hoànglonghải – Nhìn lạm

(chuyện không “phiếm” chút nào!)

“Đụn Sơn phân giái

Bò Đái thất thanh

Thủy đáo Lam thành

Nam Đàn sinh thánh”

Tạm dịch:

“Khi núi Đụn chẻ đôi,

Khe Bò Đái mất tiếng,

sông Lam chảy vào núi Lam,

đất Nam Đàn sinh thánh nhân”

(Trạng Trình

Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Nhìn lạm có hai trường hợp. Thứ nhất là nhìn lầm (nhầm), không phải là của mình mà tưởng lầm là của mình, rồi nhìn hay giành nắm lấy. Trường hợp nầy không đáng trách vì ngưới nhìn lạm không có cái ý gian, không chủ đích.

Trường hợp thứ hai là có chủ ý, biết không phải của mình nhưng vì tham lam mà nhận bừa, giành lấy được. Trường hợp nầy là đáng chê trách, đáng trừng phạt.

Việt Cộng hay nhìn lạm theo kiểu nầy.

Nói có sách, mách có chứng.

Sách hay chứng?

Xin đọc mấy câu sấm Trạng Trình (Trạng nguyên Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm). Xưa nay, nhiều người cho rằng ông Trạng nói hay, nói trúng nên hay giành phần cho mình, còn Việt Cộng thì tranh lấy để tuyên truyền, mặc dù, Việt Cộng theo chủ nghĩa duy vật, không tin thần thánh. Đúng là “nói một đường, làm một nẻo”.

“Đụn Sơn phân giái

Bò Đái thất thanh

Thủy đáo Lam thành

Nam Đàn sinh thánh”

dịch nghĩa:

Nếu Núi Đụn (Đụn Sơn) nứt làm đôi,

            Khe Bò Đái nước không chảy ồ ồ như tiếng bò đái nữa.

            Sông Lam xoi lở bờ sông đưa nước vào

            tận chân núi Lam thành

            Thì (huyện) Nam Đàn, tỉnh Nghệ An có thánh xuất hiện.

Hồi Cụ Phan Bội Châu còn sinh thời – cụ mất năm 1941 ở Huế – là một nhà cách mạng – bị Tây bắt ở Thượng Hải (bên Tầu), rồi giải về giam lỏng ở Bến Ngự (Huế), nhiều người thường tới lui thăm cụ. Bấy giờ ông Đào Duy Anh đang ở Huế, cùng ông Trần Lê Hữu đến thăm cụ Phan.

Câu chuyện sau đây được Đào Duy Anh kể lại trong cuốn “Ông già Bến Ngự” – cuốn sách viết về Phan Bội Châu.

Cụ Trần Lê Hữu có hỏi:

-“Thưa cụ Phan, “Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh” chẳng phải là cụ hay sao? Cụ còn thất bại nữa là người khác!”

Phan Bội Châu đáp:

-“Kể cái nghề cử tử xưa kia tôi cũng có tiếng thật. Dân ta thường có thói trọng người văn học và gán cho người ta tiếng nọ tiếng kia. Nhưng nếu Nam Đàn có thánh thực thì chính là ông Nguyễn Ái Quốc chứ chẳng phải ai khác.”

Bấy giờ, khoảng trước năm 1937, – sau năm nầy cụ Trần Lê Hữu bị Tây đày đi Pleiku – cụ Trần Lê Hữu đang làm “thừa phái”, đến Huế, cùng đi thăm cụ Phan với cụ Đào Dy Anh. Nhiều người, nhất là trong giới những người chống Tây, biết Nguyễn Ái Quốc chính là Nguyễn Sinh Cuông (Cung hay còn gọi là Côông, tiếng địa phương), người làng Kim Liên, tục gọi là “làng Sen”, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, đang hoạt động cách mạng – chưa biết rõ Hồ Chí Minh là tay sai cho Cộng Sản Quốc Tế – bên Tầu. Cụ Trần Lê Hữu là người cùng quê, hồi còn trẻ thường chơi đùa với Nguyễn Sinh Cung, biết nhau khá rõ. Thế tại sao cụ Trần Lê Hữu không cho rằng “Nam Đàn sinh Thánh” là Hồ Chí Minh mà nói rằng “thánh đó chính là Phan Bội Châu”.

Người ta thấy tính khiêm nhượng trong câu trả lời của Phan bội Châu. Cụ tự thấy mình là người “thất bại”: Bị Pháp bắt cóc, bị đưa ra tòa, bị “tù giam lỏng” ở Bến Ngự, nên không nhận mình là thánh nhân như trong câu sấm.

Thật ra, nếu câu sấm của Trạnh Trình có đúng thật, nghĩa là Nam Đàn có sinh thánh thật, thì thánh đó không phải là Nguyễn Ái Quốc (tức Nguyễn Sinh Cung, Cuông, hay Côông).

Tại sao?

Theo ý câu sấm, thánh đó phải là người huyện Nam Đàn. Thật ra, Hồ Chí Minh (hay Nguyễn Sinh Cung, Cuông hay Côông) không phải là người huyện Nam Đàn. Ông Hồ Chính Minh người lành Lai Nhã, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Nếu Hồ Chí Minh là thánh thật thì câu sấm trên phải như sau:

Đụn Sơn phân giái,

Bò đái thất thanh,

Thủy đáo Lam Thành,

Thanh Chương (thay vì Nam Đàn) sinh thánh.

Nếu là Thanh Chương thì trật lất, sai với câu sấm.

Đụn Sơn, Khe Bò Đái thuộc huyện Nam Đàn, núi Lam Thành (núi Thành) thuộc huyện Hưng Nguyên, chẳng cái nào thuộc huyện Thanh Chương.

Tại sao tôi nói Hồ Chí Minh người huyện Thanh Chương?

Khi Hồ Chí Minh còn sống, cái “gốc gác” của Hồ Chí Minh được giấu kỹ lắm. Sau khi ông ta “đi thăm cụ Kác- Mác, cụ Lê Nin” như trong di chúc – rồi, thì cái dòng dõi, máu mũ của ông ta mới bị tiết lộ ra, đầu tiên là do “nhà sử học” Việt Cộng Trần Quốc Vượng tiết lộ.

Nhà sử học (của Việt Cộng) nói thì ít khi sai vì “dòi trong xương dòi ra”, chối đằng nào!

Trước hết là nói về ông Hồ Sĩ Tạo.

Ông Hồ Sĩ Tạo người làng Lai Nhã, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, danh sĩ, văn hay chữ tốt, đậu giải nguyên trường Nghệ.

Vốn dĩ là người tài hoa, ưa “văn nghệ, văn gừng”, hay chè chén, tổ chức hát hỏng vui chơi. Vì vậy mà ông gian díu với cô Hà Thị Hy, con gái ông Hà Văn Cẩn, cũng quê ở Nam Đàn, tục gọi là Cô Đèn vì cô có tài múa đèn đẹp lắm, hát cũng hay lắm. Cô Hy có bầu với ông Hồ Sĩ Tạo.

Khi đó ông Tạo mới 21 tuổi, đã có vợ con, còn cô Hy thì gần ba mươi tuổi. Ông Tạo không cưới (thêm vợ bé) là cô Đèn, bèn đem gã cho ông già Nguyễn Sinh Nhậm, bảy mươi tuổi, góa vợ, gần đất xa trời.

Ông Nhậm chắc cũng chẳng ưa chuyện vợ con gì đâu, già rồi, nhưng nếu bây giờ có một “cô nường” như cô Đèn đến chăm sóc nhà cửa, cơm nước thì ông cũng “khỏe” nên ông nhận lời.

Vậy là cô Đèn vác cái bụng bầu – đứa con của ông Hồ Sĩ Tạo – về ở với ông Nhậm ở làng Kim Liên – tục gọi là làng Sen – huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Nhân vật thứ hai là cậu bé Nguyễn Sinh Sắc

Không bao lâu sau, cô Đèn sinh ra một thằng bé, đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc. Thằng bé sinh được ít lâu thì ông “cha hờ” chầu tổ tiên. Hai năm sau, thằng bé Sắc cũng mất mẹ.

Mồ côi cả cha lẫn mẹ, thằng bé Sắc về ở với anh, Nguyễn Sinh Thuyết, con bà vợ trước của ông Nhậm. Trên nguyên tắc, ông Sắc là em cùng cha khác mẹ với ông Thuyết.

Còn trong thực tế thì sao?

Thực tế thì: Bố ông Sắc là ông Hồ sĩ Tạo.

Bố ông Thuyết là ông Nguyễn Sinh Nhậm.

Mẹ ông Sắc là bà Hà Thì Hy.

Mẹ ông Thuyết là một bà già nào đó,

nhưng không phải là bà Hà Thị Hy.

Vậy ông Sắc và ông Thuyết hoàn toàn nước lã – không phải là “ao nước lã” như câu tục ngữ “Giọt máo đào hơn ao nước lã” mà là một biển nước lã đấy.

Người ta không rõ thái độ ông Thuyết với đứa “em khác mẹ” như thế nào, nhưng với bà vợ ông Thuyết, không thể đem về nuôi một thằng lạc vất lạc vơ, chằng có máu mũ bà con gì cả. “Chim cu nuôi tu hú.” Bà muốn đuổi thằng bé Sắc ra khỏi nhà.

Tuy nhiên, ông Hồ Sĩ Tạo cũng còn nghĩ tới “hòn máu rơi” của ông.

Nhà ông Hồ Sĩ Tạo không nghèo, ông học giỏi, nhưng các con ông Tạo thì tệ lắm: Rượu chè, cờ bạc, vui chơi, học hành không ra chi, nói chung là “quậy”. Không hy vọng ở các “quý tử” của ông nên ông với tay tới ông Sắc nhiều hơn, mặc dù ông Sắc là con ông Nhậm.

Ông Tạo tìm cách giúp đỡ ông Sắc. Vì vậy, ông Sắc được ông cụ Hoàng Xuân Đường, đồ Nho, làm nghề dạy học, người làng “Trừu” (còn gọi là làng Chùa), tên chữ là làng Hoàng Trừu, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, đem về nuôi, dạy chữ cho, về sau cho làm rể, lấy con gái cụ Đường là bà Hoàng Thị Loan. Bà nầy mất ở Huế khoảng sau 1905, khi ông Sắc làm quan ở Huế.

Nhân vật thứ ba là cụ Võ Văn Giáp

(Phần nầy, độc giả muốn đọc chi tiết hơn, xin đọc bài “Quan hệ Ngô gia, Hồ gia” trong cuốn “Theo Dòng”, Văn Mới xuất bản, tôi là tác giả, hoặc có thể đọc trên “vantuyen.net).

Cụ Vũ Văn Giáp tuy không làm quan ở Huế, nhưng cả triều đình Huế, từ vua cho đến hoàng tộc, quan quyền, ai cũng biết và nễ trọng cụ, bởi vì cụ có một cái nghề đặc biệt. Khi vua Tự Đức gọi cụ về Huế, giao cho cụ mấy chục mẫu ruộng ở phía tây – bắc Huế, nơi người Huế thường gọi là “Trại Trâu” hay “Trại Bò”. Cụ Giáp là người quảng giao, hay giúp đỡ người nghèo khổ, nhất là giới sĩ tử. Cụ Võ Bá Hạp, con trai cụ Giáp thi đổ cử nhân năm 1900, nhưng cũng như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, không chịu ra làm quan, dù là quan Nam triều, cũng là “hợp tác với Tây” – Xin nói thêm, con trai cụ Võ Bá Hạp là cụ Võ Như Nguyện, “đại công thần” nhà Ngô – Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên sau khi ông Diệm ngồi vững trên “ngai vàng” thì cụ Nguyện tự ý “từ quan”, về dạy học.

Sau khi đậu cử nhân ở trường Nghệ, ông Nguyễn Sinh Sắc vô Huế thi tiến sĩ. Thời gian nầy, ông Sắc và các con “tạm trú dài hạn” tại “Trại Trâu”, qua sự giúp đỡ của cụ Võ Văn Giáp vì cụ Giáp biết nhà ông Sắc nghèo, và cụ Giáp cũng có cảm tình với ông Hồ Sĩ Tạo.

Ông Nguyễn Sinh Sắc thi hỏng tiến sĩ. Cụ Sắc lại ra tay, xin với ông Ngô Đình Khả – thượng thư bộ Lễ – và ông Cao Xuân Dục, chánh chủ khảo, vớt cho ông Nguyễn Sinh Sắc.

Nhờ đó, ông Sắc đậu phó bảng, nhưng đậu vớt. Vì vớt ông Nguyễn Sinh Sắc mà cụ Phan Châu Trinh cũng được vớt luôn vì cụ Trinh cũng hỏng nhưng lại cao điểm hơn ông Sắc. – Xin coi bài đã dẫn ở trên –

Đậu rồi, năm 1900, ông Sắc cũng không làm quan. Ông về quê. Năm (5) năm sau 1905, ông Sắc, đổi tên là Huy – Nguyễn Sinh Huy – xin triều đình cho bổ làm quan. Ông Sắc được chức thừa biện bộ Lễ, được ít lâu được bổ tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định.

Nhân vật thứ tư: Nguyễn Tất Thành

Làm quan ở Huế, ông Nguyễn Sinh Sắc đem vợ con theo. Các con ông Sắc gồm có Nguyễn Sinh Đạt (còn tên là Khiêm, gọi trại là Khơm), Nguyễn Thị Thanh (hiệu Bạch Liên), Nguyễn Sinh Cung, còn gọi là Cuông – kỵ tên – Công hay Nguyễn Tất Thành.

Chỉ có Nguyễn Tất Thành còn được đi học, ngang tới lớp Ba trường Cửa Nam, phía ngoài cửa Đông Ba.

Sau nầy, sách báo Việt Cộng nói anh học trò Nguyễn Tất Thành học trường Quốc Học là nói dốc. Học trò Quốc Học lúc đó phải là “hậu bổ” – tức là đậu cử nhân (Hán học) xong rồi, chờ bổ đi làm quan – mới gọi là “hậu” bổ – hậu là sau. Con quan cũng phải học ở Quốc Tử Giám, sau mới học hậu bổ (đặc cách) rồi vô Quốc Học. Cụ Phan Bội Châu đậu giải nguyên ở trường Nghệ mới “vào Giám” (vào học Quốc Tử Giám – tiếng gọi thông thường hồi đó – ) giả bộ đi học nhưng để tìm “đồng chí”  (đồng chí chống Tây, không phải đồng chí Việt Cộng). Cụ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng đều đổ cử nhân (năm 1900), nhưng không ông nào chịu học Quốc Học. Học Quốc Học là “theo Tây”. Ai đi học Quốc Học cũng sợ bị dân chúng “chưởi” là theo Tây nên học sinh Quốc Học hồi đó, phần nhiều là các ông “hậu bổ”, khi đi học phải dấu tập (vở) và bút chì vào trong áo dài. Độc giả muốn biết rõ hơn xin đọc bài “Cựu Học “Sanh” của tôi trong Viết Về Huế 1 – Văn Mới xuất bản.

“Cậu” Nguyễn Tất Thành lúc đó học chữ Nho cũng chưa tới đâu, chưa “đậu” gì cả, cũng sợ dân chúng “chuởi” nên không học Quốc Học. Vả tiêu chuẩn học vấn kém lắm, làm sao vô học Quốc Học được?

Ông Sắc đi tri huyện Bình Khê, rồi bị cách chức vì chịu trách nhiệm việc cho lính đánh chết dân trong khi ông ta đang say rượu. Việc thưa ra tới Huế, ông bị gọi về bộ Lễ điều tra. Bộ Lễ điều tra xong, trình lên vua Thành Thái. Vua phê: “Trãm giam hậu.” Thế là xong, chờ ra pháp trường mà thôi. “Sát nhân giả tử.”

Cụ Vũ Văn Giáp một lần nữa lại ra tay “cứu độ” vì gia đình ông Sắc bây giờ “tang thương” lắm. Bà Hoàng Thị Loan mới qua đời. Cụ Giáp lại nhờ ông Ngô Đình Khả. Vua thành Thái đổi cái án “trãm giam hậu” thành “cách chức, đuổi” ra khỏi quan trường.

Ông Nguyễn Sinh Huy mặt mũi nào mà về quê!?

Thoát chết, ông vào Nam, có bà con gái Nguyễn Thị Thanh đi theo chăm sóc cho cha.

Rồi ông Huy đi luôn, không trở về đón con đang tạm trú tại “trại trâu”. Anh con trai Nguyễn Tất Thành cũng buồn tình, cũng tìm đường vào Nam. Tới Phan Thiết, ở đây, cũng có mấy nhà cách mạng, ông ở lại, làm giáo viên tại trường Dục Thanh.

Khổ nỗi, vì trình độ học vấn của ông mới lớp ba nên chỉ dạy a, b, c… cho mấy đứa trẻ mũi thò lò. Ông buồn tình bỏ vào Saigon, rồi ông “đi Tây”. Tới đây thì độc giả biết cả rồi, tôi khỏi kể lại.

Sau khi ông Nguyễn Tất Thành theo Cộng Sản Nga, ông Huy ở Saigon cũng không yên. Ông bị mật thám Tây theo dõi. Bấy  giờ Saigon cũng là “đường giây liên lạc” giữa Cộng Sản Việt Nam và Cộng Sản Pháp bằng đường thủy.

Thế rồi ông Huy lưu lạc về Miền Tây, sau khi bà Thanh, con gái ông bỏ về xứ. Ông chết ở Cao Lãnh, được tổng thống Ngô Đình Diệm ra lệnh quận trưởng Cao Lãnh xây mộ cho.

Tại sao ông Diệm cho người xây mộ cho bố ông Hồ Chí Minh? Chuyện nầy sẽ kể sau.

Nhân vật thứ năm: Vương Chí Nghĩa

Về Cao Lãnh, ông Huy – để tránh sự theo dõi của mật thám Tây – đổi sang họ Vương, tiếp tục làm nghề coi tử vi, tướng số và thầy lang An Nam. Ông cưới một cô vợ khá trẻ, nhỏ tuổi hơn cả Nguyễn Tất Thành, bà nầy sinh một người con trai độc nhất, đặt tên là Vương Chí Nghĩa.

Vương Chí Nghĩa sinh 7 người con. Một người tên là Vương Chí Việt, đi tu theo đạo Phật, pháp danh là Thích Chân Quang, thượng tọa, tu ở chùa Phật Quang, núi Dinh, Vũng Tầu.

Sau 1975, ông sư Thích Chân Quang có về Nghệ An, tìm thăm lại họ Hồ gốc gác của ông. Ông về làng Lai Nhã, huyện Thanh Chương, Nghệ An là làng ông Hồ Sĩ Tạo, không về làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Cách hành xử như thế, cho thấy, ông Việt, ông Nghĩa, hay ngược lên nữa, ông Huy và chính cả ông Hồ Chí Minh, không phải người huyện Nam Đàn.

Vậy thì làm sao “Nam Đàn sinh thánh” mà thánh lại là nguời huyện Thanh Chương?

Họ Hồ ở Nghệ An

Ông tổ họ Hồ ở Nghệ An là ông Hồ Hưng Dật, gốc bên Tầu, qua làm tiết độ sứ ở châu Hoan, trước thời “Thập Nhị Sứ Quân” ở nước ta.

Rồi ông Hồ Hưng Dật lập nghiệp ở Nghệ An.

Làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An có đền thờ ông, coi như ông tổ họ Hồ ở xứ nầy.

Con cháu Hồ Hưng Dật nối đời sinh sống ở đây, có nhiều người nổi tiếng. Đầu tiên, phải kể là Hồ Quí Ly, người cướp ngôi nhà Trần, dựng nên nhà Hồ.

Bấy giờ, Trương Phụ mượn tiếng “Phù Trần diệt Hồ” để sang xâm lăng nước ta. Nhiều người còn trung với nhà Trần – có công lớn ba lần đánh bại quân Mông Cổ xâm lăng nước ta vào thế kỷ 13 – nên khi cha con Hồ Quí Ly / Hồ Hán Thương / Hồ Nguyên Trừng kêu gọi dân chúng cùng đứng lên chống Tầu thì dân không theo, nói một cách mai mỉa thì “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở”, tương tự như năm 1979, Tầu Cộng đem quân đánh Việt Cộng, cũng có  người cho rằng “đáng kiếp” bọn Cộng xâm lăng miền Nam vậy. Người ta quên cái gương lịch sử đời nhà Hồ hay sao?

Cha con Hồ thua trận, chạy trốn vào Nghệ An thì bị quân Tàu bắt được, giải về Tầu. “Thành nhà Hồ” – di tích hiện còn – được xây ở Nghệ An cũng vào thời kỳ nầy.

Khi làm vua, Hồ Quí Ly đặt tên nước là “Đại Ngu”  – Không phải là “ngu lắm”, mà “nước Ngu vĩ đại”, vì Hồ Quí Ly còn nhớ gốc gác họ Hồ là từ nước Ngu ở bên Tầu, thời Chiến Quốc.

Cũng ở nhà thờ họ Hồ làng Quỳnh Đôi – bảng ghi là “Đại Hồ” – còn thờ bà Hồ Xuân Hương – tục gọi là “Bà chúa thơ Nôm”, và Hồ Thơm nữa.

Hồ Thơm là ai?

Hồ Thơm là tên tục của Nguyễn Huệ, tức vua Quang Trung, quê ở làng Phú Lạc, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định.

Nếu tính từ khi Nguyễn Hoàng vào Nam 1558 đến khi “gia Long thống nhất sơn hà” 1802 thì cuộc phân tranh Nam – Bắc kéo dài gần 350 năm. Hai bên đánh nhau 7 trận lớn, có khi quân Trịnh vượt sông Gianh vào Nam, cũng có khi quân Nguyễn kéo ra đánh chiếm vùng Thanh – Nghê – Tĩnh.

Chúa Nguyễn muốn mở mang đất phương nam nhưng thiếu dân, nên mỗi lần đánh ra Bắc, thường “lùa” dân vào Nam lập nghiệp. Vì vậy mà có người cho rằng, một số người họ Hồ ở Quỳnh Lưu hoặc Thanh Chương bị bắt đi, và lập nghiệp ở Bình Định. Trong số nầy có ông Hồ Phi Phúc, người sinh ra ba anh em nhà Tây Sơn. Đó chỉ là truyền thuyết, không có tài liệu nào nói chắc về việc di dân bất đắc dĩ nầy.

Bởi vì đất trong Nam là “đất của Chúa Nguyễn” – xin xem “Công trạng 9 Chúa 13 vua”, cùng tác giả – nên khi anh em nhà Tây Sơn khởi loạn, để có chính nghĩa, anh em nhà nầy phải đổi từ họ Hồ sang họ Nguyễn. Sau nầy, khi đã đánh bại quân nhà Thanh rồi, vua Quang Trung dự tính lập kinh đô ở Nghệ An, gọi là “Phượng Hoàng trung đô”, cũng có người cho rằng vua Quang Trung muốn ghi nhớ lại vùng “đất cũ của mình” và cũng vì cho rằng vùng đất Nghệ là “địa linh nhân kiệt.”

Tuy nhiên, việc họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi lập miếu thờ ông Hồ Thơm cũng một phần nào xác tín lại nguồn gốc họ Hồ của anh em nhà Tây Sơn vậy.

Gốc gác ông Hồ Hữu Tường

Ông Hồ Hữu Tường nổi tiếng trên nhiều lãnh vực. Trước hết là “ở tù”. Thời đại nào, ông cũng “vô tù”, và “chết trong tù”: Việt Cộng chỉ tha ông ra khỏi “trại học tập cải tạo” khi ông hấp hối. Ông phải đi “học tập”, trong khi với kiến thức của ông, nhiều nhà “lãnh đạo” Quốc Gia cũng như Cộng Sản chỉ đáng là học trò của ông. Một điểm đặc biệt nữa, ông là người “ôn hòa” nhất, trong số những nhà cách mạng, cũng như chính trị của nước ta. Ông có hai lần ra “nằm co ở nhà tù Côn Đảo”; lần thứ nhất, khoảng từ 1940 đến 1944, lần thứ hai, từ 1957 hay 58 cho đến khi Ngô triều sụp đổ.

Mãi sau khi ông được ra tù Côn Đảo, khoảng 1964, 65, ông có ra Huế. Bấy giờ tôi mới thấy – chỉ thấy thôi – con người mà sách của ông, tôi đã đọc từ lâu, sau khi mới học hai năm đầu ở cấp trung học. Hồi ấy, tôi khoái chuyện “nói dốc có gốc” của ông trong “Phi Lạc sang Tầu”. Tôi có ý chờ một cuốn khác của ông nữa “Phi Lạc náo Hoa Kỳ” nhưng chưa được đọc.

Hồi ấy, khi ông ra Huế, nhất là mấy lần đầu, sinh viên Huế, ùn ùn đi đón ông. Họ để ông ngồi trên xe xích-lô, một bọn xúm nhau đẩy xe chạy, thêm mấy chục người vừa chạy bộ vừa đạp xe chạy theo hoan hô. Cảnh tượng thật là vui. Họ gọi ông là “Nhà văn hóa”, trong cách xưng hô thường thì gọi là “thầy”.

Nhà tôi ở hồi đó là ở trước ciné Morin, nơi ông thường đến “diễn thuyết” cho sinh viên. Nhờ vậy, tôi thấy ông rất nhiều lần. Ông có dị tướng: Răng hô (hăng rô?) và tay dài gần tới đầu gối, gọi là tướng “hầu nhân”, nôm na là “tướng vượn”, “tướng con đười ươi”, là tướng ông trạng Mạc Đỉnh Chi.

Sách ông thì nhiều lắm, tôi chưa đọc hết, nhưng thích nhất có ba cuốn: “Phi Lạc sang Tầu”, “Thằng Thuộc con nhà nông” và “Trầm tư của người tôi tử hình” (còn gọi là Minh Đạo) và một truyện ngắn: “Con thằn lằn chọn nghiệp”.

Chuyện “Phi Lạc sang Tầu là chuyện nói dốc”, và “Thằng thuộc con nhà nông” cũng có người cho là như thế.

Ông quê ở Cái Răng, Cần Thơ nhưng ông cho rằng ông là hậu duệ vua Quang Trung ở Bình Định. Vì vậy, hồi bấy giờ có tờ tạp chí xuất bản ở Saigon, vẽ hình ông hồ Hữu Tường đứng trên con ngựa gỗ, loại cho con nít chơi, chú thêm một câu: “Ta là con cháu vua Quang Trung đây.”

“Sự kiện” tự xưng “con cháu vua Quang Trung”, cũng không phải là nói dốc không có căn đâu. Độc giả chắc biết “Sự tích trái sầu riêng.” Chuyện gốc gác họ Hồ ở Cái Răng cũng có thể tương tự như thế.

Bình Định, xưa gọi là Qui Nhơn, nơi anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa, là nơi đông dân chúng theo phò nhà Tây Sơn. Vua Gia Long coi họ như là “dân Tây Sơn”, nên khi “thống nhất sơn hà” xong rồi, vua quan nhà Nguyễn bèn hỏi tội những người từng chống Nguyễn Ánh. Để tránh tai họa, dân Bình Định bỏ xứ trốn vào Nam.

Có một điều cảm động lắm. Khi “Gia Long tẩu quốc”, vì bị Nguyễn Huệ đuổi tới sát bên lưng, “bầu đoàn thê tử” Nguyễn Ánh còn không mang theo kịp, nói chi tới lính tráng của ông.

&

Những “phi, tần” bị bỏ lại ở Thới Bình, Nha Mân phần nhiều là người đẹp. Hơn hai mươi năm sau, khi Gia Long về lại đất Gia Định dựng nghiệp thì các “phi”, các “tần” nầy cũng gần tới tuổi ngũ tuần cả rồi, có cần thì Nguyễn Ánh tuyển “người mới”, “vừa trăng tròn”, chớ không xài “đồ antique” nữa. Dù sao thì con cháu những người bị “đành quên sao” nầy, nhờ cái gène của ông bà nên người nào cũng đẹp. Những người lính VNCH hành quân, đóng đồn ở Thới Bình biết cả đấy. Người đọc cũng có thấy những “cô nường” đẹp ấy trong “Bên dòng sông Trẹm” của Dương Hà.

Còn con gái Nha Mân?

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

                        Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

                        Giả bộ giăng câu lên xuống mấy lần

                        Ở xa thì nhớ, đến gần lại run!

Dân Qui Nhơn sợ vua quan nhà Nguyễn, bỏ xứ vô đây, lại sống chung với người vô trước, cũng là những người bị Nguyễn Ánh bỏ lại hồi “Gia Long tẩu quốc”. Và họ… cảm thương nhau: cũng tình người xa xứ, kẻ trước người sau, không cần “nhà nước” hô hào, họ cũng “hòa hợp hòa giải” mặc dù trước kia họ từng ở trên hai “chiến tuyến” khác nhau.

Xin nghe câu ca dao:

Rồng chầu ngoài Huế,

                        Ngựa tế Đồng Nai!

                        Nước sông xanh sao lại chảy hoài

                        Thương người xa xứ lạc loài tới đây!

Giải nghĩa:

            -Rồng chầu ngoài Huế:

Nguyễn Ánh đã lên ngôi vua. (Vua: rồng)

-Ngựa tế Đồng Nai:

Đất Gia Định cũng đã yên trị. (Ngựa tế: quan đi)

-Nước sông xanh sao lại chảy hoài:

Việc trả thù chưa dứt, như nước sông vẫn còn chảy.

-Thương người xa xứ lạc loài:

Người Qui Nhơn còn bỏ xứ trốn vào Nam.

Họ Hồ ở Cái Răng có phải là “người xa xứ lạc loài…”

&

Trong cuốn “Hương Trầm Trà Tiên” (Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng. Văn mới xuất bản), tôi viết hai bài về “Dinh Điền Cái Sắn”. Có lý do đặc biệt: Nếu không có các ông linh mục “cơ sở” (ở trong các kinh) thì Dinh Điền Cái Sắn khó thành công.

Nhận xét đó khiến tôi nhớ tới “Trầm tư của một người tội tử hình” (nhan đề nầy là khi còn đăng trên tờ Bách Khoa). Sau nầy, in thành sách, tác phẩm được đổi tên là “Minh Đạo”.

Dinh Điền là sản phẩm của ông Diệm (hay ông Nhu cũng thế), còn Minh Đạo là suy tư của ông Hồ Hữu Tường khi ông nằm co “chờ thời” (ra tù) ở Côn Đảo.

Chương trình Dinh Điền của ông Nhu không lạ lắm, bởi vì, có thể ông đã nghiên cứu về Kolkhoz, Sovkhoz của Liên Xô hay Kibbutz của Do Thái, trong khi đó ông Hồ Hữu Tường chỉ nhìn bốn bức tường xà-lim mà nghĩ ra những điều phải nói là đặc sắc hơn ông Ngô Đình Nhu.

Ông Hồ Hữu Tường “nhận định” về ba cái, mà ông gọi là nền văn minh hiện đại, là tinh hoa của nhân loại, mà suy ra con đường đi của dân tộc.

Ba nền văn minh đó là: “Văn minh cơ khí Âu Mỹ”, “Văn minh chính ủy” của Cộng Sản và Đạo Phật. “Cơ khí” hay “chính ủy” đều vô tâm, phải có từ bi của đạo Phật mới “kết dính” con người với nhau được. Điều nầy tôi đã thấy ở dinh điền Cái Săn, nhưng thay vì vai trò “tăng sĩ Phật Giáo” như trong Minh Đạo thì ở đây là các ông cha trong kinh. Độc giả có đọc “Gái Kinh” của tôi (trên Vantuyen.net) sẽ thấy tôi có nói tới cái vai trò của mấy ông cha trong kinh đấy.

Tuy nhiên, nếu so sánh với “Trại Ruộng” của “Đức Phật Thầy Tây An” (ông Đoàn Minh Huyên) hồi thế kỷ 19 thì “Đức Phật Thầy” đã đi trước cả ông Ngô Đình Nhu cũng như ông Hồ Hữu Tường một trăm năm. Độc giả muốn biết rõ hơn, xin đọc sách đã dẫn ở trên.

“Trại Ruộng” của Phật Thầy Tây An còn nặng về tính cách chiến lược quân sự nữa. Vì vậy, sau khi chiếm các tỉnh miền Tây Nam Bộ, giặc Tây đã đốt phá hầu hết các “Trại Ruộng” do Đức Thầy và nông dân Nam Bộ dựng nên, chỉ còn sót lại có một “Trại Ruộng Láng Linh” ở Châu Đốc cũ mà thôi. Nay còn đền thờ.

Cha và con: Hồ Tài Huệ Tâm

Khi mới đến định cư ở Hoa Kỳ, tôi có hỏi bác sĩ Đặng Ngọc Cương, muốn có cuốn “Văn Chương Bình Dân” của linh mục Thanh Lãng thì mua ở đâu. Tôi có gọi điện thoại hỏi mấy nhà sách ở Cali nhưng không có. Trong mười năm dạy học, chương trình dạy học của tôi là Việt Văn lớp Đệ Tam (lớp 10 bây giờ). Văn Chương Bình Dân là môn chính.

Văn hóa người Việt Nam ở trong nền “văn chương truyền khẩu” là chính, hơn là ở trong “văn chương bác học”. Kinh nghiệm sống cũng cho tôi cái nhận xét đó. Những chuyện thần thoại, chuyện cổ tích, ca dao và tục ngữ, cũng như hát chèo, ca Huế, cải lương chất chứa văn học dân tộc Việt Nam nhiều nhất, đa dạng và phong phú nhất, hơn là ở trong những tác phẩm bác học như Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, Bích Câu Kỳ Ngộ, v.v… hay ngay cả truyện Kiều của Nguyễn Du cũng vậy.

Nay ở hải ngoại, muốn bảo tồn và truyền thụ văn hóa dân tộc cho trẻ em, chúng ta cần phục hồi và phổ biến văn chương truyền khẩu cho chúng.

Cùng quan điểm như thế, bác sĩ Đặng Ngọc Cương nhờ bà Hồ Tài Huệ Tâm, giáo sư ở Harvard, mà theo anh, anh có quen biết, photocopy lại cho tôi toàn bộ cuốn sách nói trên của linh mục Thanh Lãng, để tôi có tài liệu.

Tài liệu về Văn Chương Bình Dân ở miền Nam trước 1975 khá phong phú, nhưng có hệ thống nhất, đầy đủ nhất có lẽ là cuốn sách nói trên của linh mục Thanh Lãng. Tôi nhờ tìm lại là vì lý do đó.

Khi nghe nói giáo sư Hồ Tài Huệ Tâm là con gái của ông Hồ Hữu Tường, tôi nhớ đến cuốn truyện “Chị Tập” mà ông Hồ là tác giả. Cuốn truyện không có gì “mê ly rùng rợn”, nhưng người ta thường nói đùa. Tuy nhiên, đó cũng là một cuốn truyện “nguy hiểm” vì nó nói đến mối tình của hai người làm cách mạng, khi Tây còn đô hộ nước ta. Cửa nhà tù bao giờ cũng mở sẵn chờ họ.

Gần đây, tôi mới đọc vài bài viết của giáo sư Hồ Tài Huệ Tâm. Tôi hơi thất vọng, bởi vì bà rời Việt Nam sớm quá chăng, và bà sinh ra lớn lên ở Saigon, không ở vùng quê nên không rõ lắm, hay chỉ biết qua sách vở về người dân quê Việt Nam. Vì vậy, tôi phải nói tới:

Sự xuất hiện của đạo Cao Đài và Phật Giáo Hòa Hảo ở miền Nam.

Chính sách đô hộ của Tây kỳ thị tôn giáo lớn của người Việt Nam: đạo Phật.

Như tôi có nói trong cuốn “Giặc về giữa đêm xuân” – hồi ký về tết Mậu Thân ở Huế -, Văn Mới xuất bản: Việt Cộng giết người Huế là chuyện rõ ràng, nhưng việc tàn sát đó, không chỉ dưới bình diện Cộng Sản giết người Quốc Gia, hay những ai có liên hệ đến chính quyền Quốc Gia. Việc tàn sát một cách bừa bãi và triệt để, nhất là với những người có đạo Thiên Chúa, trong tết Mậu Thân ở Huế, còn cho chúng ta thấy một nguyên nhân sâu xa khác nữa, nguồn gốc từ việc Tây xâm lược nước ta, có sự tiếp tay của các ông cha cố người Tây Dương mà có người gọi là “những tên thực dân mặc áo thầy tu.”

Sau khi đánh chiếm Huế xong, Tây lùng bắt vua Hàm Nghi, nhà vua kêu gọi Cần Vương, gây nên “Phong Trào Cần Vương” và tiếp đó là “Phong Trào Văn Thân / Bình Tây Sát Tả”, đã tạo ra sự mâu thuẫn càng ngày càng sâu sắc giữa người có đạo và người lương, ảnh hưởng dây dưa đến việc Việt Cộng tàn sát người có đạo Thiên Chúa ở Huế tết Mậu Thân.

Trong tình hình cai trị kéo dài hàng trăm năm đó, đạo Phật bị Tây kỳ thị đàn áp là điều không tránh được. Chỉ một Dụ số 10, không công nhận đạo Phật như một tôn giáo của người Việt cũng đã rõ ràng.

Vì vậy, đạo Phật càng ngày càng suy đồi, nhiều người Việt Nam muốn chấn hưng tôn giáo của mình bằng nhiều cách: Hội Phật Học xuất hiện ở Miền Bắc và Miền Trung. Đó chỉ là hội “Học Phật”.

Trong khi đó, việc chấn hưng đạo Phật ở miền Nam phát triển theo hai hướng khác nhau:

-Một là trong giới bình dân, với sự xuất hiện của ông Đoàn Minh Huyên, được dân chúng ngưỡng mộ vì ông đã đẩy lùi được một trận dịch tả lớn ở vùng Cái Tầu Thương; sau được dân chúng tôn vinh là “Đức Phật Thầy Tây An”. Qua Phật Thầy Tây An, đạo Phật dấn thân vào đời bằng việc Phật Thầy lãnh đạo dân chúng phát hoang đất đai, thành lập các “Trại Ruộng” như tôi vừa nói ở trên. Đạo Phật của Đức Phật Thầy Tây An là nguồn gốc của Phật Giáo Hòa Hảo mà giáo chủ là ông Huỳnh Phú Sổ. Vì tình thần chống Pháp, và vì tình hình thực tế, Phật Giáo Hòa Hảo cũng có một đảng chính trị là Dân Chủ Xã hội Đảng, gọi tắt là Dân Xã Đảng, và có quân đội riêng khi Pháp bắt đầu tái xâm lăng nước ta sau khi Thế giới Chiến Tranh Thứ Hai vừa chấm dứt.

-Thứ hai là con đường phục hưng đạo Phật trong giới trí thức miền Nam như ông Ngô Văn (Minh) Chiêu, Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Phạm Công Tắc. Họ đều là những người có học cả đấy. Từ căn bản đó, đạo Cao Đài phát triển trong giới từ trung lưu trở lên, có tính chất khoan hòa của người miền Nam. Vì vậy, trong việc thờ phụng, đạo Cao Đài có tính hòa đồng tôn giáo.

Tính chất khoan hòa đó, dù khi hoạt động chống Pháp, hay từng có thời theo phe “Đệ Tứ quốc Tế”, tính chất chính trong tác phẩm và báo chí do hồ Hữu Tường chủ trương, thường có đặc tính “Hòa Đồng” như tên một tờ báo của ông.

&

Dù còn thiếu nhiều tư liệu đáng tin cậy, một cách tổng quát, người ta có thể thấy một nét “xuyên suốt” từ Hồ Hưng Dật có đền thờ ở Nghệ An đến giáo sư Hồ Tài Huệ Tâm hiện đang ở Boston.

Và còn gì nữa không?

Lại nói về đất Nghệ An

Đèo Tam Điệp nằm giữa Ninh Bình và Thanh Hóa ngày xưa được xem như một phòng tuyến thiên nhiên để chống lại quân Tầu khi chúng xâm lược nước ta.

Từ đời Lý, Trần, Hồ, Lê mỗi khi quân Tàu sang đánh nước ta, lúc ban đầu, khí thế của chúng đang hăng, các vua phải lui về phía sau đèo Tam Điệp, củng cố lực lượng rồi sau đó phản công. Trong cách phòng ngự như thế, thường quân ta thắng lợi.

Năm 1789, Tôn Sĩ Nghị chỉ huy hai mươi vạn quân Thanh tấn công nước ta theo đường Lạng Sơn, Cao Bằng. Ngô Thời Nhiệm, Ngô Văn Sở biết mình thế yếu, bèn rút về phía sau đèo Tam Điệp, mặt khác sai người hỏa tốc về Huế báo tin cho Nguyễn Huệ. Sau khi làm lễ lên ngôi, vua Quang Trung kéo quân ra Bắc, dưỡng quân ở Tam Điệp, cho quân sĩ ăn tết trước, rồi đánh thốc một trận, trưa ngày mồng 5 Tết, vua Quang Trung vào thành Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt bỏ chạy, không kịp mang theo ấn tín.

Hồi thế kỷ 13, khi xâm lăng nước ta, quân nhà Nguyên biết tính cách chiến lược của đất Thanh – Nghệ -Tĩnh, nên ngoài con đường Thoát Hoan tiến quân như thường lệ, vua nhà Nguyên còn cho Toa Đô đem thủy quân đánh vào Nghệ An, với ý đồ chận đường rút lui của vua nhà Trần.

&

Đất Thanh Nghệ được coi là “địa linh nhân kiệt”. Truyền thuyết có câu:

“Hồng Lĩnh sơn cao

                        Song ngư hải khoát

                        Nhược thị minh thời

                        Nhân tài tú phát.

dịch nghĩa là (nôm na):

Núi Hồng Lĩnh cao,

Hai hòn đảo ở ngoài cửa sông Lam,

trông như hai con cá bơi ngoài biển rộng.

Gặp thời “thái bình thạnh trị”

nơi nầy sản sinh ra nhiều nhân tài.

Cũng có người gọi Thanh Nghệ là đất vua quan vì có nhiều triều đại vua quan xuất phát từ nơi nầy. Lính gốc Thanh Nghệ, các đời Chúa Trịnh gọi là ưu binh”. Đời “bà Chúa Chè”, họ bị người ta phê phán là “kiêu binh”. (Tác giả hẹn có dịp sẽ bàn đến sau…).

Họ Hồ gốc gác chính là làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Huyện Quỳnh Lưu ở phía biển. Có một chi nhánh họ Hồ, cũng từ làng nầy, không rõ có phải “lạnh giò” vì người Tầu xâm lược hay không, bèn chạy tuốt vào cư trú ở huyện Thanh Chương, cũng tỉnh Nghệ An, sát biên giới Lào, nơi có nhiều “Nụ cười sơn cước”, xứ của người Mường. Tổ tiên của Hồ Chí Minh là ở xứ nầy, huyện Thanh Chương, không phải huyện Nam Đàn.

Formosa?

Formosa thuộc Hà Tĩnh, trong lưu vực sông Lam, đồng bằng Thanh – Nghệ -Tĩnh.

Giao Formosa cho Tầu, sau nầy, khi bị Tầu tấn công, đám ở phủ Chủ Tịch Hà Nội không tính đường rút lui như các vua ngày trước hay sao? Nếu chạy vào vùng nầy, đám chóp bu Hà Nội chui vào cái rọ heo Formosa hay sao, hay họ sẽ theo gương thằng Cuội, đeo gốc cây đa mà lên ở trên cung trăng với chị Hằng.

Liệu chị Hằng có tức mình mà đạp cho chúng một đạp?!

hoànglonghải

Phụ lục:

(Trích “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trong Kim – bản điện tử, không có số trang)

  1. TOA ĐÔ ĐÁNH NGHỆ-AN. Toa Đô là tướng đạo thứ hai quân Nguyên, đi đường bể sang đánh Chiêm-thành, nhưng mà quân nước Chiêm giữ được các đường hiểm-yếu, đánh mãi không được. Nguyên chúa hạ chiếu sai Toa Đô theo đường bộ kéo ra mặt Nghệ-an, hợp với quân Thoát Hoan để đánh An-nam.

Thoát Hoan được tin ấy, liền sai tướng Ô mã Nhi dẫn quân đi đường bể vào tiếp-ứng cho Toa Đô để đánh tự mặt trong đánh ra, còn ở mặt ngoài thì chiến thuyền của nhà Nguyên chia ra giữ các bến đóng ở sông Hồng-hà từ Thăng-long xuống đến khúc sông Đại-hoàng (thuộc huyện Nam-xang, Hà-nam).

  1. HƯNG-ĐẠO-VƯƠNG ĐEM VUA VỀ THANH-HÓA. Bấy giờ Hưng-đạo-vương dẫn các tướng hộ-vệ xa-giá xuống Thiên-trường, nghe Toa Đô tự vùng trong kéo ra, Hưng-đạo-vương tâu vua xin sai Thượng-tướng Trần quang Khải đưa binh vào đóng mặt Nghệ-an, giữ chặn đường hẻm, không cho Toa Đô ra, và sai Trần bình Trọng ở lại giữ Thiên-trường cự nhau với quân Thoát Hoan, rồi rước xa-giá ra Hải-dương.

Trần quang Khải vào đến Nghệ-an, chia quân phòng giữ, nhưng mà quân nhà Nguyên thế mạnh, đi đến đâu đánh tan đến đấy, lại có Ô mã Nhi ở mặt bể đánh vào. Quang Khải đương không nổi, phải lui quân ra mặt ngoài. Còn quan trấn-thủ Nghệ-an là Trần Kiện đem cả nhà ra hàng với Toa Đô. Toa Đô cho đưa bọn Trần Kiện về Yên-kinh.

Hưng-đạo-vương nghe tin, sai tướng đem quân đi lẻn đường tắt đuổi theo. Khi quân Nguyên đưa Trần Kiện đến địa-phận Lạng-sơn, qua trại Ma-lục (?), thì có người thổ-hào ở đấy tên là Nguyễn thế Lộc và Nguyễn Lĩnh đem dân binh ra đánh. Lại có quan quân đuổi đến nơi, quân Nguyên bỏ chạy. Trần Kiện bị tên bắn chết, nhưng có người nhà là Lê Tắc cướp được thây chạy thoát, đưa đến gò Ôn-khâu (Lạng-sơn) mai-táng xong rồi trốn sang Tàu. Lê Tắc là dòng-dõi Nguyễn Phu làm Thứ-sử Giao-châu về đời Đông-Tấn (317-419) ngày trước. Tự lúc trốn sang Tàu rồi, Lê Tắc có làm bộ sử “An-nam chí-lược”. Bộ sử ấy hiện bây giờ còn có ở bên Tàu và bên Nhật-bản.

Con gái Nha Mân

Đã xem 1490 lần

Chân thành cảm ơn tác giả hoặc quý vị nào đó đã đăng bài viết này lên Quán Văn.

[ Thành viên mới xin ĐĂNG KÝ ]
[ Thành viên ĐĂNG NHẬP ] để đăng bài
(Quý vị sẽ nhìn thấy cách chỉ dẫn đăng bài.)

Máy chiếu VPL-DX240 XGA

Chuyên phân phối MÁY CHỦ DELL POWEREDGE T30 E3-1225 V5

Phân phối thiết bị mạng Cisco FULL mã

Máy in hóa đơn, máy in bill PRP-085 Giá hot

NỆM CAO SU KIM CƯƠNG TỔNG HỢP KHUYẾN MÃI TẶNG GỐI

Thuốc diệt GIÁN thần kỳ

Nhà Hàng SÀI GÒN PHỞ TOMBALL, TX CẦN NGƯỜI

Cần Sang Nhà Hàng Phở Vùng TOMBALL, TX

Bán xe Toyota Camry 2004. 2.4 mới cứng. Hệ thống máy móc tân tiến cùng dàn video từ nước ngoài

Cần bán 4 lô đất khu du lịch Cam Ranh và Diên An – Khánh Hoà

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách