Sáng thứ bảy, tôi vào phòng truyền tin, gọi các cuộc Cảnh Sát thuộc quyền, kêu từng ông thiếu úy trưởng cuộc lên đầu máy, coi thử có ông nào cuối tuần “lặn” khỏi địa phương mà đi “du hí” Rạch Giá hay Hà Tiên gì không.

Tới khi tôi gọi cuộc Đức Phương, thiếu úy Chiếu lên đầu máy, nói với tôi:

-“Ông Ba Hà về tối qua, hỏi thăm đại úy.”

-“Ông ấy có muốn gặp tôi không?” Tôi hỏi.

-“Không nghe nói, nhưng hình như ông có ý ấy.” Thiếu úy Chiếu trả lời.

Tôi biểu:

-“Ông gặp Ba Hà, nói với ông một chút nữa tôi xuống chơi. Dặn chừng ông chờ tôi.”

Xong, tôi gọi thiếu úy Kiệt và thượng sĩ Năm Hùng – Đặng Tấn Hùng – cùng đi với tôi.

Tôi nghe có tiếng nói phía ngoài, phía văn phòng Cảnh Sát Đăc Biệt: “Ông nầy không có ngày nghỉ. Chắc dời tới ngày mai mới nhậu.” Có lẽ họ than phiền việc tôi kêu họ đi cùng với tôi. Dân Nam Bộ mà, “cuối tuần không nhậu đời không vui”. Tuy nhiên, tôi có lý do của tôi, từ ông anh tôi mà ra.

Ông anh kế tôi, là công chức tỉnh Quảng Trị, năm 1972, chạy giặc, rồi nhờ một người bạn của tôi làm ở “Phủ Đầu Rồng”, xin đổi tuốt vô Gia Định, làm phó quận trưởng quận Bình Chánh, tỉnh Gia Định.

Hôm ông mới vô Saigon, tôi từ Hà Tiên về thăm, anh em rủ nhau đi ăn, đi nghe nhạc ở “Queen Bee”. Trong khi gặp nhau, anh em nói chuyện chơi, nhắclại nhiều chuyện: Chuyện thời thơ ấu, chuyện “Hùng móm” tử trận ở Cầu Lòn khi chỉ huy đại Đội 112 Dù tái chiếm cổ thành Quảng Trị, chuyện buôn vỏ đạn đồng chút xíu không bị tù cũng sạt nghiệp, chuyện ông độc quyền thầu hết 9 mỏ đá ở Quảng Trị bán cho Mỹ xây phi trường Đông Hà kiếm bộn bạc… Rồi ông hỏi tôi:

-“Năm kia đại tá P.B.H. ra nhận chức tỉnh trưởng, người đầu tiên mà chả tới tận nhà thăm là ai mày biết không?”

-“Ai?” Tôi hỏi.

-“Tau chớ ai!” Ông anh tôi trả lời có vẻ tự hào.

-“Gì mà phải tới thăm anh dữ vậy?” Tôi hỏi, không tin tưởng.

-“Mày biết! Tao là “thổ công” Quảng Trị, trưởng phòng tài thu mà, làm việc tỉnh nầy hai mươi năm. Tất cả nguồn lợi của tỉnh, nguồn lợi nào lớn nhỏ tau biết hết. Tỉnh trưởng muốn có tiền đóng hụi chết, hụi sống, phải biết kiếm tiền ở đâu chớ.”

Câu chuyện của ông anh tôi, làm tôi suy nghĩ không ít, xấu có tốt có. Nói trắng ra, nó có lợi cho người cầm quyền, về cả hai mặt công cũng như tư. Đó là thực tế.

&

Thời Ngô Đình Diệm, Ba Hà là xã trưởng xã Đức Phương hơn năm năm. Còn trẻ và lại là người địa phương – ông ta sinh trưởng và lớn lên ở đấy, là “thổ công” xứ nầy, như trường hợp ông anh tôi ở Quảng Trị vậy. Do đó, chỉ nói về mặt an ninh, ông ta là một xã trưởng giỏi. Chưa kể ông là người có lòng, biết phục vụ cho xã, hết lòng vì dân chúng.

Bây giờ, Ba Hà là “đại úy đồng hóa”, chỉ huy trưởng đại đội Thám Sát Tỉnh. Lính tráng của ông hoạt động rất có kết quả. Phần đông họ là “hồi chính viên”, cũng là dân địa phương cả thôi,  từng làm du kích hay cán bộ Việt Cộng nên họ có nhiều kinh nghiệm về hoạt động của Cộng Sản. Việt Cộng di chuyển, họp hành, hành quân, canh gác, đề phòng, giao liên, tiếp tế, thói quen… họ đều biết cả. Do đó, thay vì họ đóng đồn bót chờ Việt Cọng tấn công thì họ tấn công trước, vào tận bưng, tận “sào huyệt”, theo như câu “Bất nhập hổ huyệt an đắc hổ tử” của người xưa. Trong chiến tranh du kích, bao giờ họ cũng là người nắm thế chủ động, “thế tấn công”. “Tiên hạ thủ vi cường” nên bao giờ cũng thắng lợi.

Cách đây hơn một tháng, mới sáng sớm, tôi gặp Ba Hà ở Vàm Rầy. Tôi hỏi thăm “Anh đi đâu sớm vậy?” Ba Hà cười nói: “Lâu lâu về thăm bà con.”

Tôi đoán chừng ông ta không nói thật.

Sau đó thì rõ ràng. Do tin tình báo – tình báo của tôi mới “ngộ” chớ – Ba Hà biết có một đơn vị “Bắc Việt Cộng Sản xâm lược” – nói như thế cho đúng “danh từ Phượng Hoàng” – từ Kampuchia vượt qua mật khu Trà Tiên, di chuyển trên “Đường giây 1-C” để về Chương Thiện, dừng chân trong rừng tràm, ngang Vàm Rầy. Đêm vừa qua, “đệ tử” của Ba Hà, dùng hồng ngoại tuyến cá nhân, phát hiện các trạm gác của Việt Cộng, luồn lách qua khỏi các trạm đó, vào tận chỗ bọn chúng dừng quân. Trong khi chúng đứa đang ăn, đứa đang ngủ thì “lính” Ba Hà gài mìn claymore chung quanh chỗ đóng quân của chúng, canh giờ nổ, rồi rút ra phía ngoài, chờ giờ mìn nổ và chờ kết quả.

Buổi sáng hôm đó, Ba Hà xuống Vàm Rầy sớm, là để chờ “đệ tử” trong rừng ra, báo cáo kết quả cuộc tấn công đêm qua. Việc như thế, ông ta dấu cả tôi.

Việc nầy làm tôi nhớ câu chuyện bố của con nhỏ Mao Tú Phương bị thương, ba vết nhỏ phía sau lưng, không chảy máu. Có lẽ khi ông ta ở trong rừng, nhờ quay lưng về phía trái mìn claymore nên bị ba vết đạn, phía vai. Một thân cây hay cái gì đó che ngay giữa lưng ông nên ông không bị nặng. Mìn claymore nầy do đám “đệ tử” Ba Hà gài chớ gì! Số còn may!

&

Tôi vẫn thường nghĩ tới một người như Ba Hà. Muốn xứ Vàm Rầy nầy được yên, nếu muốn Việt Cộng không “xây dựng (được) “hạ tầng cơ sở”, thì dân chúng địa phương cần có một người rành rẻ mọi sự như ông ta, một“thổ công” có lòng với dân thì hay biết bao nhiêu!

Khi xuống Vàm Rầy, tôi gọi thiếu úy Kiệt và thượng sĩ Năm Hùng đi theo, không phải không có ý định gì. Tôi đem theo thiếu úy Kiệt là để ông ta học hỏi thêm, ông ta còn ham ăn nhậu – trong khi tôi vẫn thường nhấn mạnh đến nhiệm vụ của ông ta: “Anh là gì anh biết không? Thời Ngô Đình Diệm, anh là trưởng chi Công An dó, nhiệm vụ bao trùm cả một quận. Vậy mà cứ làm việc ba lơi khơi”; còn thượng sĩ Năm Hùng lại là một “thổ công thứ hai” vùng nầy.

Khi Ba Hà làm xã trưởng thì Năm Hùng làm trưởng ấp Vàm Rầy, sau được lên làm “Hội viên Cảnh Sát” xã.

Hiện giờ, mỗi xã có một Cuộc Cảnh Sát nhưng thời Ngô Đình Diệm, mỗi xã chỉ có một Hội Viên Cảnh Sát xã.

Hội viên Cảnh Sát xã cũng là người địa phương, phối hợp với phó xã trưởng An Ninh để trông coi việc an ninh và trật tự trong xã. Vì thượng sĩ Năm Hùng phục vụ ở Vàm Rầy không lâu nên kinh nghiệm ông ta ở đây không nhiều. Tuy nhiên, với toàn quận, thì ông ta khá rành rẻ, chỉ cho tôi nhiều điều mà nếu không có ông “thổ công Năm Hùng” thì tôi không biết được, không làm việc có kết quả, như vụ tôi bắt 2kg300 bạch phiến. Vụ đó, tôi được thưởng hơn một triệu đồng đem về cho vợ xài chơi cũng nhờ có công của Năm Hùng vậy.

Cách tổ chức của Chính phủ Đệ nhị VNCH, mỗi xã có một Cuộc Cảnh Sát là trái với truyền thống tự trị của làng xã của nước ta. Toàn thể Việt Nam, trong Nam, cũng như ngoài Bắc, từ xưa, về căn bản, việc cai trị ở làng là tự trị. Viên chức làng xã là do dân làng bầu lấy, dù việc bầu bán còn hạn chế trong số người dân được đi bầu, chẳng hạn như sự phân biệt người dân làng chính thức (nội tịch) hay dân ngụ cư (ngoại tịch).

Ở Nam phần, mỗi làng có “Hội đồng hương chánh” đứng đầu là hương cả hay đại hương cả, có các hương trưởng, hương sư, hương chủ, hương chánh, hương giáo, hương thân, xã trưởng cho xã lớn, thôn trưởng cho xã nhỏ… giúp việc.

Hương quản, hương hào phụ trách việc an ninh, cảnh sát của xã.

Hầu hết các “chức sắc” của làng đều bắt đầu bằng chữ “hương”. Hương, theo danh từ Hán-Việt là “làng”. Thành ra, những viên chức nầy là người của làng (nội tịch), sinh sống trong làng, làm việc làng. Đọc “Vợ Thầy Hương” của Lê Xuyên, người ta có thể thấy việc an ninh của làng là do thầy “hương quản” đảm trách, và thầy gặp nạn khi đi bắt cướp khiến “vợ thầy hương” thành góa bụa.

Suốt mười năm dạy “Chinh Phụ Ngâm” cho học sinh lớp Đệ Tam, tôi thường suy nghĩ, bị ám ảnh đến việc “vi phạm” tính cách tự trị của làng xã của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa hay chính quyền Cộng Sản Bắc Việt!

Việc dễ hiểu thôi.

Trước 1975, ở miền Nam vĩ tuyến 17, có nhiều sách bàn về “Chinh Phụ Ngâm” của Đoàn Thị Điểm: “Chinh Phụ Ngâm bị khảo” của Hoàng Xuận Hãn, “Chinh Phụ Ngâm” của Thuần Phong Ngô Văn Phát, “Chinh Phụ Ngâm Khúc Giảng Luận” của Vân Bình Tôn Thất Lương, và một vài cuốn khác không có gì đặc sắc, như “Việt Nam Thi Văn Giảng Luận” của Hà Như Chi, “Viêt Nam Văn Học Giảng Bình” của Phạm Văn Diêu, “Tâm Thức Lưu Đày trong Chinh Phụ Ngâm” của Lê Tuyên, v.v…

Tôi thích nhất là một cuốn sách in bằng lito (khắc trên đá), do một người học trò, anh Nguyễn Văn Toàn, quê ở Qui Nhơn đem cho mượn. Anh nầy, về sau, thời Đệ Nhị Cộng Hòa, đắc cử nghị viên hội đồng tỉnh Bình Định. Sách giáo khoa in trong thời kỳ chống Pháp, vùng Nam Ngãi Bình Phú do thân phụ anh giữ được. Có lẽ gia đình anh Toàn là một gia đình trọng văn học.

Cuốn sách bàn về Chinh Phụ Ngâm in lito nói trên, tác giả là ông Lê Trí Viễn, giáo sư. Ông nầy, trước 1945 là giáo sư Lycée Khải Định Huế. Vì là một người theo Cộng Sản nên khi bình giảng tác phẩm, giáo sư Lê Trí Viễn đứng trên lập trường “duy vật biện chứng” để phân tích, nhận định. Tuy nhiên, luận lý và quan điểm của ông không mơ hồ, cực đoan và máy móc như Nguyễn Bách Khoa khi phê bình truyện Kiều.

Một lập luận của Lê Trí Viễn làm tôi nhớ lâu là vai trò của Đặng Trần Côn, tác giả phần chữ Hán, khi sáng tác bản chinh Phụ Ngâm nầy.

Đặng Trần Côn người làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, (bây giờ thuộc Hà Nội), sinh và mất vào khoảng tiền bán thế kỷ 18, đổ Hương Cống, được bổ làm huấn đạo trường phủ, sau làm tri phủ Thanh Oai.

Tôi chỉ chú trọng đến hai chức vụ nầy của ông, nhất là chức tri phủ.

Bấy giờ chúa Trịnh Giang đang trị vì. Ông là người giết vua và các quan đại thần, ăn chơi vô độ, tiêu xài xa xỉ, triều chính suy yếu, giặc giả nổi lên nhiều nơi, hầu như đất Bắc Hà nơi nào cũng có giặc, khiến thái phi cùng triều thần phải lật đổ ông và đưa Trịnh Doanh lên thay.

Trong thời kỳ quân chủ, mỗi khi giặc giả nhiều, phải gia tăng binh lính. Vua và các quan ở kinh đô kín cổng cao tường, đâu có biết nỗi khổ của người dân mỗi khi bị bắt lính. Cảnh chia lìa vợ chồng, con cái, cha mẹ, là thảm trạng của nông dân trong chiến tranh. Loạn lạc càng nhiều, giặc giả càng nhiều, thì việc bắt lính càng dữ, như Đỗ Phủ mô tả trong Thạch Hào Lại vậy:

Chiều ghé xóm Thạch Hào,
Quan bắt người nửa đêm.
Ông già vượt tường trốn,
Bà già ra cửa nhìn.
Viên lại quát đà dữ!
Bà già van đà khổ!
Van rằng: “Có ba trai
Thành Nghiệp đều đi thú.
Một đứa gửi thư nhắn,
Hai đứa vừa chết trận.
Đứa chết đành thôi rồi,
Đứa còn đâu chắc chắn!
Trong nhà không còn ai,
Có cháu đang bú thôi.
Mẹ cháu chưa rời cháu,
Ra vào quần tả tơi.(1)

            . . . . . . . . .

Vua quan quanh quẩn ở kinh đô nào thấy gì ngoài dân chúng, cứ sức cho tri phủ, tri huyện bắt lính. Số lượng bắt lính (như là một chỉ tiêu) do quan phủ định cho mỗi làng. Trong tình trạng đó, tri phủ Đặng Trần Côn, vì là quan lại nhỏ nhất, trực tiếp với dân chúng, tận mắt chứng kiến cảnh bắt lính ở mỗi làng. Vốn là người có tâm hồn nhân ái, yêu thơ văn, từ đó, ông xúc động mà viết nên tác phẩm Chinh Phụ Nghâm.

Giới hạn giữa chính quyền trung ương và địa phương là cấp “quận”. Dưới quận là làng xã, trung ương không can dự vào.

Khi cắt cử chức vụ trưởng cuộc Cảnh Sát tới cấp xã là chính quyền Trung Ương đã vượt quá giới hạn của mình, xưa cũng như nay, vi phạm tính cách tự trị tuyền thống của làng xã Việt Nam. Ngoài ra, còn có những lúc, chính quyền Saigon chỉ định trưởng cuộc Cảnh Sát, – mấy năm sau là phân chi khu trưởng – kiêm luôn chức vụ Phó Xã Trưởng An Ninh thì việc vi phạm đó càng nặng nề hơn.

Một phó xã trưởng An Ninh gốc địa phương làm việc hữu hiệu hơn hơn một trưởng cuộc hay một phân chi khu trưởng từ nơi khác được điều tới, nhất là về mặt “tình báo nhân dân”. Người dân địa phương khi muốn báo cáo một tin Viêt Cộng hoạt động, họ thấy dễ dàng hơn khi đưa tin ấy cho “chú ba, chú bảy” là người địa phương của họ, hơn là cho một viên thiếu úy xa lạ, không phải là “người xứ sở”.

Tổng tống Nguyễn Văn Thiệu với “âm mưu” muốn tranh cử thêm nhiệm kỳ thứ ba, thứ tư, dài tới 7 năm thay vì 4 năm, cùng với những quan chức thiếu hiểu biết quanh tổng thống, muốn đưa người của mình vào tận làng xã, để tranh thủ hoặc gian dối trong việc bầu bán, đã vi phạm quyền tự trị truyền thống làng xã Việt Nam.

“Viên chức xã ấp” ở nông thôn miền Nam không ủng hộ tổng thống Thiệu!

Điều nầy khá rõ khi chúng ta tiếp xúc với “viên chức xã ấp” hay các “cán bộ xây dựng nông thôn”. Đối với họ, “Anh đại tá Bé” là người tài giỏi nhứt, là người yêu nước và gần gũi với người nhà nông nhất, hiểu biết và giúp đỡ, lo “xây dựng nông thôn” nhiều nhứt, chống Cộng hữu hiệu nhứt. (2)

Vai trò “anh đại tá Bé”, cùng với trung tâm “đào tạo cán bộ xây dựng nông thôn” ở Vũng Tầu – về sau là trung tâm “huấn luyện viên chức xã ấp” – bộ Xây Đụng Nông Thôn, cũng như sự có mặt của McGeorge Bundy, nguyên giám đốc CIA, sang làm phó đại sứ ở Saigon, đặc trách về “bình định” và “phát triển” là một sự liên hệ chặt chẽ, làm cho Cọng Sản cũng như tổng thống Thiệu lo sợ.

Về Cộng Sản, trong khoảng các năm trước Mậu Thân 1968, khi chương trình bình định và phát triển đang tiến hành, đối tượng Việt Cộng ưu tiên đánh phá chính là các đoàn cán bộ xây dựng nông thôn. Đây là một lực lượng phát hiện, đánh phá và tiêu diệt Cộng Sản từ “hạ tầng cơ sở”. Những ai từng hoạt động từ xã ấp có kinh nghiệm với việc đánh phá nầy, giữa hai phía Cộng Sản và Quốc Gia.

Sau biến cố tết Mậu Thân, chương trình “bình định và phát triển” đang tiến hành tốt đẹp bỗng yếu dần đi, thu hẹp. Phần lớn “cán bộ xây dựng nông thôn” nhập ngũ hay chuyển ngành sang Cảnh Sát Quốc Gia. McGeorge Bundy thôi chức phó đại sứ, về Mỹ, không có người thay thế ông ta.

Có gì khó hiểu trong sự việc nầy?!

Tuy nhiên, sự quan hệ giữa đại tá Bé và Polgar, trùm mật vụ Mỹ ở Saigon, cũng như với người Mỹ vẫn còn chặt chẽ, mặc dù, tổng thống Thiệu đã “đuổi” đại tá Bé ra khỏi “trung tâm Vũng Tầu”, với lý do để thực hiện cuộc “cách mạng hành chánh”. Có phải tổng thống Thiệu vẫn còn lo sợ một người như đại tá Bé hay một người nào khác được sự ủng hộ của người Mỹ và viên chức xã ấp nên đã đưa trưởng cuộc Cảnh Sát hoặc phân chi khu trưởng vào guồng máy cai trị xã ấp để giành phần thắng khi có bầu cử, vi phạm tính cách tự trị của làng xã Việt Nam.

Trong viễn tượng đó, một cuộc cách mạng cho nông thôn Việt Nam, dù có ôn hòa như trong “Con Đường Sáng” của Hoàng Đạo, sẽ không bao giờ có được.

Riêng về phía Cọng Sản, về bề mặt, không chỉ định “cán bộ nhà nước” đảm nhận công việc xã ấp. Mỗi xã tự bầu “Hội đồng Nhân dân” xã. “Ủy Ban Hành Chánh” xã. Nhưng thực chất, đằng sau hai tổ chức nầy là “Chi ủy xã” tức là “đảng bộ” xã. Đảng bộ xã nắm hết công việc, sắp đặt chỉ huy “hội đồng” cũng như “ủy ban”, mà đảng bộ thì nhận lệnh từ trung ương đảng. Thành ra, bề ngoài tuy không “đựng tới” nhưng phía sau là “nắm toàn bộ”. Dĩ nhiên, đó là “thủ đoạn Cộng Sản”.

Cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, khởi thủy là một cuộc chiến tranh du kích, một hình thái của Chiến Tranh Nhân Dân. Trong cuộc chiến tranh nầy, vai trò của người dân tự chiến đấu và bảo vệ cho mình là điều quan trọng.

Người ta có thể nhớ lại những ngày đầu Việt Minh chống Pháp. Khi chiến tranh chống Pháp bắt đầu nổ ra, Việt Minh lợi dụng hoàn cảnh lộn xộn thời bấy giờ để tấn công các “làng đạo”, tức là những làng có đa số tín đồ Thiên Chúa Giáo.

Chính những làng nầy, thuở ban sơ đã tự đứng lên, tự trang bị vũ khí, cả bằng giáo mác gươm dao gậy gộc tự bảo vệ cho mình, chống lại Việt Minh. “Khu tự trị” Bùi, Chu Phát Diệm là một thí dụ. Các làng đạo ở Nam Định, Thái Bình ở phía Bắc, các làng đạo ở Quảng Bình, Quảng Trị, như ở quê tôi, nông dân tự đứng lên bảo vệ cho mình, nổi tiếng nhứt là các làng Bố Liêu, Trí Bưu, Thạch Hãn… đến nỗi Việt Minh có câu thiệu “Giết một người “Đá Hàn” bằng môt ngàn thằng Tây”. Làng “Đá Hàn”, tên chữ là Thạch Hãn.

Vậy “Nhân dân Tự vệ” là cái gì?

Là người dân địa phương, thành lập mỗi toán, mỗi liên toán… của mỗi ấp, mỗi xã tự chiến đấu bảo vệ cho mình. Công việc nầy chỉ được thực hiện sau biến cố Tết Mậu Thân (1968).

Trong cuộc “Chiến tranh Nhân dân”, người dân tự chiến đấu bảo vệ mình là điều đương nhiên và quan trọng. Đúng ra, lực lượng Nhan dân Tự vệ phải được thành hình khi Việt Cộng chưa xây dựng được “hạ tầng cơ sở” của chúng ở địa phương. Khi chúng đã có “hạ tầng cơ sở” rồi, phía ta mới thành hình lực lượng tự vệ, có nghĩa vừa có lực lượng vũ trang, vừa có “tình báo nhân dân” là chúng ta “đi sau” Việt Cộng một bước, là chúng ta ở thế bị động rồi. Bị động là thất thế”.

Khi Việt Cộng xây dựng được “hạ tầng cơ sở”, bước sắp tới của Việt Cộng là thành lập lực lượng du kích, từ ấp lên xã, xã đội, huyện đội, tỉnh đội. Do đó, Nhân dân Tự vệ không đử sức kháng cự.

Khi Việt Cộng tấn công xã Sóc Sơn, “Nhân dân Tực vệ” phải rút vào xã. Trường hợp khi Việt Cộng tấn công vào xã lỵ Tín Đạo (ấp Tri Tôn), tình hình cũng tương tự. Mấy tháng trước, khi Việt Cộng tấn công vào Vàm Rầy, Nhân dân Tự vệ phải “chém vè”.

Có ba điều cần phải bàn tới ở đây:

Thứ nhất: Nhân dân Tự vệ là lực lượng vũ trang của nhân dân. Nó phải ở trong nhân dân, ở với nhân dân, ngày cũng như đêm, canh gác, tuần phòng… vói nhân dân, không phải “rút vào đồn” như các lực lượng quân sự của chính phủ.

Thứ hai: Các sĩ quan cấp chi khu và tiểu khu thường coi Nhân dân Tự vệ như “con cháu ngoại”, ít trách nhiệm về tổn thất, thất bại, đào ngủ… của lực lượng nầy. Nhân dân Tự vệ có tử trạn, hy sinh… không được phụ cấp. Lương thực, quần áo, giày dép tự trang bị. Họ chỉ được cấp súng đạn bằng những loại vũ khí cũ, lỗi thời. Khi bị địch tấn công không được tiếp cứu, trợ giúp, ngay cả bằng đại bác 105ly hoặc phương tiện cơ giới chi khu có sẵn….

Đúng ra, họ phải ưu tiên hơn nghĩa quân hay địa phương quân vì vai trò chiến đấu của họ trong dân chúng.

Thứ ba: Lực lượng Nhân dân Tự vệ không phải là lực lượng quân sự của chính phủ, và không đóng đồn, phòng thủ trong đồn, để mặc dân chúng cho Việt Cọng, dù ban đêm hoặc ban ngày.

Trong bài “The street without joy” trong cuốn sách cùng tên của Bernard Fall, tác giả thuật lại ông theo chân liên quân Việt Pháp trong trận Camarge, – dân Trị Thiên gọi nôm na là “Trận Thanh Hương – vùng đồng bằng nằm giữa hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, thuộc lưu vực sông Ô-Lâu và song Diên Trường (còn có ten là song Trường Sanh, phụ lưu của sông Ô-Lâu), nhằm mục đích tiêu diệt trung đoàn Việt Minh 101, bằng nhiều lực lượng thủy bộ và nhảy dù. Cuối cuộc hành quân, sau khi Việt Minh rút khỏi địa phương qua vùng đầm lấy phía tây phá Tam Giang, tác giả mô tả cảnh những viên chức hành chánh xã ấp tập hợp dân chúng để “nói chuyện” hay “dân vận”… gì đó. Hai sĩ quan người Pháp đứng cạnh đó, nghe họ nói và cảm thấy thất vọng. Họ nghĩ đén buổi chiều đang đến. Khi bóng tối chưa tới thì các viên chức nói trên sẽ rút vô đồn gần đó để được an toàn, để mặc dân chúng phía ngoài đồn.

Thế rồi, khi đêm đến, bọn Việt Minh sẽ từ dưới hầm bí mật chi lên, từ trong rừng rậm mò ra, “sinh hoạt với dân chúng: tuyên truyền, khuyến khích, đe doa, khủng bố… Và cuộc hành quân Camarge đến đó coi như hoàn toàn thất bại, công cốc.

Khi Hiệp Định Genève ký kết, đơn vị quân đội Cộng Sản – tung đoàn 101 – rút ra Bắc. Sau năm 1960, khi Việt Cộng “Đồng Khởi” ở miền Nam, chúng lại vượt vĩ tueyén quay trở về địa phương cũ, và lại hoạt động như trong cuộc chiến tranh trước.

Các sinh viên sĩ quan thụ huấn ở Trường Võ Bị Thủ Đức đều có học những bài về chiến thuật, chiến lược của Cọng Sản: Công đồn đả viện, chiến thuật biển người, tứ khoái nhất mạn, trì cửu chiến, lấy nông thôn bao vây thành thị.

Các chiến thuật nầy, rất hữu ích cho Nhân dân Tự vệ, nhưng không thực tế với một trung đội trưởng của quân chính qui.

Đó là những điều tôi muốn nói với Ba Hà./

(xem tiếp phần 2: “Tôi đứng giữa đồng nâu”)

hoànglonghải

hoànglonghải - Kinh Xáng Hà Tiên