Theo tổ chức hành chánh triều Nguyễn, Ninh Thuận, tên chánh thức, không được coi là một tỉnh vì diện tích nhỏ, dân ít. Tỉnh lớn, hoặc hai ba tỉnh gom lại, đứng đầu cơ quan hành chánh là Tổng Đốc (hàm thượng thư), tỉnh nhỏ là Tuần Vũ. Ninh Thuận cũng như Đà Lạt, “tỉnh” nhỏ nhất thì gọi là Đạo. Đứng đầu đạo là “Quản Đạo”. Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, năm 27 tuổi, trước khi làm thượng thư, từng giữ chức vụ “Quản Đạo Ninh Thuận.”

Một ít về lịch sử:

Thời Bắc Thuộc, ranh giới giữa Cửu Chân của Giao Châu và nước Chiêm Thành là đèo Ngang? Đời Lý, năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông đem quân đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Vua Chiêm xin dâng đất Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính để xin chuộc tội.

            Đó là cuộc xâm lăng và chiếm đất Chiêm Thành đầu tiên của người Việt Nam.

Theo học giả Thái Văn Kiểm, những cái tên như Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính, còn lại trong các vùng đất như huyện Bố Trạch, thuộc tỉnh Quảng Bình, và Vĩnh Linh, Gio Linh, thuộc tỉnh Quảng Trị.

            Cuộc Nam Tiến của người Việt được tiếp nối với vua nhà Trần, “đổi” Công Chúa Huyền Trân để lấy đất hai châu Ô và Rí (sách viết là Lý. Viết Lý là sai, nhưng chữ Nho không có chữ Rí nên phải viết trại là Lý). Cũng theo cách suy luận như trên, tên châu Ô nay còn lại ở địa danh sông Ô-Lâu, ranh giới Quảng Trị Thừa Thiên, một trong ba con sông đổ nước vào phá Tam Giang, và Nam Ô (phía nam châu Ô), nơi sản xuất nước mắm nổi tiếng ở phía nam đèo Hải Vân.

            Chính sách xâm lăng của “Đại Việt” trong cuộc Nam Tiến không thiếu phần độc ác và tàn nhẫn.

            Sai khi Bình Định Vương đánh đuổi quân Minh về Tầu, Vương giành được quyền tự chủ, thì Chiêm Thành cũng không còn bóng quân Tầu, lại chịu ảnh hưởng Đại Việt. Chiêm Thành lại bị chia thành hai nước: Vijaya (Đồ Bàn) Panduranga (vương quốc).

            Chia để trị vẫn là chính sách xưa nay trên toàn địa cầu.

Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh đánh Chiêm Thành. Sau khi thắng trận, để tận diệt nước Chiêm, vua Thánh Tông chia Chiêm Thành thành ba nước: Chiêm Thành, Hóa Anh và Nam Phan, đặt ba nước có ba ông vua “mâu thuẫn nhau”. Tự ba ông vua nầy chống nhau, để “tự diệt”. Từ đó về sau, người Chiêm chỉ có thể thực hiện những cuộc nổi dậy nho nhỏ, chứ vua Chiêm không thể đem quân đánh phá Đại Việt như trước kia, và dân tộc Chiêm dần dần tiêu vong.

Ba nước Chiêm nầy ở phía Nam đèo Cả.

Để ghi lại công trạng của mình, vua Lê Thánh Tông lên “Núi Đá Bia”, tên chữ là “Thạch Bi Sơn”, cho khắc một bài thơ vào cái bia đó. Ngày nay, Thạch Bi Sơn vẫn còn bài thơ.

Dân tộc Chiêm bấy giờ chia làm ba: Một số còn bám lại đất tổ ở phía nam đèo Cả, chính yếu là ở Phan Rang và vùng phía tây xứ nầy, một số khác di cư về Châu Đốc, lập thành một xứ người ta gọi là “Chà Châu Giang” và một số chạy qua Cam-Pu-Chia. Trước vụ “cáp Duồn” ở Campuchia năm 1970, thời Sihanouk còn làm quốc trưởng, báo chí Saigon có nhắc đến Kasem, trưởng phòng Nhì của quân đội Miên, nổi tiếng tàn ác đối với người Việt bên xứ ấy. Y là người Miên gốc Chàm. Sự tàn ác của y có phải từ lòng hận thù người Việt đã tiêu diệt nước Chiêm?

            Khi Nguyễn Ánh và Tây Sơn chống nhau, người Chiêm theo Nguyễn Vương. Vì vậy, sau khi lên ngôi, để trả ơn, vua Gia Long không có chính sách cai trị khắc nghiệt như dưới thời Minh Mạng.

            Khi Nguyễn Ánh chống nhau với Tây Sơn, vua Chiêm là Po Saong Nyung Ceng từng phò trợ Chúa Nguyễn. Vì vậy, khi lên ngôi, Gia Long cho Po Saong làm vua nước Chiêm.

            Khi Minh Mạng làm ngôi, vì sự mâu thuẫn với Lê Văn Duyệt, nhà vua kiểm soát chặt chẽ xứ Chiêm, bắt Phó Vương là Po Klan Thu (tên Việt là Nguyễn Văn Vĩnh) về giam ở Huế cho đến khi ông nầy qua đời.

            Sự mâu thuẫn giữa vua Minh Mạng và Lê Văn Duyệt đưa tới chính sách cai trị có mục đích tiêu diệt văn hóa Chiêm Thành, xóa bỏ hoàn toàn “Vương Quốc Chiêm”, biến lãnh thổ nước Chiêm thành một tỉnh năm 1832. Nước Chiêm không còn, vua Chiêm cũng không còn và dân tộc Chiêm trên đường tiêu vong. Kinh đô nước Chiêm cuối cùng ở Phan Rang cũng không còn.

&

            Phan Rang là thủ đô cuối cùng của dân tộc Chiêm.

Văn hóa Chiêm như ngọn đèn sắp hết dầu, bừng lên một chút ánh sáng rồi tắt ngấm. Có phải vì vậy nên ở Phan Rang có nhiều di tích tháp Chàm đẹp và hùng vĩ. Đó là tháp Po Klong GiaRai, Po RôMê xây dựng vào thế kỷ 17, Tháp Mỹ Sơn, Po Nagar… Tháp Po RoMe được coi là một “bản sao” của tháp Pô Klong Giarai.

            Sau khi triều đại Chàm sụp đổ, hình ảnh và lịch sử cũng như dân tộc Chàm để lại nhiều dấu ấn trong lòng người Việt. Ông Lê Đình Khởi, – thầy giáo dạy lớp nhì của tôi, niên khóa 1949-50 -, trước 1945, ông từng làm việc nhiều nơi ở Đông Dương: Phan Rang và cả Phnom Pênh, từng nói với bọn học trò chúng tôi: “Khi đứng trước một cái tháp Chàm, lòng mình bỗng thấy buồn và như tiếc nhớ một cái gì đấy! Có phải trong dòng máu của mình có dòng máu của người Chàm. Trong quá trình Nam Tiến, không hẳn cha ông chúng ta không có việc pha tạp dòng giống giữa người Việt và người Chàm!”

            Tuy nhiên, tập thơ “Điêu Tàn” của Chế Lan Viên,
“khóc than” cho dân tộc Chàm, thì nhà thơ không phải là một người Chàm chính gốc như Chế Linh. Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, một thời ông làm thông phán ở Phan Rang. Có phải vì từng làm việc ở Phan Rang mà ông thấy “Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi.”

            Phan Rang là nơi có vũ độ thấp nhất Việt Nam, vì vậy, đây là “vùng đất khô”, chỉ thích hợp cho những loài cây chịu khô, ít nước. Do đó, Phan Rang có một ít phẩm vật nổi tiếng, nhất là tỏi.

            Giống như Bình Định, xuống xe ở ngay trung tâm thành phố, nhìn quanh, du khách chỉ thấy bốn bề là núi, không biết hướng nào là biển, hướng nào là núi, phải định thần một lúc mới nhận ra; nó hoàn toàn khác với Huế, nhìn về phía Tây, người ta thấy ngay dãy Trương Sơn, ngược với hướng Tây là hướng biển Thuận An.

                Vậy mà người Huế và người Qui Nhơn đổ thừa cho nhau câu nói “Sơn bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá, nữ da dâm”. Cho tới bây giờ, nói cho ngay tình, tôi không biết câu nầy ám chỉ nơi nào. Phan Rang cũng bốn bề là núi như Qui Nhơn, nhưng không nghe ai dùng câu trên để ví với vùng đất Phan Rang.

            Trên con đường đi về phía Nam, qua khỏi đèo Cả, du khách đôi khi cảm thấy lòng buồn, bang khuâng, và cảm thương cho thân phận người di dân trong cuộc Nam Tiến của cha ông ta ngày xưa.

Thử nghe vài câu:

Mũi Nậy bảy bị còn ba,
Mũi Dinh chín bị không tha bị nào.

            Đi ghe qua Mũi Nậy (nậy có nghĩa là lớn), ở Phú Yên, mang theo bảy bị gạo, ăn hết ba bị là qua được. Qua Mũi Dinh, ở Ninh Thuận, bảy bị gạo, ăn hết cả bảy, chưa chắc qua được. Vậy thì qua Mũi Dinh khó khăn và nguy hiểm hơn mũi Nậy nhiều. Mũi Dinh được xem như điểm “Cực Đông” của vùng bờ biển nước ta.

                        Tiếng ai trên núi véo von,

                        Phải chăng chú lính trên hòn Cù Mông,

                        Xa xa em đứng em trông,

                        Hỏi thăm chú lính thử chồng em đâu?

            Đèo Cù Mông ở Bình Định.

Câu ca dao có vẻ gì như Chinh Phụ Ngâm vậy: Người vợ đi tìm chồng ở ngoài biên ải.

            Vùng đất nầy, ngày xưa đáng sợ lắm đấy: “Cọp Khánh Hòa, Ma Bình Thuận” đấy. Ma Bình Thuận cũng là Ma Hời.

            Năm 1964, sau khi làm giám thị kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp ở Quảng Ngãi, một số giáo sư chúng tôi, vô làm giám khảo ở Hội Đồng thi Nha Trang. Chúng tôi bèn họp nhau thuê xe hơi đi theo quốc lộ. Cho tới bây giờ, tôi còn nhớ những cảm tưởng u buồn về chuyến đi ấy, nhất là khi đi qua đoạn đường Đèo Cả, lòng người lẫn lộn với những ý tưởng về cuộc Nam Tiến của cha ông ta ngày trước. Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, gian nan, khốn khổ còn hơn cả cuộc Tây Tiến của người Mỹ khi họ di cư về phía Tây.

            Phan Rang là quê hương của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu.

            Theo cách kê khai lý lịch của người Việt Nam từ xưa, quê quán hay bản quán của một người, phải kể tử nơi sinh cơ lập nghiệp của cha ông. Các Chúa Nguyễn phần đông sinh ra và lớn lên ở phía nam sông Gianh, nhưng quê quán của họ là Gia Miêu, Ngoại trang Thanh Hóa, phía bắc sông Gianh.

            Nếu tính theo cách đó, thì Phan Rang chỉ là nơi sinh, nơi cư trú (khi còn trẻ) của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Vậy quê hương bản quán của Tổng Thống ở đâu?

            Thân phụ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là cụ Nguyễn Văn Trung, gốc là một kép hát của một gánh hát rong nào đó, quê quán ở Cái Bè hay Cai Lậy. Xưa, có những gánh hát bội nhỏ, tương tự như kiểu “Gánh Hát Giữa Rừng” trong “Hương Rừng Cà Mâu” của Sơn Nam. Đó là những gánh hát bội – hồi đó cải lương chưa phát triển như sau nầy, di chuyển bằng ghe, từ xã nầy qua xã khác ở thôn quê. Nơi nào trù phú thì ghé lại hát ở đình chợ, đình làng năm ba nữa. Nơi nào vắng vẻ thì tối hát, sáng “dông”. Có khi tới mùa lúa, gặt hái xong rồi, thì chủ điền kêu gánh hát về, hát năm ba bữa cho tá điền coi chơi, miễn mua vé.

            Gánh hát, trong đó có cụ Trung, khi ấy cụ còn trai trẻ, ghé lại làng Tri Thủy, rồi “nghe theo tiếng gọi tình yêu”, như cách nói của “văn nghệ cải lương”, kép Trung bỏ gánh, lấy vợ, lập nghiệp quê người.

            Sau nầy, khi đã nên danh phận, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có cho người về Cai Lậy, Cái Bè tìm lại tổ tiên, nhưng không tìm được. Thời gian lâu dài và chiến tranh loạn lạc, không ai còn nhớ anh kép hạt có quê quán xiêu lạc nơi xứ người đã lâu.

            Như vậy thì “huyệt đế vương” của Tổng Thống Thiệu, như ông thường nói, ở đâu? Không chắc ở Cái Bè Cai Lậy, có huyệt đế vương, nhưng đó cũng là nơi sản sinh ra “Vua Hề Trần Văn Trạch”. Làng hề cũng dễ lên ngôi vua. Thời Việt Nam Cộng Hòa, Saigon ít ra có những “Năm ông vua hề”.

            Vậy chính đất Phan Rang là “huyệt đế vương” của Tổng Thống Thiệu chớ gì nữa!

            Ông sinh trưởng là làng Tri Thủy. Nơi nầy, đúng là “địa linh nhân kiệt”. Trước khi vô làng, người ta phải đi theo một con đường đất, sau nầy được mở lớn, có một “bãi đá”, tên thường gọi là “Bãi Đá Dao” vì ngay chính giữa bãi là một tảng đá lớn, có hình mũi nhọn như mũi dao.

            Bên kia “Bãi Đá Dao”, qua một cái vịnh nhỏ, là một ngọn đồi, có mấy tảng đá, dân làng gọi là “Đá Mặt Quỉ”, mặt mũi giống người, nhưng trông có vẻ ác như mạt quỉ.

            Một bên là “Ông Thiện”, một bên là “Ông Ác”. Dân làng nói vậy. Dĩ nhiên, người dân gần gũi với ông Thiện và sợ ông Ác.

            Hòn Đá Dao ngàn năm như vậy, “vững như bàn thạch”, bỗng đầu năm 1975, hòn đá “tự nhiên” nghiêng sang một bên! Tại sao nó nghiêng được? Người ta không thể hiểu được! Có điềm lành dữ gì hay chăng?

            Trong đời có những “Điềm Lạ” hay có khi người ta gọi là “Điềm Trời”. (Xem “Điềm Trời” cùng tác giả trên VănTuyển.net)

Chẳng hạn như ở Vịnh Hà Tiên, “Hòn Phụ Tử” có cả triệu năm nay, bỗng mấy năm trước đây, “Hòn Phụ” bỗng đổ ùm xuống nước, khiến dân Rạch Giá “sáng tác” câu ca dao:

                        Than ôi “Hòn Phụ” đổ rồi,

                 Dũng còn chi nữa mà ngồi khóc than!

“Dũng” là Nguyễn Tấn Dũng đấy!

            Lại bỗng nhiên, cũng thời gian với “Đá Dao” bị nghiêng, trên Quốc Lộ 1, đoạn ngang qua Phan Rang, một đàn sâu đen, bò ngang qua đường, hết con này đến con khác, liền một dây cả ngày không dứt. Xe đò thấy vậy, e ngại điềm linh thiêng, không dám chạy qua, sợ cán nhằm sâu, làm cho xe bị kẹt một hàng dài.

            Cựu Thiếu tá Nguyễ Văn Tiếp, một “bạn tù” của tôi ở Trảng Lớn, khi ấy làm Chánh Sở Tâm Lý Chiến, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quân Khu II, kể lại với bạn tù rằng chính anh lãnh nhiệm vụ điều tra việc “Sâu bò qua đường”, xác nhận việc ấy là có thật.

            Vậy rồi Tổng Thống Thiệu từ chức ngày 21 tháng Tư năm 1975. Người ta coi ông như vị “Tổng Thống cuối cùng” của Việt Nam Cộng Hòa, vì Tổng Thống Trần Văn Hương hay Tổng Thống Dương Văn Minh, có làm đúng thủ tục hiến pháp hay không, thì mấy ông nầy chưa cầm quyền cho vững đã phải xuống chức.

&

            Nhìn lại lịch sử, người ta có thể coi Phan Rang như là một nơi chấm dứt của hai triều đại: Sự chấm dứt của các vua Chiêm. Tại đây nước Chiêm Thành biến mất trên bản đồ, và sự chấm dứt của nước Việt Nam Cộng Hòa có vị tổng thống sinh quán ở vùng đất nầy.

            Điều bí ẩn, – nếu người ta tin như vậy -, thì bí ẩn ấy là ở Phan Rang, vùng đất cuối cùng, chớ không phải ở Saigon, ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi Đại Tướng Dương Văn Minh, ra lệnh đầu hàng.

            Sự chấm dứt của một triều đại, dù oan ưng, dù tốt hay xấu  như thế nào, cũng để lại trong lòng người một nỗi buồn, khi “tấn tuồng lịch sử” qua đi.

            Có điều đáng buồn, tháng Sáu vừa qua, khi tôi đến Phan Rang vì việc nhà, không hiểu tại sao tôi không cảm nhận được “Hồn thu thảo” như của Bà Huyện khi Bà trở về thăm lại “Thăng Long thành”. “Tâm hồn chai đá” cũng là điều đáng tiếc cho những ai thấy đời người là đáng thương!

hoànglonghải

Kỳ tới: Tổng thống Thiệu, những mẫu chuyện khó quên!

1

Thap PoroMe
Thap PoroMe

hoànglonghải - Phan Rang, đất tận cùng?