổ ra biển ở một cửa biển nhỏ, phía Bắc, được gọi là “sông Cửa Tiểu”, đổ ra biển ở “Cửa Tiểu”. Nhánh thứ hai, phía Nam cửa tiểu là “sông Cửa Đại”, đổ ra biển ở “Cửa Đại”. Cù lao nằm giữa hai nhánh sông nầy, có tên là “Cù Lao Tân Phú Đông” (tên thời VNCH), thuộc lãnh thổ tỉnh Gò Công (cũ). Sông Cửa Đại là ranh giới giữa hai tỉnh Gò Công và Kiến Hòa (tên thời VNCH, bây giờ gọi là Bến Tre). Bên kia Sông Cửa Đại là xã Thừa Đức, quận Bình Đại, tỉnh Kiến Hòa.

Cuối năm 1971, tôi nhận sự vụ lệnh nhận việc ở Gò Công. “Sư phụ” an ủi tôi khi thấy tôi nhận sự vụ lệnh với vẻ “ngại ngùng”:
-“Em về Gò Công cho đỡ nguy hiểm. Tỉnh nầy bây giờ “yên” lắm.”

“Yên” có nghĩa là không có Việt Cộng, hay Việt Cộng rất yếu. Thật vậy, trong 16 tỉnh thuộc Vùng IV (Bốn) Chiến Thuật, Long Xuyên và Gò Công là hai tỉnh “yên” nhất.

Long Xuyên thì “khỏi nói”. Sau tháng 9 năm 1945, toàn dân tham gia “Nam Bộ Kháng Chiến”, nhiều lực lượng quân sự nổi lên “đánh Tây” rất hăng. Cộng Sản Nam Bộ muốn độc quyền lãnh đạo, bèn yêu cầu “Đức Thầy” đưa quân đội Dân Xã Đảng thuộc quyền chỉ huy của Cộng Sản. “Đức Thầy” không đồng ý. Họ bèn giả “mời” “Đức Thầy” họp bàn “thống nhứt”,  rồi giết “Đức Thầy”. Sau năm 1947, sau khi Việt Minh giết “Đức Thầy” ở Kinh Đốc Vàng xong rồi, sự “trả thù” giữa lực lượng Việt Minh và lực lượng quân sự Phật Giáo Hòa Hảo diễn ra rất kịch liệt, một mất một còn. Việt Minh, từ hồi đó, trong cuộc “Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Nhứt”, cũng như sau nầy, trong cuộc “Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Hai”, khi Việt Minh chính là Việt Cộng, “Đồng Khởi” năm 1960, trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ Hai, Cộng Sản Bắc Việt xâm lược miền Nam Việt Nam, thì Việt Cộng không bao giờ dám léo hoánh đến Long Xuyên, coi như sẽ “chết không toàn thây”!

Tình hình Gò Công khác hơn. Sau Đồng Khởi, do ảnh hưởng từ Mỏ Cày, Kiến Hòa, Việt Cộng hoạt động ở Gò Công khá mạnh. Ngoại trừ tỉnh lỵ và các quận lỵ, hoặc vài xã kinh tế khá phát triển như Vàm Láng (“hải cảng”) hay Đồng Sơn (“giang cảng”), còn thì Việt Cộng, dù không chiếm toàn bộ, tình hình coi như “mất an ninh”, “xôi đậu”. Ban ngày Quốc Gia, ban đêm Cộng Sản.

Thời đại tá Thinh làm tỉnh trưởng, Việt Cộng đem súng cối 60 ly, đặt sát nách thị xã, bên kia Cầu Đá trên đường đi Vàm Láng, mỗi đêm nả vài chục quả chơi, rồi vác súng về “nghỉ xã hơi”, hôm sau tiếp tục…

Khi thiếu tá Nguyễn Viết Thanh, sau đó là thiếu tá Lê Văn Tư làm tỉnh trưởng, tình hình khác hẳn. Khi Việt Cộng pháo kích, một mặt phía ta phản pháo, một mặt tỉnh trưởng (kiêm tiểu khu trưởng) chỉ huy binh sĩ “xông” ngay vào nơi chúng đặt súng. Rất nhiều khi “ông tỉnh trưởng” tới nơi, đánh đuổi Việt Cộng, khiến chúng phải bỏ súng mà chạy cho lẹ thì ông quận trưởng “chưa tới kịp”. Thế rồi các “ông” thừa thắng hành quân vào tận “sào huyệt” chúng, các “đám lá tối trời” – danh từ đặc biệt chỉ có ở Gò Công, từ thời Trương Định khởi nghĩa chống Pháp – bao vây chúng ở trong các “đám lá tối trời” ấy. Không được tiếp tến, không có nước ngọt – trong các đám lá tối trời chỉ có sình và nước mặn – Việt Cộng phải trốn đi, qua “nương náu” ở Kiến Hòa hay qua Rừng Sát. Gò Công không còn bóng dáng một Viêt Cọng nào!

Ở thôn quê, “dân nhậu” xỉn, về nhà sau 12 giờ đêm mà vẫn “bình an vô sự”. Cán bộ Xây Dựng Nông Thôn và các đoàn văn nghệ, tổ chức đốt lửa trại, “phục vụ nông thôn”…

Thế rồi một lần!
Tin “Tình Báo Nhân Dân” cho biết tên Việt Cộng chồng thị T. ở biển TânThành, mấy lâu nay trốn qua Kiến Hòa nay mới bí mật trở về. Một toán Cảnh Sát Đặc Biệt được lệnh hành quân tìm bắt tên Việt Cộng nầy. Toán Cảnh Sát vây nhà, xét cùng khắp nhưng không thấy gì. Bọn họ thắc mắc vì tin của Mật Báo Viên nầy thường chính xác, nhưng sao lại tìm không thấy gì. Họ đành kéo nhau lên xe về. Bất thần, có một “thầy” trung sĩ vì mắc tiểu nên anh ta đành “giải bầu tâm sự” ở bụi chuối gần cửa bếp. Đang khi đi tiểu, anh thoáng thấy thị T. xuống bếp, vần cái lu nước sang một bên. Sinh nghi, anh gọi đồng đội trở lại, lục soát lần nữa. Bọn họ dời chỗ toàn bộ 4 cái lu nước và phát hiện một “lỗ thông hơi” dưới cái lu cuối cùng. Thế là “anh chàng” cán bộ Việt Cộng từ dưới hầm bí mật chui lên, đưa tay đầu hàng.

Lời khai của y xác nhận dự đoán của phe ta là đúng. Bọn Cộng Sản địa phương được lệnh gia tăng hoạt động, phá rối để “hỗ trợ chiến trường” phía Bắc Việt Nam Cộng Hòa. Lực lượng Giang Cảnh tăng cường hoạt động để phát hiện Việt Cộng từ Kiến Hòa lén lút vượt sông Cửa Tiểu, Cửa Đại trở về Gò Công. Một chiếc PCF tắt đèn, tắt máy thả trôi trên sông Cửa Đại. Đêm không trăng nên chúng không thấy chiếc PCF trên sông. Trong khi đó Giang Cảnh phát hiện “một chấm xanh” xuất hiện trên màn radar. Chấm xanh di chuyển từ Kiến Hòa sang sông, hướng về cù lao Tân Phú Đông. Chờ khi chấm xanh tới gần, bất thần PCF nổ máy, bật đèn chiếu sáng lên. Hai tên Việt Cộng trên chiếc ghe nhỏ hốt hoảng, nổ súng bắn vào PCF nên Giang Cảnh phản công. Chúng bị giết. Chiếc ghe lật úp.

Hôm sau, thiếu tá Trần Minh Hải, chỉ huy phó nói với tôi: “Anh đi với tôi qua cù lao Tân Phú Đông?”
-“Để làm chi?” Tôi hỏi.
-“Việc Giang Cảnh bắn chết hai tên Việt Cộng vẫn làm tôi thắc mắc. Tại sao chúng nói dám qua sông Cửa Đại. Phải có giao liên ở bên phía cù lao Tân Phú Đông báo cho chúng biết không có Quốc Gia phục kích, không có Giang Cảnh, chúng nói mới dám qua chớ!”
-“Dĩ nhiên. Treo cây đèn dầu làm hiệu, ban đêm dễ thấy. Hôm đó trời tối quá, giao liên không thấy tàu Giang Cảnh nên mới xảy ra cớ sự.” Tôi tán đồng ý kiến thiếu tá Trần Minh Hải.
-“Qua bên đó, quan sát thực địa mới đoán được chúng có thể vượt sông ở khúc nào. Khúc sông đó có nhà ai đáng nghi ngờ không? Rà soát lại bọn chiêu hồi, cựu can phạm, thân nhân Việt Cộng… coi thử… Anh đi với tôi.” Thiếu tá Hải nói.
-“Đi thì đi! Mấy bữa nay không đi đâu, tôi cũng cuồng cẳng.” Tôi nói. Thực ra, tháng trước, tôi mới đi một vòng Gò Công: Các xã phía Đông: Vàm Láng, Tân Thành… của quân Hòa Lạc, các xã Vĩnh Hựu, Vĩnh Bình… quận Hòa Bình, các xã thuộc vùng Chợ Gạo, quận Hòa Đồng giáp ranh với Định Tường; Đồng Sơn, bắc cầu Nổi của quận Hòa Tân…

Tân Phú Đông hồi đó là một xã lớn, nhưng dân chúng thì rất nghèo. Dân không nghèo sao được: Con trai lớn lên, không làm du kích thì “đi lính Quốc Gia”. Mỗi gia đình chỉ còn lại những người già, đàn bà, con gái… Các ông già trở thành những “Con rắn chúa” (1) Dù có ruộng, dù có đáy, có lưới, có ghe cũng không có người để canh tác, làm nghề… Đời sống người dân không nghèo đi thế nào được!

Khi tôi và thiếu tá Hải đi ra phía bờ biển, phía có cái đền thờ cũ trong khu vực “đồn” của Trương Định chống Pháp ngày xưa thì có tiếng súng nổ ở phía ấy. Tôi tự hỏi: Bọn chúng từ Kiến Hòa “về” lúc nào mà đã có “lực lượng” chống lại ta khi ta hành quân. Đi tới nữa, nghe tiếng súng nhiều hơn và gần hơn, tôi và thiếu tá Hải cùng mấy binh sĩ dừng lại. Ông trung sĩ già Trưởng Cuộc Cảnh Sát xã nầy, nhắc chúng tôi “núp đi”. Tôi núp sau một gốc dừa, thấp. Ở đây, người dân rồng thứ dừa thấp, đưa tay với đã hái được trái.

Khi tôi vừa núp bên cây dừa thì có một tiếng súng bắn sẻ. Viên đạn trúng vào thân dừa. Xơ dừa vỡ ra, bắn vào mặt tôi, đau lắm, khiến tôi chuởi thề: “Đ. m. Chút nữa là trúng nay mặt!” Vừa nói, tôi vừa tháo cái “kiếng cận”, đưa tay vuốt vào má phải, phía má gần thân dừa bị viên đạn bắn vào.

Ông trung sĩ già nhắc chừng: “Ngồi xuống! Nó thấy đó!” Có nghĩa là tên bắn sẻ thấy chúng tôi rõ, nếu chúng tôi đứng.

Trưa hôm đó, ông trung sĩ Trưởng Cuộc mời thiếu tá Hải và tôi cùng vài binh sĩ ăn cơm tại một cái nhà máy xay lúa gần trụ sở xã. Ông trung sĩ thì có vẻ tự nhiên, nhưng ông bà chủ nhà thì nét mặt có vẻ e ngại. Có lẽ họ sợ Việt Cộng gán cho họ “tội ủng hộ Quốc Gia”. Điều đó cho tôi thấy cái bóng đen Cộng Sản còn lẩn quất đâu đây, nhất là ban đêm, chúng từ bên kia sông lội về hay từ dưới hầm bí mật chui lên để “hỏi tội” người dân đen. Cũng trong lúc đó, có vài cô gái chống xuồng đến, đem lúa lên “chà gạo”. Họ cũng nhìn chúng tôi. Họ là người dân lành vô tội hay có ai trong số họ là “giao liên nằm vùng” cho Việt Cộng? Nhìn chung, một không khí e ngại, căng thẳng bao trùm không khí nhà máy “chà gạo” suốt buổi trưa hôm đó, khi chúng tôi xuất hiện ở ngôi nhà nầy.

Cù lao Tân Phú Đông có một vị trí quan trọng, tiền tiêu. Bên kia là Thừa Đức, thuộc Kiến Hòa, Việt Cọng “như rươi”. “Quê Hương Đồng Khởi” mà. Năm 1960, khi Cộng Sản đứng lên, đầu tiên ở Mỏ Cày, rồi lan ra toàn tỉnh Kiến Hòa, “đông nhứt”, “mạnh nhứt”. “Hỡi người chị của Bến Tre, “Quê Hương Đồng Khởi bốn bề đó chăng?”

Con gái Bến Tre có tiếng đẹp, không phải vì họ thuộc dòng dõi các “bà phi”, “bà chúa” khi “Gia Long tẩu quốc” như ở Thới Bình ở Rạch Giá hay Nha Mân như ở Sadec. Mấy cô đẹp là nhờ da họ trắng. Kiến Hòa là xứ trồng dừa, làm ruộng ít đi. Tới “mùa nước nổi”, nước sông lên cao, chảy mạnh, thường làm lỡ đất. Muốn giữ đất, người dân Bến Tre trồng dừa. Cây dừa giữ đất. Nhờ nghề trồng dừa, đàn bà con gái ít cấy, gặt, ít ra nắng, chỉ quanh quẩn dưới bóng im của các rặng dừa nên da họ trắng trẻo.

Tại sao Việt Cộng ở Bến Tre mạnh hơn các nơi khác. Tại “phe Quốc Gia” đấy. Tại Le Roy và đám “đệ tử” của y như Võ Công Mưu đấy.

Cha Tây, mẹ Việt, từ một tên thiếu tá trong quân đội Pháp “tái xâm lăng” Việt Nam hồi “Nam Bộ Kháng Chiến”, y được “móc loon” đại tá của phe Quốc Gia, làm tỉnh trưởng Bến Tre. Y là một lãnh chúa, là một tay “quân phiệt” nổi tiếng tàn ác ở Bến Tre. Y có quân đội riêng, pháp luật trong xứ là lệnh của y. Y chống Cộng tích cực, triệt để. Sách lược chống Việt Minh của y là “diệt”, “diệt sạch”, tức là “giết sạch”: Việt Minh, thân nhân Việt Minh, không tha thứ một ai. Dân thị xã Bến Tre không quên cảnh tượng hãi hùng: Cứ chiều chiều, y (Le Roy) cho người đem “tội nhân” ra cây cầu kế thị xã bắn chết rồi đạp xuống sông. “Không có chiều nào mà không có người bị bắn ở cây cầu đó, trong suốt thời gian y làm tỉnh trưởng Bến Tre.”

Kết quả hành động của y là gì?
Hận thù! Oán hận chồng chất và Việt Minh càng ngày càng…mạnh. Người dân đứng về phía thân nhân của họ bị Le Roy và binh lính của y giết chết, đứng về phía người dân bị áp bức, bị cướp bóc, đàn áp. Sau Hiệp Định Genève 1954, một số Việt Minh Cộng Sản “tập kết” ra Bắc, một số “nằm vùng”, chờ “thời cơ” Cuối thập niên 1950, chính quyền Ngô Đình Diệm tỏ ra có nhiều bất lực, yếu kém, không đủ khả năng để cai trị miền Nam, không cai trị được dân, không “đi với nhân dân”, không sống với nhân dân mà chỉ là giai cấp thống trị hay tay sai của giai cấp thống trị đó. Cách cai trị của chế độ ấy cho người ta thấy điểm yếu then chốt của nó: Bỏ dân. Cộng Sản từ hầm bí mật chui lên, từ mật khu lén về, từ miền Bắc “hồi kết”, xâm nhập kêu gọi, xách động, dụ ỗ, tuyên truyền, mua chuộc, khủng bố để người dân đứng lên “Đồng khởi”. Từ những gì Viêt Cộng đã làm, đang làm, cùng với lòng hận thù cũ thời Le Roy, là động lực, là chất cháy của “Đồng Khởi Bến Tre”, mạnh hơn bất cứ nơi nào trong 16 tỉnh của Miền Tây Nam Bộ.

Người dân Bến Tre đâu có biết rằng: Chính họ, những người tham gia Đồng Khởi là những người nổ phát súng đầu tiên, khơi ngòi, dẫn đường cho cuộc xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt. Chính thức là từ Đồng Khởi, từ Mỏ Cày, cuộc xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt kéo dài 15 năm, đưa đất nước vào cuộc tương tàn: Người Việt Nam giết người Việt Nam, mà trước hết là người Miền Nam giết người Miền Nam, người Bến Tre giết người Bến Tre, người Mỏ Cày giết người Mỏ Cày, trong khi họ những tưởng đó là cuộc giải phóng, là thống nhất đất nước, thống nhất dân tộc, và giúp Hồ Chí Minh cũng như đảng Cộng Sản Viẹt Nam “xóa” cái tội lớn: Đặt bút ký tên vào Hiệp Định Genève chia cắt đất nước ở Vĩ Tuyến 17, giống như cái tội Trịnh Nguyễn chia đôi đất nước ở sông Gianh hồi cuối thế kỷ 16 vậy.

&

Trên đường ra bến sông, không có ông trung sĩ Trưởng Cuộc đi cùng, tôi hỏi thiếu tá Hải: “Ông” có suy nghĩ gì về ông trung sĩ già nầy hay không?” Tôi cố ý nhấn mạnh chữ “già” trong mấy chữ “ông trung sĩ già”. Thiếu tá Hải hiểu ý tôi, hỏi lại: “Anh nghĩ người già thì sao?”

-“Mèo già hóa cáo mà ông! Ở những nơi, những đơn vị có những người già, già tuổi, già việc họ trở thành những con cáo của đơn vi, những người “ăn cơm lính mòn răng”, họ khôn lắm. Các sĩ quan trẻ bị họ “qua mặt” như không?” Tôi nói.
-“Vậy anh nghĩ gì về ông trung sĩ già vừa rồi.”
-“Cù lao Tân Phú Đông được coi như vị trí tiền tiêu, tuyến đầu của tỉnh Gò Công. Bên Gò Công là ta, bên Kiến Hòa là địch. Tân Phú Đông ở giữa, giữa ta và địch. Vùng nầy dân chúng nghèo, thiếu giao thông, thiếu trường học, thiếu y tế, không chợ búa… Đủ thứ “không có”, nhất là về an ninh. Chính quyền tỉnh Gò Công nhắm mục đích gìn giữ an toàn cho những quận chung quanh tỉnh lỵ, trên các trục lộ giao thông quanh thị xã hay liên tỉnh lộ đi Mỹ Tho hay đường đi “bắc cầu Nổi”, mà không có chương trình an ninh nào cụ thể hay quan trọng cho Tân Phú Đông. Có thể có khi ông trung sĩ già nghĩ như mình bị bỏ rơi. Địa lý thì rộng lớn, lực lượng quân sự, bán quân sự thì ít, không đủ sức giữ an ninh cho địa phương. Tự họ phải sinh tồn là đương nhiên.”
-“Anh nói ông trung sĩ theo Việt Cộng?” Thiếu tá Hải hỏi.
-“Tôi không nói thế. Không có chứng cớ. Ông trung sĩ già không dại gì để lại chứng cớ. Tôi nghi ông ta có thỏa hiệp – thỏa hiệp ngầm – “Mày không đụng tao, tao không đụng mày.” Đó là cách survivre những con vật già. Con sư tử già, con cọp già, con cáo già, để được yên thân, chúng thường tránh đụng độ với địch. Chúng ta để cho một ông trung sĩ già, ở một nơi hoang vắng nầy chống lại kẻ địch một mình, mà không hỗ trợ tích cực gì cả. Ông ta cô đơn với mấy cảnh sát viên khả năng không giỏi, không cao, tinh thần cũng thấp. Tội nghiệp cho ông ta chứ.”
-“Bộ Chỉ Huy cũng có hỗ trợ đó chớ!” Thiếu tá Hải nói.
-“Không đâu! Không thấm vào đâu! Nói ngay như mình. Cơm trưa xong là mình đã tính chuyện về, sợ trời tối, đường đi  nguy hiểm. Thật lòng, mình có nghĩ tới việc sẽ ở lại qua đêm với ông ta hay không? Tôi nhớ có đọc một đoạn trong hồi ký “Việt Nam Đi Về Đâu?” của ông tướng Nguyễn Chánh Thi. Ông Thi đang đóng quân đâu vùng Kiến Phong thì đại tướng Tỵ đến thăm. Ông Thi chê ông Tỵ đi thanh tra mà cứ lo về kẻo sợ trời tối, không dám ở lại với ông Thi và lính của ông một đêm. Vậy đó, thiếu tá nghĩ gì về đám đè đầu cởi cổ dân chúng ở Saigon. Họ có về Gò Công với dân chúng một đêm không, huống chi về tới Tân Phú Đông nầy mà “chiêu hồi”, “dân vận” với Việt Cộng hay dân chúng?!”
-“Ông đọc Bernard Fall đến không?” Tôi lại hỏi.
-“Tôi đọc rồi! Chỉ đọc có một cuốn “The Street Without Joy”, người ta dịch là “Con Đường Buồn Thiu.” Hồi nhỏ, tui có nghe nói tới cái tên nầy. Báo chí Saigon nói “Con Đường Buồn Thiu” là thành phố Quảng Trị. Đọc cuốn nầy rồi, tui thấy mấy ông báo chí Saigon nói bậy cả. Họ cứ ở Saigon mà nói mò, có lẽ chưa từng ra tới Quảng Trị bao giờ. Giỏi lắm thì ra tới Huế, “ngủ đò sông Hương” (2) rồi về Saigon, đâu có dám ra tới “vùng vùng hỏa tuyến”, “vùng lửa đạn”. Quê hương tui, tui biết rõ mà! Nó cũng không phải là Quốc lộ 1 ở Quảng Trị, nơi vừa xảy ra “Đại Lộ Kinh Hoàng”. Nó là con “đường cái quan” giữa Mỹ Chánh và Diên Sanh, đi qua bến đò Diên Trường, nơi có “cây đa bến cộ”. (3)
-“Anh nói “ngủ đò sông Hương” là cái gì? Thiếu tá Hải hỏi.
-“Là đi chơi đĩ! Là ngủ với đĩ!” “Sông Hương vắng khách đĩ kêu trời!” Cụ Thúc Giạ làm thơ vậy mà.” Tôi trả lời.
-“Anh nói tiếp đi!” Thiếu tá Hải giục tôi.
-“Để tui nói tiếp về Bernard Fall chút đã. Ông nầy gốc Pháp, từng theo du kích Pháp chống Đức trong Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai, tốt nghiệp ở Mỹ, dạy đại học ở Mỹ. Bỏ xứ Mỹ qua làm phóng viên chiến trường ở Việt Nam thời “Chiến tranh chống Pháp”, từng lên Việt Bắc phỏng vấn Phạm Văn Đồng, ông thủ tướng nào đó của chính phủ Quốc Gia thời Bảo Đại, từng tham gia nhiều trận đánh ở miền Bắc, miền Trung Việt Nam, viết một số sách về chiến tranh VN thời kỳ đó. Cuốn “Con Đường Buồn Thiu” là tên một bài viết cùng tên như thế. Bài nầy viết về trân đánh Camarge ở Quảng Trị, dân Quảng Trị tui thường gọi là “Trận Thanh Hương”- Thanh Hương là quê hương của Tố Hữu -. Tây đem một lực lượng lớn gồm cả Nhảy Dù, xe tăng, thiết giáp, máy bay để bao vây, cố tiêu diệt một Trung Đoàn Việt Minh, – trung đoàn 101 của tỉnh Thừa Thiên – tỉnh Quảng Trị là trung đoàn 95 – Trung Đoàn 101 hoạt động và ẩn náu ở một vùng đồng bằng nằm giữa sông Ô-Lâu và sông Diên Trường. Cuộc hành quân Camarge coi như bị thất bại vì trung đoàn 101 Việt Minh theo đường phá Tam Giang mà di chuyển ngược lên mật khu của họ ở thượng nguồn sông Bồ.

Điều tui chú ý nhất là đoạn cuối của bài viết nầy. Khi lực lượng quân sự Việt Minh đã trốn đi, chính quyền Quốc Gia tái lập, nhưng các viên chức xã ấp ban đêm không dám ở lại với dân chúng. Họ vào ngủ trong đồn của lính Dân Vệ, bỏ mặc dân làng để cán bộ Việt Minh từ dưới hầm bí mật chui lên hay từ mật khu lẻn về hoạt động. Bọn chúng lại tuyên truyền, vận động quần chúng, hay dọa dẫm khủng bố, giết chóc những ai chống lại chúng. Trong “chiến tranh du kích”, còn gọi là “chiến tranh nhân dân”, không nắm được dân thì làm sao có thể chiến thắng được kẻ thù. Điều ấy là căn bản.

Khi cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần Thứ Hai xảy ra, Bernard Fall lại rời khỏi cái ghế giáo sư đại học ở Mỹ, qua Việt Nam làm phóng viên chiến trường. Trong một lần di chuyển cùng lính Mỹ từ Phú Bài ra Vĩ Tuyến 17, chiếc xe GMC ông ngồi trên ấy bị mìn ở gần cầu An Lỗ. Ông bị tử thương tại chỗ trong khi cái “tape recorder” ông đeo trước ngực vẫn còn chạy. Cái máy ghi được cả tiếng mìn nổ. Vợ ông, bà Dorothy từ Mỹ mang cái bụng bầu qua Việt Nam để đón xác chồng về Mỹ.

Ông được chính phủ Mỹ coi như là một cố vấn đặc biệt về chiến tranh du kích.

&

Trở lại phần trước, thiếu tá Hải hỏi:
-“Ông trung sĩ già nầy cũng vậy?”
-“Tôi không xác định, nhưng cần theo dõi, điều tra. Ngay như tôi, mười năm “cầm phấn bảng”, tôi cũng thấy mình “già” trong cái nghề ấy. May đó là nghề giáo, nghề đem cái tinh hoa của người xưa mà truyền lại cho người đời sau, nó tránh cho tôi nhiều điều tệ hại.”
-“Anh nói cũng có lý. Như hôm nay, mình thì công cốc, có phát hiện được thêm mục tiêu nào đâu mà anh lại suýt chết.”
-“Muốn chấm dứt “con đường giao liên” thì mình phải chấm dứt “mục tiêu giao liên”, nghĩa là phát hiện cho ra ai làm giao liên cho Việt Cộng. Người nầy sống “hợp pháp” bên nầy sông và làm giao liên cho Việt Cộng bên kia sông.” Tôi nói.
-“Tôi phải họp với F (cơ quan Cảnh Sát Đặc Biệt cấp tỉnh) tăng cường “Tình Báo Nhân Dân”, theo dõi kỹ hơn thành phần “Cựu Can Phạm”, “Hồi Chánh Viên”.” Thiếu tá Hải nói.
-“Chính xác. “Nhân dân theo dõi nhân dân”, theo dõi bọn giao liên mới có hiệu quả. Những cái nói thì hay như “Tình Báo Chiến Thuật”, “Tình Báo Chiến Lược” trong những trường hợp nầy, đều thua. Chiến tranh nầy là “Chiến Tranh Nhân Dân” mà. Hiểu nôm na là như vậy đấy!”
-“Nhân dân theo dõi nhân dân”. Anh không nghĩ như thế là “bá đạo” sao? Thiếu tá Hải lại nói.
-“Chịu thôi! Đó là chính trị. Machiavelli cũng vậy. “Tân Pháp” của Vương An Thạch cũng vậy. Làm cách mạng là vương đạo. Làm chính trị là bá đạo.” Tôi nói.
-“Chính trị và cách mạng khác nhau? Tôi nghĩ nó giống nhau chớ!” Thiếu tá Hải phản bác ý kiến của tôi.
-“Dĩ nhiên khác nhau. Khi ở thế chống chính quyền với khi nắm chính quyền là hai vị thế khác nhau, có khi chống nhau như nước với lửa.”
&

Chiếc “hô-bo” đưa thiếu tá Hải và tôi đưa chúng tôi về bên phía Gò Công ra tới nửa sông thì hư mấy. Người lính Cảnh Sát Dã Chiến loay hoay sửa mà chưa được.

Trời chiều!
Qua mùa thu rồi mà trời còn nóng. Buổi chiều nắng hơi dịu đi nhưng vì đang ở giữa sông, chúng tôi thấy nực, khó chịu. Thấy việc sửa máy còn lâu, thiếu ta Hải rủ tôi: “Xuống tắm chơi đi “ông”!
Tôi từ chối, ngồi nhìn thiếu tá Hải vùng vẫy bơi lội quanh chiếc tàu. Tôi nói: “Nếu đây là sông Thạch Hãn thì tôi xuống ngay.”
-“Sao vậy? Nước sông Thạch Hãn mát hơn?”
-“Không phải! “Tắm mát” là sông Đào. “Muốn tắm mát lên ngọn sông đào. Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh.  Đó là sông Hương. “Chẳng thơm cũng thể hương đàn, Chẳng trong cũng thể nguồn Hàn chảy ra.” Nguồn Hàn là sông Thạch Hãn, quê hương tui đó.” Tôi nói.
-“Tại sao anh phân biệt như thế. Tiền Giang cũng là con sông của nước Viêt Nam.”
-“Tui không nói như vậy. “Khi ta ở chỉ là đất ta ở! Khi ta đi đất lại hóa tâm hồn. (4) “Ông” quê ở Mỹ Tho phải không? Tiền Giang chảy qua Mỹ Tho thì con sông ấy là con sông trong lòng ông, cũng như sông Thạch Hãn là con sông trong tâm hồn tôi. Mỗi người đều có một con sông trong đời mình, con sông của thời thơ ấu, thời niên thiếu, mình quên làm sao được, nên tôi mới nói nếu đây là sông Thach Hãn, không cần ai rủ rê, tui xuống tắm ngay.
-“Ông đi lính là đi lạc đường. “Ông” đi văn chương mới đúng nghề.”
-“Tụi bạn tui nói ngược lại. Tui đi dạy là “lạc đường vào giáo dục”. Tui vô lớp thường với hai bàn tay không, không có sách vở chi cả. Bài giảng đầu niên khóa của tôi thường là “Mùa thu trong thi ca Việt Nam”, “Cõi âm trong thơ”. “Trời cuối thu rồi, em ở đâu? Nằm trong đất lạnh chắc em sầu.” Vậy đó! Bọn học trò gọi tui là “đi dạy như một nghệ sĩ”. Nghệ sĩ không làm thầy giáo được. Vũ Hoàng Chương, Đông Hồ vô lớp kể chuyện thơ, ngâm thơ nhiều hơn giảng thơ.”
-“Theo anh thì một nghệ sĩ là như thế nào?”
-“Ông” thấy rồi đó. “Ông” là một nhà thể thao phải không? “Ông” được giải bóng bàn học sinh toàn quốc. Thành ra “ông” có hai con người ở nơi “ông”. Tài năng và tâm hồn. Nghệ sĩ cũng vậy. Họ có tài năng và tâm hồn. Trần Văn Trạch là một nghệ sĩ. Ông ta là một nghệ sĩ hơn là một nhạc sĩ, cũng như Bạch Yến vậy. Cô ta là một nghệ sĩ hơn là một ca sĩ.”
-“Ai hơn?” Thiếu tá Hải hỏi.
-“Không ai hơn ai. Ca sĩ có thể hát rất hay, người ta gọi là danh ca. Danh ca không hẳn là một nghệ sĩ. Một nghệ sĩ tài ba, có khi không phải là ca sĩ hay nhạc sĩ. Có thể đó là trường hợp Phạm Duy. Tôi ngưỡng mộ ông ta như ngưỡng một nghệ sĩ hơn là ca sĩ hay nhạc sĩ. Tui không phải là nghệ sĩ. Nghệ sĩ phải có tài năng. Tui không có tài năng chi cả. Nhưng có lẽ ảnh hưởng từ bên ngoại tui, nên tui có “tầm hồn nghệ sĩ”.
-“Thành ra “ông” đi nhiều, đi từ ngoài kia vô đây. Phải không?”
-“Tui nghĩ tui có những cái “kỳ”. Đang dạy học, rồi biến cố Mậu Thân, tui bỏ dạy đi lính. Đi lính cuộc đời phiêu bạt hơn. Không đi lính thì không bao giờ tui đi qua sông Cửa Tiểu nầy, mặc dù ở lớp Đệ Tứ, dạy địa lý Việt Nam, năm nào tui chẳng dạy về 9 cửa sông Cửu Long. Vậy mà chưa ngừng đâu. Tui xin với đại tá Vệ rồi, tui sẽ đi “Về Miền Tây”. “Về Miền Tây! Có ai về Miền Tây! Lúa mùa thơm thơm mãi. Dừa xanh nghiêng chênh chếch. Cá ngược dòng sông nầy.” Nghe Hoàng Oanh hát, tôi như mê đi!
-“Bà xã “ông” có đi theo không? Bà có cằn nhằn không?”
-“Lấy chồng thì phải theo chồng, Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng theo.” Nhưng bà ấy là cái thắng, cái “phanh”. Lâu lâu bả phải “đạp thắng” cho tui chạy chậm lại, không thì rớt xuống đèo… Hải Vân. Mười năm tui đi dạy, ở yên một nơi cũng là nhờ vợ.
-“Tôi muốn hỏi “ông” một câu! “Ông” đi nhiều, vậy trong thực tế, “ông” đã qua bao nhiêu bến sông rồi? Có lẽ không bao giờ tôi ra tới ngoài ấy!” Thiếu tá Hải hỏi.
-“Sông Bến Hải nầy. Sông Thạch Hãn thì không có bến sông nào vắng mặt tôi. “Giòng sông tuổi nhỏ” như người ta thường nói mà. “Cây Đa bến cộ” nầy. “Cây đa bến cộ còn lưa, con đò đã thác năm xưa tê rồi.” “Chẳng lẽ, ôm thuyền chờ đợi mãi, Cô đành lỗi ước với tình quân.” Người Huế thường hò câu ca dao nầy, nhưng bến đò nầy là “Bến Đò Diên Trường”, trên sông Diên Trường, thuộc Quảng Trị. Tui đi chơi – thật ra là đi hành quân với lính, với thiếu úy Trịnh Dũng Yên – ở bến đò nầy lúc tôi mới 13 tuổi. Bến đò sông Ô Lâu, ranh giới châu Ô với châu Rí đời Huyền Trân Công Chúa, sông Thu Bồn ở Hội An, sông Vệ, sông Trà Khúc, sông Đà Rằng… Nhiều lắm kể không hết đâu!
-“Cơ hội nào mà “ông” đi nhiều vậy?”
-“Đi chấm thi! Mấy năm đi chấm thi ở các tỉnh, từ Quảng Trị vô cho tới Nha Trang, còn hòa bình, bọn giám khảo chúng tôi đi xe hơi. Mỗi nơi giám thị thi hay chấm thi, ở lại năm bảy ngày, mặc sức mà “Ôi ta buồn, ta đi lang thang.”
-“Bến sông nào đẹp nhất?” Thiếu tá Hải như muốn thử tôi.
-“Bến Tầm Dương!” Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách, Quạnh hơi thu lau lác đìu hiu.”
Thiếu tá Hải cười to lên:
-“Đó là trong văn chương! “Ông” đừng “chộ” tôi. Tôi muốn hỏi Việt Nam thôi.”
-“Việt Nam thì đẹp nhất và oai hùng nhất là Bến My Lăng!”
-“Bến My Lăng ở đâu?” Thiếu tá Hải, ngạc nhiên.
-“Vậy là “ông” học trò Trường Tây rồi, không rành Thơ Mới rồi. Để tui đọc cho “ông” nghe. Chỉ những câu hay thôi nghe:

Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách,
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu.
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách,
Ông lái buồn để gió lén mơn râu.
. . . . . . . . . . .

Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã,
Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly.
Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả,
Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi.
Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách,
Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng.

Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách,
Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng.
Bến My Lăng còn lạnh, bến My Lăng,
Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng…

Tôi nói tiếp:
-“Bến Tầm Dương là ở bên Tầu, được nhắc lại trong Tỳ Bà Hành, khi Bạch Cư Dị bị đày ra đất Giang Châu. Nhưng khi Tỳ Bà Hành được Phan Huy Vịnh dịch ra tiếng Việt, người ta nói bản dịch tiếng Việt còn hay hơn cả bản tiếng Tàu của Bạch Cư Dị. Trường hợp nầy cũng giống như Truyện Kiều của Nguyễn Du vậy. Cái của Tàu trở thành cái của ta mất rồi. Thành ra, bến Tầm Dương là của ta, đâu còn là của Tầu nữa. “Ông” biết không?  Theo tôi nghĩ, Dư Hoài, Thanh Tâm Tài Nhân, Bạch Cư Dị chỉ là những nhà thơ. Chúng ta có Nguyễn Du, Phan Huy Vịnh lại là những nghệ sĩ. Nghệ sĩ cảm nhận về cái đẹp, cái hay tài tình hơn những nhà văn thơ.”
-“Bến My Lăng” là một bến đò tưởng tượng, của nhà thơ Yên Lan. Bài thơ “Tiền Cách mạng tháng Tám”, nó có giá trị như một bài thơ có tính “cách mạng tiểu tư sản”, chống Pháp giành độc lập, thành ra không ai nhắc đến.
-“Sao lại không ai nhắn đến! Sao anh lại nhớ!”.
-“Đã gọi là bản chất tiểu tư sản thì Cộng Sản cho vô sọt rác. Quốc Gia thì cho rằng Yến Lan là Việt Cộng, mặc dầu ông ta ở trong “Bàn Thành Tứ Hữu.”
-“Bàn Thành Tứ Hữu” là sao?”
-“Là bốn nhà thơ nổi tiếng của “Bàn Thành”, là đất Bình Định, là nơi có thành Đồ Bàn. Các nhà thơ đó là: Quách Tấn, Chế Lan Viên, Yến Lan, Hàn Mặc Tử.” Tôi giải thích.
-“Hàn Mặc Tử thì tôi có nghe nói.” Thiếu tá Hải góp ý.
-“Đúng ra nên kể thêm Bích Khê, nhưng Bích Khê bệnh rồi qua đời sớm.
-“Anh nói tiểu tư sản là thế nào?”
-“Người qua sông, một kỵ sĩ, người ấy không phải là người tiểu tư sản sao? Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly, gọi đò thì hối hả, giống như “Ngọc Châu Chấu” trong Dòng Sông Thanh Thủy của Nhất Linh. Ông già lái đò mà phong thái như một ông tiên: Nằm dưới trăng đọc sách như nhân vật chính trong “Giảng Sách Dưới Trăng” của Vũ Hân. Cỡ như cô gái trong “Bến Đò Ngang” còn bị vứt bỏ nữa là.”
-“Bến Đò Ngang nào?
-“Bến đò biên khu lúc sương buông, Có đôi đơn vị lặng sang sông… Người ơi! Nhớ chăng! Mắt cô lái nhìn theo là lòng dân chờ mong. Ngày mai sáng tươi…”

Nghe tôi hát vừa dứt, thiếu tá Hải hỏi tôi:
-“Bài nầy của Việt Cộng?”
-“Việt Cộng đâu! Thời kỳ đầu kháng chiến thì đúng hơn. Mặc dù tác giả là Cao Xuân Hạo, một tay Việt Cộng, nhưng bài hát của ông ta chưa “tẩy não tiểu tư sản” nên đâu ai dùng. Bên Quốc Gia thì cho là của Việt Cộng, bên Việt Cộng thì cho là tiểu tư sản phản động.
-“Hồi đó anh có ở vùng Việt Minh?” Thiếu tá Hải hỏi.
-“Năm 1947, 48, Việt Minh lo chạy trốn. Họ gọi là “Bảo toàn lực lượng”. Ba tôi “theo cơ quan”, chạy lên chiến khu Ba Lòng, gia đình tôi đi theo. Ở bệnh viện, tôi chỉ nghe mấy anh chị y tá, phần đông là học sinh đi kháng chiến. Họ thường hát những bài của Văn Cao: “Giọt Mưa Thu”, “Suối Mơ”, “Bắc Sơn”… Phạm Duy thì chỉ có bài “Chinh Phụ Ca”. Rồi dần dần, người ta bỏ kháng chiến về hết. Ba tôi mất trên chiến khu rồi, mẹ tôi đem các con về “theo Tây”. Đâu có biết hát bài gì cách mạng đâu. Mãi đến khi tôi đi học lại rồi, khoảng 1949, 50 mới hát “Nhạc Tuổi Xanh”. “”Về Đồng Quê”, “Đường Về Quê”… của Phạm Duy.”
-“Tôi có chuyện nầy. Để tôi kể cho anh nghe. Khoảng năm 1949, gia đình tôi đã “hồi cư”. Mẹ tôi có người cháu gọi mẹ tôi bằng o, trong Nam gọi bằng cô đấy. Anh ta còn trẻ, tên Hoàng Thái Bình, mới hơn 20 tuổi, chưa vợ con, anh ta vô ra “vùng Việt Minh” thường xuyên. Đi cỡ vài tuần, anh lại ra. Ra vài tuần, anh lại vô. Bà con nghi anh làm “mật thám” cho cả hai bên, như sau nầy người ta gọi là “gián điệp nhị trùng”. Từ vùng Việt Minh ra, anh đi uống rượu, cặp vài cô bồ trẻ, đẹp, gặp “ai” đó, không cho ai biết, rồi lại vô vùng Việt Minh. Thấy tôi ưa hát, chính anh ta tập cho tôi hát bài “Bến Đò Ngang” của Cao Xuân Hạo, Bài “Giòng Ô Lâu”… Thượng nguồn sông Ô Lâu là căn cứ Việt Minh. Một năm sau thì anh biệt tích. Bà con bảo là anh bị Việt Minh thủ tiêu rồi, có lẽ họ không cần anh ta nữa. Bài “Bến Đò Ngang” nầy, về sau tôi cũng có nghe chị Hoàng Thị Ái Loan hát, khi gia đình chị mới ở chiến khu về. Hà Thanh cũng có hát trên Đài Phát Thanh Huế, trước năm 1954.”
-“Bài nầy có gây ấn tượng gì cho anh?”
-“Người ơi! Nhớ chăng?! Mắt cô lái nhìn theo là lòng dân chờ mong. Ngày mai sáng tươi!… Cũng giống như bài tôi hát ở trường Tê-Rê-Xa của nhà thờ Thạch Hãn vậy: “Mẹ ơi! Đoái thương cho nước Việt Nam!” Ba mươi năm chinh chiến rồi, bao nhiêu tang thương mà tôi có… thấy gì đâu: Không có “ngày mai sáng tươi”, cũng không có “đoái thương cho nước Việt Nam”. Chiến tranh vẫn còn, đất nước vẫn điêu linh. Tôi từ ngoài sông Thạch Hãn vô tới sông Tiền nầy mà tìm đánh nhau với Việt Cộng. Anh thấy có “kỳ” không?
-“Tại Bắc Việt xâm lăng mình chớ!” Thiếu tá Hải nói, nghe như một lời than.

Trong khi anh Cảnh Sát Dã Chiến đang sửa máy ghe thì chiếc ghe từ từ trôi theo dòng nước, giạt về phía cù lao Tân Phú Đông. Nhìn quang cảnh chung quanh, thiếu tá Hải hỏi:
-“Nếu vùng cù lao nầy bị động, Việt Cộng có từ bên Thừa Đức, không đi theo con đường nầy mà đi vòng ra biển không?”
Anh Cảnh Sát Dã Chiến trả lời:
-“Sao lại không. Gió biển lộng từ trưa. Sau nửa đêm là êm. Có khi êm lắm, đi xuồng như đi trên sông. Việt Cộng từ Kiến Hòa có thể đi vòng ra biển rồi tấp vô biển Gò Công dễ ợt!”
-“Ngoài biển có tàu tuần?” Tôi hỏi.
-“Tuần gì nỗi!” Anh Cảnh Sát Dã Chiến nói. “Trời nước mênh mông. Với lại tàu tuần Hải Quân chạy ngoài xa. Việt Cộng đi gần bờ. Ngay trên sông nầy, Giang Cảnh còn chưa kiểm soát nỗi, huống chi ngoài biển.”
-“Chim trời cá biển, biết đâu mà tìm.” Thiếu tá Hải nói.
-“Vậy mà tôi từ ngoài kia vô đây đi tìm Việt Cộng! “Ông” thấy tui có “hoài công đi tìm em” không?” Tôi cười, nói đùa.
-“Ai bắt ông vô đây? Tự ông muốn chớ!”
-“Muốn thì không phải muốn đâu. Khi tôi nhận sự vụ lệnh đi Gò Công, tôi nói “Gò Công nhỏ xíu, buồn lắm!” Đại tá Vệ cười, an ủi tôi: “Gò Công yên lắm. Về Saigon thăm gia đình cũng gần.” Tui nghĩ khác: Hồi thơ ấu, ngoài cái thị xã Quảng Trị nhỏ bé, tôi chỉ muốn đi Huế. Huế là kinh đô, có cung vàng điện ngọc. Lớn lên, học địa lý nước ta, biết Cửu Long có 9 cửa, tôi lại mơ xa hơn. Những buổi chiều đi chơi ở sân ga, nhìn những chiếc tàu đen đi xa về phương Nam, tôi lại mơ những chuyến đi “lãng tử” như các bạn tôi thường gọi tôi như thế. “Bánh xe quay nhanh nhanh, chiếc thân xe rung rinh…” Thành phố quê hương nhỏ bé buộc ràng chân tôi quá. “Chín con long thật lớn, Muốn đem tin tới nàng. Núi ngăn không được xuống. Chúng kêu ca dưới ngàn.” “Chín con long” là 9 cửa sông Cửu Long, có phải không? Núi nào “ngăn không được xuống”. Có phải Trường Sơn?!
-“Nói như anh thì Trường Sơn và Cửu Long có liên hệ đến nhau!” Thiếu tá Hải hỏi.
-“Tui vừa đọc cuốn sách của nhà tướng số Huỳnh Liên viết về “Khổng Tước Nguyên”. “Nguyên” là cái gò, “không tước” là con chim công. “Khổng Tước Nguyên” là Gò Công. Xứ nầy có nhiều cái lạ lắm. Ở miền Nam nầy, tui đi nhiều, đặc biệt tui thấy người Gò Công gần giống với người Huế.”
-“Thật sao?”
-“Đây nè! Gò Công cũng có “hoàng gia” đấy. Ngoài “Lăng hoàng gia” là khu mộ của gia đình ông Phạm Đăng Hưng, tiếng tăm cũng vang dội với tên bà Từ Dũ là mẹ vua Tự Đức. Bà là Hoàng Thái Hậu, nổi tiếng dạy con hay. Ông Tự Đức lên làm vua rồi mà còn phải nằm sấp xuống sập, đưa đít cho mẹ đánh đòn. Một “hoàng gia” khác nữa, ở Đồng Sơn là bản quán của Bà Nam Phương Hoàng Hậu. Người dân Huế khen bà Nam Phương có lòng yêu nước hơn yêu đạo. Bà học bên Tây về, tư tưởng tiến bộ, không chảy quanh cái ao làng như mấy ông cha nhà thờ ở thôn quê, chưa ta khỏi mấy hàng tre. Dân Gò Công trọng sự học, chuộng khoa bảng, có nhiều người học giỏi, bằng cấp cao như ông luật sư “phò mã” Vương Quang Nhường, giáo sư Nguyễn Văn Bông mới bị Việt Cộng ám sát. Ngoài Trương Định, đừng quên bà Nguyễn Thị Sanh là em cậu cô với Bà Từ Dũ. Chính Bà Từ Dũ gả Bà Sanh cho Trương Định để Bà Sanh giúp tiền bạc, lương thực cho binh lính Trương Định đánh nhau với Tây. Cái tinh thần chống Tây vì “trung quân ái quốc” của dân Gò Công không khác chi người dân Huế “tui” bao nhiêu.
-“Nói như anh thì sông Cửa Tiểu nầy là con long thứ nhứt! Cửa Tiểu lại là đất Gò Công, dính líu gì tới Khổng Tước Nguyên.”
-“Có cái lạ lắm “ông” à! Khổng Tước Nguyên là “Cái Cuối Cùng” của dãy Trường Sơn. Trong khi đó, sông Cửa Tiểu cũng là “Cái Cuối Cùng” của sông Cửu Long. Hai cái cuối cùng gặp nhau một chỗ, một bên là “sơn”, một bên là “thủy”. Sơn, Thủy gặp nhau, theo mấy ông thầy địa lý, họ nghĩ gì? Không lý đây không phải là “địa linh”.
-“Có “địa linh” thì có “nhân kiệt”! Phải không?
-“Đó là khoa phong thủy! Nói tới phong thủy là nói tới cái gì huyển bí; người ta thường gọi là “Khoa học Huyền bí”, huyền bí của núi với sông, là sơn, thủy. Nhưng sơn thủy có rất nhiều bí mật, bí mật như “Vàng và Máu” của Thế Lữ. Ví dụ như nói về Trường Sơn thì từ Kỳ Lừa ở Lạng Sơn đã có “nàng Tô Thị” rồi. Nàng Tô Thị không phải là câu chuyện huyền bí, kỳ lạ hay sao. Rồi từ đó mà đi dài về phương Nam, Trường Sơn có biết bao nhiêu điều huyền bí. Cái huyền bí của Trường Sơn dính liền với cuộc Nam Tiến của người Việt Nam. “Nước non xa nghìn dặm, chúng ta đi nghìn dặm cùng nhau tiến về Nam.” Bài nầy của Lưu Hữu Phước, “ông” biết không? “Hồng Lĩnh Sơn Cao” (5) có nhiều bí ẩn với một trăm ngọn núi mà ngọn nào cũng có bước chân của Nguyễn Du đặt tới. Đèo Ngang cũng nhiều có nhiều câu chuyện bí ẩn, người đời xưa như Bà Huyện Thanh Quan khi “Bước tới đèo ngang bóng xế tà!” Ngày nay, trong “Vang Bóng Một Thời” của Nguyễn Tuân cũng không thiếu điều kỳ lạ như thế! Sông Gianh thì “mi có hờn chăng!” Hờn vì đất nước chia cắt. Hờn như sông Bến Hải ở quê tui vậy… Dài cho tới “Bên Dòng Sông Trẹm” có khỉ lấy người. Kể sao cho hết!
Anh lính Cảnh Sát Dã Chiến nói:
-“Em có điều thắc mắc về xứ Gò Công nầy?”
-“Điều chi?” Thiếu tá Hải hỏi.
-“Xứ nầycó câu hò: “Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc, Gió nào độc bằng gió Gò Công.”
-“Còn hai câu nữa.” Rồi thiếu tá Hải đọc tiếp: “Anh thương em từ thuở má em hồng, Bây giờ khôn lớn em lấy chồng bỏ anh.”
Thiếu tá Hải quay sang hỏi tôi:
-“Anh Hải dạy Việt Văn có biết mấy câu nầy không?
-“Tui có đọc một bài báo lâu quá, quên mất tên, trên báo Phổ Thông của ông Nguyễn Vĩ. Theo tác giả, bờ sông ở thị xã Châu Đốc cao, nên đứng dưới ghe nhìn lên ngọn đèn đường trên đường phố thấy nó cao lắm. Có người lại giải thích đoạn sông Bassac chảy qua thị xã Châu Đốc rộng lắm, giữa có cái cồn. Để ghe tàu khỏi đụng nhau – vì tàu Cần Thơ/ Pnom Pênh thường qua lại chỗ nầy, nên người Pháp thời đô hộ cho dựng một cột đèn trên cồn nầy. Cột đèn nầy cao. Còn gió “độc” Gò Công là do trận bão năm Thìn là năm 1904, thổi qua tỉnh nầy, nhà cửa sụp đổ nhiều lắm, dân chúng nhiều người “màn trời chiếu đất.” Gió “độc” nầy, không phải gió làm cho người ta bị bệnh đâu! Bây giờ gió trên sông Cửa Tiểu nầy mát… thất mẹ.”
-“Tôi muốn hỏi anh Hải một điều. Phải đất Gò Công là “đất tận cùng”. Vậy thì Cà Mau không phải là nơi tận cùng của nước ta?”
-“Khi đọc “Khổng Tước Nguyên” của ông Huỳnh Liên, tui mới có nhận xét nầy. Trước kia, khi còn đi dạy, tôi chưa “thấy” nó. Theo cách nhìn của tui, dãy Trường Sơn, chạy dài từ Bắc chí Nam, vô tới Kontum thì toàn là núi. Từ Kontum xuống Pleiku, Buôn Mê Thuột là Cao Nguyên, Việt Cọng gọi là Tây Nguyên. Nguyên có nghĩa là “đồng bằng”, đồng bằng ở vùng cao thì gọi là cao nguyên. Từ Đắc Nông về phía Nam là Miền Đông Nam Bộ, đất cao hơn Miền Tây Nam Bộ là vùng đồng bằng, đất ruộng. Thành ra vùng Đồng Nai/ Biên Hòa/ Saigon là nơi tiếp giáp với vùng đồng bằng Long An, Định Tường. Nhìn chung, nếu tính theo cái “triền” của Trường Sơn thấp dần về phương nam, thì Gò Công là phần đất cuối cùng của dãy Trường Sơn. Về phía sông Cửu Long, nhìn trên bản đồ, thấy rõ lắm. Cửa Tiểu, cửa Đại là phần cuối cùng của Tiền Giang. Nơi nó bắt đầu là bên Tây Tạng. Nơi nó chấm dứt là cù lao Tân Phú Đông của Gò Công.

Đây là nơi gặp nhau của “hai cái cuối cùng”, một cái của núi, một cái của sông. Đó là việc của thiên nhiên, còn bàn tay của con người thì ngay Tân Phú Đông nầy, người ta thấy còn có “Pháo Đài” ở ấp Pháo Đài. Đời vua Minh Mạng, tôi nhớ chừng như thế, cho đặt hai cây súng “thần công” ở đây để chống ngoại bang xâm lược. Ở ấp Pháo Đài có “đồn binh” của Trương Định. Sau khi Trương Định qua đời, bà Trần Thị Sanh lập đền thờ thờ chồng ở đây. Việc xây đền thờ phải lén lút vì Tây cấm thờ vị anh hùng đã nổi lên chống Tây.

Ngay từ thời nhà Nguyễn, tổ tiên chúng ta thấy vị trí tiền tiêu của đất nước mình nên đã đặt súng thần công ở đây. Năm 1859, Genouilly đánh chiếm Gia Định qua ngã Cần Giờ chớ không qua ngã cửa Tiểu, cửa Đại.
-“Tại sao?” Thiếu tá Hải hỏi.
-“Ông nên nhớ việc khai thác, phát triển vùng “Đất Phương Nam” nầy, công lao của người Tàu không nhỏ, giống như công lao của người Tây Ban Nha ở vùng phía Tây nước Mỹ vậy. Khi những người Tàu “phản Thanh phục Minh” từ bên Tàu chạy trốn qua Việt Nam, vua nhà Nguyễn không dám cho họ định cư ở miền Trung. Vua “lạnh giò”. Cho chúng nó ở gần bên, chúng nó cướp ngôi lúc nào không hay cho nên cho chúng định cư ở miền Nam xa xôi, có bề gì cũng dễ đem quân đến dẹp. Tên tướng Tàu Trần Thượng Xuyên với binh lính của ông ta định cư ở cù lao Phố là vùng Biên Hòa bây giờ, xưa có tên gọi là Đông Phố. Dương Ngạn Địch thì định cư ở Mỹ Tho. Bọn họ khai khẩn đất ruộng, buôn bán, trong nước, ngoài nước, kinh tế phát triển. Mỹ Tho phát triển hơn Biên Hòa nên được gọi là Đại Phố. Đặt súng ở giữa cửa Tiểu cửa Đại là bảo vệ Mỹ Tho của “ông” đấy.

Tây chiếm Nam Bộ rồi thì Pháo Đài bỏ hoang, súng càng ngày càng bị rỉ sét ăn. Khi chiến tranh Việt Pháp bắt đầu, Việt Cọng gọi là “chống Mỹ xâm lược” nhưng có thằng Mỹ nào xuất hiện ở Tân Phú Đông đâu, cũng như chẳng có thằng Tàu, thằng Nga nào ở đây cả, mà tụi Bắc Việt cũng không có mặt ở đây luôn. Đây chỉ có “Đồng Khởi”. “Đồng Khởi” là người miền Nam giết người miền Nam, là người dân Bến Tre vượt sông Cửu Long qua giết người Gò Công, dọn đường cho người Miền Bắc xâm lăng Miền Nam. Đó là công củaNguyễn Thị Định. Còn như chiều hôm nay thì người Bến Tre giết tui mà giết trật. Tui không phải là người miền Nam, nhưng dù gì cũng là người bên nầy vĩ tuyến. Chúng ta giết nhau “cho Cộng Sản Bắc Việt”!
-“Ông” tả oán nãn quá!” Thiếu tá Hải cười, nói.
-“Như tui nói, Tân Phú Đông nầy là vị trí tiền tiêu. Xưa đã vậy mà nay cũng vậy. Tuy nhiên, ít ra, bây giờ nó là tiền tiêu để ngăn Việt Công từ mật khu của chúng bên Kiến Hòa xâm nhập Gò Công. Mình phải giữ thật vững vị trí tiền tiêu nầy. Tại sao lại bỏ nó cho một ông cảnh sát già, mấy anh cảnh sát trẻ với mấy ngoe cán bộ Xây Dựng Nông Thôn. Đánh Việt Cộng là đánh từ nông thôn, từ “hạ tầng cơ sở Cộng Sản”, chương trình Phượng Hoàng đã nói như thế, tư tưởng căn bản của ông Nhu trong “Ấp Chiến Lược” là như thế. Bỏ “quên” đâu hết rồi!”
-“Mình cho Giang Cảnh tuần tra trên sông rồi mà!” Thiếu tá Hải nói.
-“Một mình Giang Cảnh mà làm gì được. Tuần rồi giết được hai tên Việt Cộng từ bên Kiến Hòa mò về, nói cho đúng, cũng là “Cò ỉa miệng ve”. Tui cứ thắc mắc hai chữ “Phượng Hoàng”. “Phượng hề! Phượng hề! Qui cố hương! Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng.”  Không phải thế, không phải văn chương. Phượng Hoàng ở đây là “phối hợp”, là cái áo ngụy trang của các đơn vị chống Cọng phối hợp với nhau. Mỹ bỏ chương trình nầy rồi thì coi như “phượng hoàng bay cao!”
-“Nhiều khi tôi thay ông Bách tham dự các buổi họp “Phượng Hoàng cấp tỉnh”. Tôi thấy mất thì giờ! Chẳng đâu tới đâu.” Thiếu tá Hải kể lại.
-“Thật ra, thông thường đó là công việc của các cơ quan an ninh: Cảnh Sát Đặc Biệt, Phòng Hai Tiểu Khu, Xây Dựng Nông Thôn. Các cơ quan khác như Dân Vận Chiêu Hồi có “phối hợp” cũng chỉ là chiếu lệ… Từ khi Mỹ “lơ là” Phượng Hoàng không còn hoạt động hữu hiệu như trước. Tui thấy đáng tiếc đấy!” Tôi nói.
-“Ví dụ như hồi Mỹ còn đặt nặng chương rình “bình định nông thôn”, theo tôi nghĩ, tình hình Tân Phú Đông không như vầy đâu!”
-“Hôm tui về Đồng Sơn, anh Xã Đoàn Trưởng (Xây Dựng Nông Thôn) nói một câu làm tui ngạc nhiên: “Việt Cọng ghét tụi em lắm. Giết được một cán bộ, chúng nó mừng hơn một anh lính bên Quân Đội.”

Tui không trả lời, tui sợ bày cái dốt của mình ra. Về nhà, nói chuyện với mấy trung sĩ Cảnh Sát Đặc Biệt từ Kiến Hòa mới đổi sang Gò Công, mấy anh đó cười: “Thiếu úy biết tại sao không? Bởi vì cán bộ Bình Định Nông Thôn nó biết từng nhà, từng người trong xã của họ. Nhà nào “hồi chánh viên”, nhà nào “cựu can phạm”, nhà nào có liên hệ “thân nhân tập kết” ra Bắc hay “vô bưng”… Bọn họ biết rõ hơn cấp trên của họ, lại “cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân” thì bọn cán bộ nằm vùng “chết cứng”, không trốn khỏi xứ thì cũng bị nắm cổ. Gần giống như “Diệt Trừ Sốt Rét” hồi xưa vậy mà.”
-“Diệt Trừ Sốt Rét” dính dáng gì tới đây?” Ngạc nhiên, tôi hỏi mấy trung sĩ Cảnh Sát Đặc Biệt.
-“Xịt DDT dưới gầm giường nhà người ta mà không thấy nắp hầm bí mật sao? Việt Cộng tụi nó nghi “Xịa” dùng nhân viên “Diệt Trừ Sốt Rét” để kiểm soát, theo dõi từng nhà đấy. Xịt thuốc xong, còn ghi “dấu hiệu” trước mỗi nhà để ra dấu đấy! Nhà nào “sao là sao” đều có dấu hiệu khác nhau cả. Việt Cộng có giết nhân viên Diệt Trừ Sốt Rét là vì chúng nó nghi ngờ đấy. Nghi ngờ là giết ngay. “Giết lầm hơn bỏ sót.” Việt Cộng mà.”
Thiếu tá Hải nói:
-“Tôi không hiểu sao, bỗng nhiên Mỹ gần như “giải tán” bộ “Xây Dựng Nông Thôn”: giảm bớt cán bộ, cho qua Cảnh Sát, tướng Thắng thôi giữ chức bộ trưởng, Bundy thôi làm phó đại sứ, về Mỹ. Bỏ nông thôn là thua…”
-“Thiếu tá biết lực lượng nào chống Cộng hữu hiệu nhứt không? “Dĩ độc trị độc đấy. Hay lắm.” Tôi nói.
-“Anh nói Pru với “Võ trang tuyên truyền”. Thiếu tá Hải nói.
-“Chính xác. Họ có hai lợi thế. Phần đông là “dân Chiêu Hồi”, từng theo Việt Cộng, biết hết các sinh hoạt, “đường đi nước bước” của Việt Cộng nên họ vô tới mật khu rồi mà tụi Cộng không biết gì hết. Chiến thuật của họ “Bất nhập hổ huyệt, an đắc hổ tử”, “Quày ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.” Tụi Cộng chết không kịp ngáp là do họ đấy. Tui thường thắc mắc: Tại sao không phát triển những lực lượng như vầy. Vô tích sự nhứt là đám Cảnh Sát Dã Chiến”. Ở Saigon, người ta còn dùng Cảnh Sát Dã Chiến dẹp biểu tình, chớ ở thôn quê, Cảnh Sát Dã Chiến làm công việc gì?
-“Tui gặp một chuyện nầy, hay lắm. Năm ngoái, khi còn ở Quân Đội, tui dẫn một đám “Hướng Đạo Sinh Quân Đội” đi cắm tại ở “Rừng Chí Linh” tui ngạc nhiên vô cùng. Cách tổ chức “Trung Tâm Huấn Luyện Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn” ở Vũng Tàu lạ lắm.”
-“Tối hôm tui ra đó nhằm “Lễ Mãn Khóa” viên chức xã ấp các địa phương về học. Thấy họ “hoan hô anh đại tá Bé” tui cũng lạ. Họ gọi “đại tá Bé” bằng “anh”, không gọi bằng “ông”. Nói vài lời chia tay với học viên, trước khi họ “về lại xã ấp”, ông Bé không mang loon, mặc bộ đồ bà-ba đen giống như cán bộ xã ấp. Lời ông nói không có gì đặc sắc, nhưng tui thấy họ không có vẽ “xa cách” như trong Quân Đội. Đây là cách huấn luyện, sinh hoạt “quân” trường gần với lịch sử hơn, gần với dân chúng hơn. Chẳng hạn như trước khi khai giảng khóa học, họ phải làm lễ ở “Nhà thờ vua Lê Lợi”, tôn vinh ông vua nầy như là “ông tổ” của “chiến tranh nhân dân”, “chiến tranh du kích”. Bài giảng đầu tiên là đề tài “Mười năm bình định giăc Minh” như trong lịch sử. Sinh hoạt, học tập, thảo luận, trao đổi, văn nghệ, hát hỏng, ăn uống thì “hằng đội tự trị” như trong Hướng Đạo. Ở quân trường, cán bộ hô “đứng” thì khóa sinh hô “dậy” hoặc “ngồi thì hô “xuống”.  Ở đây khác: Cán bộ hô: “Trời ta”, học viên hô: “Ta đứng”. Cán bộ hô: “Đất ta”. Học viên hô “ta ngồi.” Rồi ngồi xuống. Đối với người dân quê, học hành ít, nhưng có lòng yêu quê hương làng nước mình, cách hô như thế, kích thích lòng yêu quê hương đất nước của họ, lòng kiêu hãnh về làng nước mình nhiều lắm. Nội dung những bài hát cũng vậy, nói về quê hương, chớ không lãng mạn, ủy mị… Tui cũng thấy thích huống chi người nhà quê thật thà, chất phác, dễ bị tuyên truyền. Đêm đó, tui ngủ lại ở ngôi nhà thờ vua Lê Lợi. Ông cán bộ già cho biết hôm ông Humphrey, phó tổng thống Mỹ qua Saigon dự lễ nhậm chức của ông Thiệu, ông ta ngủ lại ở ngôi nhà thờ nầy, chuyện trò với ông Bé, ông Polgar… Ông Thiệu “sợ” ông Bé là vì đấy.  Ông Bé được đám viên chức xã ấp hoan nghênh, cán bộ Xây Dựng Nông Thôn ủng hộ, lại có Mỹ phía sau, chắc gì ông Bé thua ông Thiệu, nếu ông Bé tranh chức tổng thống. Ông Thiệu “hạ bệ” ông Bé là phải.”
-“Anh nói tuyên truyền?”
-“Vâng! Tuyên truyền lòng yêu làng nước, mình.” Tôi trả lời.
-“Ở mỗi xã, nếu viên chức xã ấp, cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ, Thông Tin Chiêu Hồi… phối hợp với nhau mà làm việc, Việt Cộng không xây dựng được “hạ tầng cơ sở”, không làm gì được.” Thiếu tá Hải nói.
-“Chúng sẽ phá chớ! Chúng sẽ điều “Huyện Đội”, “Tỉnh Đội”, “Bộ Đội Địa Phương” hay “Quân Chính Qui” về tấn công, đánh phá. Nhưng tới đó, chúng sẽ thua. Không có “hạ tầng cơ sở” thì chín mươi phần trăm, chúng thua.”  Tôi nói.
-“Thua như bọn Huk ở Phi hay du kích bên Mã Lai vậy!”
-“Nước ta là một nước nông nghiệp, “nông vi bổn”, thôn quê thì rộng, thành phố thì ít. Bên ta cũng như bên Tàu vậy, khi người dân muốn chống bọn thống trị, vai trò nông thôn là chính. Lê Lợi, anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa, “Cách Mạng Tháng Tám”, thậm chí các đám giặc nổi lên chống triều đình, cũng từ nông thôn mà ra. Bỏ nông thôn, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thắng Việt Cộng thế nào được?”
-“Anh nghĩ chính quyền VNCH bỏ miền quê?”
-“Chính mình cũng bỏ huống chi ai! “Ông” nghĩ như cái xã Tân Phú Đông nầy thì sao?  Cho một ông Cảnh Sát già làm trưởng cuộc ở đây, với mấy ngoe nhân viên như thế, là không bỏ hay sao, hay không quan tâm? Dân tộc Việt Nam làm nông là chính, nhưng có bao nhiêu người chiến đấu, bảo vệ nông thôn, hay để cho Việt Cộng muốn làm gì thì làm. Ban ngày thì lui tới với dân, giúp dân thì ít, hoạnh họe dân thì nhiều, đòi tiền, đòi ăn, đòi nhậu. Từ quận, từ tỉnh về tới xã ấp, cán bộ kêu dân “Ê! Ông Tư! Bữa nay có gì nhậu không?” Dân lo chạy cho cán bộ nhậu, không thì sợ bị làm khó dễ, bị bắt, bị tù… Đời người dân quê sao mà khổ thế! Mình ở cấp tỉnh còn xa dân, huống chi bọn ở Saigon thì biết mẹ gì. “Tôi đứng giữa đồng nâu, Giữa những người buốc bẫm cày sâu! Nghe vang vang từ mạch đất. Tư tưởng nào cũng từ đất mà ra.” Trong khi đó thì Trung Ương biết gì về thôn quê? Lo gì cho thôn quê? “Các anh trồng những dòng hoa đại lộ! Những dòng hoa cổ lổ, Những dòng hoa đau khổ quá đi thôi.” Trồng hoa trên đại lộ Trần Hưng Đạo là phục vụ cho ai? Từ thời tiền chiến, Hoàng Đạo trong Tự Lực Văn Đoàn, qua tiểu thuyết “Con Đường Sáng”, đã chủ trương xây dựng một nông thôn mới cho thôn quê nước ta. Vậy mà đến bây giờ, mấy chục năm sau, nông thôn vẫn thế. Saigon vẫn ăn chơi… trong khi “chiến tranh vẫn cứ lan tràn trên ruộng đồng và làng mạc, vẫn cứ gieo tang thương và đổ nát”. Câu văn nầy là tôi học trong bài “Nhành Lúa Mới” đấy. Thiếu tá có thấy có gì đổi khác sau mấy chục năm chiến tranh không. Tối tối, người cán bộ, người lính ở trong đồn lo bảo vệ thân mình, có ai ngủ với dân, ăn với dân, sống với dân, làm lụng với dân, hay để cho bọn Việt Cộng, nói như Bernard Fall, từ hầm bí mật chui lên, từ mật khu mò về, khủng bố, mua chuộc, tuyên truyền, dụ dỗ dân ủng hộ chúng. Vậy thì khi nào tiêu diệt hết bọn Việt Cộng để chấm dứt chiến tranh. Không bao giờ!”
-“Anh bi quan đấy!” Thiếu tá Hải phê bình tôi.
-“Nhưng mà nó là thực tế xã hội miền Nam đấy. Hôm “Phối Trí Viên” hỏi các ông sĩ quan Cảnh Sát, có cả ông trung tá Điện tiểu khu phó về việc, trưởng cuộc Cảnh Sát kiêm nhiệm chức Phó Xã Trưởng An Ninh, có cả tôi nữa, tôi phát biểu việc ấy là không nên. Có hai lý do: Việc cai trị làng xã ở nước ta, ngoài Bắc cũng như trong Nam, là “tự trị”. Không thể xâm phạm vào truyền thống đó. Đưa một ông sĩ quan, người của chính phủ, làm phó xã trưởng an ninh là vi phạm vào “truyền thống tự trị” làng xã đã có từ xưa. Thứ hai, đặc biệt về tình báo, người địa phương mới biết rõ người địa phương hơn. Một ông phó xã trưởng an ninh là người trong làng, người ấy biết rõ ai là cựu can phạm, ai là hồi chánh viên, ai là người có thân nhân tập kết ra Bắc hay “vô bưng”. Họ biết rõ từng người, thậm chính biết cả cá tính từng người, ai lo làm ăn, ai ham ăn, ham nhậu, ham gái, ai có khuynh hướng bên nầy, bên kia. Một ông sĩ quan từ nơi xa tới, biết gì về người dân làng mà lo về an ninh. “Ông” đọc “Vợ Thầy Hương” chưa? Thầy Hương Quản là người làng còn bị bọn cướp mai phục giết chết thì ông sĩ quan không phải là người địa phương biết mẹ gì!
-“Vậy thì ông Cảnh Sát già ở Tân Phú Đông biết rõ người dân ở đó hơn chứ!” Thiếu tá Hải hỏi ngược tôi.
-“Ông ta có kinh nghiệm trong ngành Cảnh Sát, nhưng ông ta không phải là người gốc gác ở địa phương đó. Ông ta là người ở xứ khác tới. Về mặt tư pháp, sự có mặt của ông ta không có gì đáng nói. Nhưng về mặt tình báo, an ninh… ông ta không thể sánh bằng một người địa phương được, nhất là trong vai trò phó xã trưởng an ninh.
-“Theo anh nghĩ tại sao lại có việc trưởng cuộc Cảnh Sát kiêm nhiệm phó xã trưởng an ninh.” Thiếu tá Hải hỏi.
-“Tại vì bầu cử. Tại vì ông Thiệu không tin viên chức xã ấp, đặt một người của chính quyền trung ương bên cạnh mấy viên chức xã ấp để đe nẹt, kềm kẹp, không cho chống ông Thiệu.
-“Tôi hiểu rồi. Viên chức xã ấp, cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, vận động dân quê bỏ phiếu cho ai, người đó, ít ra có nhiều phiếu, ấy là chưa nói giữ kín việc gian lận trong bầu cử. Cái ghế của ông Thiệu bớt rung rinh. Nhưng ai dối lập với ông Thiệu?”
-“Ai được Mỹ chọn. Không được Mỹ chọn mà được dân chúng chọn thì “nguy hiểm” cho công việc chống Cộng của Mỹ ở Miền Nam. Anh cùng quê với đại tá Bé, anh nghĩ thế nào về ông ta?”
-“Tướng Nguyễn Đức Thắng, bộ trưởng Xây Dựng Nông Thôn hay đại tá Bé đều là người tốt, đạo đức cả. Tui nghe nói hai ông nầy cùng với Bundy từng đi “ngủ ấp”. Họ về ngủ qua đêm ở  một ấp, một xã nào đó mà không sợ Việt Cộng. Tui hoan nghênh lắm. Phải về quê với nông dân chớ.”
-“Anh nói ở Trung Tâm Huấn Luyện cán bộ Xây Dựng Nông Thôn có đền thờ vua Lê Lợi, coi như thánh tổ chiến tranh du kích. Theo tôi nghĩ, “Dạ Trạch Vương” mới đúng chớ!”
Thiếu tá Hải nói tiếp: “Ở trong Nam, học sinh không học chương trình bảo hộ nên không rành lịch sử nước ta. Cách đây ít lâu, một hôm tới thăm anh chị tôi, thấy đứa cháu hỏi ba nó về “Dạ Trạch Vương”. Tôi cũng hỏi anh rể tôi, mới hay “Dạ Trạch Vương” là ông tổ chiến tranh du kích Việt Nam. Anh nhớ câu chuyện về ông nầy chớ?”
-“Dạ Trạch Vương” là vua Triệu Quang Phục. Ông ta tổ chức lực lượng du kích đánh nhau với Tầu. Ở đầm Dạ Trạch, ban ngày ông và binh lính ẩn núp ở đó. Tối lại, kéo xuồng ra đánh du kích bọn Tầu, khiến bọn Tầu phải thua. Dân chúng tôn xưng ông là “Dạ Trạch Vương”. Sau ông lên làm vua.”

Một lúc, tôi nói tiếp: “Thật ra, khi Tầu xâm lăng nước ta, vì ở thế yếu, người Đại Việt thường tổ chức đánh nhau du kích với giặc. Khi quân Mông Cổ xâm lăng nước ta, vua quan nhà Trần phải rút về phía Nam, dân chúng tự mình tổ chức đánh du kích, làm tiêu hao quân địch. Công việc ấy góp phần không nhỏ cho Hưng Đạo Vương phản công về sau. Thời Nam Bộ Kháng Chiến, người Việt cũng tổ chức đánh du kích với giặc Pháp.
-“Có thắng được Pháp đâu!” Thiếu tá Hải nhận xét.
-“Chỉ là giai đoạn đầu thôi. Khi đã mạnh lên rồi, như Việt Cộng, tổ chức xã đội, huyện đội, tỉnh đội, quân chủ lực, chủ lực miền, v.v… Quân Bắc Việt kéo vô Nam hàng sư đoàn. Khi đó là “trận dịa chiến” rồi, chiến tranh du kích biến thành chiến tranh qui ước, du kích gì nữa! Chiến tranh du kích là chiến tranh của người nghèo, chiến tranh giai cấp, giữa nông dân nghèo khổ và giai cấp thống trị giàu có, giữa những nước nghèo thuộc địa cũ với bọn dế quốc, thực dân, giữa “chiến tranh vệ quốc” và quân xâm lược. Quan trọng nhất là lòng yêu nước. Khi phát động chiến tranh, không bao giờ Cộng Sản tuyên truyền chủ nghĩa Cộng Sản, mà thường núp dưới cái áo dân tộc, chủ nghĩa dân tộc. Đồng Khởi, xâm lăng Miền Nam, Cộng Sản bắc Việt hô hào chống Mỹ cứu nước, đánh đổ Mỹ Ngụy, núp dưới lòng yêu nước, yêu dân tộc. Cái áo dân tộc mà rơi xuống, dân không ủng hộ chúng nữa. Thất bại là cầm chắc. Người Miền Nam hiểu lầm Cộng Sản chính là ở đó.
-“Theo tôi nghĩ, cuộc chiến tranh nầy phải gọi là chiến tranh nhân dân mới đúng. Toàn dân chống Cộng mới thắng Cộng được.” Thiếu tá Hải nhận xét.” Rồi ông hỏi tôi: “Dạ Trạch Vương là thời kỳ nào?”
-“Tôi không nhớ rõ. Hình như trước thời Tiền Lỳ, thế kỷ thứ 6. Về vua Lê Lợi, tôi nhớ rõ hơn vì tôi dạy sử lớp Đệ Tam. “Mười năm bình định giâc Minh” là từ 1418-1428.”
-“Miền Nam nầy buồn cười lắm. Tui từ ngoài kia, vô tới miền Nam, lại thấy buồn cười hơn!” Tôi thú thật.
-Tôi hiểu. Người Miền Nam mâu thuẫn. Không ưa Cộng Sản nhưng “thiên kháng chiến”. Ông nào cũng khoe từng theo Nam Bộ Kháng Chiến.”
-“Ông” nói làm tôi nhớ lời hăm dọa của ông tỉnh trưởng hôm họp đại hội ở hội trường tỉnh. Ông đòi bắt bỏ tù hết mấy ông già sáng sáng ngồi uống cà-phê ở quán chú Cưng. Đang đánh nhau hết sức khốc liệt ở ngoài Trung, trên Cao Nguyên mà các ông già, ngồi uống cà-phê cứ “phe ta thua”, “Cộng Sản” thắng. Trong khi đó, con cháu các ông lại ở trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, cũng ngày đêm đánh nhau với Việt Cộng vậy.”
-“Phần nhiều mấy ông ấy từng theo Nam Bộ Kháng Chiến cả đấy. Theo rồi về. Hôm tôi ngồi với ông Nguyễn Thoại Kỳ, ông khoe hồi đó ông đi kháng chiến với Huỳnh Tấn Phát. Ông ta là bạn với ông Huỳnh Tấn Phát hồi mới khởi nghĩa. Cũng đáng thương cho họ, từng ôm ấp tinh thần đấu tranh giành độc lập cho đất nước khi còn trẻ, rồi mộng không thành.”
-“Vì Cộng Sản cả đấy”. Thiếu tá Hải giải thích. “Trong Nam nầy, Việt Minh cũng loại thành phần Quốc Gia ra khỏi hàng ngũ kháng chiến. Việc chúng nó giết “Đức Thầy” là rõ ràng nhứt.”
-“Không chỉ với họ, người từng theo Nam Bộ Kháng Chiến, ngay cả với dân ở các xã ấp, chính quyền không có hoạt động gì để hướng dẫn, tuyên truyền cả. Chiếu phim cũng không, văn nghệ ca hát cũng không, nói chuyện, giải thích về chiến cuộc cũng không. Dân chúng tự tìm hiểu lấy, nghe theo phe nào thì nghe.”
-“Sao lại không! Nào là “Người tình không chân dung”, “Chân trời tím” cũng hay đấy chớ!”
-“Những thứ đó mang tính giai cấp rõ lắm. Đó là thứ văn nghệ của giai cấp tiểu tư sản, của người thành phố dư ăn dư mặc, còn người dân quê thì được gì? Hồi trước, khi tổng thống Ngô Đình Diệm còn sống, thỉnh thoảng đoàn chiếu phim của tỉnh còn về xã chiếu phim “Tổng thống đi kinh lý” cho dân chúng xem. Xem cũng vui, dân còn biết ông tổng thống làm gì, ở đâu, gần dân hay xa dân! Còn bây giờ, ở nông thôn nhiều người chưa từng thấy mặt ông Thiệu, thậm chí không biết ông Thiệu là ai. Anh biết chuyện tướng Trưởng xưng là “thông dịch viên” của ông tướng Mỹ. Vậy mà một ông thiếu úy Địa Phương Quân tin thật. Tôi không hiểu Cục Tâm Lý Chiến làm ăn cái gì!”
-“Bận ngồi La Pagode làm thơ tình. Một ông sĩ quan tự xưng là “Phóng Viên Chiến Trường” mà chưa bao giờ có mặt ở một trận đánh nào, chưa bao giờ làm được một bài thơ về người lính đang chiến đấu, không có cảnh tượng “Đứa bé nhìn cha đang chờ giặc dưới giao thông hào”, hay viết một bài phóng sự ngay tại chiến trường, thua xa cô Kiều Mỹ Duyên viết “Chinh Chiến Điêu Linh”.
-“Vậy Phan Nhật Nam thì sao? Ông ta cũng viết “Ký sự chiến trường” đấy chớ!”
-“Những anh binh nhì, những anh lính Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ, mấy ai biết gì Phan Nhật Nam. Chính phủ, Bộ Dân Vận, Cục Tâm Lý Chiến, phục vụ cái gì cho những người “phi tiểu tư sản” như họ, đánh nhau với Việt Cộng ngày đêm là chính họ chớ không phải những “ông quan ngồi văn phòng”. Đừng quên cuộc “Chiến Tranh Nhân Dân chống Cộng Sản” nầy không thể thiếu tính giai cấp.”
-“Tuyên truyền cho Việt Cộng thì có đấy. Một số tuồng cải lương thiên Cộng đấy.” Tôi nói.
-“Không phải đâu! Anh định kiến đấy. Soạn giả một số tuồng cải lương có khuynh hướng thiên Nam Bộ Kháng Chiến đấy.”
-“Đọc chủ nghĩa Mác rồi, đọc cách của Cộng Sản Bắc Việt, đọc “Chủ Nghĩa Cộng Sản” của Trần Văn Toàn, tui bị ám ảnh về “đấu tranh giai cấp” của Cộng Sản nhiều lắm. Một người bạn đồng nghiệp của tui khi tui còn dạy học, hỏi: “Cậu biết thực chất của Cải Cách Ruộng Đất” của Cộng Sản là cái gì không?” Hỏi xong, ông ta nói tiếp: “Là chính sách đãi ngộ của “Đảng” đối với giai cấp vô sản đấy!” Thấy tôi có vẻ “ngơ ngác”, anh ấy nói:
-“Khi kháng chiến mới bắt đầu, cấp chỉ huy, cán bộ trong các ngành, trong bộ đội là ai? Là người tiểu tư sản chớ ai! Ở thôn quê là phú nông, trung nông; ở thành thị là tiểu tư sản thành thị. Vô sản thì biết gì mà làm cán bộ, làm trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng mà chỉ huy, đánh giặc. Sau năm 1949, khi Mao chiếm toàn thể lục địa rồi, Cộng Sản Việt Nam có chỗ dựa vững chắc là Tàu Cộng rồi, vô sản “trưởng thành” trong kháng chiến rồi, có thể làm cán bộ được rồi thì Cộng Sản bèn “biên chế”. Biên chế là sắp xếp lại nhân sự, tổ chức. Tiếp theo biên chế là Cải Cách Ruộng Đất, là loại cán bộ gốc “tạch tạch sè”; “tạch tạch sè” là tiếng lóng “tiểu tư sản” đấy. Bọn nầy cho ra rìa, biên chế, đuổi về quê…Cộng Sản đưa bọn cán bọ gốc vô sản lên thay thế cán bộ gốc tiều tư sản, trung nông, phú nông. Phải cho bọn vô sản quyền lợi gì chứ! Vậy là “Cải Cách Ruộng Đất”, lấy ruộng, đất đai, vườn tược, nhà cửa, giường chiếu, bếp núc, nồi niêu, thậm chí cái nồi đất, cái trách bể, cái chổi cùn, cũng cho bọn vô sản chia nhau. Đãi ngộ đấy. Đãi ngộ bọn vô sản đấy, để chúng một lòng một dạ theo đảng, trung thành với đảng, sống chết với đảng.” Tôi giải thích.
-“Không phải “Cải Cách Ruộng Đất” là theo lệnh Mao Trạch Đông như báo chí miền Nam nói à?” Thiếu tá Hải hỏi.
-“Cái gì chẳng rập khuôn theo “sư phụ”! Khác là khác ở thời gian, tiểu tiết mà thôi. Bên Tàu, sau khi chiếm xong lục địa, Mao cần phải thực hiện ngay “Cải Cách Ruộng Đất” để tránh nạn đói, để tiêu diệt bọn phản động. Họ có hoàn cảnh của họ. Họ cũng muốn Việt Cộng làm ngay để họ “yên tâm” ở phía Nam. Còn ở Việt Nam đã tới thời kỳ “Cải Cách Ruộng Đất” chưa hay cần nán lại một thơi gian nữa vì Pháp chưa đại bại, hay cần thiết làm ngay như bên Tàu. Mao cũng không cần biết tình hình Việt Nam ra sao. Mao cần củng cố việc cai trị bên Tầu thì Mao biểu Hồ Chí Minh làm ngay. Mao có tôn trọng Hồ hay coi Hồ có ra cái gì không thì ai biết.”
-“Vậy thì khi miền Bắc “Cải Cách Ruộng Đất”, đàn áp phong trào “Trăm Hoa Đua Nở” thì miền Nam làm gì?”
-“Làm gì thì tui đâu biết. Tìm đọc, tui chỉ thấy có mấy cuốn loe ngoe của ông Hoàng Văn Chì – Tự tìm tòi mà đọc đấy – Về cá nhân, ai ưa thì tìm đọc “Nhân Văn Giai Phẩm” – Ai không ưa thì thôi. Còn như về phía chính phủ, tui có thấy làm gì đâu?!
Một lúc sau, tôi nói tiếp:
-“Nói thật, trước năm 1954, văn nghệ ở Miền Nam, hay nói đúng hơn là ở Saigon, người ta viết thiên về “Nam Bộ Kháng Chiến” hay về “Kháng Chiến” thì nhiều hơn “Thiên Cộng”, hay theo Cộng Sản, tuyên truyền cho Cộng Sản. Có lẽ vì khuynh hướng đó nên thời kỳ ấy, ít có tác phẩm chống Cộng mặc dù Cộng Sản thủ tiêu hầu hết nhóm Cộng Sản Đệ Tứ ở Nam Bộ. Ta có thể kể Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Việt Quang, Tô Nguyệt Đình, Thảm Thệ Hà, Phi Vân…”
-“Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh tập kết ra Bắc theo Cộng Sản mà!?” Thiếu tá Hải hỏi ngược lại tôi.
-“Lý Văn Sâm theo luôn, còn Vũ Anh Khanh trốn về Nam rồi bị bắn chết!”
-“Ai bắn?”
-“Bắn bằng tên, tên tẩm thuốc độc. Vùng “phi quân sự” không được dùng súng. Chỗ ông bị bắn là Bến Tắc, thượng nguồn sông Bến Hải. Tui có tới chỗ đó, năm 1956, thời kỳ đó còn yên. Vượt sông Bến Hải ở chỗ nầy, chân không nhúng nước. Cứ nhảy trên mấy tảng đá mà qua sông. Xe tăng Cộng Sản Bắc Việt cũng vượt sông Bến Hải ở chỗ nấy mà tấn công Quảng Trị hồi “Mùa Hè Đỏ Lửa”.
-“Ông” biết bài thơ “Tha La Xóm Đạo” chớ?” Tôi hỏi.
-“Biết! Tôi thuộc cả bài hát.”
-“Bài thơ đó trích trong cuốn “Nửa Bồ Xương Khô” tập 1. Tập 1 hay hơn tập 2.”
-“Anh đọc rồi?”
-“Tui đọc năm tui học lớp Nhứt, năm 1950. Bắt đầu câu chuyện là mấy cô gái quê bàn nhau việc đi hốt xương của một người anh làm cách mạng bị Tây bắn chết. Xương đựng trong cái bồ. Mấy cô mới gom được nửa bồ thì bị Tây đuổi chạy nên mới có cái tên “Nửa Bồ Xương Khô”!
-“Đọc hồi lớp Nhứt mà nay còn nhớ là giỏi đấy!” Thiếu tá Hải khen tôi.
-“Này, tôi có hai nhận xét nầy. Từ khi có “di cư”, “văn học chống Cộng” mới mạnh lên ở miền Nam, nhưng chỉ quanh quẩn ở Saigon với Huế; ít có tác phẩm nói về miền quê. Thứ hai, trước 1945, thời tiền chiến thì lại có rất nhiều tác phẩm viết về thôn quê. Tui cố gắng tìm hiểu lý do.”
-“Văn nhạc bây giờ ít nói tới thôn quê!”
-“Người ta bỏ đi, không thấy chính quyền khuyến khích nên “thôn quê xa dần” phải không? Những bài hát như “Về Đồng Quê”, “Đường Về Quê”, “Bà Mẹ Quê”, “Em Bé Quê”… của Phạm Duy hay những bài của Hoàng Thi Thơ khi ông mới bỏ vùng Việt Minh, thậm chí cả “Lối Về Xóm Nhỏ”, “Đường Về Hai Thôn” cũng lặn đâu mất tiêu! Những bản nhạc mang tính xây dựng như những bài của Xây Dựng Nông Thôn, Cục Chính Huấn như lạc lỏng giữa chợ trời miền Nam.  Tôi thấy nhạc phản chiến xuất hiện ngày càng nhiều, tư tưởng hay triết lý tiêu cực ngày càng nhiều, ngay cả với những người đang ở trong hàng ngũ gọi là “chiến tranh tâm lý”.
-“Ví dụ?” Thiếu tá Hải gợi ý.
-“Tui nó về cái buồn chẳng hạn. “Lời Buồn Thánh”, “Cát Bụi” là cái buồn của một người. “Sầu hận cũ tim ta ai biết được”, cái buồn của Chế Linh là cái buồn thân phận của một dân tộc trên đà tiêu vong, “Tràng Giang” là nỗi buồn về kiếp người của Huy Cận. “Trên Ngọn Tình Sầu” là thân phận của muôn loài, muôn vật trong cõi nhan gian nầy. “Ông” thử nghĩ những câu như “Con dế mèn tự tử giữa đêm sương”, hay “Bầy sẻ cũ cũng qua đời lặng lẽ”  là nói tới thân phận của mọi sinh linh, cả con ve cái kiến như trong quan điểm “chúng sinh” của nhà Phật hay sao?”
Thiếu tá Hải phản bác ý kiến tôi:
-“Anh tưởng tượng quá hay sao! Tôi không nghĩ như thế. Chẳng qua, anh chàng nầy bị bồ đá, đau vô cùng, nên tưởng mình như con dế nhỏ, còn tệ hơn “Dế Mèn Phiêu Lưu” cua Tô Hoài, hay con chim sẻ. Anh ta nhỏ như con chim sẻ hay tự thấy mình nhỏ như con chim sẻ.”
-“Trên thực tế, có thể là như thế, nhưng trong văn chương, nhất là trong thi ca, có những cái, mà người ta gọi là “xuất thần”, có những cái hay kỳ lạ.” Tôi nói.
-“Tôi biết! Anh muốn nói trường hợp Paul Valery chớ gì? Câu chuyện nầy tôi nghe từ khi mới học trung học. Trường Tây mà anh. Nghe ông giáo sư văn chương giảng về thơ của mình, Valéry mới biết thơ của mình hay như thế. Cái đó tiếng Việt gọi là gì – Rồi ông ta nói, tiếng Pháp: “revelation”. Tôi nói: “mặc khải”, “Mặc khải của Thượng Đế”. Thiếu tá Hải nói tiếp: “Tôi không nói theo quan điểm Công Giáo – Tôi nghĩ Tạo Hóa thì đúng hơn. Tạo ra và giáo hóa. Phải không?”
-“Vâng!” Tôi nói – Có thể “ông” nói đúng. Cái gì thuộc về siêu hình thì không chứng minh được, không nói chắc được. Ai tin gì thì tin.”
-“Tôi hỏi anh một câu. Câu nầy thuộc văn hóa và lịch sử.”
Rồi ông ta nói tiếp:
-“Chín cửa của hai con sông Tiền với Hậu là 9 con rồng, là Cửu Long. Chín con rồng nầy có liên hệ gì tới ông Lạc Long Quân với bà Âu Cơ, tức là với “con rồng cháu tiên”. Tôi nghĩ là có đấy. Giành cho được đất Thủy Chân Lạp nầy, người miền Nam phải gánh chịu bao nhiêu gian khổ với rất nhiều anh hùng. Ba tôi ngày trước thường gọi là “Anh hùng đất phương Nam.” Người Việt di cư về phương Nam đem theo cái hào khí và niềm tự hào của vua chúa Thăng Long. Từ ngàn xưa, nhìn đâu, ông cha chúng ta cũng thấy rồng, tự thấy mình mang dòng máu Tiên / Rồng, cho nên 9 cửa con sông nầy phải là 9 cửa Rồng. Đó là niềm tự hào của cha ông chúng ta. Phải không? Tôi nghĩ rằng ông cha chúng ta đổ xuống mồ hôi với nước mắt cho vùng 9 Rồng nầy là nhiều lắm. Mỹ Tho xưa gọi là Đại Phố. Đại Phố là lớn lắm, ghe thuyền ngoại quốc vào ra buôn bán tấp nập. Để giữ Đại Phố nên phải có Pháo Đài, nay là “ấp Pháp Đài” ở cù lao Tân Phú Đông nầy. Đây lại có đồn chống Pháp của Trương Định. Khi Tây nó cai trị chúng ta, nó bỏ hoang pháo đài là vì nó không cần Cửu Long. Còn như miền Nam chúng ta, khi giành được độc lập rồi, người ta làm gì cho Cửu Long, cho 9 con rồng hay bỏ hoang như vùng nầy, Cửa Tiểu cũng như Cửa Đại.
Một lúc, thiếu tá Hải nói tiếp:
-“Ngay cả Cà Mau, mũi ông Trang cũng bị bỏ hoang, không ngó ngàng tới như cù lao Tân Phú Đông nầy. Trong khi đó, Việt Cộng làm ngược lại đấy. Vùng ấp Sò Lưới, thuộc Cái Nước, gần mũi ông Trang, chúng nó gọi là “Saigon mới”. Chúng nó “thành thị hóa nông thôn”, thậm chí “Đô Thành hóa nông thôn” thì chúng ta để cho chúng tự do tung hoành.”
Thiếu tá Hải lại nói: “Đâu có phải trong Nam không có Trường Sơn hùng vĩ như ngoài ông mà người ta bớt đi lòng yêu nước. Hồi còn đi học, đọc “Grand Coeur” bài “Lòng yêu nước”, trong đó tả cảnh có ngọn núi xanh hiện ra ở chân trời, tôi cứ lấy làm tiếc tại sao Mỹ Tho của tôi không có ngọn núi nào! Anh có nhớ bài đó không?”
-“Nhớ!” Tôi nói. “Nước Ý cũng có một dãy núi cao làm xương sống như Trường Sơn của mình nên khi từ ngoài biển xa nhìn vào, người ta thấy nó na ná như nhau. Tui không biết bản tiếng Pháp, chỉ thuộc bản tiếng Việt do Hà Mai Anh dịch, thầy bắt học trò phải học thuộc lòng. Nói xong, tôi đọc:

“Bây giờ con con bé, con chưa thể thấu hiểu được thế nào là lòng yêu nước. Rồi ra con sẽ biết. Khi con du lịch ở xa về, một buổi sáng, đứng dựa bao lơn tàu, con thấy ở chân trời một dãy núi xanh của xứ con hiện ra, bấy giờ con sẽ thấy trào lệ cảm ở lòng con dâng lên và miệng con vuột ra những tiếng kêu mừng rỡ…”

-“Hay! Dịch ra tiếng Việt cũng hay như nguyên bản của Amicis.” Thiếu tá Hải tán thán.
-“Tui thấy một điều hay nữa anh.” Tôi nói.
-“Về gì?” Thiếu tá Hải nói.
-“Về Gò Công. Gò Công có hai “mối tình vương giả”. Tui không biết mối tình nào, của bà Phạm Thị Hằng với vua Thiệu Trị hay của Nguyễn Hữu Thị Lan với ông Vĩnh Thụy, nó không vương giả chút nào mà nghe rất bình dân như trong ca dao.” Nói xong, tôi đọc tiếp:

Tay bậu vừa trắng vừa tròn,
Qua về nằm ngủ mỏi mòn đợi trông.
Bậu về xứ sở Gò Công
Qua về Thành Nội nhớ mong tháng ngày!

Đọc bài ca dao xong, tôi nằm ngữa xuống sàn tàu, đặt hai tay dưới đầu làm cái gối kê. Đầu tôi quay về hướng Tây nên mắt tôi không bị chói, thấy rõ phía trên một bầu trời xanh vô tận, như cái vô tận của vũ trụ nầy. Mầu trời xanh rất quen thuộc, giống như bầu trời xanh trên sông Thạch Hãn mà tôi đã từng ngắm khi tôi còn niên thiếu, hay màu xanh “tà áo ai bay” bên bờ sông Hương.

Câu ca dao trên nói về hai mối tình vương giả, của ông vua nào đó trong Thành Nội, nhưng những mối tình thời trai trẻ của tôi là mối tình của bọn học trò. Ngày ấy, tôi tưởng nó bền vững lắm, nhưng thật ra nó mong manh như những sợi mây nằm vắt ngang qua lưng trời, rồi mau chóng tan ra đâu đó, giữa màu xanh của vũ trụ bao la.

Trong cuộc đời phiêu bạn từ Trung vô Nam, tôi tưởng màu xanh trời vẫn đi theo tôi, khiến tôi tự hỏi cái màu xanh ấy trôi dài mãi vậy hay sao. Trong cuộc hành trình của người Việt đi về phương Nam, khi cha ông chúng ta đến đây, dừng lại ở Cửa Tiểu, Cửa Đại, cửa Cổ Chiên, Ba Thắc… Cha ông chúng ta dừng lại ở đó, nhưng mây thì vẫn trôi đi, và màu xanh trời thì vô tận.
Có cái gì người ta gọi là hữu hạn, cái gì gọi là vô hạn trong cõi nhân sinh nầy!

hoànglonghải
tháng 9/ 10/ 2019

(1)    Tiếng nầy, tôi lấy ý trong “Động Rắn Chúa”, tiểu thuyết của Lê Xuyên.
(2)    “Ngủ đò sông Hương” là ngủ với gái đĩ, như ở Saigon đi “ngã ba chía Ía” vậy.
(3)    “Bến đò Diên Trường”, trên sông Diên Trường, còn gọi là sông Trường Sanh. Từ cầu Trường Sanh (dân chúng thường gọi là Cầu Dài) trên Quốc Lộ 1, về hướng Nam là “Đại Lộ Kinh Hoàng” trong trận chiến năm 1972 ở Quảng Trị. Bến đò Diên Trường là nơi phát xuất câu hò:

Trăm năm diều (nhiều) nỗi hẹn hò!
Cây đa bến cộ (cũ), con đò khác đưa.
Cây đa bến cọ còn lưa (còn lại)
Con đò đã thác năm xưa tê (kia) rồi.

Câu ca dao nầy là nguồn hứng khởi của bài hát “Cô Lái Đò” của Nguyễn Đình Phúc.
(4)    Thơ Chế Lan Viên.
(5)    “Hồng Lĩnh sơn cao,
Song ngư hải khoát
Nhược thị minh thời,
Nhân tài tú phát.
(Núi Hồng Lĩnh cao, – Hồng Lĩnh thuộc Thanh Nghệ Tĩnh.
Ngoài cửa biển rộng có hai con cá – hai hòn đảo.
Gặp thời thịnh trị,
Sẽ xuất hiện nhiều nhân tài.)

>>> Tìm Theo Thể Loại Mà Quý Vị Đang Quan Tâm <<< [Không Quảng Cáo]