Về tới Vàm Rầy, tôi thấy Ba Hà đang ngồi uống cà-phê với con Hòa. Tôi nghĩ thầm “không lý cha nầy cũng lăng nhăng vậy sao?” Dừng xe xong, tôi vào ngồi cạnh Ba Hà sau khi chào hỏi ông ta. Thấy tôi nhìn ông ta rồi nhìn con Hòa, Ba Hà nói như để đánh tan sự nghi ngờ của tôi:

-“Hôm qua con nhỏ nầy về tới Rạch Giá, nghe tôi đi Dzàm Rầy, nó xin quá giang.”

Con Hòa cũng lanh trí, nói thêm:

-“Chú Ba với ba em ngày xưa là bạn. Hai ông nhậu với nhau hoài.”

Lời nói của hai người làm tôi nhớ tới việc tôi với con Lý ở với nhau tại khách sạn Tân Hòa mấy bữa trước. Tôi ở lại với con Lý được mà với con Hòa tôi không có ý đồ gì cả. Ba Hà chắc cũng vậy, đừng nghĩ bậy cho ông ta – tôi nhủ thầm -. Đó là cái gì người ta còn lại một chút tình đồng đội với nhau, để khỏi tự mình thấy xấu hổ với mình.

Tuy nhiên, với gia đình con Hòa, hay nói đúng hơn là với ba nó, một người vô làm “rờ-sẹc” thời Tây còn đô hộ, khi ông ta còn trẻ, và cả nhạc phụ ông ta, Huỳnh Công Tấn, một người từng theo Tây, phản Trương Định, góp phần vào việc tấn công Nguyễn Trung Trực, khi ông Trực đem quân về đóng ở núi Hòn Chông, thuộc quận Kiên Lương. Chị em Hòa là cháu ngoại ông Huỳnh Công Biện, con trai Huỳnh Công Tấn.

Khi tôi phục vụ ở Gò Công, tôi thuê nhà ông Biện. Biết ông Biện là con trai ông Huỳnh Công Tấn, tôi có vài suy nghĩ.

Nhà ông Biện không giàu. Ông cũng làm “rờ-sẹc” cho Tây ở Gò Công. Cha thì phản quốc, theo Tây; con thì làm mật thám cho Tây, người ta thường gọi mỉa là làm “chó săn” cho Tây, để được cái gì?

Câu chuyện nầy làm tôi nhớ câu nói của “Ông Năm Chuột” của Phan Khôi trong truyện ngắn cùng tên đăng trong cuốn “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc” của Hoàng Văn Chì: “Cha thì chết vì Tây mà con thì ra làm việc với Tây.” Câu nói của Năm Chuột làm cho Phan Khôi “chột dạ”. Phan Khôi là cháu ngoại cụ Hoàng Diệu, người thắt cổ chết ở Văn Miếu khi Tây đánh chiếm thành Hà Nội; về sau, con cụ Hoàng Diệu ra làm tri huyện khi Tây đã cai trị nước ta. “Miệng thế gian” là vậy đấy! Ai cấm ai được?!

Người cháu nội – con ông Biện – là Huỳnh Công Bạch, trung úy đại đội trưởng một đại đội Địa Phương Quân của tiểu khu Gò Công, tăng cường cho tiểu khu Kiến Hòa, tử trận cách đây mấy tháng. Ông Biện, ông Bạch, ông nào cũng là con trai độc nhất. Ông Bạch có vợ, có đứa con gái. Dòng họ Huỳnh này coi như thế là “tuyệt tự”, nếu theo cách người xưa “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Tôi không biết con Hòa có biết nó có một người bà con, con gái ông Bạch để nhìn nhau hay không!

Một thời ông Huỳnh Công Tấn hét ra lửa ở miền Nam nầy, sợ Tây nên dân chúng cũng sợ ông Tấn. “Sợ cọp nên sợ cứt cọp” Tục ngữ nói như thế. Nhưng nhìn lại một dòng họ kết thúc như thế, cũng buồn lắm, phải không?

&

Tôi hỏi Ba Hà:

-“Anh về chơi hay có công chuyện gì không?”

-“Tôi về gặp anh đây. Việc định cư đồng bào xứ anh xúc tiến chớ?” Ba Hà hỏi.

-“Vâng! Xong rồi. Chờ lệnh ở tỉnh.” Tôi trả lời.

-“Không chắc đâu. Trước hết tôi muốn nhắc anh một việc như ngày xưa: Thời ông Ngô Đình Diệm, xã trưởng không do dân bầu, mà do tỉnh chỉ định. Mấy ông xã nầy dựa thế lực ông lớn, coi dân có ra gì đâu! Tỉnh, trung ương cung cấp gì thì mấy ông xã ăn chận, ăn bớt. Mặt khác, thấy dân ai có chút máu mặt thì vòi vỉnh. Họ có phải là người cùng xứ để giữ một chút thể diện hoặc tình bà con, chòm xóm với nhau! Trong tương lai, khi dân định cư tới đây, “tôn”, xi-măng, gạo, muối… làm sao những chuyện cắt xén, ăn cắp, ăn chặn… như thế không xảy ra.” Ba Hà nói.

-“Nếu còn tôi ở đây,” Tôi trả lời, “tôi xách đầu tụi nó ra tòa. Tui mới “dẫn trình biện lý” xã trưởng Tạ Phước Thiện về việc tham nhũng ở xã Bình An, anh biết không?”

-“Biết chớ! Vậy tôi mới về đây tìm anh.” Ba Hà nói thêm.

Ba Hà nói tiếp:

-“Chuyện cấp đất cho dân, do anh hoạch định?”

-“Không! Tôi chỉ phụ với phó Nghiêm. Ông lo về mọi sinh hoạt, tôi đặc trách về trật tự, an ninh.” Tôi nói.

Ba Hà nói: “Tôi muốn nhắc anh một điều quan trọng, đừng làm như “ấp chiến lược”.

Tôi cãi:

-“Tôi nghĩ “ấp chiến lược” hay lắm chứ, ngoài nông nghiệp, chương trình của ông Ngô Đình Nhu còn chủ trương giáo dục, y tế…”

Ba Hà cướp ngang lời tôi:

-“Tôi không nói lý thuyết. Lý thuyết thì hay lắm. Cứ ngồi ở Saigon mà suy nghĩ, nhiều khi nghĩ bậy cũng cho là hay. Tôi muốn nói về căn bản.”

Tôi hỏi:

-“Về căn bản là cái gì?”

Ba Hà giải thích:

-“Trước hết, nơi người dân định cư là phải có nước ngọt. Anh thấy không, dọc theo kinh xáng nầy, nhà dân ở giữa kinh xáng và lộ, mặt nhà ngó ra kinh, lưng quay ra lộ. Bên kia kinh, nhà cũng quay mặt ra kinh. Kinh nằm dài ra, thành ra khu dân cư có cái hình chủ nhật, dọc theo kinh. “Ấp chiến lược” của ông Nhu gom dân lại ở trong một cái hình vuông hay hình tròn. Vậy là hỏng, gây khó khăn cho sinh hoạt của dân chúng. Muốn có nước ngọt phải đi xa cả mấy trăm thước, ra khỏi cổng “ấp chiến lược” lấy nước về, lại phải sắm lu mái chứa nước; khác với trước, đi mấy bước, quăng cái gàu xuống kinh kéo nước lên, dễ dàng biết bao nhiêu! Lại còn bao nhiêu cái khổ khác, ấn định giờ giấc mở cổng vào ra ấp, soát xét đồ đạc đem theo, làm như dân là tù…”

-“Tôi nhớ hồi đó người ta có nói cọc sắt kẽm gai làm hàng rào “ấp chiến lược”, ngăn ngừa Việt Cộng, hữu hiệu lắm. Tôi góp ý.

-“Hữu hiệu con mẹ gì. Hàng rào đó rào ai? Rào người dân? Dzậy là thua rõ ràng. Cái hàng rào trong lòng người dân là cái hàng rào tốt nhất, hay nhất, hữu hiệu nhất, bền vững nhất. Các “quan” ở trung ương ngu thấy mẹ, chỉ nghe báo cáo không. “Làm thì láo, báo cáo thì hay.” Họ coi người dân như người tù, như nô lệ.” giọng Ba Hà gay gắt, bất mản.

Tôi cười:

-“Khi tôi làm việc ở dinh diền Cái Sắn, tôi biết được một điều hay lắm. Người ta dùng cọc sắt kẽm gai để đúc cột nhà. Vì lớp sơn ở cọc sắt tốt quá, nên xi-măng không “ăn” được. Về sau, người ta phải đốt cho lớp sơn đó cháy đi, xi-măng mới “ăn”. Cha Uyển ở Kinh 6 “Rọc Bà Ke” nổi tiếng buôn cọc sắt kẽm gai để dân làm nhà, thay vì để rào “ấp chiến lược”.

Ba Hà cũng cười:

-“Dân dinh Điền Cái Sắn thì cần gì rào “ấp chiến lược”, Việt Cộng nào mò về tới đó, chưa kịp làm gì, dân người ta nắm đầu mất rồi. Quyền lợi sinh tử của dân mà.”

-“Tôi biết xe be lấy gỗ của đức Cha, của bà Nhu vô trong rừng sâu cũng đóng thuế cho Việt Cộng cả đấy. Ai bắt bớ gì đâu! Đó cũng là “quyền lợi sinh tử” của họ thôi.” Tôi giải thích.

-“Anh nói quyền lợi sinh tử là tôi không tin. Có quyền trong tay, họ có nhiều quyền lợi khác nữa, chớ gỗ thì sinh tử gì đâu, chỉ là tham mà thôi!” Bà Hà góp ý. “Chỉ có dân nầy là nghèo”. Ba Hà nói thêm.

-“Thời cụ Ngô, tôi có nghe một vài chương trình cho nông thôn: “Nông Tín Cuộc”, “Cộng đồng Đồng tiến”, “Cải tiến Dân sinh”… Mấy năm nay không nghe nói có chương trình gì lớn cho dân. Dân ở đây làm ruộng nhưng không có khả năng, không có tiền, sống bằng giăng câu, đặt lợp, tát cá trong bưng, đốn tràm trong rừng. Có dễ dàng gì đâu! Việt Cộng cấm cản, bắt chẹt đủ cách. “Đốn tràm khô đâm mồ chiến sĩ, đốn tràm xanh rước Mỹ về nhà”. Anh biết cả rồi đó!”

-“Tôi chẳng muốn gì. Tôi chôn nhau cắt rốn ở đây, lớn lên ở đây, sướng khổ ở đây. Nội tôi về đây, cha tôi ở đây, tôi sinh đẻ ở đây, chỉ muốn về sống với bà con, làm xã trưởng mà lo cho bà con. Đời vậy là thỏa mãn lắm.”

-“Nghe nói cụ nội anh về đây sau khi trốn khỏi Hòn Chông?” (3) Tôi hỏi.

-“Hồi đó ông Trực thua rồi (3), nghĩa quân tan rã, ai trốn đường nấy. Nội tôi trốn về đây làm ruộng. Nhờ dân che chở mà ông khỏi tù tội. Thành ra cha con tôi cảm cái ơn của đất nầy, bà con ở đây nặng lắm. Đó cũng là điều tôi không muốn bỏ dân mà đi đâu!” Ba Hà giải thích.

-“Nghĩ cũng buồn cười!” Tôi nói. Con Hòa là cháu Huỳnh Công Tấn. Cụ nội anh là người theo ông Trực. Vậy mà rồi, hai người bây giờ đứng chung một phe.”

-“Đau đớn là chỗ đó. “Vàng thau lẫn lộn”. Đó là cái mưu thâm của Cộng Sản. Nhất Linh chạy theo quân Tưởng mà qua Tầu thì sao? Những người chống Tây phải trốn vào Bùi Chu, Phát Diệm núp bóng Cha Sáu đạo Thiên Chúa thì sao? Đó chính là cái thế sinh tử.”

-“Xã Àn nói với tôi, có thời anh lên núi Bà Đen?” Tôi hỏi.

-“Hay nhứt là con đường của ông Trình (4) anh à! Chống Tây, chống cả Cộng Sản. Ổng ở trên núi một mình, ông là vàng, không lẫn lộn với thau được. Tôi phục ổng lắm.”

-“Xã Thiện là cháu ông Sơn Nam đấy! Trong nam nầy, người ta chuộng Sơn Nam lắm. Anh cho xã Thiện mất chức là về việc gì?” Ba Hà hỏi.

-“Chẳng có gì quan trọng đâu! Xã Dậm cũ “chơi” xã trưởng mới. Ganh nhau mà. Tui biểu phó Nghiêm lo dàn xếp đi, làm ra mất lòng ông quận! Việc dàn xếp không xong, tui phải “dẫn trình biện lý”. Nội vụ chỉ có công trình đắp đập chỉ có năm chục ngàn là cao nhất. Thưa ở biện lý mà.” Tôi giải thích.

-“Có năm chục ngàn, có đáng gì đâu! Người ta ăn cả trăm, cả triệu thì sao!” Giọng Ba Hà dài ra, chán nản. Rồi anh ta nói tiếp:

-“Tui lo cho cái chương trình định cư của anh quá!”

-“Lo gì? Tôi hỏi. “Phó Nghiêm dự trù cấp cho mỗi gia đình khoảng hai mẫu.” Tôi nói tiếp.

-“Đấy! Anh chưa có kinh nghiệm đâu! Tôi sợ cách làm việc máy móc như vậy đấy! Mỗi gia đình hai mẫu. Còn bao nhiêu công việc khác nữa: khai hoang, đốt đồng, dẫn thủy… xã phèn, cày bừa, công cấy, công gặt. Ai giúp đỡ họ, ai hỗ trợ tiền nong, trả tiền cày, tiền gặt, phơi phong, tiền mua giống, phân bón, trừ sâu… Đâu có đơn giản.”

Nghe Ba Hà nói, tôi thấy rõ hơn cái khó khăn của người làm nông:

-“Căng nhỉ?”

-“Không làm được, người ta bỏ hoang, bán rẻ, người mua ruộng, ai mua nhiều thành chủ điền, lại xuất hiện giai cấp mới, lại bóc lột, Cộng Sản có chỗ sinh sôi, như trước, hồi còn Tây. Anh coi như nhà Tư Sậm, nó có con trai, sẵn sức lao động, làm ăn thành công. Rồi nó mua hết ruộng người ta cho mà coi, thành chủ điền mấy hồi. Anh thấy không?” Ba Hà hỏi.

-“Sao anh tiên đoán được vậy?” Tôi hỏi.

-“Có gì đâu! Tôi sinh ra ở đồng, lớn lên ở đồng, tôi biết chớ. Chính quyền không cần đào tạo cán bộ trung cấp, cao cấp. Vô ích. Phải đào tạo cán bộ xã ấp, hạ tầng cơ sở như tôi. Lấy người ở xã như tôi mà cho đi học. Hồi xưa, bọn tôi chỉ có tiểu học là cao. Đời bây giờ, bọn trẻ học tới cấp ba, đại học nên dễ huấn luyện hơn. Cứ có trình độ làm xã ấp là được. Xã ấp là quan trọng.” Ba Hà nói một hơi.

Ba Hà nói tiếp:

-“Anh biết, bên Cờ Đỏ, Tây làm ruộng nó cũng phải lo đào tạo cán bộ nông nghiệp cho nó vậy. Đâu cần người có học cao: Lớp Tư, lớp Ba… đọc viết được là được. Tây tuyển cho đi học xịt thuốc trừ sâu, bón ruộng, chọn lúa giống, lúa xuất nhập kho, cọng trừ nhân chia… Tới hồi Nam Bộ Kháng Chiến, mấy ông ấy đi lính ông Ba, ông Năm, sau nầy sát nhập Quân Đội Quốc Gia, cũng làm lớn cả đấy, như ông đại tá S. ở Cần Thơ bây giờ nầy, hồi xưa ở sát nhà vợ tôi.”

Tôi nói: “Thời thế tạo anh hùng” mà anh, tục ngữ nói vậy rồi. Nếu không có cảnh máu đổ xương rơi, lớn lên họ làm gì? Giặc giã triền miên mấy chục năm, xứ Vàm Rầy nầy trở nên tiêu điều, dân tình điêu linh. Nhìn lại nơi chôn nhau cắt rún, ai khỏi buồn lòng!”

Một lúc, anh ta nói tiếp:

-“Tôi nghĩ làm tổng thống mà dễ, làm xã trưởng mới khó. tổng thống muốn cái chi, chỉ ra lệnh. Xã trưởng à? Phải tự làm lấy: Làm sao trong xã không có người đói, làm sao trong xã không có người thất nghiệp, không có trộm cắp, làm sao trẻ con được đi học hết, làm sao ai đau cũng có y tá, cấp đủ thuốc men… Anh nghĩ làm xã trưởng như thế có dễ đâu!”

Tôi trầm ngâm, suy nghĩ về những lời Ba Hà nói. Việc nầy, tôi đã từng “đụng độ” với xã Thông – Nguyễn Thành Thông – ở xã Yên Luông, quận Hòa Lạc, Gò Công. Y nổi tiếng làm điều “ngang ngược”. Xe “hủ lô” đang cán đá trên con đường ngang qua xã. Y lấy xe đạp của y cản trước xe hủ lô, không cho chạy. Y cho rằng đá trải xuống đường mỏng quá, không đủ tiêu chuẩn. Trưởng ty công chánh phải xuống dàn xếp. Khi tôi được lệnh điều tra việc nầy, y nói: “Tôi muốn việc chi trong xã tôi cũng đều tốt đẹp cả, ngon lành cả. Tôi đòi đường cho dân xã tôi đi, tôi có đòi “ăn đá” đâu.” Tôi đem việc ấy kể lại với một người bạn đang làm ở phủ Đầu Rồng, người bạn nói “Thằng cha đó làm được đó. Trung ương ở đây “kín cổng cao tường” biết mẹ gì việc xảy ra cho dân chúng ở chỗ quê mùa xa xôi.” Câu nói làm cho tôi nhớ lập luận của giáo sư Lê Trí Viễn bàn về Chinh Phụ Ngâm mà tôi đã nói ở phần trước.

Một lúc, tôi hỏi Ba Hà:

-“Tôi còn thắc mắc về vụ làm ruộng. Cấp ruộng cho dân mà dân không làm được ruộng thì sao?” Tôi hỏi.

-“Phải thành lập tổ hợp, hợp tác xã. Không phải làm như Việt Cộng. Đâu phải chỉ có một thứ khuôn mẫu Việt Cộng mà thôi. Mình phải nghĩ ra cách thích hợp với tình hình mỗi địa phương.” Ba Hà nói.

-“Như trong “Con Đường Sáng” của Hoàng Đạo?” Tôi hỏi.

-“Tôi không biết sách đó, nhưng phải từ ấp, năm mười nhà thành một tổ hợp, một hợp tác xã. Tôi nghĩ làm được.” Ba Hà trả lời.

-“Cái nầy tôi cũng chưa nghĩ ra.” Tuy nói thế, nhưng trí tôi nghĩ tới Minh Đạo của Hồ Hữu Tường. Về khoản nầy, ông Tường nói cũng còn mơ hồ.

Tôi uống hết cốc ca-phê, rồi hỏi Ba Hà:

-“Tôi cố gắng hiểu anh, bởi vì tôi sinh ra, lớn lên ở thành phố; học hành, đi dạy ở thành phố, biết thôn quê qua sách truyện. Về đây, cái chi đối với tôi cũng lạ lẫm. Tôi nhớ một chuyện buồn cười. Hồi nhỏ, đọc sách Quốc Văn của anh chị tôi học, có bài “chim Sơn Ca”. Tôi mê lắm. Nó bay rất cao, không thấy nó đâu cả mà tiếng nó hót vọng xuống nghe rất rõ, rất hay. Tôi từng cố tìm hiểu xem chim sơn ca là chim như thế nào. Sau nầy, lớn lên, về quê chơi, tôi mới biết chim sơn ca là con chim ở quê tôi người ta gọi là “chim chiền chiện”. Chim chiền chiện thì có gì lạ! Nhưng khi ta bắt nó nhốt vào lồng thì nó không hót nữa. Nó chỉ hót trên quãng trời cao mà thôi. Lạ không? Không lý nó có tâm hồn một nghệ sĩ, chỉ sáng tác được thơ văn khi có tự do?”

Ba Hà cười:

-“Anh biết anh thiếu cái gì không?”

-“Không!” Tôi trả lời gọn.

-“Anh thiếu cái chất “nông thôn” trong lòng anh. Người Việt Nam mà không có cái chất “nông thôn” là không được.” Ba Hà giải thích.

Tôi hỏi:

-“Ý anh muốn nói dân tộc mình là “dân tộc nông nghiệp” chớ gì?”

Ba Hà cười:

-“Biết thế mà còn hỏi!”

Tôi kể:

-“Phải tìm hiểu, phải học hỏi! Hồi tôi học đại học Huế, lớp trước tôi một năm, được lệnh bà Tăng Thị Thành Trai, bà làm khoa trưởng, ra bài cho sinh viên “nghiên cứu về kinh tế Huế” khiến ai nấy đều cười. Huế là cựu kinh đô. Huế sống bằng đồng lương công chức, quân nhân. Kinh tế Huế có gì mà phải nghiên cứu. Tụi sinh viên thảo luận với nhau, hiểu được cái ý của bà khoa trưởng là muốn sinh viên phải đi vào thực tế đời sống như người Tây phương. Bấy giờ bọn tôi mới hiểu thêm công việc của một thằng sinh viên Anh đến Huế làm thiện nguyện.”

-“Tôi chưa hiểu!” Ba Hà nói.

-“Khi đại học Huế mở được năm thứ hai”, Tôi nói, “có một sinh viên người Anh đến sinh hoạt với sinh viên Huế. Anh ta dạy thực tập Anh Ngữ cho sinh viên Văn Khoa. Rồi chúng nó đi chơi với nhau, uống “cà phê Dung” – tiệm cà-phê đông sinh viên – ăn bún bò Lạc Sơn (5). Tôi không biết tụi nó có dẫn thằng nhóc đi chơi bời không. Hình như thằng nầy mê ca sĩ Hoàng Lan, em gái Nguyễn Đình Thống, bạn học tôi. Cô nàng dạy cho nó hát tiếng Việt “Tôi đi giữa hoàng hôn…” Năm sau nó về Anh. Tôi nghe nói, đi ngoại quốc một năm như thế, nó qua khỏi học năm dự bị đại học.”

Ba Hà tán thán: “Tinh thần thực tế hay thiệt! Còn hơn một năm dự bị, nó học được gì hay?”

-“Anh có biết “Đoàn Thanh niên chí nguyện” của Kennedy không?” Tôi hỏi.

-“Tôi có nghe “Phối trí viên” (6) nói chuyện, tôi không rõ lắm.” Ba Hà trả lời.

-“Cán bộ Xây dựng Nông thôn” trường học của đại tá Bé là từ cái tinh thần chí nguyện đó. Chương trình “Xây dựng Nông thôn” là của Mỹ mà. “Thanh niên Chí nguyện” là công việc tiên phong, thăm dò để hình thành các công việc về nông thôn sau đó. Tôi cho rằng đó là hoạt động đi vào thực tế của Mỹ”. Tôi trả lời.

Tôi nói tiếp:

-“Từ chuyện thằng sinh viên người Anh, hồi đó sinh viên Huế có nêu ra một đề nghị, tôi thấy hay lắm, nhưng sau đó thấy “chìm xuồng”.

-“Đề nghị gì?” Ba Hà hỏi.

-“Thay vì sinh viên học một năm dự bị đại học, nên cho họ về nông thôn một năm, tìm hiểu nông thôn như thế nào, xong về, vô năm thứ nhất.” Tôi nói.

-“Sinh viên học ngành nào thì nghiên cứu về ngành đó. Phải không?” Ba Hà hỏi.

-“Đúng vậy! Nghiên cứu một năm về y tế xã ấp, về làm luận văn, xong vô năm thứ nhất y khoa. Một năm về nông nghiệp xã ấp, về làm tham luận, xong vô kỹ sư, cán sự nông nghiệp…” Tôi giải thích.

-“Xã tôi mà được vậy là đại phúc cho dân chúng đó. Sau nầy, khi ra trường, họ lại về nông thôn; người bác sĩ, kỹ sư, cán sự đâu có lạnh giò, sợ phải về nhà quê, không còn muốn ngồi ở thành phố mà lượm tiền.”

-“Tinh thần thư lại, quan liêu, vốn là truyền thống của người Việt mình.” Tôi nói.

-“Tôi hoan hô anh. Nhận xét hay đấy! Người mình ưa làm quan. Làm quan chỉ ngồi ở công đường. Đúng là những ý tưởng tôi chưa nghe nói.” Ba Hà góp ý.

-“Không phải của tôi. Từ cái tinh thần thực chứng của Âu Mỹ đó anh. Cộng Sản cũng không có đâu. Người Cộng Sản vậy mà còn quan liêu hơn người Quốc Gia nữa.” Tôi phân bua.

Một lúc tôi nói:

-“Anh có biết người ta đã từng chê cái “tinh thần quan liêu” đó như thế nào không?”

-“Chê làm sao?” Ba Hà hỏi.

-“Người ta nói lý thuyết nhiều quá, mấy ông lớn ở Saigon, ở tỉnh ưa “ban huấn từ” quá. Ông Phan Khôi chê: “Ưa thắt cà-vạt, đọc diễn văn, ăn tiệc nhồm nhoàm”. Nói nhiều, nói nhiều như câu thơ:

“Các anh nói nhiều quá!

                        Làm cửa sổ nhà tôi

                        phải mở toang cho loảng gió.”

-“Chê thối chớ gì? Thối mồm!” Ba Hà cười hỏi.

-“Còn nữa” Tôi đọc tiếp:

“Các anh trồng những dòng hoa đại lộ.

                        Những dòng hoa cổ lỗ,

                        Những dòng hoa đau khổ quá đi thôi.”

“Văn chương thành phố, ngồi ở thành phố mà “hướng về nông thôn”. Đỗ Tấn chê nhóm Sáng Tạo đấy. Không phải “hướng về nông thôn” mà phải “về nông thôn”, giống như Phạm Duy hồi đi kháng chiến vậy, không phải “hướng về đồng quê”. Phạm Duy hát “Về Đồng Quê”. “Hướng” mẹ gì! Ngồi ở thành phố mà “hướng” thì được gì? Cách mạng là phải về ngay tận nơi. Về tận nơi mới thấy Mao Trạch Đông” (7).

-“Bữa nay tôi mới được một buổi nói chuyện vui.” Ba Hà nói.

Tôi tiếp lời anh ta:

-“Tôi cũng vậy. Năm 1970, “Người cày có Ruộng”, ông Thiệu về Cần Thơ, ông hỏi một nông dân tại sao trái xoài hay bị thối ở cái cuống. Người nông dân giải thích: Xoài hái sau cơn mưa, thường có nước đọng ở cuống, làm xoài thúi ở đó. Muốn khỏi thúi thì khi hái xong, lấy khăn vải, lau sạch nước ở cuống đi; xoài sẽ không thúi. Nghe xong, ông Thiệu nói: “Bữa nay về nông thôn, học được một bài học hay”. Tổng thống còn khoe học nông dân nữa mà.”

-“Hay nhỉ?” Ba Hà nói.

-“Hồ Chí Minh hay hơn ông Thiệu nhiều!” Tôi cười.

-“Hay làm sao?” Ba Hà trợn mắt nhìn tôi.

-“Đừng nóng! Hay là như thế nầy nè. Khi ông Trần Đức Thảo – ông nầy là triết gia nổi tiếng ở bên Tây – về gặp ông Hồ Chí Minh ở Việt Bắc. Hồ Chí Minh bảo: “Chú học bên Tây, chú giỏi. Nhưng không giỏi hơn nhân dân. Vậy chú nên đi học nhân dân.” Vậy rồi Hồ Chí Minh sai cấp cho ông Thảo một bộ đồ đen, một cái nón cối, một đôi giép râu để ông nầy “đi học nhân dân”, học riết, ông vô nhà thương điên luôn; nước ta mất một nhân tài. Cộng Sản có “độc” không?” Hồ Chí Minh giỏi hơn ông Thiệu ở cái “độc” đó! “Trí thức không bằng cực cứt” mà. Hồ Chí Minh coi Mao như bậc thầy! Thỏa mãn chưa?” Nói xong, tôi cười nhìn Ba Hà. Anh ta cũng cười.

-“Cán bộ của ta còn mang tính quan liêu, hách dịch lắm. Chính phủ cần cho hấp lại như viên chức xã ấp mới được.” Ba Hà nói.

Tôi hỏi:

-“Anh có nghĩ cán bộ xã ấp học xong một khóa Vũng Tầu về có thay đổi không?”

-“Hơn năm mươi phần trăm?” Ba Hà trả lời.

-“Đổi như thế nào mà anh gọi là năm mươi phần trăm?” Tôi hỏi.

-“Họ là dân địa phương. Họ yêu làng xã của họ. Họ muốn xứ sở họ “đi lên”, nên họ có tinh thần cách mạng, muốn làm cách mạng cho quê hương họ. Trong cách đó, sự thay đổi về suy nghĩ và tinh thần, ít nhất phải có năm mươi phần trăm.” Ba Hà giải thích.

-“Ông bà mình nói “Ở trong chăn mới biết chăn có rận”. Anh đúng là con người như thế!” Tôi nói.

-“Còn anh?” Ba Hà hỏi tôi.

-“Tôi là người của chính phủ, đến đây với tinh thần thư lại của một công chức. Nay ở mai đi. Có phải quê hương bản quán của tôi ở đây đâu. Nói thật lòng, nếu không có một tấm lòng với người đời, tôi với họ chỉ là “người dưng”. Anh đồng ý không?” Tôi giải bày.

Ba Hà không nói gì, một lúc sau, hỏi tôi:

-“Anh có biết bên Đài Loan người ta trồng chuối như thế nào không?

-“Anh có đi bên đó?” Tôi hỏi.

-“Cách đây khoảng năm năm, chính phủ có cho một số xã trưởng “du hành quan sát” bên đó. Họ tổ chức hay lắm.”

Ngưng một lúc, Ba Hà kể: “Đài Loan chỉ là một ngọn núi lớn, làm gì có đồng bằng rộng như ở ta. Họ tận dụng đất đồi, đất núi, trồng nhãn, trồng chuối rồi đóng hộp, xuất cảng lấy ngoại tệ. Chuối hạ xuống, lấy buồng xong, thân chuối chặt ra, tước thành bẹ, trải trên mặt đất, giữ đất cho ẩm, giữ màu, làm phân. Dân tại địa phương, người trồng trọt, người làm ở nhà máy đóng hộp. Ai cũng có công việc, không ai thất nghiệp, không ai đói cả.”

Tôi hỏi:

-“Theo anh, ở xã nầy, mình thành lập hợp tác xã nông nghiệp được không?”

-“Ở Xóm Đạo của ông chủ chùa Phạm Bình An nầy nè, người ta bắt đầu thành lập “tổ hợp” rồi đó. Nghe nói tỉnh biểu anh điều tra để cấp phép rồi mà. Năm bảy nhà họp nhau thì làm tổ hợp. Lớn hơn thì thành hợp tác xã. Trồng lúa, trồng thần nông thì để ăn, trồng gạo ngon, trồng nếp thì xuất khẩu. Tôi vẫn mơ ước ở đây, mình trồng chuối xuất cảng cũng ngon lành vậy. Đất nầy dễ trồng hơn bên Đài Loan nhiều. Không làm như “Nông trường chuối” của ông tỉnh trưởng. Mình làm ăn đàng hoàng,  mình làm được?” Ba Hà khẳng định.

-“Có bao giờ anh nghĩ tới chuyện trồng bông không?” Tôi hỏi. “Trồng hoa đấy!” Tôi xác nhận lại.

-“Anh hỏi làm tôi nhớ một chuyện mắc cười. Hồi chuẩn bị khánh thành nhà máy Xi-Măng Hà Tiên, không hiểu do đâu, thiếu tá Nô, quận trưởng ở đây, biểu dân trồng bông vạn thọ, trồng thật nhiều, ông quận sẽ mua. Nghe nói ổng dự trù đem về trồng quanh khán đài, bởi vì cụ Ngô ưa hoa vạn thọ lắm. Đến khi có tin tổng thống không về, quận Nô không mua bông nữa. Dân thì trồng xong, không biết bán cho ai. Người ta kêu quận Nô mà chưởi, cho là quận Nô gạt dân. Thật ra, ông có gạt đâu. Tự tổng thống không tới chớ!”

-“Giống như chuyện Bảo Thái (8) vậy!” Nói xong, tôi lại hỏi Ba Hà: “Anh biết tại sao cụ Ngô ưa bông vạn thọ không? Đây là chuyện của Huế tui.” Tôi nói.

-“Chuyện của cố đô, tôi không biết đâu! Anh nói đi.”

-“Huế là kinh đô. Vạn thọ là thọ vạn năm, ấy là người ta muốn chúc vua vạn tuổi đấy. Hồi tôi mới lớn, tôi không nhớ chúc thọ vua Bảo Đại hay bà Từ Cung mà triều đình Huế tổ chức “Tứ tuần đại khánh”. Người ta nói câu “Vạn thọ vô cương”. Ba tôi nói đùa “Vạn thọ vô cương, trong xương ngoài nạc.” Ấy là tổng thống Diệm chưa rửa hết cái “mùi phong kiến” đấy. Bây giờ, vua không còn, người ta ca ngợi “hoa đồng nội” như trong “Đồng Quê” của Phi Vân hay “Đất Hậu Giang” của Sơn Nam, anh biết không?”

-“Vùng nầy đất tốt, trồng gì không được. Lựa thứ bông gì không cần khí lạnh như ở Đà Lạt.”

Một lúc Ba Hà cười, nói tiếp:

-“Có một thứ không trồng cũng đẹp, người ta “ca” nhiều lắm. Thứ gì anh biết không?”

-“Thứ gì anh?” Tôi hỏi.

Ba Hà quay qua nói với con Hòa.

-“Cháu hát cái bài chiều hôm qua khi ở trên xe, chú khen hay đó!”

-“Cháu hát nghe, đừng cười nghe!” Hòa nói.

-“Hát đi! Giáo đầu nữa.” Tôi giục.

“Qua một rừng hoang, gió núi theo sang rủ bụi đường trên vai…”

Tôi cười, nói to: “Cây mắc cở”.

Ba Hà giải thích: “Cây mắc cở là hoa đồng nội đó. Hoa mắc cở đưa lên phố bán, ai mà mua!”

-“Người ta làm thuốc chớ. Nhưng hoa nầy nó hay ở ý nghĩa của nó, e lẹ như con gái nhà quê.” Tôi nói.

Ba Hà cũng cười to:

-“Bọn con gái quê bây giờ, như con Lý, con Hòa xứ nầy má mắc cở cái chi. Hôm chiếm được xã, con Sau Lánh xách cây FM của cuộc Cảnh Sát bắn chơi, lại khen “súng ngụy bắn ngon”. Thiệt là hết ý luôn.”

Một lúc, Ba Hà nói tiếp:

-“Vấn đề là như thế nầy. Anh thấy không. Bọn con gái ở đây, vì nghèo khổ, “hận” đời nên có đứa bỏ vô bưng theo Việt Cộng như con Sáu Lánh; con Lý, con Hòa thì lên Saigon tìm “một đời hương phấn”, tránh nơi bùn lầy nước đọng. Những người làm cách mạng họ nghĩ gì về tình trạng nầy? Nếu họ biết đem thành phố về nông thôn, thay vì con gái nhà quê phải tìm lên thành phố làm đứa ở, làm gái thì xã tôi đâu có càng ngày càng phải điêu tàn, quạnh vắng như vầy. Anh nhớ lấy: “đem thành phố về nhà quê, không phải làm ngược lại.” Ba Hà nói, nhấn mạnh từng tiếng vào mấy chữ thành phố, nhà quê.

-“Đem về như thế nào?” Tôi hỏi.

-“Đem trường học, đem y tế, đem chợ, đem đường sá, cầu cống, đem xe cộ, ghe tàu, cho dân đi lại, đem phòng đọc sách, đem rạp chiếu phim. Ty thông tin nào cũng có đoàn chiếu phim. Vậy mà cả chục năm nay chưa có đoàn nào về xã nầy chiếu phim cho dân coi một bữa. Chưa từng có đoàn kịch, đoàn cải lương nào về đây diễn cho dân coi một đêm. Hiện giờ, chỉ sót lại mấy gánh “Hát Bội giữa rừng” của Sơn Nam, sống dở, chết dở, không một chút ngó ngàng của bộ Dân Vận Chiêu Hồi. Cái nầy là của nhân dân nên chính phủ không cần biết tới hay sao?!” Ba Hà giải thích.

Tôi nói mỉa:

-“Chính phủ nầy là chính phủ của dân mà anh!”

Một lúc, tôi nói tiếp:

-“Miền nam nầy, quá dư thừa các nhà chính trị mà nhà cách mạng thì tìm không ra. Những người như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Tường Tam không thấy tái sinh.”

Một lúc, tôi góp ý, cũng gay gắt:

-“Nhưng nhà quê là cái gốc của dân tộc Việt Nam nầy chớ. Dân tộc nông nghiệp mà! Có cái nhìn như Hoàng Đạo trong “Con Đừong Sáng” quả là hiếm.”

Ba Hà nói:

-“Việt Cộng nó bám vào nông thôn anh biết không?”

Tôi giải thích:

-“Cái đó không phải của “Mác”, “Mác” nhắm vào giai cấp công nhân, cho nên “Mác” cho rằng “Cách mạng vô sản” chỉ xảy ra ở các nước công nghiệp như Anh, Pháp, Đức. Tuy nhiên, “Cách mạng vô sản” lại xảy ra ở Nga, nước nửa nông nghiệp, nửa công nghiệp. “Cách mạng vô sản” mà xảy ra ở nước nông nghiệp là “tư tưởng Mao”. Lấy “Nông thôn bao vây thành thị” là tư tưởng Mao. Khó khăn của miền Nam là chỗ đó. Chính phủ lại ít quan tâm tới nông thôn.”

Tôi nói:

-“Có một điều tôi muốn biết, nhưng chưa hỏi được ai. Hồi ở Kiên Tân, có lần tôi được mấy ông cựu “Dân Xã Đảng” mời dự một bữa giỗ mấy ông tướng (9). Hỏi về hoạt động của lực lượng mấy ông ấy ngày trước, họ trả lời qua quít. Họ “giã từ vũ khí” lâu rồi, làm như họ cố quên cái thời oanh liệt cũ. Anh có biết gì về họ không?”

-“Biết gì là biết gì?” Ba Hà hỏi.

-“Là biết về hoạt động của họ vậy, chẳng hạn như họ đông ít, đánh Tây như thế nào. Việc lương thực, tiếp tế súng đạn như thế nào…” Tôi hỏi.

-“Họ chính là quân đội của nhân dân; đánh nhau với Tây là để bảo vệ dân, cơm gạo do ở dân nuôi họ.” Ba Hà nói.

-“Còn vũ khí, đạn dược, quần áo?” Tôi hỏi.

-“Về hợp tác, bộ đội ông Ba được Tây cung cấp cho. Đến khi ông đòi hỏi gì đó, hay Tây đòi liểm soát lực lượng của ông, ông không chịu, thì ông lại rút ra. Ông muốn giữ “độc lập”, lại cần tiếp tế của Tây, ông lại hợp tác, thành ra ông cà giật với tụi nó để có tiếp tế, nhất là cần súng đạn.” Ba Hà giải thích.

-“Bộ đội ông sống trong dân?” Tôi hỏi.

-“Tôi không hiểu do đâu mà ông Ba học được “binh thư tiến vi quân, thối vi nông”. Có lần lính ông về đây, sống với dân, làm ruộng với dân ở kinh Tám Ngàn. Mấy lần Việt Minh trong mật khu Trà Tiên mò ra, bị lính ông Ba đánh cho chạy dài. Cũng có lần Tây tập trung, qua chưa khỏi Mỹ Lâm đã bị bộ đội ông Ba đánh cho.” Ba Hà kể lại một cách thích thú.

-“Tại sao lại thua Quân Đội Quốc Gia thời ông Diệm.” Tôi hỏi.

-“Mấu chốt là ở đây. Cái lợi thế cua ông Diệm là “đã Thực”, là chống Tây. Cái chánh nghĩa của ông Diệm và ông Ba như nhau. Đó là lý do chính làm cho lính tráng của ông Ba từ mười ngàn xuống còn hai ngàn. Ông Ba lại bỏ cái thế đánh du kích. Ông thành lập các đại đội, tiểu đoàn… như quân chính qui. Thay đổi chiến thuật như thế, lại thiếu tiếp tế súng đạn, ông Ba thua là đương nhiên. Nếu còn giữ cái thế đánh du kích, đánh nhau mười năm nữa chưa biết ai thắng ai.” Ba Hà nhận xét.

-“Cái thế dân chúng ủng hộ bây giờ cũng yếu đi, phải không?” Tôi hỏi.

-“Nhận xét đó đúng chỉ một phần, nhưng dân quê và những người giàu vẫn còn ủng hộ ông Ba. Tôi kể anh nghe một thí dụ. Ông thân bà Cao Thị Nguyệt giàu lắm. Ông Ba sai người đến yêu cầu ủng hộ. Ông nhà giàu bảo: “Mày về bảo ông Ba đến đây tao nói chuyện, tao ủng hộ cho.” Ông Ba tới, điệu bộ hiên ngang. Bà Nguyện lúc đó du học bên Tây về, thay cha nói chuyện với ông Ba. Nói qua nói lại làm sao mà bà Nguyệt theo ông Ba luôn, làm vợ thứ hai của ông Ba.” Ba Ha kể chuyện cũ.

-“Có phải bà Nguyệt sau nầy làm vợ phó thủ tướng Nguyễn Van Hảo?” Tôi hỏi.

-“Đúng y chang!” Ba Hà cười, trả lời.

-“Nhưng khi ra tòa, công tố buộc tội ông Ba là thổ phỉ?”

-“Ủng hộ bộ đội ông Ba, như trường hợp thân sinh bà Nguyệt đâu phải là độc nhất. Anh nên nhớ cái danh tiếng của ông Ba là cái danh tiếng anh hùng. Còn như phe ông Diệm, kẻ thắng nói gì chẳng được. Cứ moi móc chuyện không xấu thành xấu, miễn là cố làm cho ông Ba mất chánh nghĩa là được.” Ba Hà giải thích.

-“Nhớ hồi đó ai làm chánh án, ai là công tố viên không?”

-“Nhắc làm gì những cái thứ đó. “Khuyển mã” nhà họ Ngô cả. Thành ra cái chức phận họ được ban thưởng, cũng là thứ đi kiếm ăn cả. Ra gì đâu!”

Một lúc sau, Ba Hà nói tiếp:

-“Huỳnh Hiệp Thành làm chánh án. Lâm Lễ Trinh làm công tố viên.”

-“Sao anh nhớ kỹ vậy?” Tôi hỏi.

-“Ân oán giang hồ mà anh. Dân “cờ đà” (10) ở đây khó quên bọn hèn hạ ra tay giết người kẻ anh hùng của họ.”

-“Lâm Lễ Trinh sau nầy làm bộ trưởng bộ nội vụ phải không?” Tôi hỏi.

-“Thưởng cho cái công khuyển mã giết người trung tín đó anh à.” Ba Hà nói, giọng bất mản.

-“Tôi nhớ hồi đó tờ báo “Cách Mạng Quốc Gia” của ông Đỗ La Lam kể rằng buổi sáng đem ông Ba đi chém, ông Ba sợ quá la to lên “Tao đi chết đây tụi bây ơi”, rồi ông ta khóc. Việc ấy có không?” Tôi hỏi.

-“Một bọn hèn hạ với nhau, bôi xấu ông Ba! Ông Ba hiên ngang ra pháp trường, có sợ hãi gì đâu. “Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục”, dân miền Nam nầy anh hùng lắm anh à.” Ba Hà tán thán.

-“Vậy mà sau nầy, khi làm dân biểu, bà Nguyễn Thị Hoa không vạch mặt chỉ tên bọn nầy.” Tôi nói.

-“Kẹt! Bà Phấn cũng muốn giữ cái ghế dân biểu, nên không muốn đụng tới “dư đảng nhà Ngô”. Còn như dân miền Tây nầy, họ có quên được đâu.” Ba Hà giải thích.

-“Nếu nhìn theo lăng kính giai cấp, thì đó là giai cấp thống trị cấu kết với nhau để bảo vệ quyền lợi của chúng đó đấy. Bị đàn áp, không cho lên tiếng cũng chỉ có những kẻ bị trị mà thôi.” Tôi nói.

&

Một lúc sau, tôi hỏi Ba Hà:

-“Ở đây, trước khi tập kết, Việt Cộng có gài “nhân tố” lại không?”

-“Gài “nhân tố” là sao?” Ba Hà hỏi.

-“Tức là gài “tình cảm”. Chẳng hạn như chồng, con đi tập kết, gài tình cảm lại cho vợ, cho mẹ; ít nữa, từ ngoài Bắc mò về, móc nối lại với gia đình, nhờ gia đình che chở, lập lại hạ tầng cơ sở Cộng Sản chẳng hạn.

-“Có chớ! Nam-Thái-Sơn, vùng Hòn Sóc, Hòn Đất thiếu gì. Cà Mao cũng vậy. Nơi nào Tây tàn ác, giết người đốt nhà, thì “cơ sở” của tụi nó càng mạnh. Nhất là Bến Tre! Thằng Tây lai Le Roy tỉnh trưởng ở đó tàn ác lắm. Ngày nào nó cũng đem dân ra cầu gỗ bắn vài ba người, xong đạp xuống sông. Bến Tre Việt Cộng “đồng khởi” mạnh là chính vì lý do đó.” Ba Hà giải thích.

-“Hèn chi tui nghe trên đài “giải phóng” hay đọc câu “Hỡi người chị của Bến Tre, Cửu Long đồng khởi bốn bề đó chăng!” Tôi góp ý.

-“Xứ nầy không có. Dọc kinh xáng Hà Tiên nầy, chỉ hai đầu là có “cơ sở” Việt Cộng. Ở đoạn giữa nầy, dân người ta không theo. Anh thấy ở An Hòa không? Người từng theo “Nam Bộ kháng chiến” thiếu gì. Việt Cộng tập kết rồi, ai ở lại chỉ theo quốc gia.” Ba Hà giải thích.

-“Ngoài tui có một chuyện vui lắm, để tui kể anh nghe.”

Thế rồi tôi nói tiếp:

-“Gần ngày tập kết, Việt Cộng vận động tổ chức “đám cưới tập thể”, cho “cưới nhau xong là đi”. Toàn là người còn trẻ không. Người chồng thì đi, vợ ở lại. Mai mốt thằng chồng ngoài Bắc mò về, có con vợ dọn sẵn “cơ sở” cho chồng. Ở quận Trung Lương – quận nầy mới thành lập, dọc theo bờ Nam sông Bến Hải – làm quận trưởng là anh Hoàng Đức Thạc, cựu đảng viên đảng Cộng Sản, trốn, không theo Việt Cộng, theo Quốc Gia. Anh nầy gọi má tôi bằng o – o là cô, theo cách gọi trong Nam -. Cộng Sản mới hiểu Cọng Sản, chơi nhau nhiều đòn độc. Nhà nào có con gái “cưới nhau xong là đi”, anh ấy cho cán bộ Công Dân Vụ, Công An Quốc Gia vào “vận động, công tác”. Riết rồi nhiều cô mang bầu… Bấy giờ thì mấy cô đâu còn muốn chồng cũ trở về, nói chi bao che. Má tôi nói: “Thằng ấy – là ông quận trưởng cháu má tôi đấy – khôn mà khôn độc. Nó biết mấy con nhỏ “ăn quen nhịn không quen.” Ai nghe câu má tôi nói, cũng cười. Đời mà. “Vỏ quít dày, móng tay nhọn.”

Tôi hỏi Ba Hà:

-“Anh có biết cái vai trò làng xã Việt Nam trong lịch sử không?”

-“Không!” Ba Hà đáp gọn lỏn.

-“Nó quan trọng lắm.” Tôi nói – nhiều người viết sử nhận xét làng là cái thành trì chống ngoại xâm rất hữu hiệu. “Một ngàn năm đô hộ” mà người Tầu không đồng hóa được người Việt mình là nhờ có làng. Làng có tính độc lập mạnh lắm. “Phép vua thua lệ làng” mà. Chính sách cai trị của quan lại Tầu đụng tới “lũy tre làng” là khựng lại, không “xâm lăng” vô làng được. Cái lũy tre làng đó, vừa là thực tế của các lũy tre bao quanh làng, mà cũng là cái thành trì vô hình trong lòng người Việt Nam, là cái lòng yêu làng nước mình. Việt Cộng chúng nó bám vào trong bốn lũy tre làng kỹ lắm, bằng những tình cảm cha mẹ, vợ con, thân tộc. Nhờ đó mà chúng xây dựng được “hạ tầng cơ sở Cộng Sản”. Muốn Cộng Sản không xây dựng được hạ tầng cơ sở của chúng, phải phá vỡ cái tình cảm mà Việt Cộng bám víu vào đó. Điều nầy khó lắm. Tình cảm gia đình, vợ chồng, cha con, chòm xóm, làng nước. Việt Cộng lợi dụng cái tình cảm nầy của dân làng. Phải vạch mặt chúng ra cho dân làng thấy.”

-“Anh nghĩ “Bộ Dân Vận Chiêu Hồi” làm được?” Ba Hà hỏi.

-“Đếch họ. Tinh thần quan lại thì làm được gì. Ít ra, phải như các đoàn cán bộ xây dựng nông thôn cấp xã. Căn bản là xã ấp, không phải từ trên xuống mà tự dân làng.” Tôi nói.

-“Anh nói vậy thì nhờ cái lòng yêu làng ấy mà người Việt giữ được nước?” Ba Hà hỏi.

-“Đúng đấy! Tinh thần ấy mạnh lắm, già cũng như trẻ, đàn ông cũng như đàn bà. “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh.” Quân Mông Cổ chạy dài là vình tinh thần đó đấy. Tôi đọc nhiều sách nói tới cái tinh thần đó vậy. Người ta gọi đó là “văn minh Việt Nam.” Tôi giải thích.

-“Anh nói vậy thì cái tinh thần người lính Cộng Sản thì sao? Bọn “sinh bác tử nam” thì sao?” Ba Hà hỏi ngược tôi.

-“Họ khác chứ! Họ là lính Cộng Sản, lính của đảng, của giai cấp vô sản, của đấu tranh giai cấp, họ được dạy hận thù. Người lính miền Nam thì không, không ai dạy cho họ hận thù”. Tôi nói.

Ba Hà lại hỏi ngược tôi:

-“Anh có làm cán bộ “tâm lý chiến” không đấy?”

“Trăm lần không, vạn lần không!” Tôi nói đùa. “Tôi hỏi anh, bọn thanh niên trong xã nầy, có thằng nào đi lính vì hận thù? Chính phủ gọi thì chúng nó đi. Ngay cả khi lính của anh, lính của tui, vô tận rừng mà phục kích Tư Ngọc, tui có thấy tụi nó nói hận thù đâu. Người miền Nam đi lính, giống như trong bài hát con Hòa hát vậy: “Tôi chỉ là người lính xa nhà, thấy hoa nên nhớ người yêu rất xa.” Câu nầy cũng hay. Anh nhớ mình đi phục kích ở Cây Số 15 không? Tôi từng nằm ở đó, khuya trời sương xuống lạnh, kéo áo “trây-di” lên cho thật kín người mà thấm thía với câu hát của Trúc Phương “Áo nhà binh thương lính, lính thường quê.”

Người lính miền Nam thật là hiền hòa. Anh không thấy sao?”

-“Anh nhận xét đúng đấy. Nhưng dân thành phố như anh sao biết những chuyện ấy.” Ba Hà lại hỏi tôi.

-“Một là đọc, đọc sách, đọc báo và kinh nghiệm đi nhiều mà anh… Quan trọng nhất là giáo dục. Hồi tui đi học, đệ Thất, đệ Lục, ông thầy dạy Việt Văn của tui biểu chúng tui đọc rất nhiều sách viết về nông thôn: “Nhà Quê”, “Quê Người”, “Đồng Quê”, “Nhà Nghèo”, “Chị Dậu”, “Lều Chõng”… thậm chí cả “Con Đường Sáng” của Hoàng Đạo. Khi đi dạy, tui lại dạy về “Văn Chương Bình Dân” – “Văn Chương Bình Dân” là dạy về ca dao, tục ngữ, chuyện cổ tích là văn chương của người nhà quê. Tui là dân Quảng Trị ở vĩ tuyến 17, bỏ cục phấn rồi, tui ôm súng lang thang nhiều nơi trong Nam mà anh không ngờ đâu: Gò Công có 4 quận, quận nào tui cũng có tới: Tui tới “Lăng Hoàng Gia”, quê hương bà Từ Dũ; tui tới Đồng Sơn, quê bà Nam Phương Hoàng Hậu; tui tới ấp Pháo Đài, một bên là sông Cửa Tiểu, một bên sông Cửa Đại. Về Cái Sắn, tui tới “đồng cho ngáp Huệ Đức”, núi Sập, tới vùng Cờ Đỏ ở Thạnh Tây. Về đây, từ xã Mỹ Lâm tới Hòn Chông, Chùa Hang, Mũi Nai, Giang Thành. Tui chưa tới đồn Trà Phô, ưa đi lắm, nhưng mới bay trực thăng ngang trên mật khu Trà Tiên với trung tá Đàn mà tui đã lạnh giò. Anh hỏi tui, bộ tui đui hay sao mà không biết gì?” Tôi kể chuyện cho Ba Hà nghe.

-“Anh hơn tui!” Ba Hà nói. “Xứ tôi thì anh đi hết, còn tôi thì chưa ra tới Huế.”

-“Quê hương mình mà. Đi cho biết thì vui.” Tôi cười góp ý. “Tui ưa nhà quê hơn thành phố, mặc dù nhà quê buồn hơn nhiều.”

Tôi nhìn ra ngoài trời. Gần hết mùa hạ rồi, hàng lau dày bên bờ kinh Vàm Rầy đã tàn, âm thầm chuyển sang màu vàng rơm hồi nào ai đâu ngờ tới. Màu vàng của nó trông thật buồn. Màu lau già hòa lẫn với màu mái tranh của ngôi chùa vắng bên bờ kinh, trông cũng buồn và âm thầm như vậy. Phía sau chùa là những cành cây khô già trụi lá của một cái cây lưu niên gì đó không cao lắm, tưởng như một ông sư già đang ngồi thiền định, cố gắng giữ chút hơi tàn để tồn tại trên cõi đời. Những cành cây giơ lên trời như những cánh tay khẳng khiu của một bà cụ già ốm yếu, da bọc xương, in rõ trên màu xanh lạt của một buổi trời chiều vắng lặng, không một chút mây.

Tôi nói, giọng buồn: “Anh thấy không? Mới ba giờ chiều mà cảnh vật vắng vẻ, lặng lẽ như vầy. Không cả tiếng trẻ em chơi đùa.”

-“Chiến tranh mà anh. Tôi lớn lên ở xứ sở nầy. Trước chiến tranh, nơi nầy cũng vui lắm.” Ba Hà nói, như có ý “cứu chữa” cho quê hương của anh ta.

Tôi đọc mấy câu thơ của Đỗ Tấn:

Tôi đứng giữa đồng nâu,

                        Giữa những người cuốc bẫm cày sâu!

                        Nghe vang vang từ mạch đất

                        Tư tưởng nào cũng từ đất mà ra…”

Ba Hà nói, giọng hơi buồn:

-“Nói thì hay nhưng con gái xứ nầy lần hồi bỏ đi hết! Con trai làm sao có vợ. Cưới ai. Con Hòa nầy nè. Sắp đi Mỹ theo chồng đấy.”

-“Anh nói làm tui nhớ mấy câu ca dao nói về con chim đa đa. Tôi đọc:

Chim đa đa đậu nhánh đa đa
Chồng gần không lấy, bậu lấy chồng xa
Mai sau cha yếu mẹ già
Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà ai dưng?

Ba Hà cười “Khỏi lo! Ông bả rủ nhau đi lâu rồi!”

-“Vô trong Nam nầy,” – Tôi nói – “Tui học được nhiều câu ca dao hay lắm – nói cho đúng là “tình cảm” lắm, lãng mạn nữa. Người miền ngoài ít có như thế.”

-“Tôi nghĩ Bắc Trung Nam giống nhau chớ?” Ba Hà cải chính.

-“Không! Nhìn chung, có giống nhau, nhưng thổ ngơi mỗi nơi mỗi khác, nên tình cảm khác anh à. Tui thích nhất câu nầy:

“Tàu xúp lê một, còn thương còn nhớ.

                        Tàu xúp lê hai, còn đợi còn chờ.

                        Tàu xúp lê ba, tàu ra biển Bắc.

                        Tay vịn song sắt, nước mắt chảy ròng ròng

                        Đôi ta mới ngộ mà ông trời không thương.”

Câu nầy tui mới đọc trong “Chú Tư Cầu” của Lê Xuyên”.

Ba Hà hỏi:

-“Anh hiểu cái ý của câu nầy không?

-“Lò mờ thôi! Anh giải thích đi!” Tôi yêu cầu.

-“Nam kỳ thuộc địa” mà. Bên Tây đánh nhau nên Tây bắt dân Nam Kỳ đi lính Tây. Bài nầy nói chuyện anh con trai Nam Kỳ

mới có bồ mà bị Tây bắt đi. Qua Tây xa lắm, khi nào mới về!”

-“Câu nầy thì nói cái gì?” Tôi hỏi:

“Tới đây đất nước lạ lùng,

                        Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh.”

            -“Lưu dân đó anh.” Ba Hà nói. “Lưu dân trong cuộc Nam Tiến của người Việt mình. Hầu hết miền Tây nầy là lưu dân nên ông bà chúng ta ngày xưa thương nhau lắm, là vì vậy.”

-“Đi nhiều. Thành ra tui có cái nhận xét như thế nầy. Anh thấy cái thằng cha tỉnh đoàn trưởng Xây Dựng Nông Thôn ở Rạch Giá không? Dân Quảng Nam phải không? Làm việc với thằng cha khó chịu lắm phải không?” Tôi hỏi một hơi.

-“Đúng đấy!” Ba Hà nói.

-“Dân Nam Ngãi Bình Phú, xưa gọi chung là Quảng Nam. Họ có tính “nghiêm”, đôi khi cực đoan, thành ra “Thẳng mực Tầu, đau lòng gỗ”.

-“Quảng Nam hai cãi?” Ba Hà hỏi.

-“Hay cãi” là do cái tính cực đoan đó anh. Cực đoan là vì “đâu ra đó”, “cái gì ra cái nấy”. Ông tỉnh đoàn trưởng nầy phải vậy không?” Tôi hỏi.

-“Đi họp, tôi cãi không lại chã. Tính đập lộn mấy lần.”

-“Ảnh hưởng của hát bội đó anh!” Tôi giải thích.

-“Tại sao lại hát bội?” Ba Hà hỏi, ngạc nhiên.

-“Quảng Nam là quê hương của hát bội; cũng như Nam Bộ là quê hương của cải lương. Tuồng tích hát bội thiên về luân lý. Coi hát bội là học hỏi về “trung, hiếu, tiết nghĩa”… về “tu thân tề gia”… Khi hát bội theo chân lưu dân mà vô tới miền Nam, Tiền Giang, Hậu Giang thì vì cái cảnh sắc và đời sống trong Nam dễ dàng hơn, đất đai phì nhiêu hơn, trời cao sông rộng thành ra hát bội biến thành cải lương, cái tính chất luân lý nhẹ bớt đi, tình cảm hơn, đa tình hơn, lãng mạn hơn… Có phải không?”

-“Tôi nghĩ anh đi nhiều, nhận xét kỹ, nên ý anh nói không sai lắm đâu.” Ba Hà góp ý.

-“Có lẽ sau nầy, chiến tranh hết rồi, nước mình có nhiều nhà xã hội học, âm nhạc học, sẽ nghiên cứu để vấn đề sáng tỏ hơn. Tôi chỉ gợi ý như thế thôi.”

Trầm ngâm một lúc, Ba Hà nói:

-“Về xã nầy anh thấy đó. Dân xã tôi có muốn theo Việt Cộng đâu. Vậy mà tại sao Việt Cộng càng ngày càng mạnh lên mà mình thì yếu đi?”

-“Cái bao tử thôi. Dân thì ở đây, nguồn sống thì ở trong bưng. Vô trong đó kiếm ăn là chui đầu vô cái rọ của tụi nó. Làm sao không theo chúng nó được.” Tôi giải thích.

-“Anh biết thiếu úy Huệ chết là vì sao không?” Ba Hà lại hỏi.

-“Không!” Tôi trả lời gọn.

-“Tụi nó vừa trả thù Quốc Gia vừa khủng bố dân chúng đấy! Tôi biết tụi nó quá mà!” Ba Hà nói.

-“Vụ Tư Ngọc bị giết?” Tôi hỏi.

-“Anh giết thằng Tư Ngọc là nó phải giết lại người của mình để trả thù. Điều đó không quan trọng. Quan trọng là phía dân chúng. Khi Tư Ngọc bị giết là dân chúng nghiêng về phía Quốc Gia, sợ Quốc Gia. Muốn lấy lại cái thế mạnh của nó, trên “cơ” mình, tụi nó phải đánh xã. Nó làm dzậy, dân mới sợ nó. Khủng bố mà!” Ba Hà giải thích.

Nghe Ba Hà nói, tôi thấy anh ta có kinh nghiệm chống Cộng, chống khủng bố. Việt Cộng là sư tổ của khủng bố mà. Tôi hỏi:

-“Ấp nầy, tôi không ngại lắm. Hai cái ấp ở đầu rìa xã, tụi nó ở trỏng ra, dễ như không!”

-“Đương nhiên! Ai giữ dân để tụi nó không dám ra? Nhân dân Tự vệ đâu có mấy ngoe. Súng ống như thế, carbine M-1, garant M-1 làm sao bắn lại AK. Nó ra được thì nó xây dựng được “hạ tầng cơ sở”. Ban đầu thì ấp loại A (11), lần hồi thành ấp xôi đậu. Ban đêm mình đâu dám tới. Rồi mất hẳn. Xã co cụm lại, ngày càng nhỏ. Tụi nó hốt mình không mấy hồi.” Ba Hà giải thích.

-“Mình phải ở lại đó, đêm cũng như ngày?” Tôi hỏi.

-“Phải ở với dân, trụ lại với dân. Cán bộ xã ấp, cán bộ “Xây dựng Nông thôn”, “Nghĩa Quân”, “Địa Phương Quân”… Chúng ta cần người lính đánh du kích để giữ ấp – người lính đánh du kích – Anh nhớ vậy, dân cần người lính đánh du kích hơn là người lính Sư Đoàn. Người lính ở trong dân, cùng với dân đánh lại du kích Việt Cộng, không cho nó đặt “hạ tầng cơ sở”. Phải nắm cho được “hạ tầng cơ sở”. Anh phải nhớ vậy!” Ba Hà nói một cách gay gắt.

“Đắp chăn mới biết chăn có rận”. Phải ở xã ấp mới hiểu vai trò xã ấp trong “Chiến tranh Nhân dân”, “Chiến tranh Du kích” quan trọng như thế nào. Nghe Ba Hà nói, tôi nghĩ tới bài “The Street without joy” của Bernard Fall mà tôi đã đọc (12).

&

Một lúc sau, ông Phó Nghiêm đi Tri Tôn về, thấy tôi và Ba Hà đang ngồi với nhau, bèn ghé lại chơi. Thiếu úy Chiếu, sau khi làm xong công việc, cũng ra ngồi “góp chuyện”.

Trong khi đó, ông quận trưởng đang ngồi “bàn riêng” với Xã Àn trong nhà xã trưởng. Tôi nói “bàn riêng” là vì mấy bữa nay, ông quận trưởng đang “chữa cháy” cho cái ghế của ông bởi ông trung tá tỉnh trưởng, sau khi ông tướng vùng bay chức, sợ mất bảy chục triệu, phải nhờ Bà Tám Nghĩa ở Rạch Giá đưa vợ ông tỉnh lên “trình diện” chị Tư Nết ở Saigon (13). Về, tới nơi, ông trung tá tỉnh trưởng vội lo “hồi sức” phòng khi có “sự cố” về sau nữa, nên ông “gõ đầu” mấy ông quận trưởng, khiến ông quận xứ nghèo của tôi phải tìm gặp các ông xã trưởng. Xã mới có “tư cách pháp nhân”. Quận, mà quận nghèo như xứ tôi thì chỉ có “nắng bụi mưa bùn”, khó cho ông quận lắm. Đó là ý chính những gì về ông quận do ông phó “tiết lộ” cho tôi.

Tôi với ông phó thì giống nhau, chẳng phải lo “hụi chết, hụi sống” cho ai cả.  Về chuyện “đóng hụi” nầy, có lần ông phó quận nói đùa với tôi: “Mấy thằng chã cấp trên có hỏi, tôi biếu cho vài cục đá vôi. Xứ nầy nhiều đá vôi.” Còn như ông xếp của tôi, có lần giữa buổi họp, ông nói to: “Mấy chú ăn hối lộ, nhớ để đức cho con.” Nhờ đó, bọn tôi, dưới quyền ông, thấy “khỏe”.

Sau khi cà phê đem ra xong, nhân có ông phó quận, Ba Hà hỏi:

-“Trong khu định cư “của mấy anh” có nhà thờ, chùa chớ?”

-“Có chớ anh!” Biết là việc của mình, phó Nghiêm trả lời:

-“Tốt! Nhưng ông phó có kinh nghiệm gì không?” Ba Hà hỏi.

-“Kinh nghiệm gì?”

-“Vai trò của tu sĩ.” Ba Hà giải thích.

-“Anh nhớ “Láng Linh” ở Long Xuyên không? Trại ruộng của Phật Thầy Tây An đó. Phải nói là rất thành công, đến nỗi khi tấn công chiếm miền Tây, bọn Tây đốt hết các trại ruộng nầy, tình hình mới êm. Ở Cái Sắn, theo tôi thấy, vai trò các ông cha trong kinh là quan trọng. Không có mấy ông, dân dinh điền bỏ đi hết! Hồ Hữu Tường, trong Minh Đạo, cũng có cái ý như vậy, vai trò của các ông tu sĩ là quan trọng. Đúng như vậy, mặc dù, trong Minh Đạo, ông Tường chỉ mới nghĩ ra, ông Tường nghĩ ra trước những điều ông Nhu, ông Diệm thực hiện sau nầy. Ông Tường mới là nhà tư tưởng thiên tài.” Tôi nói.

-“Còn các ông cha?” Ba Hà hỏi.

-“Các ông cha giữ dân lại dinh điền.” Tôi giải thích.

-“Bây giờ mà ông đem các “ông cha dinh điền” vô vùng định cư của anh là sai trật lất, sai ghê lắm. Anh biết không?” Ba Hà nói ngược những ý nghĩ tôi vừa nói ra.

Tôi ngớ ra, hỏi:

-“Há?”

Ba Hà nói tiếp:

-“Dân dinh điền là dân có đạo. Họ có theo các ông cha là đương nhiên. Anh biết ông Nhu, ông Diệm thất bại ở Ấp Chiến Lược là tại sao không?”

Ông phó quận và tôi không ai trả lời.

Ba Hà nói tiếp, giọng bực dọc:

-“Dân trong ấp chiến lược là dân Nam Bộ. Họ không phải là con “chiên”, con “xào” của mấy ông cha. Họ là người lương, họ là người “tu hiền” của Đức Thầy, họ là người“thờ đủ thứ” của Cao Đài. Chính quyền lùa họ vô ấp chiến lược, là gây ra khó khăn cho dân – mà rất nhiều khó khăn, đời sống thiếu đủ thứ – chỉ có mấy ông cha mới giúp họ được. Ông cha nói gì, ông tỉnh trưởng, ông quận trưởng vâng, dạ. Họ mà không nghe mấy ông cha, ôm khăn gói đi rất lẹ. Ông cha thì giúp dân bằng tay trái, tay phải cầm xâu chuỗi tròng lên đầu dân. Chỉ có ai mang thánh giá mới là người chống Cộng; đâu mà có cái ý tưởng kỳ cục, cực đoan như vậy.”

-“Như vậy có nghĩa là buộc dân vô ấp chiến lược là buộc họ theo đạo?” Tôi hỏi.

-“Chớ gì nữa. Làm xã trưởng, tôi từng gặp không biết bao nhiêu lần dân xứ tôi đến khóc lóc vì bị các ông cha buộc bỏ ông bà.”

-“Tôi tưởng ông Nhu nghiên cứu từ kolkhoze, sovkhoze của Nga hay từ kibbuz của Do Thái gì chớ!” Tôi nói.

-“Tôi không rõ.” Ba Hà nói. “Đây chỉ là trại tập trung. Dzậy thôi! Chỉ khổ dân. Anh thấy “Xóm Đạo” ở khúc quẹo của kinh nầy không? Họ từ bên Tri Tôn Châu Đốc, trốn vô ấp chiến lược mà chạy qua đây. Họ là “đệ tử” của Đức Thầy, bị “ấp chiến lược” theo riết, bây giờ họ thiên Cộng luôn, bởi vì bị ông Đạo Sáu xỏ mũi dắt đi.”

Một lúc, Ba Hà nói tiếp:

-“Tôi từng bị gọi đi học một khóa ấp chiến lược ở tỉnh. Mấy chả ở Trung Ương chẳng biết mẹ gì về nông thôn Việt Nam cả. Ngồi ở Saigon nói lý thuyết, khoe tài học cao hiểu rộng, coi thường đám nhà quê như chúng tôi là thứ ngu dốt, không biết gì, bảo sao nghe vậy! Mấy thằng chả đi học ở Suối Lồ Ồ thì cũng chỉ là đám nịnh thần, rán vỗ tay cho thật to để bợ đít ông Nhu chớ có bao giờ về xã về ấp ngủ một đêm để “thăm dân cho biết sự tình” đâu. Sinh ra ở thành phố, lớn lên, học hành ở thành phố, chưa một ngày về sống ở xã, ấp. Vậy mà ngồi vạch ra kế hoạch để xây dựng xã ấp. Họ muốn làm trò xiệc hay sao?! Tôi cho chuyện đó là chuyện lạ lùng, vô lý, buồn cười… Chống Cộng kiểu đó thì muôn năm không thắng được Cộng. Anh thấy lính của tôi không? Đâu cần ngủ ấp, vô tận trong bưng, chỗ tụi nó đang ăn ngủ, gài mìn chơi luôn. Chơi vậy mới đã!”

-“Tôi nghe nói Colby có đi ngủ ấp?” Tôi hỏi.

-“Cha ấy gan. Nó cười vô mũi mấy ông lớn Saigon đấy!” Ba Hà ca ngợi.

-“Đó là cái di sản của “thư lại” đấy. Tinh thần công chức hủ lậu mà, từ thời thực dân. Ông Diệm, ông Thiệu kêu gọi cách mạng là làm trò hề đấy. Tinh thần đâu mà cách mạng.” Tôi nói.

Một lúc, tôi kể:

-“Năm kia, tôi về Huế. Rồi tôi cùng người bạn về thăm quê ổng, phía ngoài sân bay Phú Bài. Chúng tôi gặp một người bạn học cũ, ông  bạn đang đang làm phó quận trưởng Hương Thủy, tham gia “chiến dịch Hướng về Nông Thôn” của chính phủ. Ông đi thuyền trên sông Lợi Nông. Trên chiếc ghe nhỏ, một anh cán bộ xây dựng nông thôn cầm máy Kohler ngồi sau, ông phó quận ngồi giữa, hai đầu là hai cô thư ký quận, áo dài đàng hoàng, một cô áo xanh, một cô áo hồng. Ông bạn tôi la lên: “Trời ơi! “Hướng về nông thôn mà như đi du lịch”. “Cách mạng Hành Chánh” của tổng thống Thiệu đấy. Ngộ chưa?”

Ông phó Nghiêm cười:

-“Cán bộ cách mạng” ngồi giữa. Hai đầu là hai miếng ruộng chéo chớ còn gì nữa. Vói tay chút xíu là tới “hợp tác xã nông nghiệp” ngay chớ gì!”

Con Hòa ngây ngô hỏi:

-“Hai miếng ruộng chéo là cái gì?”

Cô chủ quán, vừa dọn cơm trưa ra cho chúng tôi ăn theo lời Ba Hà dặn, nghe con Hòa hỏi, cười trả lời:

-“Hỏi “dzô dziên”. Cái đó mà không biết sao còn hỏi!”

Bốn người chúng tôi cùng cười.

Vì thấy thiếu úy Chiếu đi công tác ở Xóm Đồn Giữa về, mặt mày còn đỏ gay, mồ hôi nhễ nhại. Tôi đoán chừng chưa ăn cơm, bèn nói:

-“Đói bụng không? ăn luôn đi.”

Thiếu úy Chiếu nói với cô chủ quán:

-“Cho tôi ly trà đá, ly cối nghe.” Rồi quay sang nói với chúng tôi; “Khát quá, “chơi” luôn một ly cối mới đã.”

Tôi hỏi:

-“Ông Thầy Chùa đâu rồi?”

-“Trung sĩ An đưa về sau. Cho ông ta xếp dọn quần áo đã. Thấy mà khiếp.”

Tôi hỏi:

-“Có còng ông ta lại không?”

-“Không! Ổng trốn đi đâu được mà còng.”

Tôi nói:

-“Còng cũng được, nhưng phải nhớ cởi cái áo tu ra. Nhốt vô khám cũng vậy; luật đó. Không nó thưa cho; phiền lắm.”

Ba Hà nói:

-“Tôi nghe nói “me xừ” tư lệnh Cảnh Sát vô trách nhiệm lắm; phải không? Hễ có dư luận báo chí hay thưa gởi đối lập là “chã” cách chức nhân viên của chã trước đã, tránh búa rìu cho yên thân chã, oan ưng tính sau!”

-“Anh muốn nói chuyện thiếu úy Vây ở Thạnh Đông chớ gì.” Tôi nói. “Oan cho thiếu úy Vây.”

-“Đúng chuyện đó! Dân Rạch Giá chê dữ lắm.” Ba Hà nói.

-“Đáng ra, nên khen thiếu úy Vây, cho thằng chã “hội đồng Tỉnh” vô tù tội “đồng mưu trộm” mới đúng. Thượng cấp nhát gan quá, thành ra pháp luật bất minh.” Tôi nói.

-“Anh biết rõ chuyện đó?” Ông phó quận hỏi.

-“Thiếu úy Vây là đệ tử tôi mà!” Tôi trả lời.

Một lúc, tôi kể:

-“Thằng cha “hội đồng Tỉnh” nầy lưu manh lắm. Nhà nó ở Kinh Tám, kế nhà có cô gái, ở với em gái. Hai chị em mồ côi cả cha lẫn mẹ. Thằng chả đã già muốn “dê” cô chị. Cô ta không chịu. Y trả thù bằng cách cha cho chĩa cái ống khói máy điện của ông vô vách nhà cô ta; nóng, khói um, ai chịu nỗi. Cô ta khiếu nại lên tôi. Thằng cha lo hối lộ, nhờ thiếu úy Vây đưa cho tôi hai chục ngàn. Tôi thấy cha làm sai quá, câu chuyện sẽ nhiều rắc rối, bèn chuyển nội vụ ra tòa. Biện lý làm gì thì làm. Tụi không muốn dính vô.

Sau đó chã lấy một bà già mù, nguyên là con gái chủ điền. giàu lắm. Chã âm mưu với hai đứa cháu trai; chã giả đi vắng, chỉ chỗ bà già mù giấu nữ trang cho hai đứa cháu vô ăn trộm. Thiếu úy Vây điều tra, tìm ra thủ phạm. Thằng chã sợ, thưa kiện lung tung, lên tới Giám Sám Viện. Ngô Công Đức, Dương Văn Ba, không biết mẹ gì, cũng nói là thiếu úy Vây vu cáo cho cháu thằng chã. Ông Tư lệnh Cảnh Sát sợ đám đối lập bèn cách chức thiếu úy Vây mà không cho điều tra. Dân Cái Sắn chưởi dữ.”

-“Oan cho thiếu úy Vây chớ gì.” Ba Hà nói.

-“Cũng như Phạm Duy Tốn nói vậy mà “Sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi”, làm vậy cho chắc cái ghế tư lệnh của chã.” Tôi trả lời.

-“Thiếu úy Vây có thể kiện ông tư lệnh được đấy.” Ba Hà góp ý.

-“Anh nghĩ một thằng gốc “lính tẩy” như chã mà có tinh thần dân chủ hay sao?” Tôi hỏi lại Ba Hà.

Ba Hà hỏi thiếu úy Chiếu:

-“Ông thầy chùa nầy phá đạo phải không?”

-“Tu hành gì đâu. Cái chòi hoang của ai bỏ không, ông vô đó đặt bát nhang, gọi là chùa?” Thiếu úy Chiếu giải thích.

-“Ông ta một mình?” Tôi hỏi.

-“Một cô gái nữa. Một thầy “đực” với một nữ đệ tử “cái”. Đêm hôm “đực, cái” làm gì nhau, ai mà biết. Thầy bà phá giới.”

-“Ông ta có giấy tờ gì không?” Tôi lại hỏi.

-“Ông có giấy căn cước, có giấy chứng minh của ông đại úy đại đức tuyên úy ở Rạch Giá, có giấy hoãn dịch vì lý do tu sĩ.” Thiếu úy Chiếu trả lời.

Ông phó Nghiêm góp ý:

-“Dư luận ngoài Rạch Giá nói rằng ông đại úy tuyên úy nầy “thầy chạy” luôn.”

-“Ông biện lý có lần dặn tôi không cho ông tuyên úy nầy vô thăm tội nhân khi điều tra chưa xong. Ngay ở tòa Sơ Thẩm Kiên Giang, ông tuyên úy lợi dụng sự nể nang của ông biện lý cho vô thăm tội nhân, ông “mớm cung” cho người ta đấy.” Tôi nói tiếp.

Ba Hà hỏi thiếu úy Chiếu:

-“Còn ông thầy chùa nầy thì sao?”

-“Ông đi tu mà không muốn tu, không muốn ở chung với mấy thầy khác chùa ngoài Rạch Giá. Vô đây ở một mình, miễn khỏi đi lính là được. Ở với nữ đệ tử “vui” chán.” Thiếu úy Chiếu cười, trả lời.

-“Trong chùa có gì?” Tôi hỏi.

-“Có bàn thờ, bát nhang lạnh lẽo vì thầy bận đi buôn đường. Có một cái giường gỗ tạp.”

-“Cái giường có gãy chưn nào không?” Tôi cười, hỏi.

-“Bốn chưn giường cò đủ nhưng hơi lung lay?” Thiếu úy Chiếu lại cười trả lời.

Tôi đọc câu ca dao “Một rằng thương, hai rằng thương, có bốn chưn giường gãy một còn ba.” Tôi hỏi tiếp:

-“Việc ông sư hổ mang đi buôn lậu, ông trả lời sao?”

-“Ổng nói thầy chùa đâu bẻ chưn nhang ăn thế cơm được.”

-“Ông thầy chùa ăn nói ngang ngược.” Tôi hỏi tiếp:

-“Ông ăn chay?”

-“Chay mặn gì ông chơi tuốt”. Ông “thích đủ thứ” mà.” Thiếu úy Chiếu trả lời. Xong, Chiếu lại hỏi tôi.

-“Giải quyết sao đại úy?”

Tôi nói:

-“Cho người đưa ông Lỗ Trí Thâm nầy về ngoài Rạch Giá, trả cho Giáo Hội là xong.”

(Vậy mà không xong, trên đường dẫn ông ta về ngoài ấy, ông thầy chùa có máu giang hồ ấy lợi dụng không bị còng tay, ông bỏ trốn mất).

-“Còn con nhỏ nữ đệ tử?” Thiếu úy Chiếu lại hỏi.

-“Nghe nói con nhỏ đó là em gái một Cảnh Sát Dã Chiến của đại úy Năm phải không? Gọi về ngoài, biểu thằng anh vô đem em nó về.”

Thiếu úy Chiếu nói:

-“Em không ăn cơm đâu, mấy ông ăn đi. Em vô Cuộc lo việc cho xong.”

Gần xong bữa ăn, tôi nói với Ba Hà:

-“Về tôn giáo, ngoài Bắc, ngoài Trung, ngoại trừ những người theo đạo Thiên Chúa, phần đông dân chúng theo đạo Phật có vẻ “chân truyền” hơn. Trong Nam nầy, đạo Phật vừa có tính tiểu thừa, vừa pha tạp với “Đạo Giáo” nên có nhiều “ông đạo” tu một mình trong hang núi, nhất là ở núi Tà Lơn vùng Thất Sơn. Vùng Kiên Lương nầy cũng vậy. Núi đá nhiều, có nhiều hang động. Nhiều ông đạo tu một mình trong hang. Mỗi ông tu một cách, chẳng ai giống ai. Núi Còm ở nhà máy xi măng Hà Tiên là nơi tu của ông đạo Còm. Không ai biết tên ông, gọi là ông đạo Còm vì lưng ông còm, cong như cái cung. Năm 1962, khi nhà máy Xi Măng bắt đầu khai thác đá núi Còm, người ta thấy bộ xương của ông. Ông chết rục trong hang hồi nào người ta không hay. Đạo Liếm, đạo Sờ, đạo Dừa, “Bác vật Lang” (14) cũng từ cách tu đó mà ra. Chiến tranh qua rồi, người ta sẽ đi tu nhiều đấy, chắc không thiếu gì các ông đạo như ngày xưa.”

Nghe tôi nói, Ba Hà thở dài.

Một lúc, Ba Hà nói:

-“Thật ra, tu như ông đạo Còm hay các ông đạo ở Thất Sơn là hay lắm. Dân người ta biết họ là người tu hành chân chính cả đấy.”

Phó Nghiêm quay qua hỏi tôi:

-“Ông có nghe người ta nói về ông đạo Còm chớ gì?”

-“Có nghe. Chuyện hay lắm. Để tui tóm tắt cho nghe.”

Một lúc sau, tôi kể:

-“Ở quận, ông phó biết phía sau sân vận động là Chùa ông Bổn chớ gì. Chùa ở trên ngọn đồi nhỏ. Chùa nầy có lâu lắm, trước chiến tranh.

Tôi kể tiếp:

-“Trụ trì là một ông thầy già, mấy ông sư trẻ. Tui hơi ngại. Việt Cộng thường lợi dụng mấy ông sư già nhà quê, thiệt thà, có lòng yêu nước ít nhiều để dựng “hạ tầng cơ sở” hay giao liên, tiếp tế, v.v… Vì vậy, một hôm tui kêu mấy “đệ tử” theo tui lên chùa. Tui lên chùa thắp nhang, chào hỏi thầy rất kính cẩn. Ổng cũng đối xử với tôi đàng hoàng lắm. Tui nói với ông thầy chùa hồi tui còn nhỏ, thường theo cha đi chùa Phật Lồi ở truông Ái Tử cho ông ta nghe. (15). Ông cũng kể chuyện ông đi tu từ nhỏ, sư phụ ông lại chính là “đệ tử” ông đạo Còm, khi ông đạo Còm còn tu ở cái hang trên núi Còm.

“Ông đạo Còm có thời theo Phật Thầy Tây An. Trước khi đi tu, ông có vợ, có người con trai. Người con trai sau theo nghĩa quân chống Tây, sau không biết tin tức. Cũng không rõ ông đạo Còm lên núi lúc nào. Ông có một “triết lý” rất lạ, không thờ Phật – dĩ nhiên là không thờ Chúa – chỉ thờ Trời như người dân Nam Bộ ngày xưa, chủ trương đạo Hiếu và bổn phận con người đối với gia tộc và đất nước.”

Bỗng Ba Hà cắt ngang:

-“Tui biết cách tu nầy, không riêng gì của ông đạo Còm mà nhiều ông đạo vùng Tà Lơn cũng vậy.”

Tôi nói:

-“Anh người địa phương, chắc rõ hơn tui, kể đi.”

-“Được thôi.” Ba Hà nói. “Có gì anh em mình bổ sung.”

-“Theo “giáo phái” nầy, “giáo phái” là cách nói thôi nghe! Hạ thể con người ta mới là phần quan trọng. Phần tim óc chỉ là nói cho văn vẽ. Từ lỗ rún trở xuống: lỗ rún là nơi tiếp nhận “sự sinh” từ nơi cha mẹ khi mới tượng hình bào thai. Rồi ta được cha mẹ sinh ra, nuôi dạy khôn lớn. Đó là “cha sinh mẹ dưỡng”. Công lao đó có ai sánh bằng. Cho nên, họ chủ trương thờ Trời – tức là Tạo Hóa đấy – và thờ Cha Mẹ. Công ơn cha mẹ là lớn nhất. Thờ ai nữa chỉ là chuyện phụ. Khi tắm, nhìn vô cái lỗ rún, là nhớ công ơn cha mẹ. Dù cái rún đã cắt đi rồi, thì cũng coi như “cuống rún chưa lìa.”

-“Còn phần dưới nữa chớ!?” Tôi góp ý.

-“Phần dưới nữa là bộ phận sinh dục. Bộ phận sinh dục giữ cái trách nhiệm của sự tồn tại: Tồn tại gia đình, dòng họ, tồn tại dân tộc, tồn tại nhân loại. Các loài sinh vật cũng nhờ cái bộ phận đó mà tồn tại. Nó không phải là cái để chơi cho sướng. Nó là cái để lưu tồn nòi giống. Người ta phải dùng nó để tồn tại nòi giống. “Giáo phái” nầy chỉ đi tu sau khi đã cón con, mà con trai mới được. “Nữ nhi ngoại tộc”. Chưa có con là chưa đi tu, bởi chưa làm tròn cái bổn phận giữ gìn nòi giống mà ông Trời đòi hỏi.”

-“Ông Tất Đạt Đa đi tu sau khi có con.” Tôi góp ý.

-“Giáo phái” nầy không còn tồn tại nên tôi không rõ họ có khuynh hướng như Phật tổ hay không! Tuy vậy, cái “triết lý” của giáo phái nầy, từ giữa thế kỷ 19, hàng “đệ tử” của Phật Thầy Tây An rất hoan nghênh, mặc dù họ có thờ Phật, không thờ các ông Đạo.” Ba Hà trả lời.

-“Vấn đề là chỗ nầy: “Trách nhiệm và cái sướng. Tạo Hóa thì cho cái việc ấy phải có sướng, con người hay loài vật đều vậy cả. Nếu không có cái sướng thì con người cũng như súc vật sẽ làm biếng làm cái việc ấy. Vậy thì làm sao nòi giống lưu tồn? Tuy nhiên, với loài vật, việc ấy là do bản năng. Tới thời gian cần sinh sản, con vật cái cần giống đực. Sau khi con cái thụ thai thì thôi. Thành ra, việc sinh dục chỉ theo mùa. Con người thì khác, không có mùa mà thường trực hơn. Với luân lý, việc ấy là để “nối dõi”. Nhưng vì ông trời cho việc ấy có sự khoái lạc, nên con người đã lạm dụng việc ấy. Vợ chồng liên tục hơn, đàn ông đa thê…”

-“Đại úy không nghĩ Cộng Sản nhìn vấn để theo “duy vật biện chứng” à?” Ông phó quận hỏi.

-“Ông phó tốt nghiệp học viện, trình độ đại học, hiểu biết chính trị hơn tôi chớ?” Tôi trả lời.

-“Học là một việc. Học để thi nên nhiều khi học đủ bài thì thôi. Tôi nghĩ đại úy từng làm giáo sư nên có hiểu biết đấy.” Ông phó quận trả lời tôi.

-“Tôi không rành đâu, nhưng có câu chuyện nầy vui lắm, để tui kể”. Tôi nói. “Mấy năm tôi học làm “mầm non văn nghệ”, viết bài cho các tờ báo ở Huế như “Mùa Lúa Mới”, “Ý Dân” – tờ báo của “Phong trào Cách mạng Quốc gia”. Những người viết cho các tờ báo nầy, như ông Võ Thu Tịnh, Phan Du, Võ Phiến, Đỗ Tấn, đều ở “vùng Việt Minh” mới về hợp tác với chính quyền miền Nam sau hiệp định Genève 1954. Anh Lê Mộng Hòa, một hạ sĩ quan Quân Đội, từng làm cho đài Quân Đội ở Saigon, vừa bị giải ngũ về Huế, thường đến chơi với tôi. Anh nầy cũng có thời theo Việt Minh, chắc cũng biết ít nhiều về chủ nghĩa Mác do Cộng Sản nhồi nhét cho. Một hôm, mẹ tôi nói: “Con đừng chuyện trò với ông Hòa nữa. Cả xóm nầy, người ta chưởi ông ta dữ lắm.” Hỏi ra, tôi mới biết hôm trước, ông ta gây lộn với mẹ ông. Ông mắng mẹ: “Cha mạ nằm với nhau là kể cái chuyện sướng, chớ đâu có phải muốn sinh ra tui. Công ơn chi! Mạ đừng nói chuyện công ơn cha mạ với tui.” Mẹ tôi nói thêm: “Cái thứ vô đầu vô vĩ mới nói như rứa.”

Nghe xong, ai nấy đều cười.

Bỗng con Hòa lên tiếng, nhắc chừng: “Con chưa có chồng đó nghe!”

Nghe thế, phó Nghiêm cười trả lời:

-“Phải “văn minh” lên chớ. Bên Tây, tới tuổi dậy thì, người ta đã dạy cho con nít việc nầy rồi.”

Ba Hà nhận xét:

-“Lý luận như vầy, chỉ từ hồi có Việt Cộng mới có mà thôi. Ông bà ngày xưa mà nghe nói vậy, chắc mấy ông nổi giận đùng đùng.”

-“Mẹ ông Hải cũng đã ngăn cấm ông chơi với Việt Cộng rồi đấy.” Ông phó Nghiêm cười, trả lời.

-“Tui nói thật, tui mồ côi cha năm mười tuổi, khôn lớn là nhờ mẹ, mới nghĩ tới cái ý tưởng đó, tui đã vội xua đuổi nó ra khỏi trí óc tôi. Cái ý nghĩ chỉ thoáng tới tôi, tui đã thấy có tội rồi, nói chi tới việc có “lập trường” như thế, nói năng như thế với mẹ.” Tôi bày tỏ ý kiến một cách chân thành.

-“Chỉ có Cộng Sản mới nghĩ như thế thôi ông ơi! Có vậy chúng nó mới “đấu tố cha mẹ” được.” Ba Hà nhận xét.

Tôi nói “để tui kể cho nghe thêm một chuyện nữa.”

Mọi người nhìn tôi cười.

-“Cái nầy tôi đọc trong “Bách Khoa”, cả chục năm rồi. Ông Bùi Bạt Tụy, dạy ngữ học ở Đại Học Văn Khoa”, viết trên báo nầy một câu chuyện. Trước 1945, có một làng chài ở Bình Định, làng có tục thờ hai cái “sinh thực khí” bằng đá, một của đàn ông, một của đàn bà trong một cái hang. Hàng năm, đến ngày hội, làng rước hai cái sinh thực khí nầy đi quanh làng, trước khi rước về lại hang để làm lễ tế. Khi rước quanh làng, người đầu làng, ông lý trưởng hay tiên chỉ gì đó, cầm hai cái sinh thực khí đó đi đầu. Vừa đi, ông ta cầm cái có hình dương vật thọc qua thọc lại cái có hình của người đàn bà, nói rằng: “Cái sự làm sao! Cái sự làm vầy. Cái sự làm vầy! Cái sự làm sao.”

-“Làng nầy thờ “dâm thần?” ông phó Nghiêm hỏi.

Tôi nói:

-“Chữ “dâm” ông phó nghĩ như thế nào?

-“Việc ấy gọi là “dâm” chớ gì nữa.” Phó Nghiêm nói.

-“Cái nầy,” Tôi nói, “Không phải là “cho đáng kiếp tà dâm” như trong truyện Kiều. Trong đạo Phật, người ta phân biệt “chánh dâm” với “tà dâm”. Vợ chồng ăn nằm với nhau để sinh con đẻ cái là “chánh dâm”. Ngoại tình, chơi bời là “tà dâm” có phải không? Ông phó có nghĩ Mác vì dốt, không phân biệt được “chính dâm” với “tà dâm” như Phật, nên nói sai, dạy sai cho đảng viên, phải không?”

-“Có khi nào người ta thờ thần “tà dâm” không?” Ba Hà hỏi.

-“Có chớ sao không? Tú Bà thờ thần “Bạch Mi” cho được đắt hàng là thờ “dâm thần” chớ gì nữa.”

-“Ngay ngoài tôi cũng có thờ “dâm thần”, mà thờ một cách “hợp pháp” nữa đấy.

Ba Hà nói đùa: “Đúng ông nầy nhiều chuyện”.

-“Chuyện như thế nầy.” Tôi nói. “Hồi tôi còn nhỏ, có lần tôi nghe ông anh tôi – ông nầy nghịch lắm – nói câu: “Muốn dòm lồ…, ra cồn Dĩ Hạ.” Dĩ Hạ là tên làng, ở ngay phía nam vĩ tuyến 17 – Có thể tên là Nhĩ chớ không phải Dĩ. Cồn là một cái truông cát. Cát rất trắng. Làng có một cái khe nước. Tới mùa mưa thì nước lên cao, mùa hạ thì nước ngang mắt cá. Ở chỗ có con đường lội qua khe nước, có ngôi miếu thờ thần. Theo tục của làng, đàn ông thì khỏi, đàn bà, bất cứ già trẻ, có chồng hay chưa, khi lội qua khe thì phải cởi quần ra, không được vén quần lên, dù nước sâu hay cạn. Ai không tuân làng bắt vạ vì ông thần sẽ gây tai họa cho làng.”

-“Tôi mà đổi về làm việc ngoài xứ anh, tôi sẽ hợp tác với ông thần đó đấy.” Phó Nghiêm vừa nói đùa, vừa cười.

-“Bọn tôi gọi là ông “thầm dòm lồ…” đó. Người ta sẽ gọi ông là ông phó… gì?” Tôi nói.

Mọi người cùng cười.

Một lúc, phó Nghiêm nói:

-“Tôi nhớ hình như Nguyễn Khuyến có một bài thơ nói về việc ấy.”

-“Để tui nhớ coi.” Tôi nói, “nghỉ dạy lâu, nhiều khi cũng quên.

Một lúc sau, tôi đọc:

Đầu làng Ngang có một chỗ lội,
Có đền ông Cuội cao vòi vọi;
Đàn bà qua đấy vén quần lên,
Chỗ thì đến háng, chỗ đến gối;
Ông Cuội ngồi trên mỉm mép cười,
Cái gì trăng trắng như câu cúi?
Đàn bà khép nép đứng liền thưa:
– Con chót hớ hênh ông xá tội;
– Thôi, thôi con có tội chi mà,
Lại đây ông cho giống ông Cuội;
Từ đấy làng Ngang đẻ ra người,
Đẻ ra rặt những thằng nói dối.

Một lúc sau, Phó Nghiêm nói:

-“Thật ra, trong cách thờ phượng của người Việt Nam, ngoài chùa, có nơi đền đài miếu mạo, người ta thờ Thàng Hoàng, thờ danh nhân lịch sử là chính. Các nhân vật lịch sử được thờ nhiều nơi, nhất là Đức Thánh Trần, Hai Bà Trưng, Bà Chúa Liễu Hạnh. Người ta tôn sùng Bà Chúa Liễu Hạnh như là người mẹ của Dân Tộc. Trong gia đình người Việt chân chính, thờ tổ tiên, ông bà cha mẹ đã khuất núi là việc quan trọng nhất.”

-“Người Việt có khuynh hướng đa thần! Ngay ở ngoài Trung, ngoài Bắc, làng xã có từ lâu đời, có phong tục, lề thói, tập quán, thờ Trời, thờ Thành Hoàng mà vẫn thờ đa thần”. Tôi nói.

“Thật ra, “lưu lạc” từ cực bắc tới cực nam VNCH, tôi có cái cảm tưởng như đi theo dấu “chân Nam Tiến” của tổ tiên, nhận xét về sự thay đổi của người Việt mình: Ngoài Trung, ngoài Bắc thì là “Nàng Tô thị”, “Mẹ bồng con”; vô vịnh Rạch Giá đổi thành “Hòn Phụ tử”. Cha thay cho mẹ. Ngoài kia thì thờ Trời, thờ tổ tiên, anh hùng liệt nữ. Vô tới trong Nam thì thờ Trời, thờ chữ “hiếu”, và thần linh, “Thất Sơn huyền bí”, pha ít nhiều bùa chú. Cũng Trời, cũng Phật đấy, nhưng hình như có chỗ khác nhau, pha ít nhiều mê tín bùa phép người Miên, có nhiều ông đạo trên các vùng Tam Sơn, Thất Sơn, Cô Tô, núi Cấm, núi Bà, Tà Lơn. Phải chi hòa bình, đi hết vùng nầy mà tìm hiểu, có lẽ chúng ta sẽ thấy rõ hơn “văn minh miệt vườn”, hay “Văn minh miền Tây Nam Bộ”, lý thú không kém gì “Tìm hiểu đất Hậu giang” của Sơn Nam.”

hoànglonghải

(Ghi chú: Ngay sau tháng Tư/ 75, Ba Hà cùng đệ tử không chịu “trình diện, học tập cải tạo”, kéo nhau vô rừng Trà Tiên, chống lại Việt Cộng. Sau khi quân Việt Cộng xâm lăng Kamphuchia 1979, người dân vùng Hà Tiên, Kiên Lương không còn nghe tin tức gì của Ba Hà và đệ tử của ông nữa.)

(1)-“Thạch Hào Lại” – Đỗ Phủ

(2)-Về “Đại tá Bé”. Thân phụ ông Nguyễn Bé tên là Nguyễn Nẫm, quê ở Thừa Thiên. Trước 1945, ông cùng với một người bà con -người nầy qua đời khoảng năm 1950 vì xe bị mìn  trúng số độc đắc một triệu đồng Đông Dương, khi hai người chạy xe đò đường Đông Hà – Xavanankhet (Lào). Do đó, ông Nẫm sắm xe Vedette, vui chơi… Năm 1948, khi gia đình tôi hồi cư về thị xã Quảng Trị, nhà tôi ở gần nhà ông Nguyễn Bé. Gia đình tôi là cố cựu, gia đình ông Nẫm mới đến ngụ cư sau khi chiến tranh bùng nổ. Nguyễn Cẩm, em kế ống Bé là bạn học từ lớp Ba với tôi, chơi thân với nhau đến trung học. Năm 1975, Cẩm là thiếu tá Biệt Động Quân. Năm 1951, ông Bé cưới vợ, người quê ở Lai Phước, phủ Triệu Phong, quê mẹ của ông. Năm 1952, ông Bé rủ anh kế tôi và anh Đỗ Văn Nghiêm, hai người là bạn học, theo học khóa 4 Võ bị Địa Phương (ở Đập Đá – Huế). Đời binh nghiệp ông Bé lên rất nhanh: Huấn luyện viên của trường, làm phó tỉnh tưởng nội an tỉnh Bình Định, chỉ huy trưởng trường “Cán bộ Xây dựng Nông thôn Vũng Tầu”. Năm 1969, nhân dịp hướng dẫn Hướng Đạo Sinh Quân Đội cắm trại ở đây, tôi ngạc nhiên về cách tổ chức cho cán bộ xây dựng nông thông và viên chức xã ấp về thụ huấn ở đây. Ông Bé biết cách khích động lòng yêu nước, yêu dân tộc, và cách sinh hoạt gần gũi và phục vụ nông thôn. Ngay tại trung tâm nầy, ông có dựng một nhà thờ, thờ vua Lê Lợi, – coi như là “ông tổ” của chiến tranh du kích Việt Nam. Chính vì biết xử dụng loại chiến tranh nầy, Lê Lợi kéo dài cuộc kháng chiến đến 10 năm và cuối cùng đánh bại quân nhà Minh.

Tối hôm đó, tôi và người bạn thân, anh Lương Thúc Trình ngủ lại qua đêm tại nhà thờ nầy. Ông già cán bộ “thủ tự” cho biết phó tổng thống Hubert Humphrey, khi qua VN dự lễ nhậm chức của tổng thống Thiệu, chỉ ở dinh Độc Lập một giờ đồng hồ nhưng ở lại trung tâm nầy hơn một ngày và cũng ngủ lại tại nhà thờ vua Lê Lợi nầy. Tôi hỏi Trình: “Ông Bé làm gì mà ông Humphrey ở lại đây lâu thế? Không chừng Mỹ đang chuẩn bị một candidat tổng thống tương lai cho miền Nam hay sao?”

Ít lâu sau, ông Thiệu chuyển trung tâm huấn luyện cán bộ xây dựng nông thôn, viên chức xã ấp thành trung tâm gì đó cho cuộc “cách mạng hành chánh” do tổng thống mới đặt ra. Thực ra, đó chỉ là việc “bứng” đại tá Bé đi chỗ khác (chơi). Tổng thống Thiệu lo xa, “triệt tiêu” một đối thủ tranh chức tổng thống với ông trong tương lai chăng.

Những năm làm việc ở nông thôn, từ xã ấp, tôi thấy ở đây, viên chức xã ấp, cán bộ xây dựng nông thôn, những ai từng qua huấn luyện ở trung tâm huấn luyện ở Vũng Tầu của đại tá Bé, họ ngưỡng một đại tá Bé như thế nào! “Anh đại tá Bé” là tiếng họ thường nói, họ coi “anh đại tá Bé” như là người của họ, giúp họ phục vụ và xây dựng thôn ấp của họ chống lại Việt Cộng và phát triển đời sống dân chúng địa phương bằng những chương trình xây dựng nông thôn do “trung tâm” vẽ ra cho họ khi học thụ huấn ở đây.

Đối với Việt Cộng, giết một cán bộ xây dựng nông thôn, một viên chức xã ấp có ích hơn là giết một người lính. Chính họ là người phát hiện và giải hóa Việt Cộng ngay tại “hạ tầng cơ sở”.

Tôi không rõ vì sao, hoạt động của Bộ Xây Dựng Nông Thôn thu hẹp lại, nhiều cán bộ xây dựng nông thôn gia nhập quân đội hay chuyển ngành Cảnh Sát. Chương trình “Bình Định và Phát triển nông thôn” bị “teo” lại. Bundy thôi làm phó đại sứ, đặc trách về bình định và phát triển, trở về Mỹ.

(3)-Nguyễn Trung Trực:

Tượng Nguyễn Trung Trực tại sân đền thờ chính ở TP Rạch Giá.

Sinh ra dưới thời Minh Mạng, thuở nhỏ ông có tên là Chơn. Từ năm Kỷ Mùi (1859) đổi là Lịch (Nguyễn Văn Lịch, nên còn được gọi là Năm Lịch), và cũng từ tên Chơn ấy cộng với tính tình ngay thật, nên ông được thầy dạy học đặt thêm tên hiệu là Trung Trực.

Nguyên quán Nguyễn Trung Trực ở xóm Lưới, thôn Vĩnh Hội, tổng Trung An, huyện Phù Cát, trấn Bình Định (ngày nay là thôn Vĩnh Hội, xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định). Ông nội là Nguyễn Văn Đạo, cha là Nguyễn Văn Phụng (hoặc Nguyễn Cao Thăng), mẹ là bà Lê Kim Hồng.

Sau khi hải quân Pháp nhiều lần bắn phá duyên hải Trung Phần, gia đình ông phải phiêu bạt vào Nam, định cư ở xóm Nghề (một xóm trước đây chuyên nghề chài lưới), làng Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, Phủ Tân An (nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An) và sinh sống bằng nghề chài lưới vùng hạ lưu sông Vàm Cỏ. Không rõ năm nào, lại dời lần nữa xuống làng Tân Thuận, tổng An Xuyên. (nay là xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau).

Ông là con trưởng trong một gia đình có tám người con.      Lúc nhỏ, ông rất hiếu động, thích học võ nên khi lớn lên ông là người có thể lực khỏe mạnh, giỏi võ nghệ và là người có nhiều can đảm, mưu lược.

Tháng 2 năm 1859 Pháp tấn công thành Gia Định. Vốn xuất thân là dân chài, nằm trong hệ thống lính đồn điền của kinh lược Nguyễn Tri Phương, nên ông sốt sắn theo và còn chiêu mộ được một số nông dân vào lính để gìn giữ  đại đồn Chí Hòa, dưới quyền chỉ huy của Trương Định.

Sau đó ông là quyền sung Quản binh đạo và chỉ huy đốt cháy tàu L’Espérance của Pháp, nên còn được gọi là Quản Chơn hay Quản Lịch. Trong sự nghiệp kháng thực dân Pháp của ông, có hai chiến công nổi bật, đã được danh sĩ Huỳnh Mẫn Đạt khen ngợi bằng hai câu thơ sau:

Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên đia

Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.

Thái Bạch dịch:

Sông Nhật Tảo lửa hồng rực cháy, tiếng vang trời đất,
Đồn Kiên Giang lưỡi kiếm tuốt ra, quỷ thần sợ khóc.

Sau khi đại đồn Chí Hòa thất thủ ngày 25 tháng 2 năm 1861, Nguyễn Trung Trực về Tân An. Đến ngày 12 tháng 4 năm 1861, thành Định Tường thất thủ, quân Pháp kiểm soát vùng Mỹ Tho, thường cho những tàu chiến vừa chạy tuần tra vừa làm đồn nổi di động. Một trong số đó là chiếc tiểu hạm L’Espérance (Hy Vọng), án ngữ nơi vàm Nhựt Tảo (nay thuộc xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An).

Sáng ngày 10 tháng 12 năm 1861, Nguyễn Trung Trực cùng quyền sung Phó Quản binh đạo Huỳnh Khắc Nhượng, Võ Văn Quang, quản toán Nguyễn Học, và hương thôn Hồ Quang Chiêu (Đại Nam thực lục chép là lương thân Hồ Quang)… tổ chức phục kích đốt cháy tàu chiến này.

Trận này quân của Nguyễn Trung Trực diệt 17 lính và 20 cộng sự người Việt, chỉ có tám người trốn thoát (2 lính Pháp và 6 lính Tagal, tức lính đánh thuê Philippines, còn gọi là lính Ma Ní).

Lúc đó, viên sĩ quan chỉ huy tàu là trung úy hải quân Parfait không có mặt, nên sau khi hay tin dữ, Parfait dẫn quân tiếp viện, đốt cháy nhiều nhà cửa trong làng Nhật Tảo để trả thù.

Theo sau chiến thắng vừa kể, nhiều cuộc tấn công quân Pháp trên sông, trên bộ liên tiếp diễn ra…

Sau lần đốt tàu L’Espérance của Pháp, Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân tiếp tục chiến đấu qua lại trên địa bàn Gia Định, Biên Hòa. Khi Hòa ước Nhâm Tuất 1862 được ký, ba tỉnh miền Đông lọt vào tay thực dân Pháp, Nguyễn Trung Trực nhận chức Lãnh binh, đưa quân về hoạt động ở ba tỉnh miền Tây. Đầu năm 1867, ông được triều đình phong chức Hà Tiên thành thủ úy để trấn giữ đất Hà Tiên, nhưng ông chưa kịp đến nơi thì tòa thành này đã bị quân Pháp chiếm mất vào ngày 24 tháng 6 năm 1867. Không theo lệnh triều đình rút quân ra Bình Thuận, Nguyễn Trung Trực đem quân về lập mật khu ở Sân chim (tả ngạn sông Cái Lớn, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang). Từ nơi này, ông lại dẫn quân đến Hòn Chông (nay thuộc xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, lập thêm căn cứ kháng Pháp.

Ở Kiên Giang, sau khi nắm được tình hình đối phương và tập trung xong lực lượng (trong số đó có cả hương chức, nhân dân Việt – HoaKhmer); vào 4 giờ sáng ngày 16 tháng 6 năm 1868, Nguyễn Trung Trực bất ngờ dẫn quân từ Tà Niên (nay là xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang) đánh úp đồn Kiên Giang, do Trung úy Sauterne chỉ huy.

Kết thúc trận đánh, nghĩa quân chiếm được đồn, tiêu diệt được 5 viên sĩ quan Pháp, 67 lính, thu trên 100 khẩu súng cùng nhiều đạn dược và làm chủ tình hình được 5 ngày.

Đây là lần đầu tiên, lực lượng nghĩa quân đánh đối phương ngay tại trung tâm đầu não tỉnh. Nhận tin chủ tỉnh Rạch Giá cùng vài sĩ quan khác bị giết ngay tại trận, George Diirrwell gọi đây là một sự kiện bi thảm (un événement tragique).

Hai ngày sau (ngày 18 tháng 6 năm 1868), Thiếu tá hải quân A. Léonard Ausart, Đại úy Dismuratin, Trung úy hải quân Richard, Trung úy Taradel, Trần Bá Lộc, Tổng Đốc Phương nhận lệnh Bộ chỉ huy Pháp ở Mỹ Tho mang binh từ Vĩnh Long sang tiếp cứu. Ngày 21 tháng 6 năm 1868, Pháp phản công, ông phải lui quân về Hòn Chông (Kiên Lương, Kiên Giang) rồi ra đảo Phú Quốc, lập chiến khu tại Cửa Cạn nhằm kình chống lâu dài.

Tháng 9 năm 1868, chiếc tàu Groeland chở Lãnh Binh Tấn (tức Huỳnh Văn Tấn, còn được gọi Huỳnh Công Tấn, trước có quen biết ông Trực vì cùng theo Trương Định kháng Pháp. Sau này, Tấn trở thành cộng sự cho Pháp), cùng 150 lính ở Gò Công đến đảo Phú Quốc để bao vây và truy đuổi ông Trực.

Nhà sử học Phạm Văn Sơn thuật chuyện:

Hương chức và dân trên đảo bị đội Tấn dọa phải theo và phụ lực với hắn để bao vây bọn ông Trực. Sau hai trận ghê gớm, bọn ông Trực phải trốn vào trong núi. Đội Tấn rượt theo, nghĩa quân bị kẹt trong một khe núi nhỏ hẹp. Cùng đường, bọn ông Trực phải ra hàng…

Giám đốc Sở nội vụ Paulin Vial viết:

Nguyễn Trung Trực chịu nộp mạng, chỉ vì thiếu lương thực và vì mạng sống của bao nghĩa quân đang bị bao vây hàng tháng trời ròng rã tại Phú Quốc.

Nhưng có người lại cho rằng để bảo toàn lực lượng nghĩa quân, nhân dân trên đảo và lòng hiếu với mẹ (Pháp đã bắt mẹ của ông để uy hiếp), Nguyễn Trung Trực tự ra nộp mình cho người Pháp và đã bị đưa về giam ở Sài Gòn.

Nhưng theo lời khai ít ỏi của Nguyễn Trung Trực khi ông bị giam ở Khám Lớn Sài Gòn với Đại úy Piquet, thanh tra bổn quốc sự vụ, thì sự việc như thế này, trích biên bản hỏi cung:

            …Tôi cho biết rõ rằng tôi đã tự ý quy thuận lãnh binh Tấn. Vì hắn đến đảo, hắn bảo viết thơ yêu cầu tôi quy hàng, vì chúng tôi bị bao vây trong núi không có gì để sống, tôi bảo một người dân trói tôi và dẫn tôi đến Tấn. Nếu tôi muốn tiếp tục chiến đấu, hắn không bắt tôi được dễ dàng như thế…

Rất tiếc bản cáo của lãnh binh Tấn gửi cho thống đốc Nam kỳ về “việc bắt Nguyễn Trung trực và Tống binh Cân” đã bị thất lạc từ ngày 23 tháng 5 năm 1950, vì thế sự việc chưa được tường tận.

Bắt được Nguyễn Trung Trực, Pháp đưa ông lên giam ở Khám Lớn Sài Gòn để lấy khẩu cung. Theo Việt sử tân biên, mặc dù Lãnh binh Tấn đã hết sức can thiệp để Pháp tha mạng cho ông Trực, nhưng Thống đốc Nam Kỳ G. Ohier không chịu. Vì cho rằng không thể tha được “một người đã không coi luật quốc tế ra gì, đã hạ một cái đồn của chúng ta và giết chết 30 người Pháp!”

Và rồi ngày 27 tháng 10 năm 1868, nhà cầm quyền Pháp đưa ông Trực về lại Rạch Giá và sai một người Khmer trên Tưa (người dân thường gọi ông là Bòn Tưa) đưa ông ra hành hình tại chợ Rạch Giá, hưởng dương khoảng 30 tuổi.

(4)-Tướng Trình Minh Thế.

Ông sinh năm 1922 tại tỉnh Tây Ninh trong một gia đình khá giả theo đạo Cao Đài. Thân phụ ông là một chức sắc trong Giáo hội Cao Đài, đồng thời cũng là một thương gia phát đạt. Do sinh trưởng trong một gia đình có thế lực, ông được hưởng sự giáo dục tốt hơn rất nhiều người Việt đương thời. Ông tốt nghiệp Tiểu học (Certificate of Primary Education), nhưng sau bị đuổi học vì tội ngang ngạnh, bướng bỉnh.

Đầu năm 1940, ông tham gia vào đơn vị vũ trang đầu tiên của Giáo phái Cao Đài, với danh xưng Chi đội 78 (tiền thân của Quân đội Cao Đài). Sau đó ông được gửi đi huấn luyện quân sự tại trường Nội ứng Nghĩa đinh ở Cái Vồn. Tốt nghiệp, ông trở về đơn vị và trở thành một cán bộ chỉ huy.

Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Nhật tiến vào Đông Dương. Phản ứng trước tình hình phong trào chống Pháp càng ngày càng gia tăng, toàn quyền Đông Dương là Đô đốc Decoux hành động quyết liệt. Ông ta cho đóng cửa một số nơi thờ tự của Cao Đài, rồi tới ngày 26 tháng 8 năm 1940 cho đóng cửa Tòa Thánh Tây Ninh. Tới ngày 27 tháng 7 năm 1941, nhiều lãnh đạo của Cao Đài, kể cả Hộ pháp Phạm Công Tắc bị bắt giữ. Để giành được sự ủng hộ của các tổ chức Việt Nam theo chủ nghĩa quốc gia, phát xít Nhật tiến hành bắt liên lạc và hỗ trợ cho họ, trong đó có Cao Đài. Tới tháng 2 năm 1943, Nhật giúp vị Phối sư Cao Đài là Thượng Vinh Thanh (thế danh Trần Quang Vinh) mở lại Thánh thất Cao Đài tại Sài Gòn. Để đáp lại, Cao Đài hợp tác tích cực với Nhật, Phối sư Thượng Vinh Thanh kêu gọi giáo dân Cao Đài xung phong đăng lính cho quân Nhật, 10.000 giáo dân Cao Đài làm việc cho Nhật, đáng kể nhất là tại xưởng đóng tàu Nitian. Số người này sau giờ làm việc được huấn luyện quân sự.

Năm 1944, ông được du học lớp huấn luyện quân sự tại Cao Miên và Lào trong trường sĩ quan của Hiến binh Nhật (Kempetai). Khi trở về nước ông trở thành một sĩ quan của Giáo phái Cao Đài.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, cùng với Lực lượng Quân sự Cao Đài ông tham gia cuộc đảo chính Pháp của Quân đội Nhật Bản.

Được sự bảo trợ của Nhật, Phối sư Thượng Vinh Thanh (Trần Quang Vinh) tổ chức lực lượng vũ trang gồm 3.000 người, tiếng là theo chỉ thị của Hoàng thân Cường Để. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, lực lượng Cao Đài mặc đồng phục trắng, đội mũ bê-rê, vũ trang bằng gậy tre vọt nhọn tham gia hỗ trợ Nhật đảo chính Pháp. Thủ lĩnh quân sự của Cao Đài là tướng Nguyễn Văn Thành tuyên bố Hoàng thân Cường Để chỉ thị thành lập lực lượng vũ trang Cao Đài liên minh với Nhật Bản để chống Pháp. Không có tài liệu cho biết cụ thể hoạt động của Trình Minh Thế trong thời gian này, nhưng có thể cho rằng thời kỳ này Trình Minh Thế đã gia nhập lực lượng vũ trang Cao Đài và tích cực hợp tác với Nhật.

Tháng 9 năm 1945 Quân đội Nhật tại Đông Dương đầu hàng Đồng Minh, ông cùng với đoàn quân Chi đội 78 rút vào chiến khu Cao Đài Kháng chiến chống Pháp, sau khi Pháp tái chiếm Nam Kỳ.

Ngày 7 tháng 11 năm 1946, ông rời chiến khu trở về Tòa thánh Tây Ninh, đồng thời được thăng cấp Đại tá. Cùng với Lực lượng Vũ trang Cao Đài, ông bắt tay hòa hoãn với Pháp và nhanh chóng thăng tiến. Năm 1947, cùng với một số chiến sĩ Cao Đài thành lập Đội Du kích. Sau đó, ông trở thành Chỉ huy trưởng Du kích Bến Cầu (Tây Ninh) kiêm trưởng phòng Tác chiến khu vực. Kế tiếp trở thành Tổng chỉ huy khu vực Liên tỉnh Miền Đông.

Tháng 1 năm 1948, ông cùng đơn vị thuộc quyền tuyên bố ly khai khỏi Quân đội Cao Đài, nhưng sau 48 tiếng quay trở lại. Sau đó, ông sáng kiến thành lập đội quân xung kích Hắc y (cải biến từ đơn vị do ông chỉ huy), mặc quần áo bà ba đen. Về sau trở thành đồng phục cho tất cả dân quân của Lực lượng Liên Minh. Đầu năm 1949, ông triệu tập lãnh tụ Cao Đài các tỉnh miền Đông, tổ chức Đại hội để ủng hộ Giáo chủ Phạm Công Tắc, đồng thời đưa toàn bộ lực lượng này về Tây Ninh (Tuy nhiên, “tính cách” của ông cũng khiến cho ông có nhiều kẻ thù trong Quân đội Cao Đài, và dính dáng nhiều đến các âm mưu, tranh giành tại Tòa thánh Tây Ninh). Tháng 9 cùng năm, ông di chuyển lực lượng bản bộ ra khỏi ngoại ô Tây Ninh. Cuối năm này, ông được giữ chức vụ Chủ tịch Uỷ ban Chỉ đạo Việt Nam Phục Quốc Hội.

Thượng tuần tháng 6 năm 1951, ông được cử làm Tham mưu trưởng Quân đội Cao Đài, thay thế Thiếu tướng Nguyễn Thành Phương. Nhưng chỉ hơn 24 tiếng sau, nửa đêm về sáng ngày 7 tháng 6, ông bí mật đem khoảng hơn 1.500 quân bản bộ ly khai khỏi Cao Đài Phục Quốc, vượt sông Vàm Cỏ Đông đến rừng Bưng Rồ để lập Tổng hành dinh tạm, về sau di chuyển xuống hướng nam trong rừng Bưng Rồ dọc theo biên giới Việt-Miên và lập chiến khu Bù Lu. Ngày 8 tháng 6 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tướng Cao Đài tại chiến khu do Trung tướng Nguyễn Văn Thành Tổng tư lệnh Quân đội Cao Đài, đại diện cho Hộ pháp Phạm Công Tắc, gắn sao giữa đêm khuya. Nhưng ngay sau đó, ông cùng đội quân của mình chính thức rời khỏi hàng ngũ giáo phẩm Cao Đài và thành lập lực lượng riêng, lấy tên là Liên Minh với chủ trương chống cả Pháp và Việt Minh.

Trên thực tế, hoạt động chống Việt Minh của Trình Minh Thế có hiệu quả đáng ngờ. Chẳng hạn ngày 17 tháng 2 năm 1950, Trình Minh Thế cung cấp cho lực lượng Việt Minh tại Trảng Bàng vũ khí để tấn công một đoàn xe của Pháp, ông cũng gửi đại diện đến các cuộc họp của Việt Minh tại Long Thành ngày 30 tháng 4Đồng Tháp Mười ngày 14 tháng 6 năm 1950, ngoài ra, Trình Minh Thế còn lớn tiếng công kích Pháp. Các vụ đụng độ giữa quân Liên Minh và Việt Minh chỉ gây ra những tổn thất nhỏ, phần nhiều giới hạn trong việc giành giật lương thực, ngũ cốc của hai phe. Một lý do được nêu ra, có thể là do lực lượng của Trình Minh Thế chỉ có giới hạn, chừng 2 tới 3 ngàn người, không phải là đối thủ của Việt Minh. Dù sao, hoạt động của Trình Minh Thế cũng giúp cho Tòa Thánh Tây Ninh tránh được các cuộc tấn công của lực lượng Việt Minh.

Tháng 8 năm 1953, quân Pháp mở cuộc tấn công vào căn cứ của ông, sử dụng một Tiểu đoàn sơn cước Nùng tinh nhuệ. Quân Liên Minh phải tránh vào các hang động ở núi Bà Đen. Về sau ông phải dời Bộ chỉ huy về núi Heo. Tới năm 1954, Liên Minh đã mở rộng địa bàn hoạt động về phía tây-nam, tới tận sông Cửu Long. Lực lượng của họ được chia làm nhiều Tiểu đoàn, quân số có lẽ vào khoảng 2.500 người.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa (1954-1955)

Thời kỳ đầu năm 1954, khi nội bộ Cao Đài còn đang ngấm ngầm tranh giành ảnh hưởng, thế lực với nhau, thì Pháp thua trận Điện Biên Phủ. Chính phủ Mỹ không muốn Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, nên quyết định can thiệp, hỗ trợ Lực lượng thứ ba. Cố vấn quân sự MỹEdward Lansdale, người chịu trách nhiệm hỗ trợ chính phủ Ngô Đình Diệm, đàm phán với tướng Trình Minh Thế về việc sử dụng lực lượng vũ trang của ông ta để hỗ trợ cho Thủ tướng Diệm và Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Chính phủ Ngô Đình Diệm dành ra 5 triệu quan (piastre) cho Liên Minh, để thu xếp định cư cho 10.000 người tị nạn ở khu vực Tây Ninh. Thông qua Lansdale, Mỹ tiếp tục tài trợ cho tướng Thế và các nhóm Cao Đài khác. Tuy nhiên, do chính phủ Đệ nhất Cộng hòa còn yếu ớt, nên nhiều chỉ huy các phe nhóm vũ trang tuyên bố chống lại chính phủ Ngô Đình Diệm và tổ chức đảo chính. Thời gian này, khó xác định được là tướng Thế trung thành với ai, và cũng khó xác định được liệu chính phủ Mỹ có ủng hộ Ngô Đình Diệm chống lại phe nổi loạn. Một số người cho rằng tướng Thế có thể là một lựa chọn khả dĩ để thay thế Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên khi lực lượng Liên Minh tiến vào Sài Gòn, thì có lẽ đó là để đáp lại lời kêu gọi vào phút cuối cùng của Lansdale ủng hộ Ngô Đình Diệm. Tháng 9 năm 1954, Lansdale phát hiện ra tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam Cộng hòa, đang tiến hành âm mưu lật đổ Ngô Đình Diệm. Cùng lúc, quân Pháp phong tỏa các lực lượng Cao Đài định tiến vào Sài Gòn giải nguy cho Ngô Đình Diệm. Cuộc đảo chính bị thất bại khi Lansdale mua chuộc được các sĩ quan cấp dưới của tướng Hinh đi nghỉ mát, thiếu những thuộc hạ cốt cán này, cuộc đảo chính không thể tiến hành được.

Cuối tháng 8 năm 1954 (sau khi ký hiệp ước Geneve 20/7/1954), qua trung gian của Đại tá Hoa Kỳ Lansdale, chuyên viên ngoại giao đặc trách vùng Đông nam Á, trao tận tay ông bức tâm thư với thủ bút của Thủ tướng Diệm, để mở đường cho ông trong sự tiến tới thảo luận việc trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia và cuộc tiếp xúc đầu tiên đã diễn ra ngay sau đó.

Đầu năm 1955, Đại sứ quán Mỹ dành ra một ngân khoản bí mật, ước tính khoảng 2 triệu dollar để thuyết phục tướng Thế gia nhập Chính phủ Quốc gia. Ngay cả các khoản chi chính thức cho tướng Thế cũng rất đáng kể, như ngân sách dành cho lực lượng vũ trang bỏ ra 108.000 dollar để chi ông. Số tiền Lansdale bỏ ra để mua chuộc các chỉ huy giáo phái lên đến 8,6 triệu dollar, còn nếu tính cả số tiền Thủ tướng Diệm bỏ ra thêm nữa thì tổng cộng có đến 12 triệu dollar đã được chi cho 246 chỉ huy giáo phái.

Ngày 31 tháng 1 năm 1955, bằng phi cơ trực thăng xuất phát từ phi trường Tân Sơn Nhất, đích thân Thủ tướng Diệm cùng với Bộ trưởng Quốc phòng Hồ Thông Minh đến viếng thăm Kháng chiến Liên minh tại Lò Rò ngay trong chiến khu núi Bà Đen ở Tây Ninh. Sáng ngày 13 tháng 2 sau đó, Thủ tướng Diệm khai mạc buổi lễ tiếp nhận Trung đoàn Bộ binh Liên minh trên Đại lộ Nguyễn Huệ (Sài Gòn), gồm 2.500 chiến sĩ thuộc Lực lượng Kháng chiến Liên minh (tức Quân đội Cao Đài ly khai) trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia và gắn cấp bậc Thiếu tướng đồng hóa Quân đội Quốc gia cho ông. Từ ngày 18 đến ngày 28 tháng 4 cùng năm, ông tháp tùng phái đoàn sang Nam Dương (Indonesia) để dự Hội nghị Á-Phi của các nước không liên kết. Trong Hội nghị có: Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai, Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru, Tổng thống Nam Dương Sukarno, cựu hoàng Cao Miên Norodom Sihanouk. Cùng tháp tùng với ông còn có: Đại tá Cao Đài Phục Quốc Hồ Hán Sơn, Thiếu tá Cao Đài Liên minh Nhị lang Lê Khắc Hoài.

Trong khoảng thời gian từ tháng 3 tới tháng 5 năm 1955, tình hình tại Sài Gòn trở nên rất căng thẳng. Mâu thuẫn gay gắt về cả quyền lực chính trị lẫn kinh tế khiến đụng độ vũ trang giữa phe Chính phủ và Liên minh lực lượng vũ trang giáo phái cùng Bình Xuyên là khó tránh khỏi. Thủ tướng Diệm kiên quyết tiêu diệt lực lượng vũ trang đối lập, còn lực lượng Giáo phái nhờ vào sự hậu thuẫn của Pháp cũng quyết không chịu nhượng bộ. Thủ tướng Diệm đưa vào Sài Gòn các đơn vị trung thành gồm 3 Tiểu đoàn Nùng, rồi 2 Tiểu đoàn dù dưới quyền Đại tá Đỗ Cao Trí. Các đơn vị này cộng vào số binh sĩ của tướng Trình Minh Thế (Cao Đài Liên minh), Đại tá Nguyễn Văn Huê (Hòa Hảo) và Thiếu tá Nguyễn Văn Đày (Hòa Hảo) làm cho cán quân lực lượng nghiêng về phía quân Chính phủ, so độ 4.000 đến 5.000 quân Bình Xuyên tại vùng Sài Gòn Chợ Lớn. Ngày 8 tháng 3 năm 1955, 7 Tiểu đoàn quân đội Việt Nam Cộng hòa bắt đầu hành quân tiêu diệt lực lượng đối lập là đảng Đại Việt tại Quảng Trị, và tới ngày 25 tháng 3, quân dù mở cuộc tấn công vào phe đối lập tại Sài Gòn, nhưng Cao ủy Pháp là tướng Paul Ely cùng tướng Lawton Collins (Mỹ) gây sức ép buộc quân Chính phủ phải ngưng chiến. Tuy nhiên, thế lực của quân Chính phủ được củng cố lên nhiều khi ngày 29 tháng 3, tướng Nguyễn Thành Phương, Tư lệnh các lực lượng Cao Đài tuyên bố ủng hộ Chính phủ. Tình hình căng thẳng giữa hai bên kéo dài, các thỏa hiệp do PhápMỹ làm trung gian đưa ra đều bị hai bên bác bỏ, tới ngày 26 tháng 4, xung đột quân sự bùng nổ trở lại. Quân đội Chính phủ nhanh chóng đánh tan sức kháng cự của quân Bình Xuyên, tới cuối tháng 4, quân Bình Xuyên hoàn toàn bị đánh bại, bị đẩy khỏi thành phố, bị quân chính phủ truy kích.

Ngày 2 tháng 5 năm 1955, ông được giao chỉ huy 1300 quân, vượt kinh Tàu Hũ tiến vào cầu Tân Thuận hành quân truy nã lực lượng Bình Xuyên của Thiếu tướng Lê Văn Viễn (tự bảy Viễn) tại Khánh Hội, Sài Gòn. Chiều ngày 3 tháng 5, ông bị tử thương khi đang ngồi trên xe Jeep tại dốc cầu Tân Thuận do một viên đạn Carbine bắn sẻ từ phía sau trúng phía dưới tai phải xuyên thẳng qua đầu trổ ra mắt bên trái. Hưởng dương 33 tuổi.

(5)-Bún bò Lạc Sơn: Gánh bún bò bán tại cà-phê Lạc Sơn ngay trước chợ Đông Ba – Huế.

(6)-Phối trí viên: Cố vấn Mỹ tại các cơ quan Cảnh Sát Quốc Gia trước 1975.

(7)-“Tư tưởng Mao Trạch Đông”: Lấy nông thôn bao vây thành thi. Bài học chính trị ở Trường Bộ Binh Thủ Đức.

(8)-Truyện cười Ba Gia Tú Xuất: Một hôm Tú Xuất cho người nói với các bà bán thịt ở chợ sẽ mua một số lượng lớn, nhưng thịt phải thái nhỏ, chiều cho người ra lấy. Các bà nghe lời, thái thịt xong, chờ mãi, chẳng thấy ai tới lấy, bèn than với nhau, thịt đã thái nhỏ biết bán cho ai. Tú Xuất bảo, không ai lấy thì cứ kêu thằng “bảo thái” ra mà chưởi. Bảo Thái là niên hiệu chúa Trịnh.

(9)-“Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng” – thường gọi tắt là “Dân Xã Đảng – đảng của Đức Thầy (Phật giáo Hòa Hảo.)

(10)-“Cờ Đà”, cờ màu đà (màu nâu), cờ của Phật Giáo Hòa Hảo.

(11)-Theo “lượng giá ấp” của chính phủ VNCH trước 1975. Ấp loại A là ấp hoàn toàn an ninh, Việt Cộng không hoạt động.

(12)- “Năm 1959, ông nhận giải thưởng của Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (SEATO) với công trình nghiên cứu về sự lật đổ của Cọng Sản. Là tác giả của nhiều sách và nhiều bài viết về chiến tranh Đông Dương, ông trở thành nhà phân tích có ảnh hưởng nhứt về chính sách của Mỹ ở Việt Nam.”

            Bài dịch sau đây trích ở chương 7, (Street Without Joy) của cuốn sách cùng tên, nói về cuộc hành quân Camargue. Người dân Huế và Quảng Trị, hồi đó gọi là “Trận Thanh Hương.”

Tới cuối ngày D+2, mọi sức kháng cự không còn. Ngày hôm sau các đơn vị tiên phong, nhảy dù, các toán đổ bộ và biệt động được lệnh rút lui. Bây giờ là công việc kiểm soát thường trực vùng mới chiếm đóng. Những cây cầu bị phá mấy năm trước nay được dựng lại, những con đường bị Việt Minh cắt khúc được đắp lại. Những hầm hào chiến đấu do Cọng sản dựng chung quanh “Con Đường Buồn Thiu” bị loại bỏ. Viên chức chính quyền Quốc Gia e ngại xuất hiện trước con mắt dân chúng thù nghịch hay sợ hãi sau một tuần chiến đấu và nhiều năm sống cô lập mà mọi thứ đều thiếu thốn, ngay cả viên thuốc trị bệnh sót rét.

Thiếu tá Derrieu của Tiểu Đoàn 6 Ma-Rốc, nhìn một vài viên chức chính quyền mới ở trong làng Đơn Quế, nói: “Thực là buồn cười, trông họ chẳng bao giờ có thể thành công, làm đúng những gì người dân mong muốn, dù họ có muốn tạ lỗi với tất cả mọi người. Chúng ta mới thực hiện một cuộc hành quân bằng máy bay và chiến xa còn họ thì khoác lác khoe khoang hoặc đe dọa dân làng làm như họ là kẻ thù của đất nước mà chúng ta phải đối đầu.”

Dujardin, một trung úy còn trẻ, đứng cạnh bóng im của một chiến xa M-24, nói: “Có thể như vậy, nhưng tối nay tôi chẳng quan tâm đến họ sau khi chúng ta rút quân ra khỏi vùng nầy. Họ sẽ ở lại đây cùng với nhóm nhân viên hành chánh ngay trong ngôi nhà người chỉ huy Cọng Sản ngủ ở đó tối hôm qua, cách cái đồn gần nhứt là ba trăm mét. Tôi chắc rằng họ không dám ngủ ở đây mà vào ngủ trong đồn.”

  • “Có lẽ vậy, họ sẽ mất mặt với dân làng và công việc của họ trở thành vô ích.”

  • “Nếu không vào ngủ trong đồn, ngày mai họ chết. Đúng là chẳng ích lợi gì. Dù sao, với hậu quả tâm lý của cuộc hành quân, chúng ta có thể bắt đầu với toàn bộ công việc ngay từ bây giờ cho tới ba tháng tới. Thật là một thứ hổn độn vô ích.”

  • “Vâng, nếu người Việt Nam không thể thắng thì chúng ta cũng vậy thôi. Dù sao, đây cũng là đất nước của họ. Chúng ta hãy lên xe thôi.” Rồi hai người nhún vai đi về phía các chiếc xe tăng, trèo lên pháo tháp.

Bên dưới, trong làng Đơn Quế bị chiến trận tàn phá, các viên chức hành chánh người Việt trẻ đầy nhiệt tình mặc áo kaki và quần đen vẫn còn nói chuyện với dân làng đang đứng im lặng và bất động như các pho tượng gỗ.

Ngày 4 tháng 8/1953, Bộ Chỉ huy Cao cấp tuyên bố chấm dứt cuộc hành quân Camargue. Theo tin báo chí, cuộc hành quân hoàn toàn thắng lợi, một lần nữa chứng minh sự tiến bộ và linh động của quân đội Pháp và giá trị trang bị lưu động của họ trong chiến tranh đầm lầy. Tuy nhiên, trong chính báo cáo của họ thì cuộc hành quân đem lại những cảm giác lẫn lộn.

(13)- Vợ tôi thường “đi Rạch Giá chơi”. Ra ngoài đó, cô ấy được bà vợ ông “xếp” của tôi và các bà thuộc “gia đình cố cựu” Rạch Giá như bà Tám Nghĩa, Bà Hai Simon… đón tiếp, vui chơi, chuyện trò. Bà Tám Nghĩa là bạn thân với bà thủ tướng từ khi “họ còn con gái.” (Ông Tám Nghĩa bị Việt Cộng xử tử cùng với cựu trung tá Trương Cuội tại sân vận động Rạch Giá sau ngày 30 tháng Tư/ 1975). Người dân Rạch Giá gặp việc khó khăn, thường nhờ bà Tám Nghĩa lên “gặp Chi Tư Nết” – tên ho gọi thân mật bà thủ tướng – để “chị giúp đỡ” cho. Khi vợ ông đại tá tỉnh trưởng Lê Kh. bị bệnh, ông đại tá buồn tình xin thôi chức tỉnh trưởng. Vì ông đại tá Lê Kh. là em môt ông tướng nổi tiếng ở Saigon, nên “trung ương” không để ông Lê Kh. thôi chức tỉnh trưởng mà chuyển qua làm tỉnh trưởng Sadec. Tỉnh nầy, về tình hình quân sự “nhẹ” hơn. Ông trung tá tỉnh trưởng Sadec qua ngồi thế vô cái ghế tỉnh trưởng của ông Lê Kh. “Người ta đồn” rằng ông trung tá tỉnh trưởng Sadec phải “chung” cho ông tướng vùng bảy chục triệu. Đến khi ông tướng vùng bị bay chức vì tội tham nhũng, ông trung tá tỉnh trưởng mới của Rạch Giá sợ mất số tiền đã đóng, nên nhờ Bà Tám Nghĩa đưa lên gặp Chị Tư Nết xin giúp đỡ, chỉ tốn có mấy chục chai nước nắm ngon Phú Quốc mà thôi. Vì việc nầy mà ông thiếu tá quận trưởng quận tôi phải vất vả khi bị ông tỉnh trưởng lo việc “hồi sức”. Chuyện tham nhũng thời chế độ cũ, đâu có dễ “ăn”.

(14)- Ông đạo có nhiều thứ: Ông đạo Dừa, kỹ sư canh nông, học bên Tây về, chỉ sống trên ngọn dừa, ăn dừa mà sống. Ông “Bác vật Lang”, cử nhân sinh học bên Tay về, xuốn Thạch Động, nơi có con đường “đi xuống âm phủ”, thấy “cái gì đó mà Phật Bà cấm nói”, nên ông “tịnh khẩu” cho đến khi qua đời. Cũng có những ông đạo làm bậy như đạo Liếm, đạo Sờ mà một thời báo chí tìm hiểu, lên án. Có thể có hang tram ông đạo khác, tu ở núi Cấm, núi Cô Tô, núi Bà, núi Tà Lơn, không ai ghi nhận hết. Đây là nét đặc sắc của tôn giáo miền Tây Nam Bộ, nhất là vùng Thất Sơn.

(15)- Năm 1309, vua Chế Mân của Chiêm Thành dâng đất hai châu Ô và Rí làm sính lễ để cưới Công Chúa Huyền Trân. Người Chàm ở Ái tử, Quảng Trị, thuộc châu Rí, bỏ đi về phương Nam. Họ cũng theo đạo Phật, không muốn tượng Phật của họ rơi vào tay ngoại tộc, họ chôn các tượng Phật nầy xuống cát. Về mùa Hè, gió Lào thổi mạnh, cát bay đi – hay cát nóng làm cho các tượng Phật không muốn nằm dưới cát nữa -các tượng Phật trồi (tiếng địa phương gọi là lồi). Người Việt di dân tới, cũng theo đạo Phật nên rước tượng Phật về lập chùa thờ, nôm na gọi là “Chùa Phật Lồi”.

hoànglonghải - Kinh Xáng Hà Tiên