Con kinh xáng Rạch Giá/ Hà Tiên khi tới thị trấn Kiên – Lương thì chia làm hai nhánh: Nhánh bên phải nối với Đông Hồ/ Hà Tiên. Các ghe thuyền Hà Tiên – Rạch Giá – Saigon hay ngược lại thì đi theo kinh nầy. Nhánh kia, nhánh bên trái, thì đi thẳng ra vịnh Rạch Giá, gặp biển ở Ba Hòn, – xã lỵ xã Dương Hòa, nôm na là “xã Ba Hòn”.

Nhánh thứ hai nầy, chảy ngang qua Nhà Máy Xi Măng Kiên Lương, bên bờ phải, và ấp Xà Ngách bên trái. Nghe cái tên Xà Ngách, độc giả có thể đoán chừng đó là tên Miên. Quả thật ấp nầy hơn 90 phần trăm dân số là người Miên, với một ít người Việt. Ông Đinh Nam Triệu, tác giả bài viết về “Tiểu Đoàn 66/ Biệt Động Quân Biên Phòng đánh bại Sư Đoàn Mũi Tên Thép của Việt Cộng” là người bản quán ở ấp nầy hồi năm 1955, trước khi Nhà Máy Xi Măng Hà Tiên được xây dựng bên kia kinh.

Dọc theo con kinh nầy là liên tỉnh lộ Rạch Giá / Hà Tiên. Đến cuối kinh, đụng bờ biển là một ngã ba: Rẽ phải, qua cầu Ba Hòn, là đường đi Hà Tiên, đi qua các ấp Cần Thăng, ấp Hòn Heo, ấp Bãi Ớt, ấp Bãi Chà Và thuộc quận Kiên Lương. Mũi Hòn Cọp (1) là ranh giới quận Kiên Lương với quận Hà Tiên. Qua khỏi Mũi Hòn Cọp là xã Thuận Yên, thuộc quận Hà Tiên. Địa danh và ranh giới như tôi kể là thuộc vào thời Việt Nam Cộng Hòa. Trước kia, 1945 và sau nầy 1975, khác đi nhiều.

Hai bên con đường lộ ngang ấp Xà Ngách là hai ngọn núi to. Bên phải, gần sát bờ kinh là Nhà Máy Xi Măng Kiên Lương và núi Còm, ngọn núi đang khai thác đá để làm xi măng. Phía bên tay trái, xa khoảng hơn hai cây số, tính theo đường thẳng, là núi Hòn Chông, là căn cứ cũ của “Anh Hùng Nguyễn Trung Trực”. Ông là một trong những anh hùng chống Pháp thời kỳ Pháp xâm lăng nước ta, các năm 1857- 1867.

Trong công cuộc chống Pháp xâm lược, ông lập hai chiến công hiển hách. Một là trận “Hỏa Hồng Nhựt Tảo”, năm 1861. Chiến hạm nhỏ của Pháp tên là “L’ Espérance” neo tại vàm Nhựt Tảo, thuộc quận Tân Trụ, tỉnh Long An bây giờ. Ông cùng binh lính giả làm đám cưới, đánh úp tàu Tây, đốt cháy, giết 17 thằng Tây với hai chục người Việt Nam đi lính cho Tây.

Trận thứ hai xảy ra vào năm 1868, ông đánh úp “đồn Kiên Giang”, ngay tại Rạch Giá, giết 5 quan Tây, cùng 67 lính Tây, lấy 100 súng cùng với đạn dược, giữ Rạch Giá 5 ngày đêm, sau bị Tây đánh bật ra.

Bọn Tây cùng các “quan Việt gian” như tổng đốc Phương (Đỗ Hữu Phương), tổng đốc Lộc, (Trần Bá Lộc), đội Tấn (Huỳnh Công Tấn) dốc toàn lực tấn công Nguyễn Trung Trực. Thế yếu, ông phải lui về đóng ở núi Hòn Chông. Lại bị vây, ông cùng thuộc hạ chạy ra Phú Quốc.

&

Hôm tôi lái xe cùng đi với ông Phó Nghiêm (Phó Quận Trưởng), trên đường đi vào Hòn Chông, vì câu chuyện ông Nguyễn Trung Trực ra hàng Tây, tôi nói với Phó Nghiêm:

-“Không có bọn thống trị nào là không hèn hạ.”

-“Tại sao “ông” nói thế. Bọn mình đây, trong xã hội nầy, không phải là bọn thống trị sao?”

-“Tôi nghĩ không phải thế. Hôm ông nói câu: “Luật pháp là do giai cấp thống trị đặt ra để bảo vệ quyền lợi của giai cấp họ”, thì tôi nghĩ ngay “ông” là người “thiên tả”. Sau đó, nghĩ lại, tôi cho là tôi nghĩ sai. Tuy tôi không xuất thân “Quốc Gia Hành Chánh” như “ông”, nhưng “Quê Hương” (2) thì tôi đọc hết và đọc kỹ lắm, nhứt là bài của mấy ông giáo sư dạy về “Xã Hội Học”. Tôi là con nhà nghèo, khoái môn nầy!  Vậy rồi, tôi nghĩ rằng, tôi – riêng tôi mà thôi -, phục vụ trong ngành “Thi hành Luật Pháp”, tức là thi hành luật pháp do giai cấp thống trị đặt ra để bảo vệ quyền lợi cho chúng, thì tôi là “tay sai” của giai cấp thống trị, chớ không thể là giai cấp thống trị được. Tôi làm tay sai, chỉ thế thôi, tay sai mà thôi. Còn như bọn thống trị, ngày xưa, thời quân chủ chuyên chế, thời thực dân Pháp, thời Bảo Đại làm “Quốc Trưởng”, thời Cộng Hòa, kể cả bọn Cộng Sản ngoài kia hay trong Nam đều “cá mè” một lứa cả, “ăn trên ngồi trốc”, hưởng thụ, vui chơi ở thủ đô, “trốn lính”, “trốn cái gọi là “Nghĩa vụ quân sự”, cho con đi du học… có đâu phải lội suối băng rừng, ngày đêm chống giặc, mà thực chất là bảo vệ quyền lợi cho bọn thống trị. Phải không?”

Ông Phó Nghiêm thở ra, không trả lời tôi.

Ông Phó Nghiêm cũng là “con nhà quan”, dân khoa bảng, có chức có quyền, nhưng lại có tư  tưởng “khuynh hướng xã hội” như tôi vậy. Tôi và ông đều ngưỡng mộ luật sư Nguyễn Hữu Thống, Nasser.

-“Nói gọn gọn thôi.” Tôi nói, “không kể thời vua chúa, hồi ông Bảo Đại làm Quốc Trưởng, năm 1949, ông anh cả tôi, Hồng Quang, làm chủ báo “Ý Dân” ở Huế. Báo của ông chống Tây, chống “tay sai” Phan Văn Giáo. Ban đầu, ông Giáo mua chuộc, bảo anh tôi về làm tờ “Tổ Quốc” cho ông ta. Ông anh tôi không nhận. Ông đang có khuynh hướng “ủng hộ kháng chiến”, bảo rằng “Phan Văn Giáo mà “Tổ Quốc” gì”! Thế rồi hai tên “Công An Quốc Gia”: Nguyễn Văn Ba, Hoàng Bá Linh chận anh tôi tại tiệm xe đạp Tiếng Chuông ở chợ Bến Ngự, đánh ông một trận sưng mặt sưng mày. Sau đó, nhân vụ tên Kock giết ông Hà Văn Lang, đợt khủng bố xảy ra, chúng bắt ông anh tôi đem thủ tiêu, không biết chết ngày nào, mồ mả ở đâu hay chúng đạp xuống sông Hương rồi.”

-“Chế độ nào chẳng thế. Không dám “công khai minh bạch” thì dùng thủ đoạn. Đám “Trăm Hoa Đua Nở” ở ngoài Bắc cũng bị Tố Hữu dùng “thủ đoạn lưu manh” mà “trừng trị” vậy. Ông đọc sách Hoàng Văn Chì thấy ngay chứ gì.”

-“Thất vọng ghê!” Tôi nói.

-“Các ông vua ngày xưa mà lại hay. Trị dân bằng “vương đạo”, bằng “đức trị”, không chơi trò “xã hội đen” bao giờ. “Ông” thấy vua Minh Mạng không?! Ghét Lê Văn Duyệt dữ lắm, nhưng khi ông Lê Văn Duyệt còn sống, ông Minh Mạng có làm gì đâu! Kiềng mặt đấy chứ!”

-“Về đây mấy lâu nay, thấy Núi Hòn Chông nầy, nhớ tới câu chuyện Tây bắt mẹ ông Nguyễn Trung Trực để làm áp lực, bọn Tây chơi trò hèn hạ thế. Văn minh Tây phương bỉ ổi kém gì Văn minh Đông phương đâu”.

Phó Nghiêm hỏi tôi: “Ông Nguyễn Trung Trực có về đóng ở núi nầy hả?”

Tôi cười: “Mấy ông học trường Tây, nói tới lịch sử Việt Nam là ù ù cạc cạc. Không chừng lại cho mấy người chống Tây là bọn phản “phản quốc”, bọn Việt gian là yêu nước. “Ông” biết không, ngay từ hồi mất ba tỉnh Miền Đông Nam Phần, dân Nam Bộ khởi nghĩa nhiều nơi, phần đông là nông dân. So với khi vua Hàm Nghi chạy ra Hà Tĩnh, xuống chiếu “Cần Vương”, người miền Trung, miền Bắc nổi lên phò vua cũng không nhiều bằng.”

-“Tôi cũng biết mang máng về ông Nguyễn Trung Trực nầy thôi.” Phó Nghiêm tự nhận. “Hình như ông có tượng ở Saigon.”

-“Ông Nguyễn Trung Trực đánh thắng Tây hai trận lớn. Một là trận “Hỏa Hồng Nhựt Tảo”, trận thứ hai là đánh chiếm Rạch Giá. Huỳnh Mẫn Đạt khen bằng hai câu thơ:

“Hỏa Hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa,

            Kiếm bạc Kiên Giang khốc quỷ thần.”

Trận trước là đốt tàu Tây ở vàm Nhật Tảo đỏ lộng cả trời đất, một trận nữa ở Kiên Giang khiến quỷ thần phải khốc. “Khốc” là “khốc liệt” đấy! Thất bại ở Kiên Giang ông kéo quân về núi Hòn Chông nầy. Tôi không hiểu sao?”

-“Không hiểu sao là sao?” Phó Nghiêm hỏi tôi.

-“Ông” thấy ở Cao Nguyên, núi rừng trùng trùng điệp điệp. Thất thế ở núi nầy, rút qua núi khác. Núi rừng bạt ngàn biết đâu mà kiếm. Có kiếm cũng không được. Còn như ở đây! Ngọn núi cô độc nầy, đâu có lớn lắm. So với Ngự Bình ở Huế cũng tương đương nhau. Địch nó vây, tới lui đằng nào cũng không được. Ông ta chạy ra Phú Quốc là phải.”

-“Ra Phú Quốc rồi cũng phải ra hàng!”

-“Tui nói mấy thằng Tây hèn là vậy. Biết khó đánh ông ở ngoài đó, chúng bắt mẹ với gia quyến ông, buộc ông phải ra hàng. Chờ một ngày thấy ông không ra, nó chém một người. Người cuối cùng sẽ là mẹ ông. Vì vậy, ông phải hàng. Đó là mưu của Tào Tháo bắt mẹ Từ Thứ của bọn Tàu. Không rõ thằng quan An-Nam nào bày mưu cho thằng Tây, dùng độc kế với Nguyễn Trung Trực.”

-“Anh nghĩ bọn Tây không nghĩ ra cái mưu ấy?”

-“Văn hóa Tây với ta khác nhau. Tây ít có hiếu với mẹ như người Á Đông.”

Phó Nghiêm không cãi lại tôi.

Một lúc, tôi nói: “Khi đánh nhau ở xứ người, – tui chỉ nói đánh nhau mà chưa nói xâm lăng -, mình phải hiểu văn hóa của dân tộc nơi ấy, mới mong thành công. Nếu đánh nhau ở Lào, mình phải biết tâm tính người Lào như thế nào. Khi đem quân qua Miên, mình cũng phải hiểu người Miên. Bọn Mỹ từ nửa quả địa cầu bên kia qua đây, biết mẹ gì về người Việt Nam, lo cuốn cờ về sớm là đúng thôi. Chiến tranh nầy, chỉ có người Việt Nam đánh nhau với người Việt Nam mới “tận tình.”

-“Đại úy nói “tận tình” là sao?” Ông Nghiêm hỏi.

-“Là đánh từ nhà trước ra nhà sau, từ nhà trên xuống nhà dưới, từ nóc nhà xuống hầm bí mật dưới gầm giường, đánh vô tận tim gan kẻ địch, giết cho sạch từ chủ nhà tới người ở… Nói vậy được chưa”?

-“Chưa!” Phó Nghiêm vừa cười vừa trà lời tôi.

-“Tru di tam tộc” là gì? Giết cho sạch nòi phản động là gì? “Đào tận góc, trốc tận rễ” là gì? “Lôi cổ bọn nó ra đây, Bắt quì gục xuống, đọa đày chết thôi.”

            -“Xuân Diệu phải không?”

-“Chớ ai nữa! Người Việt đánh nhau với người Việt, như vậy là chưa “tận tình” sao?!”

Bấy giờ tôi và Phó Nghiêm vô tới một cái ngã ba: Bên phải là đường ra biển, sau khi đi qua Chùa Hang, gặp ngay bờ biển. Từ bờ biển nầy, ngó ra xa xa là Hòn Phụ Tử”.

Ngay ngã ba nầy là đầu núi, chỗ xưa kia, trước 1945 là trụ sở “Quận Hòn Chông”, nay con dấu tích là một cái cổng gạch còn mang tên quận, đạn phá loang lổ. Con đường bên trái, chạy dọc theo chân núi Hòn Chông, tới cuối ngọn núi là ấp Rạch Đùng. Băng qua ấp Rạch Đùng là con đường ra biển. Con đường lại tiếp tục chạy theo chân núi, một bên là núi cao, một bên là biển xanh. Hết con đường nầy là gặp con đường đi vô Chùa Hang như tôi nói lúc nãy.

Tôi nói với Phó Nghiêm:

-“Ông phó thấy không! Nhỏ chút xíu nầy mà cũng thành lập một cái quận.”

-“Tại vì hồi xưa Ông Nguyễn Trung Trực đem quân về đóng ở đây đấy.  Chia lãnh thổ nhỏ ra để dễ “nắm” dân.”

-“Núi Hòn Chông nầy thật ra không lớn lắm đâu. Chạy xe hơi một vòng hơn một tiếng đồng hồ là giáp vòng. Nhưng có lẽ cả vùng nầy, xưa kia hoang vắng lắm, lẻ tẻ chỉ có một ít người Miên. Nơi nầy vắng đến nỗi có “Cà Bây Ngọp.”

-“Cà Bây Ngọp” là một cái “đầm”, – tôi giải thích -, “đầm trâu chết”, cách ấp Rạch Đùng khoảng hơn nửa cây số về phía đông. Hồi xưa, có một trận dịch trâu kinh lắm. Trâu do người Miên nuôi, kéo nhau về cái đầm đó mà chết, hàng trăm con, con nầy chết chồng lên con kia, cho tới khi trận dịch qua mới thôi.”

-“Dịch gì?” Phó Nghiêm hỏi.

-“Ai biết dịch gì! Chỉ nghe mấy ông già Miên kể lại là dịch mà thôi. Mấy ông già Miên đó cũng không rành. Họ cũng chỉ nghe ông bà kể lại. Chuyện xưa lắm rồi, chỉ còn cái tên.”

-“Sao đại úy biết cái tên ấy?”

-“Đọc bản đồ. Hồi còn đi dạy, tôi dạy môn sử địa. Với lại tôi cũng tò mò vì nghề nghiệp, ngày nào tôi cũng đọc bản đồ, cập nhật hoạt động của “hạ tầng cơ sở Cộng Sản”. Thằng nào, tên gì, chức vụ gì, xuất hiện ở tọa độ nào, ý đồ gì… Có vậy, lính của tôi mới “giải hóa hạ tầng cơ sở Cộng Sản” (3) được chớ.”

-“Việt Cộng có xuất hiện ở cái đầm đó?”

-“Không! Nơi đó không có quyền lợi gì nên không có bọn đó. Trơ trọi chỉ có một cái “đầm Cà Bây Ngọp”, cạn gần hết, cá không tụ lại sau “mùa nước nổi”. Tụi nó chỉ giữ những cái đìa dọc “Kinh Kháng Chiến” để thu thuế mà thôi. (4).

-“Theo tôi biết, ngoài ấp Rạch Đùng, vùng nầy không có dân.”

-“Không có nước ngọt, không làm ruộng được, dân không ở được. Từ ấp Rạch Đùng tới “Xóm Biển” ở Vàm Rầy là vùng đất hoang, chưa ai khai thác, coi như “nguyên sinh”.

-“Kể cả thời Tây.”

-“Vâng, kể cả thời Tây. Hồi đó, Tây cho đào một con kinh, trong bản đồ gọi là Kinh Số 1, trên ranh giới ấp Xà Ngách và ấp Lò Bom, kế “lò vôi Ba Nhân” (5), lấy nước từ kinh Rạch Giá Hà Tiên, đem tuốt xuống ấp Rạch Đùng.  Để làm gì ông Phó biết không?”

-“Để dựng lên một “Dòng tu Đạo Thiên Chúa” ở ấp nầy. Con kinh nầy lợi hại lắm: Một là Dòng Tu Rạch Đùng có nước ngọt dùng. Hai là dựng một cái ấp ở đây, di dân về. Dân nầy phần đông có đạo Thiên Chúa. Ông không thấy dân chúng ấp Rạch Đùng phần đông có đạo Chúa cả sao. Họ là con cháu của những “lưu dân tiên khởi”. Dòng Tu ở đây, nhà thờ ở đây, sau 1945, bị Việt Minh triệt hạ sạch. Thành ra, Việt Cộng chỉ ẩn núp tại núi Hòn Chông, phía biển, mà không dám xuất hiện ở ấp Rạch Đùng.”

-“Tại sao?”

-“Cộng Sản với đạo Thiên Chúa như nước với lửa vậy mà.”

-“Sao ông rành vậy?

-“Cha Đại! Cha Đại kể cho tui nghe. Cha còn gặp một chuyện gay cấn nữa.”

-“Chính Cha?” Phó Nghiêm hỏi.

-“Sau “Đồng Khởi”, tình hình Rạch Đùng vẫn yên. Họ đạo vẫn sinh hoạt bình thường. Việt Cộng chỉ ẩn núp ở mấy cái hang ở núi Hòn Chông, phía biển. Ông Diệm chết rồi, Việt Cộng hoạt động mạnh hơn. Trong khi mấy ông tướng đang lo chuyện đảo chánh ở Saigon, thì Việt Cộng “bứng” cái “đồn Bảo An” gần chỗ con đường xe và kinh số 1 gặp nhau. Phe ta bỏ dân luôn cho Việt Cộng, tụi nó làm gì thì làm.”

-“Còn Dòng Tu?”

-“Dòng Tu thì dẹp bỏ lâu rồi, từ hồi “Chiến tranh chống Pháp” kia. Họ đạo thì còn. Con chiên còn thì họ đạo còn, như “Tha La xóm đạo” vậy.

-“Cha Đại không đi?”

-“Cha không muốn đi. Con chiên của cha còn đó thì Cha còn ở lại đó. Cha khổ vì tụi Việt Cộng dữ lắm.”

-“Nó bỏ tù, đánh đập Cha?”

-“Không! Nó đẩy cha vào tình thế dễ chết hơn. “Mừng sinh nhật “bác” Hồ”, “Mừng Quốc Khánh 2 tháng 9”, “Mừng ngày “thành lập Đảng 3 tháng 2”, bọn nó tập trung dân chúng “mừng”, biểu tình “hoan hô”, rồi “mời Cha phát biểu.”

-“Cha nói sao?”

-“Tui cũng hỏi Cha như vậy. Cha cười. Cha nói: “Cha cũng phải nói chứ. Không nói là tụi nó giết sao! Cha cũng phải nói hai hai, nửa nạc, nửa mỡ. May mà Cha cũng có đọc mấy bài của mấy ông Cha “thiên Cộng” ở Saigon, như Cha Lan, Cha Từ, Cha Cần…” nên cũng có vài ý, con chiên vỗ tay mà tụi nói cũng hoan nghênh.”

-“Tui nói với Cha là tui không biết Cha nói gì! Cha giải thích đại khái như “Công Giáo với Dân Tộc”. Cha cũng lựa thế mà đánh lừa tụi nó. Tụi nó là Cộng Sản mà “mặc cái áo Dân Tộc”, thì Cha cũng “mặc cái áo Dân Tộc” để tụi nó không giết Cha được. Giết Cha là chống lại Dân Tộc sao?” Tui nói: “Cha cũng mưu trí lắm, không thì tụi nó giết Cha rồi. Ở cái chốn “kinh cùng rạch chẹt” nầy, tụi nó có giết Cha, cũng không ai biết! Biết cũng không làm chi được. Cha nói một lần thôi! Cha sẽ không bao giờ “ở với Việt Cộng” lần thứ hai nữa!

-“Ông” có thấy cái thế “kẹt” của dân chúng không! Theo chúng không được, chống lại chúng thì chết. Đó là thời bây giờ. Thời Thực Dân cũng vậy.”

-“Ông Phó nói sao? Tôi chưa hiểu.

-“Đại úy nhìn lại địa thế nơi nầy coi. Phía cuối núi đằng nầy là “quận đường”, có “quan quận trưởng”, có “lính tráng của Tây”. Phía cuối núi đằng kia là một Dòng Tu, một xóm Đạo, những người muốn phục thù cho Nguyễn Trung Trực, những người muốn nổi dậy chống Pháp như Nguyễn Trung Trực, không dùng núi Hòn Chông như Nguyễn Trung Trực được. Chiến lược đàn áp và cai trị của bọn Tây đấy. Đâu phải là “tình cờ”.

-“Nhưng do đâu mà ông Phó nghĩ đó là chiến lược?”

-“Không có nước ngọt làm sao có Dòng Tu với họ Đạo Rạch Đùng. Dùng bạo lực chặn đằng kia, dùng tôn giáo chặn đằng nầy. Đó là một nút chặn, một tiền tiêu, một tiền đồn bằng xóm Đạo, phải có nước ngọt. Bộ “ở không” hay sao mà Tây cho đào Kinh 1, dẫn nước ngọt cho Dòng Tu với Xóm Đạo. Kinh nầy cũng là một tuyến đường vận chuyển, liên lạc, hỗ trợ quân sự khi cần thiết!”

Tôi làm thinh, suy nghĩ về nhận xét của ông Phó Nghiêm. Một lúc sau, tôi nói:

-“Họ Đạo thì còn. Dòng Tu bỏ luôn. Tại sao không dựng lại Dòng Tu, thành lập một Khu Trù Mật hay Dinh Điền ở đây. Ông Phó biết không! Các Khu Trù Mật hay Dinh Điền đều có tính cách chiến lược quân sự cả đấy. Trong Chiến Tranh Việt Pháp, Việt Minh đánh bại lính Pháp ở Định Quán. Di chuyển ngang đây, tụi Pháp sợ lắm. Tổng thống Diệm lập các khu định cư từ Định Quán tới ngã ba Dầu Giây, nên sau nầy, Việt Cộng không đánh được trận nào ra hồn ở đây, bị cắt luôn con đường giao liên từ Mật Khu Dương Minh Châu xuống Mật Khu Mây Tầu. Dinh Điền Cái Sắn cũng vậy, cắt luôn con đường chuyển quân của tụi nó từ Kampuchia về Cà Mau, trong khi ở đây, lập Nhà Máy Xi-Măng Kiên Lương mà để nó chơ vơ. Một tiểu đoàn Địa Phương Quân giữ Nhà Máy Kiên Lương nằm kế bên Mật Khu Trà Tiên nên Nhà Máy bị tấn công hoài, pháo kích hoài. Vậy mà hai bên có thỏa thuận ngầm với nhau rồi đó.”

-“Thỏa thuận ngầm? Chuyện gì?” Ông Phó Nghiêm hỏi.

-“Ông” biết chuyện đào kinh cho Nhà Máy chớ?”

-“Biết!” Phó Nghiêm trả lời.

-“Từ Bassac (6), người ta đào nhiều con kinh để dẫn nước ra biển, xuyên qua lãnh thổ tỉnh Long Xuyên/ Kiên Giang. Nhờ những con kinh nầy mà một số vùng đất hoang có nước ngọt để trồng lúa. Kinh lớn nhất là kinh Long Xuyên / Rạch Giá (7) tạo nên vùng Cái Sắn, kinh Núi Sập cho “Đồng Huệ Đức” và Nam Thái Sơn, kinh Xà Tón cho vùng ruộng Chủ Ry và Thầy Ban. Trên biên giới Việt Miên là kinh Vĩnh Tế. Kinh Vĩnh Tế đào vào đời Gia Long/ Minh Mạng, sau đó là Kinh Thoại Hà, cũng đào vào thời kỳ đó. Các con kinh khác như kinh Mỹ Lâm (8), kinh Nam Thái Sơn, kinh Xà Tón đào vào thời Pháp thuộc. Đầu các năm 1960, 61 khi dự tính lập Nhà Máy Xi-Măng Hà Tiên, chính phủ dự tính đào một con kinh dài từ sông Hậu, ngang tỉnh Châu Đốc, lấy nước ngọt về cho Nhà Máy Xi Măng Hà Tiên, nhưng Việt Cộng cản trở, phá hoại.

-“Tôi có nghe nói Việt Cộng bắt cóc những người trắc địa, cắm cọc tiêu.” Phó Nghiêm nói.

-“Ông Phó có biết tại sao Việt Cộng phá không?”

-“An ninh của tụi nó chớ gì?” Phó Nghiêm trả lời.

-“Nếu con kinh cho Nhà Máy được đào, có hai bất lợi cho bọn chúng. Một là, con kinh nầy nằm sát Mật Khu Trà Tiên. Từ đây, phe ta tấn công vào Mật Khu nhanh chóng, tụi nó chạy qua Miên không kịp. Tỉnh ủy Long/ Châu/ Hà (9) của tụi nó đóng ở đây sẽ rất lạnh giò, tối lại ngủ không yên. Lính Ba Hà (10) “vào thăm” lúc nào không hay. Thứ hai, Đường Giây 1-C (11), lại bị cắt thêm một điểm nữa, tại nơi nầy, tụi nó sẽ bị hao dữ lắm. Tại sao mình không “cứ đào”, tụi nó phá kệ nó, mắc chi lại ngưng, bỏ ngang. Bây giờ, ở Cây Số 15, Tướng Nam ra lệnh “triệt để” trăm phần trăm, không cho chúng vượt lộ thì cũng đã trễ. Tụi nó vượt lộ hàng tiểu đoàn, có khi cấp trung đoàn, chận sao nỗi. Tất cả những con kinh chạy ngang Đường Giây 1C, bây giờ đều bỏ hoang, không có nốt chặn nào cả, Việt Cộng di chuyển tự do, bất lợi hết sức.

-“Không đào kinh thì nhà máy đào hồ?” Phó Nghiêm nói.

-“Hồ rộng lắm, phía sau phi trường An Bình, mỗi bề dài 1 cây số. Tới mùa nước nổi, Nhà Máy bơm nước vào hồ, chứa ở đó, cho lắng phèn, rồi bơm lên “chateau d’eau”.

-“Tụi nó phá chateau d’eau?”

-“Chateau d’eau có bốn chân. Tụi nó đặt “mìn” làm “bay” mất một chân, chưa sập, còn dùng được! May quá.”

-“Lỗi ở đại úy hay lỗi ở Chi- Khu?” (12)

-“Cái nầy “lảnh củ” dễ như không! Nếu là do bọn nằm vùng đặt mìn phá hoại, tôi “lảnh đủ”. Tui tìm ra dấu tích tụi nó từ ngoài rừng mò vô, tui biểu thiếu úy Kiệt chụp hình đưa cho Chi Khu Trưởng coi. Coi xong, Thiếu tá Sầm Long mặt buồn thiu./

(còn tiếp)

(1)-“Mũi Hòn Cọp” là một cái đèo nhỏ, nơi bờ biển nhô ra xa, phần nối dài của Hòn Heo, là vùng đất cao, thuộc núi Tô Châu ở Hà Tiên, ranh giới giữa hai quận Kiên Lương và Hà Tiên, cùng thuộc tỉnh Kiên Giang. Chuyện kể ngày xưa ở nơi mũi nầy, có một “ông” cọp hễ khi trời chiều, “ông” ra ngồi ở đây, ngó mông ra biển, khiến khách bộ hành qua lại, ai nấy đều sợ hãi. Có ông lão nhà xóm bên kia mũi Hòn Cọp, qua ăn giỗ ở xóm bên nầy. Tới chiều, ông ta đòi về. Có người nói: “Giờ nầy, “ông” cọp ra ngồi trên đèo, về là nguy đấy.” Rượu hơi ngà ngà, ông ta bảo: “Tao mà sợ cọp à! Cọp sợ người chớ người nào mà sợ cọp.” Xong, ông lão nhứt quyết cặp dù ra về. Lên gần tới đỉnh đèo, gió biển mát làm ông tỉnh rượu. Ông lão thấy sợ, nhưng đã trót nói gan, không lý lại trở lui. Tới đỉnh đèo, tuy trời nhá nhem, nhưng rõ ràng, có con cọp đang ngồi giữa đèo. Ông lão hoảng quá, la to lên một tiếng, chụp cây dù đang kẹp bên nách, giương lên. Cọp bất chợt thấy người hiện ra, có tiếng la to, rồi người bỗng hóa ra một bóng đen to lù lù tiến tới. Cọp hoảng hồn, phóng vô rừng, chạy mất. Từ đấy, cọp không còn ra ngồi trên đèo nữa. Ai nấy đều phục ông lão, đèo có tên là “Mũi Hòn Cọp”.

(2)-“Quê Hương” tập san đăng các bài của giới trí thức/ giáo sư đại học Saigon thời Đệ Nhứt Cộng Hòa.

(3)-“Giải hóa Hạ tầng Cơ sở Cộng Sản”: Danh từ “Phượng Hoàng”, tức là giết hoặc bắt giam tù cán bộ hạ tầng của Cộng Sản ở nông thôn. (cấp ấp, xã…)

(4)-Sau “Mùa nước nổi” (tháng 7, 8…), nước ở vùng đồng bằng Miền Tây Nam Bộ rút dần, loài thủy sản (phần nhiều là cá), tụ lại trong các đìa, có đìa nhiều tới vài ba chục “thùng thiếc”. Ngày xưa, dân chúng tự do “tát đìa bắt cá”. Trong chiến tranh, vì các đìa nầy thường nằm trong rừng sâu, nên “cán bộ kinh tài Việt Cộng” bắt dân phải đóng thuế cho chúng mới được bắt cá. Những đìa nầy thường là nơi các lực lượng võ trang phía Cộng Hòa phục kích để “giải hóa cán bộ kinh tài Việt Cộng.”

(5)-Ngay đầu kinh 1, ông Ba Nhân, một trong các chủ lò vôi ở Kiên Lương, dựng một cái lò đốt vôi thật lớn, nhưng Ba Nhân chỉ đốt vôi được một lần rồi thôi, vì bị Chín Vĩnh cạnh tranh.

(6)-Bassac tức sông Hậu, Hậu Giang. “Cửa Ba Thắc” là từ danh từ Bassac mà ra.

(7)-Theo cựu thiếu tá Đinh Sơn Tuyền, con trai ông Chủ Ry, xưa làm “chủ điền” ở Vàm Rầy, thì thân phụ ông Chủ Ry là một ông Tây gốc ở đảo Corse, chủ Tây mướn qua lái các “kinh xáng đào”, hoặc “kinh xáng thổi” ở Miền Tây Nam Bộ. Công lao đào những con kinh lớn vùng nầy như kinh Long Xuyên/ Rạch Giá, Rạch Giá/ Hà Tiên… là của ông “Tây đảo Corse” nầy. Tuy có vợ Việt Nam nhưng về sau, ông trở về Pháp.

(8)-Xã Mỹ Lâm, quận Kiên Thành (cũ), tỉnh Kiên Giang là quê hương Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng Việt Cộng.

(9)-“Tỉnh ủy Long Châu Hà”: Trong chiến tranh, Việt Cộng gom tỉnh ủy ba tỉnh Long Xuyên/ Châu Đốc/ Hà Tiên làm một, gọi chung là Long-Châu-Hà, đóng ở Mật Khu Trà Tiên. Khi “bị động”, tỉnh ủy nầy chạy qua Miên.

(10)-Ba Hà, nguyên xã trưởng Đức Phương, đại úy đồng hóa, chỉ huy trưởng “Thám Sát Tỉnh” (Pru). Lực lượng Thám BSát nầy thường vào tận mật khu đánh phá Việt Cộng. Sau tháng Tư/ 75, Ba Hà cùng binh sĩ của ông rút vào rừng, tiếp tục chống Cộng. Không rõ tin tức về sau.

(11)- Đường Giây 1-C: Đường di chuyển của Việt Cộng, thời “kháng chiến chống Pháp”, từ Kampuchia tới Cà Mau. Trong địa giới Kiên Giang, đường giây nầy di chuyển theo “Kinh Kháng Chiến” là con kinh được đào trong thời gian nầy, dọc theo ranh giới hai tỉnh Long Xuyên và Kiên Giang.

(12)-Mỗi khi Cộng Sản tấn công Nhà Máy Xi Măng Kiên Lương, nếu do bọn “nằm vùng” phá hoại là trách nhiệm của Cảnh Sát. Nếu do lực lượng quân sự Cộng Sản dịa phương tấn công, là trách nhiệm phía quân sự./

>>> Tìm Theo Thể Loại Mà Quý Vị Đang Quan Tâm <<< [Không Quảng Cáo]