Mùa hè năm 1974, sau mùa gặt, Việt Cộng bắt cóc ông Tư, chủ máy cày.

Thường thì trong “Mùa cày”, khoảng sau “ăn Tết”, xe máy cày bắt đầu cày ruộng để làm mùa, nói chung là việc trồng lúa, mới có chuyện Việt Cộng bắt cóc người nầy, người kia để đòi tiền chuộc. Mùa cày là mùa bọn cán bộ kinh tài Việt Cộng “làm ăn”. Bọn chúng giàu lắm, như con vợ Tư Ngọc chẳng hạn. Thằng chồng ở trong rừng, chỉ mới làm “cán bộ kinh tài xã”, mà vừa qua tết không bao lâu, con vợ còn “ngon”hơn mấy cô gái“Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay!” (1)

Bây giờ, mùa cày qua đã lâu rồi, mùa gặt cũng xong rồi, thằng Tư Ngọc đã bị “thám báo chi khu giải hóa” (2) rồi. Con vợ Tư Ngọc cuốn gói “ôm cầm thuyền ai” mà đi theo một anh trung sĩ chi khu Hà Tiên rồi, có gì “mắc mớ” mà Việt Cộng bắt cóc ông “Tư máy cày”?

Thiếu úy Kiệt, “phụ tác đặc biệt”, sau khi điều tra, được các “mật báo viên” cho biết, liền báo cáo cho tôi biết “Việt Cọng tình nghi ông Tư báo cho Quốc Gia các hoạt động của Tư Ngọc, nên nó mới bị “thám báo chi khu” phuc kích bắn chết.”

-“Tụi Việt Cộng nầy thâm thiệt” – Tôi nói với thiếu uý Kiệt: – “Hồi đó sao nó không bắt ông “Tư máy cày” ngay mà để tới bây giờ mới bắt. Việc “nguôi lạnh” cả rồi! “Ông” có biết tại sao không?”

-“Không!” Thiếu úy Kiệt tra lời “ngon ơ”.

-“Ông” về đây trước tui đến mấy năm mà “ông” không có kinh nghiệm chi cả. Tụi nó sợ “động”, “thất thu” chớ có gì đâu! Nếu khi thằng Tư Ngọc mới bị giết mà tụi nó bắt ông “Tư máy cày”, các ông chủ máy cày sợ, không biết chuyện chi, mấy chả sẽ trốn mất hoặc tránh mặt Việt Cọng, làm sao tụi nó thâu thuế cho được! Biết không? Bây giờ, thu thuế máy cày gì nữa, “thuê nông nghiệp” đã xong, tụi nó mới từ từ lôi ra những ai tụi nó cho là có tội! hỏi tội. Chạy đằng Trời cũng không thoát tay tụi nó. Ông biết không?”

Thiếu úy Kiệt nói “vuốt đuôi” tôi: “Tụi nó thâm thiệt. Mình đừng tưởng tụi nó ngu!”

-“Ông trưởng chi Chiêu Hồi, mỗi lần họp, cứ nói: “Việt Cộng nó ngu lắm!” khiến tui cười thầm hoài. Nó ngu hả? Nó ngu ở “trình độ kiến thức” thôi. Tụi nó, ông trưởng chi Chiêu Hồi với ông đại tá  Huỳnh Thanh Sơn thì  cũng ngang nhau (3). “Kiến thức phổ thông” thì cả “hai bên” không biết gì hết. Nhưng “thủ đoạn” thì nó “quá cha” mình. Nếu mà ngu thì làm sao chúng nó biết xài “thủ đoạn”. Người biết xài “thủ đoạn” là người khôn, là lưu manh! “Ông” biết không?”

-“Nhưng tụi nó gốc “bần nông” mà đại úy!” Thiếu úy Kiệt phản bác ý kiến tôi.

-“Tụi nó “học” ghê lắm. Dù ở trong rừng, ngay khi mới chỉ là “đối tượng đảng”, tức là chuẩn bị “vô đảng”, tụi nó phải “đi học” rồi, tức là học “chủ nghĩa Mác-Lênin”, là đi học khôn đó, không phải học lý thuyết chủ nghĩa đâu! Học “lịch sử đảng” thì dễ, Hồ Chí Mnh đã soạn rồi. “Bàn đá chông chênh dịch sử đảng”. Học cái “thủ đoạn” mới là khó. Đó là học “Đi với kẻ cướp mà có lợi thì ta vẫn đi!” Tư Tưởng Lê-Nin đó. Rồi “tư tưởng Mao”, “tư tưởng Hồ”… toàn là “bá đạo” không!

-“Đại úy học cái nầy ở đâu?” Thiếu úy Kiệt hỏi tôi.

-“Ở đại học chớ đâu! Bộ sách “Chủ nghĩa Karl Marx” của giáo sư Trần Văn Toàn, tui đọc đi đọc lại tới mấy lần. Đại học nào chẳng dạy “chủ nghĩa Cộng Sản”. Biết Cộng Sản như thế nào mới chống Cộng chớ!”

-“Ở nông thôn mới buồn cười! Quốc gia biểu nông dân chống Cộng trong khi chẳng tuyên truyền cho nông dân biết Cộng Sản là cái gì cả. Việt Cộng tuyên truyền Cọng Sản là “cách mạng”, mà “cách mạng” cái gì cũng hay, cái gì cũng tốt cả! Dân không theo “cách mạng” làm sao được!”

-“Bắt cóc đòi tiền chuộc” thì ông Tư có hy vọng được về, sau khi đóng tiền. Còn như “tình nghi làm việc cho Quốc Gia” thì khó hy vọng “Ngày Về”.

Vậy mà tôi đoán sai. Chưa đầy một tháng sau, ông “Tư máy cày” được tha, tới “trình diện” thiếu úy Kiệt. Đưa hồ sơ ông “Tư máy cày” cho tôi xem, thiếu úy Kiệt nói, – không rõ nói thiệt hay “nói kháy” tôi: “Ông ta về rồi đại úy”.

Tôi cầm tập hồ sơ, hỏi ông Kiệt:

-“Ông ta có khai đóng tiền không?”

-“Không!” Thiếu úy Kiệt trả lời.

-“Phải có chi tụi nói mới thả ông ta về chớ. Một là tiền hai là ông ta chịu làm việc cho tụi nó. “Ông” cứ “hỏi gài” thằng cha Tư nầy đi, không tiền thì tụi nó bắt làm giao liên, phải có một trong hai cái. Không khi nào tụi nó thả khơi khơi.”

Nghe lời tôi, thiếu úy Kiệt biểu thượng sĩ Năm Hưng điều tra lại. Cuối cùng, ông Tư chịu khai thiệt, đóng cho tụi nó năm mươi ngàn đồng nên được tha.

Khi thiếu úy Kiệt nói chuyện đó với tôi, tôi cười, nói đùa: “Đóng tiền cho Việt Cộng mà không đóng tiền cho Quốc Gia, Quốc Gia thiệt thòi quá chớ hè!”

-“Ông có nói “Ăn khế trả vàng”, mệt lắm. Giỏi lắm, chả đóng cho mình hai chục ngàn. Cấp trên biết, xuống điều tra, muốn khỏi tội, phải đóng lại bốn chục ngàn. Vậy là lỗ mất hai chục ngàn.”

Tôi cười:

-“Thanh tra, an ninh là tham nhũng bậc hai mà! Ăn cơm mắm yên thân hơn ăn cơm với cá thịt. Có điều dân đen thì “một cổ hai tròng” đấy! “Quan tha ma bắt”. Còn lâu mới có dân chủ. “Dân chưởi” thì có!”

Sau đó, tôi với thiếu úy Kiệt đi xuống xóm Đồn Giữa. Hôm qua, ông thiếu tá quận trưởng Long cho tôi biết dân ở xóm nầy có đơn thưa Trưởng đồn Nghĩa Quân Đồn Giữa bắt vịt của họ đem về ăn nhậu. Bên phía Nghĩa Quân thì trung úy Trung, trưởng chi An Ninh Quân Đội điều tra xong rồi. Còn bên phía dân chúng thì thiếu úy Ra điều tra không được, nói là vì bên nghĩa quân hăm dọa anh ta. Thiếu úy Kiệt nói với tôi: “Thiếu úy Ra nầy thì “quậy quá trời” luôn, còn điều tra ai được. Chả sợ bên nghĩa quân tố ngược nên chả tránh né, chớ hăm dọa gì, tôi không tin!”

Vì vậy, hôm nay, thiếu úy Kiệt với tôi phải đi xuống đồn giữa. Vừa lái xe, tôi vừa nói đùa với thiếu úy Kiệt: “Mình xuống xóm đồn giữa, nói “xuống xóm” là người ta cười cho đấy!”

-“Người ta cười sao?” Kiệt hỏi.

-“Ngoài Huế, nói “xuống xóm” tức là “xuống xóm chị em”, tức là đi chơi đĩ đấy! Biết không?” Tôi giả thích.

Thiếu úy Kiệt cười:

-“Gì chớ việc đó thì em chịu thua.”

-“Ai không biết ông thuộc hạng “thờ bà”. “Cơm nhà l… vợ”. Hèn chi cất đầu không lên, bị vợ đè cổ chặt quá chớ gì?” Rồi tôi quay đầu lui, hỏi hai “tà lọt” ngồi băng ghế sau: “Phải không tụi bay?” Tôi nghe tiếng cười mà không có tiếng trả lời. Tôi và thiếu úy Kiệt cũng cười.

Xóm đồn giữa là xóm nằm phía ngoài “Đồn Giữa”, tức là cái đồn nằm giữa kinh Vàm Rầy và kinh Lình Quỳnh, ranh giới giữa hai xã Đức Phương và xã Tín Đạo, tỉnh Kiên Giang, trên con lộ Rạch Giá/ Hà Tiên.

Thiếu úy Kiệt nói: “Hồi trước, tui không để ý đâu! Nhưng từ khi làm việc với đại úy, tôi lưu ý tới địa phương nhiều hơn. Như xứ Dzàm (Vàm) Rầy nầy, sao gọi là “Đức Phương”, sao gọi là “Dzàm Rầy”, cái thì văn chương cao vời vợi, cái thì nôm na mà người ta không hiểu ý nghĩa gì hết! Còn Tín Đạo, có khi gọi là Tri Tôn, khi thì Nam Thái Sơn, khi thì Hòn Sóc, Hòn Đất, Hòn Me, khi thì Lình Quỳnh, theo đại úy thì sao?”

-“Ôi!” tôi nói. “Thổ Công” như Ba Hà, Năm Hùng hỏi tới cũng bù trớt, huống chi bọn mình từ đâu mà “lạc lối” tới đây. Tui chỉ đoán chừng vài cái tên thôi. Ví dụ Hòn Đất là cái hòn người ta lấy đất sét về làm dụng cụ: nồi đất, lu đất, vại đất… Hòn Me, ngọn núi đại úy Biệt Động Quân Tôn Thất Trực bị trực thăng bắn chết là nơi có nhiều me, để dân nhậu nấu canh chua. Cái tên Lình Quỳnh là gốc Tàu. Hôm mới về, đọc bản đồ, tò mò tôi tìm trong Việt Nam Sử Lược mới thấy cụ Trần nói về vùng đất Hà Tiên, công lao cha con Mạc Cửu. Hồi xưa, đất của Mạc Cửu dâng cho chúa Nguyễn Phúc Chu dài tới Cà Mau, chớ không phải vùng Lình Quỳnh, Tri Tôn nầy đâu. Tri Tôn là tên mới chớ Lình Quỳnh thì đời Mạc Cửu đã có rồi.”

-“Nghe nói đại úy Tôn Thất Trực bị giết là có âm mưu”? Thiếu úy Kiệt hỏi.

-“Người ta “thần thoại hóa” câu chuyện của anh ta. Thằng nầy tui biết nó hồi còn đi học, nó học sau tui ba, bốn lớp gì đó, quậy, chơi ngông hết cỡ. Ở Huế có bốn tên học sinh nổi tiếng du đảng là “Phi, Cơ, Trực Thăng”. Phi là Phan Thế Phi, năm 1954, tập kết ra Bắc, theo “bác” Hồ rồi. Lê Văn Cơ “cải tà qui chánh”, sau ra Đại Học Sư Phạm. Trực là anh ta, còn Thăng thì không có, chỉ ghép tên cho đủ bộ.  Tui gặp nó vài lần tại nhà Tôn Nữ Hoàng Lê. Nó gọi bà nầy bằng cô. Bà là vợ Đỗ Tấn, nhà thơ Huế, gốc Bình Định. Nó tưởng tui không biết gì. Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền đăng thơ trên báo Sáng Tạo, một vài khi ông ta ký tắt TTT. Nó bảo TTT là “thơ của tui đó”. Tui chỉ cười. Thi cử không xong, nó đi Thủ Đức.

-“Du đảng sao lại làm “bài trừ du đảng.”

-“Tại ông Loan đó. Năm ông Loan đem Cảnh Sát ra “dẹp bàn thờ” ở Đà Nẵng, Nguyễn Thừa Du làm tiểu đoàn trưởng Biệt Động Quân, nó làm phó, đem lính chống lại Saigon. Ông Loan nắm đầu cả hai thằng đem về Saigon. Du đảng thì ông Loan “dĩ độc trị độc”. Ông cho Nguyễn Thừa Du làm Cảnh Sát Trưởng Quận 9, tụi du đảng sợ khiếp, “chém vè” cả. Thiếu tá Du sau xin trở lại Biệt Động Quân. Mấy tay nầy về thành phố thì quậy thôi chớ làm cảnh sát gì được. Còn Trực thì làm trưởng ban bài trừ du đảng trung ương, sau ông Loan trả về Quân Đội. Trực chỉ huy tiểu đoàn hành quân ở Hòn Me, bảo vệ “đặc khu Hòn Sóc” đang bị Việt Cộng uy hiếp nặng. Nó đóng bộ chỉ huy trên sườn núi, phía ngó xuống xã Tín Đạo, ngày ngày treo võng đọc Kim Dung. Hôm nó xuống núi đổi quyển mới, bị trực thăng Mỹ bắn chết. Nó đánh giặc hay lắm, gan lì, chết trẻ uổng thiệt.”

-“Người ta nói thiếu tá Trực bị Mỹ thủ tiêu!” Thiếu úy Kiệt nói.

-“Tui không nghĩ dzậy. Hồi Phật Giáo tranh đấu Miền Trung, không đụng tới anh ta, còn như bậy giờ, ở tuốt dưới vùng “khỉ ho cò gáy” nầy, nó có làm “chính chị chính em” gì đâu mà bị thủ tiêu như vụ trường Phước Đức ở Chợ Lớn năm 1968. Nghĩ tới mình, tui cũng buồn!”

-“Chuyện gì?” Thiếu úy Kiệt hỏi.

-“Tôn Thất Trực quê ngoài Huế, “bỏ mạng sa tràng” ở đây. Tui cũng quê ngoài “nớ”, biết có ngày “lành lặn” mà hát bài “Đường Về Quê” không?”

Kiệt không nói gì!

&

Hỏi chuyện với mấy người dân ở Xóm Đồn Giữa” xong, tôi cùng thiếu úy Kiệt trở lại Vàm Rầy gặp thiếu úy Chiếu, trưởng cuộc và thiếu úy Trực, phân chi khu trưởng, kéo nhau ra quán càphê đầu nhà lồng chợ, kêu nước giải khát. Xã trưởng Ngô Văn Àn thấy bọn tôi, cũng ngồi ké vào chơi. Tôi nói:

-“Hồi nầy mấy thằng cha dân biểu, hội đồng tỉnh sắp bầu cử, quậy để kiếm phiếu, “chuyện bé xé ra to”, nên ông Quận lo xa. Chuyện có gì đâu!

Xã trưởng Àn cười:

-“Quậy xã tui hả? Tui mà nói với dân một tiếng, làm gì dân bầu cho mấy thằng chả. Bầu giấy lau đít thì có!”

-“Ông dọa dân hay dọa mấy chả?” Tôi hỏi.

-“Dân họ tin nơi tui, dọa gì! Còn mấy chả, tui nói với dân “mấy chả ở thành phố không biết mẹ gì”. Bầu là bầu ngay người trong xã nầy nè, có gì khó khăn, mình nắm áo dễ hơn. Mấy chả ở ngoài Rạch Giá, đi ra đi vô, xe cộ phiền lắm!”

Câu chuyện xã Àn nói làm tôi nhớ hôm ghé ấp Xà Ngách xã Dương Hòa. Nghe cái tên Xà Ngách, độc giả có thể đoán đó là tên Miên, ấp toàn người Miên. Tuần trước, ông giáo sư Đồng dạy ở trường Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá ra ứng cử hội đồng tỉnh. Ông cùng một số học sinh nam nữ của ông về Hà Tiên vận động tranh cử. Gặp tôi, ông nói: “Đại úy giúp tôi!” Tôi cười trả lời: “Tui giúp ông là hại ông đó! Dân người ta ai không ghét Cảnh Sát, tui vận động cho ông thì khác chi tui biểu dân đừng bầu cho ông.”

Vì vậy, tôi hỏì một bà người Miên:

-“Kỳ nầy bà tính bỏ phiếu cho ông giáo sư Đồng hay ông “hội đồng Chà?” Sợ bà hiểu lầm, tôi nói thêm: “Tui hỏi cho biết thôi, không phải để hăm he bà đâu!” Trung sĩ Danh Iếp, người Miên, đệ tử của tôi giải thích thêm ý của tôi, bằng tiếng Miên cho bà ta hiểu. Bà Miên trả lời, tiếng Việt, rất đúng tiếng Việt:

-“Tui bỏ cho ông “hội dồng Chà” thôi. Nhà ông ở ngay đây, có chuyện chi, tui tới nắm áo ông.”

Kể câu chuyện xong, tôi nói:

-“Dân chúng bây giờ ghê thiệt! Trước mặt một “xếp” Công An mà một “con mẹ Miên” nói như thế tỉnh bơ. Kể như thời Ngô Đình Diệm, vô tù ngồi là chắc.”

Xã Àn nói:

-“Tui làm xã ở đây mấy đời, tui biết. Dân tui tuy nghèo, nhưng họ “giác ngộ” lắm, không như ngày xưa!”

-“Nhờ xã hội tiến bộ?” Tôi hỏi.

-“Tui cũng không rành, nhưng có lẽ nhờ “đại tá Bé”. Xã Àn nói.

-“Sao lại có ông đại tá Bé “Quảng Trị tui” vô đây nữa. Ở quê tui, nhà ông Bé cách nhà tui chưa tới trăm mét, tui biết ông hồi ổng còn làm “cai lục lộ” kia lận, chưa đi lính.”

-“Ông ấy hay lắm, đại úy ơi!” Xã Àn nói.

Tôi hỏi: “Ông có đi học Vũng Tàu?”

-“Tui! Cha con tui đều có đi học ngoài đó. Các trưởng ấp, toàn thể cán bộ “Xây Dựng Nông Thôn” của xã, đều có đi học trung tâm (4) ngoài đó cả. Học xong về, ai cũng phấn chấn.”

-“Ông thấy cái gì hay?” Tôi hỏi, tò mò.

-“Nói theo cách thông thường là “trang bị cho học viên một cái tinh thần mới, tinh thần xây dựng xã ấp, chống Việt Cộng”… Nói chung là “biết lo cho xã ấp mình”, “mình lo cho mình, chớ không chờ chính phủ.”

-“Hay đó!” tôi nói, không như “Ấp Chiến Lược” của ông Ngô Đình Nhu.”

-“Ấp Chiến Lược” là bỏ tù dân. Tối lại, lùa dân vô trong hàng rào kẽm gai mà giam lại. Dân bỏ trốn cả.”

-“Bỏ trốn?” Tôi hỏi.

-“Xóm Đạo” đó! Ngay trước mắt kìa. Đây lên đó chưa tới ba trăm thước là ông thấy chớ gì. Dân Xóm Đạo là dân từ Tri Tôn Châu Đốc trốn “Ấp Chiến Lược” mà qua đây! Hỏi chi nữa!” (5)

-“Nếu ông Thiệu mà ứng cử tổng thống, tranh với ông Bé, ở thôn quê, ông Bé thắng ông Thiệu trăm phần trăm.” Xã Àn nói.

-“Không riêng tui, hôm nói chuyện với xã Thiện/ xã An Bình, xã Toán/ xã Tín Đạo, đều đồng ý với tôi như vậy. Riêng xã Long thì không.

-“Tại sao ông nghĩ vậy?” Tôi hỏi.

-“Quyền lợi! Quyền lợi cả. Người dân quê, nhất là những ai đã học ở “trung tâm Vũng Tàu” đều hoan hô “anh đại tá Bé” cả. Đại tá Bé là người của nông thôn, của “Xây Dựng Nông Thôn”, phục vụ nông thôn.”

-“Chỉ là đám “viên chức xã ấp”, hay các “cán bộ xây dựng nông thôn” thôi chớ!” Tôi cãi lại.

-“Viên chức xã ấp” hay “cán bộ xây dựng nông thôn” là những người gần dân nhứt, dân chúng còn thương được. Lính sư đoàn, lính Địa Phương Quân… dân sợ nhiều hơn thương. Nhiều tay “quậy lắm”, dân chúng sợ.”

-“Cán bộ xây dựng nông thôn thì làm gì?”

-“Giống như Cộng Sản: cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân. Lợp nhà cho dân, sửa chuồng heo, dựng giàn bầu bí, làm vườn, cuốc đất…” Xã Àn nói.

-“Khi ở Gò Công, tui có một “đệ tử” chuyển ngành, từ “cán bộ xây dựng nông thôn” sang làm Cảnh Sát, khi bộ Xây Dựng Nông Thôn giảm bớt cán bộ. Nó kể: Hồi ở đơn vị cũ, mỗi lần về ấp công tác, bọn nó thường tranh nhau chọn nhà nào có sào phơi quần áo đàn bà con gái là “vô nhà đó giúp dân”.

-“Tui biết rồi!” Xã Àn nói. “Nhờ vậy mà nhiều đứa cưới được vợ!”

Vừa lúc đó, ông Phó Quận Nguyễn Đức Nghiêm đến, chào tôi rồi nhìn Xã Àn, hơi có vẽ nghi ngại. Có lẽ hôm Việt Cộng tấn công vào trụ sở cuộc Cảnh Sát với Phân Chi Khu đóng chung, giết chết thiếu úy Trưởng Cuộc Phan Trí Huệ, mới ra trường, với thiếu úy Trực, Phân Chi Khu Trưởng, tôi có nói với Phó Nghiêm là tôi nghi ngờ Xã Trưởng Àn “hai mặt” nên ông Nghiêm nhìn ông xã trưởng với con mắt như thế chăng?

Nghe câu chuyện của chúng tôi, Phó Nghiêm nói, như cố ý nói với tôi:

-“Ông” có biết “trật tự xã hội” là cái gì không?”

Tôi chưa kịp trả lời, Phó Nghiêm nói tiếp: “Là luật pháp do giai cấp thống trị đặt ra để bảo vệ quyền lợi của giai cấp mình.”

Tôi cười: “Cái nầy có dạy ở trường Quốc Gia Hành Chánh” không?” (Ý tôi muốn nói là ông Nghiêm xuất thân ở trường nầy). “Ông Phó là công chức hạng A của chế độ mà nói như thế là chết rồi! Đúng ra là phải bảo vệ chế độ chớ.”

-“Bảo vệ cái con mẹ gì!” Phó Nghiêm nói. “Tình hình nầy, “bảo vệ chế độ” là bảo vệ cái gì? Bảo vệ mấy thằng “ăn trên ngồi trốc” ở Saigon, sống nhởn nhơ trên đầu thiên hạ, sáng vô văn phòng “kiếm ăn”, tối đi nhảy đầm, nhà  hàng ca nhạc, “ăn giự đ… chạy”, có tư cách gì đâu! Tui đang “lội ruộng” với “ông”, tôi có ăn cái gì ở Saigon đâu mà phải lo bảo vệ tụi nó.”

-“Tui biết rồi!” Tôi nói. “Ông Phó muốn nói vụ cô ca sĩ có bầu ngoài tử cung mà bị ông bộ trưởng từ chối không nhận là tác giả chớ gì!”

-“Đại úy ở ruộng mà cũng biết chuyện đó?” Phó Nghiêm hỏi, mặt quan trọng.

-“Báo chí đăng thiếu gì! Bọn nầy ghê thiệt. Chẳng có chút liêm sĩ gì cả. Bọn du thủ du thực “ăn giựt đ… chạy”. Bọn nầy cũng vậy thôi. Ông bạn tôi làm ở “phủ đầu rồng”, còn tiết lộ nhiều chuyện tệ hại hơn. Có thế lực nầy, thế lực kia, thế lực Mỹ, thế lực tôn giáo, nắm chức bộ trưởng, thứ trưởng để lo “áp-phe”, bảo vệ quyền lợi, một tay ký giấy tờ, tay ôm cô ca sĩ trẻ đẹp… Còn những người xông pha trận mạc, sống rày chết mai, có khi mấy cha cũng đến làm lễ truy điệu, coi như tuồng đời đen bạc.”

-“Thôi bỏ chuyện Saigon đi. Chuyện trước măt của mình sống chết mỗi ngày đây nè! Ban ngày mình đi tìm nó để đánh. Ban đêm nó đi tìm mình để giết. Nó với mình đều cùng máu đỏ da vàng. Không có cuộc chiến tranh nào kỳ cục như cuộc chiến tranh nầy.”

-“Do tụi Bắc Kỳ cả. Nhiều khi nghĩ lại, sau vụ Nam Kỳ Khởi Nghĩa 1940, tụi Tây xúi dân Nam Bộ “đánh Bắc Kỳ”, thấy Bắc Kỳ đâu là đánh đó. Người Nam có “đánh Bắc Kỳ” cũng có lý do của nó.”

-“Lý do gì?” Xã Àn hỏi.

-“Người ta đang ở yên, mấy chả Bắc Kỳ ngoài kia vô “quậy” người ta nên người ta mới ghét. Bộ bây giờ khác xưa à? Người ta đang yên ổn làm ăn, mấy chả vô “giải phóng miền Nam” là giải phóng cái gì hay chỉ là giết đồng bào miền Nam?

-“Họ có sứ mạng. Sứ mạng với chủ nghĩa Mác, xây dựng Việt Nam thành một nước xã hội chủ nghĩa, một xã hội không có giai cấp.” Phó Nghiêm trả lời, mai mỉa.

-“Rõ nhất là ở chế độ Cộng Sản phải không? Họ phân biệt giai cấp kịch liệt hơn cả xã hội phong kiến nữa, phải không?” tôi hỏi

-“Có phân biệt giai cấp mới có “đấu tranh giai cấp”.  Tuy nhiên, ở đây, khi đặt trưởng cuộc Cảnh Sát hay phân chi khu trưởng về tận xã ấp là có ý đồ đưa người của chính quyền về tận xã ấp, là vi phạm truyền thống tự trị của làng xã rồi. Không biết ai bày cho ông Thiệu điều nầy bậy quá. Phải để cho làng xã tự trị. Chính quyền nên để cho làng xã tự trị, nên giúp cho làng xã tự trị, nhất là trong tình hình đấu tranh với Việt Cộng từng ấp, từng xóm, từng nhà. Nếu chính phủ can thiệp trực tiếp vào công việc giữ ấp, giữ xóm thì làm sao triệt tiêu “hạ tầng cơ sở Cộng Sản” như chủ trương của Phượng Hoàng. Tranh từng nhà, giữ từng xóm, từng ấp là việc của làng xã, không phải việc của chính phủ. Ngay chính tụi Mỹ nó cũng trật việc nầy.”

-“Tui không rành việc nầy! Hấp dẫn đấy, ông Phó nói cho nghe đi.”

-“Tui bắt đầu từ việc “Phun DDT, diệt trừ sốt rét. Giết được một nhân viên “diệt trừ sốt rét” là Việt Cộng hả hê lắm. Chính những người đi xịt DDT phát hiện ra “hầm trú ẩn của Việt Cộng”. Cúi xuống tới gầm giường nhà người ta, trong buồng kín, làm sao mà không thấy nắp hầm Việt Cộng dưới đó được. Xịt thuốc xong, lại còn vẽ một cái “ám số” gì đó ngay cửa trước nhà người ta. Với cơ quan “Diệt Trừ Sốt Rét” thì đó là chỉ dấu cái gì đó của họ. Với Việt Cộng, đôi khi ngay với dân chúng, đó là “ám số” báo cho Công An biết nhà nầy thuộc thành phần gì: Dân thường, liên hệ Việt Cộng, thân nhân tập kết ngoài Bắc hay “nhảy núi”, “vô bưng”…

-“Còn với “Xây Dựng Nông Thôn”, tôi hỏi.

-“Cán bộ Xây Dựng Nông Thôn cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân thì Việt Cộng núp chỗ nào, “nằm vùng” là hết “vùng” luôn!? Việt Cộng phải diệt trừ đám nầy mới tìm ra con đường sống. Ở với dân như vậy thì được dân thương, nói điều chi dân cũng nghe, biểu dân bỏ phiếu bầu cho ai thì họ bầu người đó. Vậy thì người ta “bầu cho anh đại tá Bé” chứ ai bầu cho ông Thiệu làm chi.”

-“Theo tui biết thì đối với người Mỹ, “thế” đại tá Bé mạnh lắm. Tui nghe em đại tá Bé kể lại. Bạn thân mà.”

-“Người ta nói sao?” Phó Nghiêm hỏi tôi.

-“Hôm Hubert Humphrey, phó tổng thống Mỹ, qua Saigon dự lễ “đăng quang” của ông Thiệu, ông ta chỉ ở Saigon có nửa tiếng, rồi về “trung tâm” của ông Bé hơn một ngày, đêm đó ngủ lại ở cái “nhà thờ Vua Lê Lợi”. Có lần dẫn Hướng Đạo Sinh đi cắm trại ở đây, tôi ngủ đêm ở nhà thờ nầy. Người ta đồn “linh lắm”. Người ta đồn vậy thôi. Colby thì ở lại hà rầm ở đây, lại còn đi ngủ ấp với đại tá Bé nữa. Sau nầy, khi Colby về Mỹ thì đại tá Bé gần gũi với Polgar. Toàn “Xịa” không! Người Việt mình có muốn làm gì cũng không qua khỏi tay Mỹ.”

Phó Nghiêm góp ý, nói như than:

-“Cái thế nhược tiểu mà đại úy.”

-“Loon đại úy của tui, Mỹ không thèm ngó tới. Nhưng nó “cúp viện trợ” thì tui không có lương. Vợ con nhịn đói được sao?! Tui hỏi ông điều nầy, tui cứ thắc mắc hoài!”

-“Tình hình nông thôn đang khả quan, tại sao tụi Mỹ “dẹp” bộ Xây Dựng Nông Thôn.”

-“Mình phải trở lại từ đầu! Tại sao có Bộ Xây Dựng Nông Thôn. Trước hết, Mỹ thành lập các đoàn “Thanh Niên Thiện Chí”. Cái nầy là gốc từ thời Kennedy. Ở Việt Nam, các đoàn “Thanh Niên Thiện Chí” chính yếu là hoạt động ở nông thôn và các vùng Cao Nguyên. Họ hoạt động vô tận các buôn làng ở Ban Mê Thuột, Pleiku…. cứu lụt miền Trung Quảng Nam, Quảng Ngãi năm 1965, năm Mỹ đổ quân vô Đà Nẵng. Các đoàn “Thanh Niên Thiện Chí” nầy phần đông là sinh viên Đại Học Saigon. Đó là “tiền thân” của Bộ Xây Dựng Nông Thôn. Từ những gì “Thanh Niên Thiện Chí” thu góp được, là làm nền tảng cho chương trình Xây Dựng Nông Thôn sau đó.”

-“Sao ông Phó rành vậy?” Tôi hỏi.

-“Mình không rành, nhưng mấy ông thầy của tôi ở Học Viện không thể không biết gì. Mỗi khi về Saigon, tôi thường đến thăm các ông để các ông biết thêm về thôn quê. Mình ở ruộng mà.”

-“Về việc tinh giảm bộ nầy?” tôi hỏi.

-“Đại úy nghĩ chiến tranh Việt Nam là cái gì? Chống Cộng? Bao vây Trung Cộng? Vậy đại úy không nghĩ rằng chiến trường nầy không phải là nơi tư bản Mỹ bán vũ khí và nghiên cứu vũ khí à? Hải quân Việt Nam qua Mỹ nhận một chiếc tàu thủy “Mỹ Quốc Viện Trợ”. Đó là một trong hang ngàn chiếc tàu cũ từ hồi Thế chiến Thứ Hai chấm dứt nằm ụ ở Long Beach được trang bị lại, gắn vũ khí mới. Chi phí tàu bè đó được tính vô tiền viện trợ đấy. Người nông dân Việt Nam nghèo khổ ở xứ nầy được hưởng cái gì, Viện trợ nông phẩm chỉ là phụ. Bán vũ khí là chính. Bán rồi tính vô trong tiền viện trợ. Tư bản Mỹ có lời mà chẳng lỗ lã gì đâu?! Đại úy biết Mỹ “kiếm thêm” được cái gì trong chiến tranh Việt Nam?”

-“M-113 là “thiết quân vận” từ trong chiến tranh Viêt Nam mà ra. Trong tết Mậu Thân, Việt Cộng dùng AK rồi mà quân đội VNCH còn dùng Garant- M1, Carbine M-2. M15, rồi M16, đại liên M-60 cũng từ chiến trường Việt Nam. Về máy bay tôi không rành. Hình như các loại trực thăng là sản phẩm từ trong chiến tranh Việt Nam.”

-“Đại úy biết như thế thì thấy rõ tại sao Mỹ dẹp bộ Xây Dựng Nông Thôn. Gây chiến tranh là để bán vũ khí, lập ra Bộ Xây Dựng Nông Thôn thì Tư Bản Mỹ bán cái gì được, không lý bán khoai sắn cho người Việt Nam?”

Xã Àn góp ý: “Mấy ông biết tình hình xã tôi là như thế nào rồi. “Ngày Quốc Gia”, “đêm Cộng Sản”. Tối lại, rút vô đồn ngủ, “Dziệt Cộng” ở trong bưng ra, muốn làm gì thì làm. Trước kia, cán bộ Xây Dựng Nông Thôn còn hoạt động, mấy chả đâu dám ra. Từ ngày xã đoàn (XDNT) thu nhỏ tới giờ, chưa tới năm ngoe, tối cũng chui vô đồn như Nghĩa Quân, thì coi như xong, chỉ còn số “Thám Sát Tỉnh” của Ba Hà mới là ngon.

Ba Hà, đại úy dồng hóa, chỉ huy lực lượng “Thám Sát Tỉnh”, thường gọi là “Pru” (Province Reconessant Units) do Mỹ tài trợ mọi mặt, chống Cộng Sản rất hữu hiệu. Hôm gặp Ba Hà tại xã nầy, tôi nói đùa: “Anh cho lính vô hang cọp phải không?” Ba Hà cười, nói: “Đâu có, lâu lâu nhớ bà con về thăm chơi!”

Tôi nói đùa câu trên là vì tôi nghĩ tới một câu trong Chinh Phụ Ngâm “Quày ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo” mà cụ Vân Bình giải thích rằng Đạng Trần Côn lấy ý trong câu thơ Tàu “Bất nhập hổ huyệt an đắc hổ tử” (Không vào hang hùm sao bắt được cọp con?) Lực lượng Ba Hà thường vô tận trong bưng đánh nhau với Việt Cộng, không nằm ngoài đường lộ nầy mà chờ Việt Cộng ra. Khi được tin dân chúng báo (thường gọi là “tình báo nhân dân”) có đơn vị Cộng Sản Bắc Việt từ miền Bắc vào Nam qua ngã Kamphuchia, chúng di chuyển theo “đường giây 1-C”, tức là đường di chuyển của quân Cộng Sản nằm giữa ranh giới giữa hai tỉnh Long Xuyên/ Kiên Giang trong rừng rậm, Ba Hà cho binh lính của Ba Hà vào quấy rối. Trời vừa tối, khoảng năm bảy lính của Ba Hà chia hai, ba cánh lội vô bưng, cách phía ngoài đường lộ nầy chưa tới 10km. Tới nơi thường vào sau nửa đêm, dùng ống nhòm “hồng ngoại tuyến” do Mỹ trang bị, quan sát đơn vị địch, trung bình là cấp tiểu đoàn. Gặp “mùa nước nổi”, bọn chúng treo võng trong rừng tràm nằm ngủ. Thám Sát tỉnh bèn gài lựu đạn, mìn Claymore định giờ, xong rút ra xa, chờ giờ mìn nổ. Sáng hôm sau, sau khi bị tấn công, Việt Cộng rút hết cả, đem theo xác chết và người bị thương, Thám Sát Tỉnh thu nhận kết quả và thu lượm vũ khí Việt Cộng còn bỏ lại.

Khi di chuyển trên đường giao liên 1-C, Việt Cộng rớt sợ Thám Sát Tỉnh, Võ Trang Tuyên Truyền của Ty Chiêu Hồi, là những lực lượng “tìm Việt Cọng mà đánh tận sào huyệt chúng”, gây cho chúng nhiều thiệt hại lớn. Phần lớn, những người gia nhập các lực lượng nầy là cựu hồi chánh viên, tức là những người từng theo Việt Cộng, rất có kinh nghiệm về sinh hoạt và hoạt động của Việt Cộng.

Những người như Ba Hà và “lính” của ông, không quan tâm tình hình chính trị hồi đó ở địa phương, ngay cả trong các cuộc bầu cử. Đối với họ, “tấn công Việt Cộng” là điều ưu tiên. Riêng Ba Hà, ông ta hoạt động xã ấp từ trước thời Ngô Đình Diệm, giữ chức vụ từ trưởng ấp, hội viên Cảnh Sát xã, xã trưởng rồi tham gia lực lượng PRU. Từ khi còn là trưởng ấp Ba Hà đánh nhau với Việt Cộng rất gan dạ, “vào sinh ra tử”, được dân chúng trong xã rất yêu mến vì là một xã trưởng giỏi, biết lo cho dân và đánh nhau với Việt Cộng gan lì.

Riêng với xã trưởng Ngô Văn Àn, mặc dù ông ta rất ngưỡng mộ Ba Hà nhưng tôi vẫn nghi ngờ y vì hôm Việt Cộng đánh vào xã, hai ông thiếu úy và một ông trung sĩ tử trận, y và con trai lớn của y, trung sĩ Cảnh Sát Ngô Văn An, vẫn bình an.

Tôi hỏi y:

-“Ông xã trưởng, tối đó ông ở đâu mà được yên?”

Xã Àn trả lời: “Tui với thằng con trai tui chui xuống bếp rồi lặn xuống bờ kinh.”

Nhà ông ta ở cuối dãy phố chợ, sát bờ kinh.

Kể lại chuyện đó với thiếu úy Kiệt, tôi nói:

-“Tui nghi thằng cha xã trưởng nầy quá. Những vùng tranh tối tranh sáng như thế nầy, viên chức xã ấp thường “chơi trò” hai mặt.”

Thiếu úy Kiệt nói: “Đại úy để em xét lại vụ nầy coi.”

Vài tuần sau, thiếu úy Kiệt nói với tôi: “Không có đại úy à. Tui điều tra kỹ trưởng ấp Chín Đực, y thề sống thề chết với em là không có chuyện dó.”

Trưởng ấp Chín Đực nguyên là du kích, hoạt động ở trong bưng, thuộc vùng nầy. Y ra “hồi chánh”. Quận (trưởng) Phúc, tin tưởng y, cho y làm trưởng ấp. Chính nhờ trưởng ấp Chín Đực nên thiếu úy Kiệt “dzớt” (vớt) được hai cha con Sáu Chơn làm giao liên cho trận đánh nầy. Lực lượng đánh vào xã hôm đó là “huyện đội Hà Tiên” vì “du kích xã” không đủ sức tấn công vào xã. Đêm đó, khi dẫn “huyện đội” vào chiếm xã xong, Sáu Chơn vào nhà Chín Đực để gở cái máy may. Cái máy may gắn ốc vít vào bàn đạp, cha con Sáu Chơn phải bật đền “pin” mới mở được ốc chân máy. Núp phía ngoài hè, nhờ ánh đèn pin, Chín Đực thấy rõ mặt hai cha con Sáu Chơn.

Tôi nói với thiếu úy Kiệt: “Ông” coi kỹ lại đi. Tại sao tụi nó biết nhà Chín Đực có cái máy may nên tìm vô đó mà lấy. Còn nhà xã Àn thì sao? Tại sao không có thằng cán bộ hay du kích nào tới nhà xã Àn để tìm ông ta cả. Ông ta là xã trưởng mà! Nếu xã trưởng không “cùng phe”, tại sao chúng nó để xã trưởng ở yên được.”

Sau đó, thiếu úy Kiệt bắt một đám giao liên mấy chục người ở xã nầy, hỏi từng người về sinh hoạt của xã Àn có liên hệ gì “trong đó” không, nhưng thiếu úy Kiệt “chịu thua”, không tìm được tin tức nào. Xã trưởng Àn khôn thiệt!

&

Bữa đó, xã Àn kể:

-“Hồi tui còn trẻ, gặp vịt chạy đồng, tui bắt cả chục con mà chẳng ai thưa kiện gì được cả. Nhằm nhò gì vài ba con vịt. Thằng đồn trưởng nầy ngu.”

-“Ông xã làm cách nào?” Tôi hỏi.

-“Cứ cái đồng nào vịt sắp tới.”

-“Gặt rồi?” Tôi hỏi chen vào.

-“Đồng chưa gặt, chủ ruộng nó thưa cho là bỏ mẹ. Có khi nó đánh chết vịt cũng chẳng làm gì được. Đồng gặt rồi, hột lúa rơi rụng thiếu gì. Lùa vịt qua đồng là để vịt nó ăn những hột lúa rơi, khỏi mua lúa cho vịt ăn, đỡ tốn lắm. Nhiều khi chủ ruộng bắt đóng tiền mới cho vịt chạy đồng. Vịt cả ngàn con, ba bốn người, mỗi người một phía mới giữ cho vịt khỏi chạy bậy được.”

-“Tối lại thì sao?” Tôi hỏi.

-“Ví lại giữa đồng chớ sao?” Xã Àn nói.

-“Không sợ chồn cáo gì hết!” Tôi lại hỏi.

-“Nuôi vị nhiều thì phải có chó giữ. Ông biết không! Nuôi được con chó Phú Quốc là quí lắm.”

-“Tui biết!” Tôi nói. “Chó Phú Quốc khôn lắm, chó Tây không bì được đâu! Nhưng nó hay cắn bậy, phiền xóm làng lắm.”

-“Tại người ta không biết, có cách trị hay lắm!”

-“Làm sao?”

-“Chiều chiều, ông cứ giởn với nó, cho nó quen. Rồi đánh lừa nó. Lấy hai trái mướp bằng nhau. Một trái nướng trên lò than, một trái quăng lên trời, cho xa xa, cho con chó nhảy lên đớp trái mướp. Năm bảy lần con chó quen rồi, ông lấy trái mướp đang nướng trên lò than, thiệt nóng, quẳng lên trời. Con chó tưởng như thường lệ, nhảy lên đớp trái mướp nóng như lửa. Nó kêu lên một tiếng ăng ẳng, bỏ rái mướp chạy trốn mất.”

-“Sau đó thì sao?”

-“Nó có cắn ai cũng “không thành vấn đề”: Răng rụng hết rồi!”

&

Đang ngồi nói chuyện vui thì có một người tay xách hai con vịt thật to đi tới, đứng xa xa bàn chúng tôi. Hai con vịt đang đập cánh, kêu cạp cạp. Thiếu úy Chiếu nói:

-“Thằng cha “vịt chạy đồng” tới xin gặp đại úy.”

Nghe vậy, tôi quay mặt về phía y, cười hỏi:

-“Muốn gặp tui hả? Có chuyện chi không?”

Y đi tới, xin phép ngồi vào bàn. Y khoảng bốn mươi tuổi, mặc cái áo kaki lính tay ngắn, cũ, màu vàng, sờn vai. Quần màu chàm, chân mang dép cao su. Nhìn chung y cũng không giàu có, nhiều tiền bạc gì đâu, ăn mặc không như Tám Vè, tức Huỳnh Văn Vè, chủ ruộng ở Cái Sắn hay Bảy Quẹo, xã trưởng Tân Hội.

Dân làm ruộng giàu có vùng Hậu Giang có cách ăn mặc rất buồn cười, nhìn vô là biết họ giàu, hơi nhàn nhã. Tôi nói hơi nhàn nhã vì tới mùa cày hay mùa gặt, họ mới vất vả như nông dân, nhưng không chân lấm tay bùn.

Ra đường hay ở nhà, họ luôn luôn mặc “bi-la-ma”, tức là áo quần ngủ pyjama, ở ngực có hai túi áo: Túi áo ngoài đựng bao thuốc lá hay giấy tờ. Phía bên kia là “túi áo trong”, miệng túi phía trong áo, có kim tây gài phía ngoài, thường đựng một xấp bạc dày, phần nhiều là giấy bạc năm trăm, hình Đức Trần Hưng Đạo. Khi cần, đủ cho họ chi vài ba chục ngàn như không.

Hôm tôi đãi “phái đoàn Bộ Tư Lệnh” đến thanh tra ăn trưa ở Tầm Hương Quán chợ Kiên Tân, phái đoàn gần chục người, tôi vừa tiếp khách vừa lo. Bữa ăn nầy ít ra cũng hai chục ngàn, bằng nửa tháng lương của tôi, “moi” đâu ra tiền mà trả cho bà chủ đây. Tính trong lòng phải hẹn bà chủ quán vài hôm. Vậy mà khi tôi đưa phái đoàn ra xe, trở lại quán tính nói chuyện với bà chủ thì bà chủ cười, nói: “Ông chỉ huy trưởng đừng lo. Có người trả rồi.” Nhìn lui ra phía sân, tôi thấy Tám Vè đang đứng ngoài sân nhìn tôi cười. Hèn chi hồi nãy, khi đang tiếp phái đoàn, tôi thấy ông đi qua đi lại ngoài sân mấy lần. Dân làm ruộng giàu có ở Hậu Giang đấy.

Không phải Tám Vè không có “hậu ý” với tôi đâu!

Sau Tết khoảng một tháng, thượng sĩ Lê Đức Vũ, trưởng ban hành quân nói với tôi: “Ông Tám Vè xin mình đừng hành quân bên Tân Hội. Tới mùa gặt rồi.”

Không hiểu ý ông Vũ, tôi hỏi: “Sao?”

-“Tới mùa gặt rồi! Nếu mình hành quân bên đó, bọn “quân dịch, quân gà” sợ trốn hết, ai gặt lúa cho ông ta. Gặt trễ, lúa rụng hết, ông ta mất biết bao nhiêu là tiền.”

Tôi nhớ tới bữa tiệc hai chục ngàn ở Tầm Hương Quán, làm thinh. Thượng sĩ Vũ tưởng tôi không đồng ý, bèn “bồi” thêm một chưởng:

-“Với lại, cũng mất lòng ông đại tá tỉnh trưởng.”

-“Có “dính” tới ông tỉnh trưởng à?” Tôi hỏi.

-“Có chớ sao không! Ông đại tá tỉnh trưởng có “hùn” làm ruộng với Tám Vè. Nói “hùn” cho có hình thức vậy thôi, chớ “hùn” kiểu đó là “hùn miệng” thôi.”

Tôi thấy không vui trong lòng. Ở thôn quê xa xôi hẻo lánh, mấy thằng cha tham lộng quá. Tôi định bụng sẽ kín đáo điều tra, hồ sơ bỏ hộc tủ, có dịp lôi ra… cho vui. Bọn đối lập chắc khoái lắm. Tháng trước, về thanh tra xã Tân Hiệp, trung sĩ Cảnh Sát “Tư Trẹt” vắng mặt, tôi cự nự trung sĩ Huỳnh Văn Khuynh dữ, khiến y khai thiệt đang mùa lúa, “Tư Trẹt” ở nhà “làm ruộng” cho “phó Thao / Lê Văn Thao”. Ấy là Tư Trẹt lảnh lương nhà nước mà ở nhà làm ruộng nên khá giả, mua một cái trẹt để chở xe máy cày thuê nên mới có cái tên “Tư Trẹt”. Dù y là “Rân ri cư Cái Sắn”, nhưng cũng gọi “thứ Tư”, theo cách gọi của người Nam. Tôi biểu thượng sĩ Phạm Đình Chi điều tra vụ “Tư Trẹt ở nhà làm ruộng cho phó Thao”, “bỏ học tủ”, chờ dịp nếu phó Thao “chơi” thì tôi “mở hộc tủ lôi ra”.

Thiếu úy Chiếu gọi càphê cho y. Sau khi cô chủ quán bưng cà phê ra, đi vào trong, “anh chàng nuôi vịt chạy đồng” rụt rè nói với tôi:

-“Em có cặp vịt, gởi ông trưởng ăn lấy thảo.”

Tôi cười, nói mà như hỏi: “Bây giờ ông cho thì tôi xách cặp vịt nầy về nhà?”

Anh chàng nuôi vịt chạy đồng tưởng tôi đồng ý, vui vẻ:

-“Dạ! dạ! Ông trưởng ăn lấy thảo.”

-“Tui nó thiệt với ông!” Tôi nói. “Tui mà đem cặp vịt nầy về, chắc bị vợ “chưởi” cho một trận.”

Anh chàng nuôi vịt chạy đồng không hiểu tôi nói gì, trong khi phó Nghiêm và thiếu úy Chiếu nhìn anh ta cười cười.

Tôi giải thích: “Vợ tui người Huế, mà người thì Huế khó tính. Không có cái chuyện “ăn hối lộ giữa đường giữa sá” như vậy đâu. Ai cho cái gì thì đem tới nhà, uống nước trà, nói chuyện vui vẻ, nhà tôi mới nhận. Ở chợ quận, người ta biết tính cô ấy. Hồi mới về, cô ta nghe người ta than phiền về việc vợ quận Nô đi chợ chỉ xách theo cái giỏ đựng đồ ăn mà không đem theo tiền chợ, nên cô ấy ngại lắm. Mới đây cô ấy mới nhắc tôi làm sao chấm dứt chuyện vợ trung úy Luật bắt chước vợ quận Nô đi chợ mà tôi chưa làm gì được. Bấy giờ tôi xách cặp vịt nầy được sao?!”

Không ai có ý kiến gì!

Tôi nói với thiếu úy Chiếu: “Ông bảo nhân viên nuôi hai con vịt nầy đi. Khi nào tôi xuống, mình nấu cháo ăn chơi.” Xong, tôi quay qua nói “anh chàng vịt đồng”: “Được chưa, anh cứ làm ăn đi, tui không làm khó anh đâu!” Anh ta cám ơn rối rít.

Một lúc, tui nói với anh ta: “Tui rất thành thật, “ông” biết không? Bây giờ, tui hỏi “ông”, “ông” phải nói thiệt. Việc nuôi “vịt chạy đồng” nầy, chỉ trong nam nầy mới có. Ngoài tui, người ta nuôi vịt ở ao, hồ, ở sông… không ai nuôi ở đồng như trong Nam, thành ra tui muốn hỏi cho biết. Vậy thôi.”

-“Dạ!” Anh chàng nuôi vịt đồng nói. “Ngoài Huế, tui nghe nói người ta nuôi vịt ở ao, đầm. Thức ăn của nó là tôm tép, cá mú…”

-“Đó là vịt nuôi ở phá Tam Giang, đầm Thuận An, đầm Phú Thứ. Người ta nuôi vịt để lấy thịt và ấp hột vịt lộn. Hè năm 1967, tui về đầm Thuận An, bên nầy bến đò cửa Thuận An, ông già của một học trò mời tui ăn hột vịt lộn, bưng ra một tô tổ bố. Ăn cái thứ hai là tui ớn lên tận họng!”

Thiếu úy Chiếu hỏi: “Sao vậy?”

Tôi cười: “Trứng non hay trứng vừa, họ giao cho mối. Trứng già, mối không lấy, họ mới mời mình ăn. Trứng già con vịt đã có lông cánh rồi, nuốt sao vô!”

Phó Nghiêm hỏi: “Không mời mình ăn thì họ làm gì?

Tôi cười: “Ông phó biết làm gì không? Bán cho nười nuôi heo nọc. Bổ lắm. Heo nọc hành hiệp suốt ngày cũng không mệt.”

Nghe chuyện, ai nấy đều cười.

Tôi hỏi:

-“Vịt anh có đẻ trứng không?”

-“Dạ có!” Anh ta trả lời. “Sáng khi cho vịt đi ăn, tui phải vô lượm hột vịt đẻ trong hôm. Có khi vịt vừa chạy đồng vừa đẻ. Đi sau phải để ý mà lượm. Trứng vịt gom lại cho mối. Tui nuôi thịt, nên hột vịt không quan trọng lắm.”

-“Mây thằng chả ở trỏng có ăn vịt không?” Tôi hỏi.

-“Dạ! Dạ!” Y ngập ngừng.

Tôi nói ngay: “Anh phải cúng cô hồn cho mấy chả chớ gì. Tui muốn hỏi tụi nó có quậy không?”

-“Tùy dịp, đại úy.” Y trả lời. “Tết nhứt là phải có. Có khi phải “ủng hộ cách mạng” mươi mười lăm con, phải làm sẵn, luộc chín.”

-“Cho tụi nó chuyển quân phải không. Trong kinh Kháng Chiến?”

-“Dạ!” Y trả lời.

-“Có bắt được trăn không?” Tôi lại hỏi.

-“Nhiều đêm nó chui vô bắt vịt. Nửa đêm, vịt kêu ầm ầm. Trăn chui lưới vô bắt vịt. Xách đèn đi tìm, gặp ngay.”

-“Rồi anh làm sao?”

-“Bắt nó chớ sao? Dễ lắm ông à! Cầm cái khăn rằn, phất qua phất lại trước đầu nó mấy cái. Nó đớp một cái là dính. Nó không gở cái khăn ra được. Vậy là chụp ngay cổ nó, bỏ vào bị bàng, cột miệng bị lại, mai đem bán cho lò trăn.

-“Trăn đồng! không to như trăn rừng phải không? Bằng chừng nào?”

-“Bằng bắp chân là to lắm.” Anh ta trả lời.

-“Nhiều không?” Tôi lại hỏi.

-“Mùa nầy, sau Tết là mùa “trăn hội”. Người ta đi bắt “trăn hội” đông lắm. Ông già tôi kể hồi xưa, khi chưa có chiến tranh, trăn hội nhiều lắm.”

-“Tui nghe kể “trăn hội” là khi tới mùa động đực, mấy con trăn đực đi tìm trăn cái, nên “hội” lại một chỗ phải không?”

-“Trăn đẻ trứng. Trứng phải có “trống” mới nở được, như gà vậy. Nên con trăn cái ngày nào cũng cần trăn đực. Trăn đực “hội” đông là vì vậy. Một ổ trứng trăn cũng khoảng năm bảy cái. Con trăn mẹ phải ấp cho trứng nở.”

Một lúc, anh ta nói tiếp: “Nhiều người kinh nghiệm lắm. Nhìn dấu trăn bò trên măt ruộng, người ta biết con trăn to nhỏ chừng nào, biết cả những con trăn có tật nữa.”

-“Tật như thế nào?”

-“Xương sống đuôi nó bị gãy chẳng hạn. Cái đuôi quẹo qua một bên.”

Tôi trở lại câu chuyện nuôi vịt, hỏi: “Khi mua vịt, người ta có phân vịt trống, vịt mái không? Có khi nào người ta mua vịt mái về tiếp tục nuôi để lấy trứng không?”

-“Không! Khi vịt giao được, con cái quá tuổi đẻ mạnh rồi. Muốn nuôi vịt lấy trứng, người ta phải chọn khi còn nhỏ.”

-“Làm sao phân biệt vịt đực, vịt mái?”

-“Con trống thì đầu to, đít nhỏ. Con mái đầu nhỏ đít to. Với lại, người ta phân biệt tiếng kêu: Tiếng vịt mái thì to, vịt đực thì khàn. Không nghe người ta nói: “Tiếng khàn khàn như vịt đực” sao. Truyện cổ tích kể con vịt đực kêu to: “Ai cho mầy lấy vợ tao? Ai cho mầy lấy vợ tao?” Kêu mãi nên con vịt đực khan tiếng./

hoànglonghải

  • Thông ngôn, ký lục, bạc chục không màng

Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay!

                        (ca dao thời Pháp thuộc)

  • Giải hóa: “Danh từ Phượng Hoàng”. Phượng Hoàng là “ngụy danh” “cơ quan tình báo phối hợp Việt-Mỹ, có nghĩa là “vô hiệu hóa đối tượng”, tức là giết, bỏ tù hay cô lập “cán bộ hạ tầng cơ sở Cộng Sản”, thường là ở nông thôn.
  • Ông trưởng chi Chiêu hồi với ông đại tá Huỳnh Thanh Sơn, trước 1955 là “lính của ông Năm” (Năm Lửa, Trần Văn Soái). Thời Ngô Đình Diệm, sau khi ông Năm đem quân ra hợp tác với Quốc gia, ông Trưởng chi Chiêu hồi xin giải ngủ, về quê làm ruộng, còn ông đại úy Huỳnh Thanh Sơn (đại úy của ông Năm) tiếp tục ở lại quân đội như một số “sĩ quan Hòa Hảo” khác. Vì không qua “trường lớp” nào, các ông sĩ quan nầy được cho đi “hấp lại” ở trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (tên cũ), “Khóa mười phụ” – khóa 10 là khóa của tướng Lê Minh Đảo – khóa 10 phụ dành cho các sĩ quan giáo phái “học lại”. Đại tá Huỳnh Thanh Sơn từng đến thanh tra đơn vị của tôi. Qua tiếp xúc, tôi thấy trình độ kiến thức tổng quát (culture general) của ông rất kém, chứng tỏ “sức học” của ông rất thấp!
  • “Trung Tâm Huấn Luyện Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn” ở Vũng Tàu.
  • Xem “Ông Thấy thuốc Bắc phủ Cây Tùng” trong “Hương Tràm Trà Tiên” cùng tác giả.

>>> Tìm Theo Thể Loại Mà Quý Vị Đang Quan Tâm <<< [Không Quảng Cáo]