hoànglonghải – Phong thủy Việt nam: Bắc phần và Hà Nội

Không lãng mạn,

không phải là người Việt Nam.

(?)

Cuối năm 1958, khi giáo sư Lê Hữu Mục còn làm chủ biên tuần báo “Rạng Đông”, một hôm tôi đến nhà giáo sư – tôi đang học môn “Văn Học Sử” với ông ở Dự bị Văn khoa. Lúc ấy có mấy người đang ngồi nói chuyện văn chương với nhau, hình như có cả ông Quang Đạo, tức Hoàng Hữu Pha, đang dạy Việt Văn cho vài trường trung học ở Huế, tôi bỗng nghe người nào đó, nói câu nói ở trên.

Tôi nghĩ rằng câu nói đó có phần thậm xưng, nhưng mấy năm sau, dạy môn “Văn chương Bình dân” (bây giờ trong nước gọi là “Văn học Dân gian”), khi bàn tới Ca dao, tôi lại có ý nghĩ khác, cho rằng nhận xét của vị nào trong câu nói ở trên, không phải là cực đoan, mà chính là một nhận xét đúng. Cứ nhìn vào phong cảnh đồng quê Việt Nam ở vùng Bắc bộ, cái cảnh sắc được mô tả trong các tác phẩm của “Tự Lực Văn Đoàn”, của “Quê người”, “Xóm Giếng ngày xưa” của Tô Hoài, trong “Đồng Quê” của Ngọc Giao, hay các phẩm của Lê Văn Trương như “Sợ Sống” thì phải là người “vô tri bất mộ” hay kẻ “vô tình”, lòng cứng trơ như đá, mới là người không thể không lãng mạn.

Những câu ca dao nói lên cái tình cảm dào dạt, trữ tình, thiếu gì trong ca dao. Độc giả, nhất là các bạn trẻ VN lớn lên hoặc sinh ra ở Mỹ, chịu khó đọc ca dao, để biết thêm cái tình cảm mãnh liệt của người dân quê VN như thế nào.

Những xã hội thiên về công nghiệp, làm sao họ có thể thấy những đêm trăng như ở thôn quê VN đẹp như thế nào. Mà đâu chỉ là một đêm trăng. Người dân quê VN chỉ không thấy trăng vào đêm ba mươi (“Ba mươi không trăng” – tục ngữ), còn như “Mồng một lưởi tra, mồng hai lá lúa…” thì họ thấy đủ trăng trong một tháng, một năm, vào những ngày không mưa gió âm u.

Chỉ nói trăng mà thôi, chưa nói tới những cảnh sắc, khí hậu, mưa nắng, ruộng đồng, núi non, sông hồ nào khác. Cảnh sắc đó nó khuấy động tâm hồn người nông dân VN nhiều lắm, khiến họ dù không muốn xúc cảm, cũng phải xúc cảm, không muốn ca ngợi cũng phải ca ngợi. Từ khởi điểm đó, người ta trở thành người lãng mạn – lãng man văn chương –  như thế nào mà không hay, dù người ta còn trẻ, hay khi đã già, dù một người nhà nông chất phác, cục mịch hay một thức giả, có học hành, cụ đồ nho hay người đổ đạt, sĩ phu, quan chức, v.v…

Cảnh sắc của đất nước, núi non, sông hồ là phong thủy. Phong thủy đó, tác động mãnh liệt tâm hồn con người. Lòng yêu nước, quyết tâm chống quân xâm lược, cũng từ cái tình cảm đó mà ra vậy.

Dù đồng bằng châu thổ, hay núi non hùng vĩ trên mạn ngược, đều là phong thủy miền ngoài ấy, nhìn vào bản đồi, người ta thấy lạ.

Lạ ở chỗ nào?

Về địa lý hình thể, nước ta có nhiều cái lạ lắm.

Để so sánh, nhìn vào địa lý hình thể các nước khác thì thấy ngay.

Nước Pháp có hình lục lăng, đã thấy lạ. Còn như nhiều nước khác trên địa cầu, nhìn vào, có hình nào ra hình nào! Nước Mỹ, nhìn chung, là cái hình thang nằm ngược, đáy nhỏ dưới, đáy lớn ở trên. Có thể vì vậy mà sự bền vững không lâu dài!? Có nước hình thể như củ khoai, củ cải đã là may, còn ngoài ra thì chẳng ra hình thù gì khác.

Nước ta, như đã nói ở bài trước, là hình con chim, con phượng hoàng hay con cò, cũng là chim. Nó được “biểu tượng” “Đàn Chim Việt”, nghe réo rắt, xúc cảm lắm, nhất là khi bài nầy được tấu bằng đàn Hạ Uy Cầm. Quí độc giả mở You Tube mà nghe. Quê hương chúng ta sao mà “kỳ diệu” đến thế!

,           Còn vùng Bắc Bộ, chỉ nhìn qua, người ta thấy ngay nó là hình cái quạt giấy đang xòe ra. Cái quạt giấy lại là “đặc sản” của người Việt. Rất nhiều trường hợp, cái quạt giấy không phải để “mát mặt anh hùng” hay “che đầu quân tử”, mà là vật trang sức của mấy bà, mấy cô. Người ca sĩ, khi ra đứng giữa sân khấu, muốn cầm cái micro cho đỡ “trống tay”, thì với mấy bà mấy cô, cái quạt giấy, quạt trầm cũng có tác dụng như vậy. Độc giả có thấy ở nơi nào trên thế giới nầy, có màn múa nón múa quạt như người VN chúng ta?

Nan quạt là những dãy núi ở phía Bắc, như rặng Đông Triều, Ngân Sơn, Hoàng Liên Sơn, Sông Đà. Chính những rặng núi nầy, dù đã ngăn bớt cái lạnh từ phương Bắc đổ xuống, người nông dân phải làm nhà “hướng Nam” để tránh cái lạnh của gió Bấc. Từ đó, trong tục ngữ có câu: “Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng Nam.”

Hai bên Hoàng Liên Sơn là hai con sông lớn: sông Hồng Hà và Sông Đà. Sông Đà đi quá về phía đông nam rồi quay trở lui, để nhập với sông Hồng Hà, bọc quanh Thăng Long như một vành lỗ tai, nên gọi là Nhĩ Hà, trước khi đổ ra biển với nhiều nhánh sông, có sông rất nổi tiếng, như Bạch Đằng, nơi hai lần quân xâm lăng bị đại bại, như lịch sử từng ghi “Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng”, và một nữa, quân của Trần Hưng Đạo đánh tan quân Nguyên do Ô Mã Nhi chỉ huy, cũng trên sông nầy.

Những địa danh ở núi, Cửa Nam Quan, Ải Chi Lăng, Lào Cay, Cao Bằng, đèo Tam Điệp cùng với những con sông ở Trung Du và Đồng Bằng Bắc Bộ đã giúp cha ông chúng ta đánh bại quân Tầu thì thử hỏi, những “phong thủy” đó, không phải đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử nư1ơc ta hay sao?

Núi và sông là hai yếu tố quan trọng trong phong thủy. Núi sông đánh nhau để giành công chúa con vua Hùng Vương thứ 18. Ba Vì có ba ngọn núi, Tản Viên là nơi thờ Sơn Tinh.

Có phải từ tín ngưỡng đa thần, hay vì sức mạnh chống xâm lược mà đất Bắc cũng như Hà Nội có rất nhiều thần, những vị thần giúp người người Việt giữ gìn nền tự chủ của mình.

Tuy nhiên, xét về địa lý thiên nhiên, có phải đây là một sự ngẫu nhiên đáng ngạc nhiên:

Nếu kẻ một đường thẳng từ ngọn Everest, nóc nhà của thế giới, cao 8. 848 mét thằng tới vịnh Mindanao, sâu 10, 540mét thì con đường nầy đi ngang Hà Nội, khoảng cách hai bên bằng nhau.

Có phải vì vậy nên nhiều nhà địa lý cho rằng Ha Nội ở ngay trên “long mạch lớn nhất thế giới.” có phải đây là điều lợi ích cho dân tộc VN.

Chính vì cái long mạch lớn nhất thế giới đó mà Cao Biền muốn yểm cũng không yểm được. Mã Viện trồng cột đồng, cột đồng mất dấu tích, không ai tìm ra ở đâu, chỉ còn lại cái “bẻ mặt” của Mã Viện, dù có thắng được hai Bà cũng không thắng được người VN chúng ta:

Cột đồng Đông Hán tìm đâu thấy,

            Chỉ thấy Tây Hồ bóng nước gương.

Ngoài truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh, hình ảnh sông núi nầy còn đi sâu vào tâm tình và văn chương người Việt: Tản Đà, có nghĩa là núi Tản, sông Đà lá bút danh của Nguyễn Khắc Hiếu. Trong chiến tranh, núi Ba Vì, sông Hồng, sông Đuống, sông Đáy mang chứa tâm tình của người thanh niên Hà Thành và Bắc Bộ cầm súng chống Tây xâm lược:

Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy núi Ba Vì

Vầng trán em mang trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây phương
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em đã bao ngày em nhớ thương?…

Ngay trong chiến tranh, người ta vẫn thấy dòng sông chảy chậm, đêm khuya vẫn còn nghe tiếng sáo diều; từ đó, ai lại không thể nhận ra một điều hết sức đáng phục: sức sống của dân tộc, và khung cảnh quê hương đẹp như thế nào:

Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

Tuy ở vùng “Châu Á Gió Mùa”, nhưng cả vùng Bắc Bộ ít khi gặp những trận bão lớn. Theo phong thủy, người ta gọi là có “án sơn”, tức là có đảo Hải Nam che gió cho chúng ta.

Những cơn bão phát xuất từ Thái Bình Dương, khi vào “Hải phận VN” bị nhiều “án sơn” che chắn hết. Do đó, chúng ta thấy, ngoài Hải Nam, quần đảo Phi Luật Tân là cái bình phong che chắn cho dải đất hình chữ S nầy.

2)-Phong thủy Huế.

Huế có câu ca dao, nếu căn chứ vào đó, người ta có thể thấy tính cách phong thủy của Huế:

Xứ Thừa Thiên trai hiền gái lịch,

                        Non xanh, nước biếc, điện ngọc, đền rồng,

                        Tháp Bảy Từng, Thánh Miếu, Chùa Ông.

                        Chuông khua Diệu Đế, trống rung Tam Tòa.

                        Cầu Trường Tiền sáu nhịp bắc qua,

                        Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ,

Đợi khách âu ca thái bình.

Khác với 9 chúa, thường cây lâu đài, dinh thự quay mặt về hướng Nam, vua Gia long xây thành Huế theo hướng Đông Nam.

Có hai lý do:

1)-Dựa vào hướng dãy núi Bạch Mã chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.

2)-Mặt tiền thành Huế song song với sông Hương, nhìn ngay hướng núi Ngự Bình mặt trước (tròn) và mặt sau (méo).

Phía Tây kinh thành đã có chùa Linh Mụ trấn giữ, vua Gia Long dựng Văn Thánh cho thêm bền vững.

 

Vua cho đào ba con sông đào chung quanh thành Huế. Vì vậy, phía Tây phải dựng một cây cầu – cầu đi lên Thiên Mụ. Đó là cầu Bạch Hổ. Hướng ngược lại phải có Thanh Long. Phong thủy gọi là “tay Hổ tay Long” bảo vệ kinh đô.

Sông Huơng cũng là một con sông đặc biệt trong hệ thống sông ngòi miền Trung, thông thường chảy từ Tây (Trường Sơn) ra Đông (Biển Đông).

Phát nguồn từ vùng núi non: Thiên Thọ (chỗ lăng vua Gia Long), núi Kim Phụng, và núi Vưng, hai nguồn sông Hữu Trạch và Tả Trạch, gặp nhau ở ngã ba Tuần, phía trước mặt lăng vua Minh Mạng, nhập làm một, chảy từ hướng Nam, lên hướng Bắc. Địa điểm nầy, người Huế gọi là song Đào:

Ca dao có câu:

Muốn tắm mát lên ngọn song Đào,

            Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh.

Thật ra, sim chỉ mọc ở vùng đồi, không mọc ở vùng núi. Giáo sư Thổ Nhưỡng học Thái Công Tụng có bài giải thích về hiện tượng nầy, khi bàn về “Những đồi hoa sim”

Khi chảy lên hướng Bắc, sông Hương ngoằn ngoèo nhiều khúc, bọc khu vực Nguyệt Biều thành một bán đảo. Các nhà phong thủy cho rằng sông càng uốn lượn, sinh khí càng mạnh.

Sau đó, sông gặp đồi Hà Khê là một khối đá cứng, không vượt qua được, nên phải quay ra hướng đông, đi về Huế.

Từ nơi nầy trở đi, dòng nước ôsong Hương trở nên “lững lờ”, “êm đềm” như người ta thường gọi. Nhà thơ Thu Bồn thì gọi là “dùng dằng”, nôm na hơn mà lại hay hơn:

Con sông dùng dằng con sông chảy,

            Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu!

Trong đoạn từ Linh Mụ qua khỏi cồn Hến, sông Hương gặp ba vật cản: Đồi Hà Khê, cồn Giả Viên, và cồn Hến.

Cao độ so với mực nước biển không nhiều, cộng thêm với ba vật cản nầy làm cho nước sông Hương chảy chậm lại, tưởng như là mặt hồ, nhất là ở đoạn ngang kinh thành Huế, ngay cầu Trường Tiền, nhất là về mùa hạ, miền thượng nguồn chưa có mưa.

Đây là điểm đặc sắc của Huế: “sông Hương lững lờ”, “sông Hương êm đềm” hay “con sông dùng dằng” cũng từ “ba vật cản” nầy mà ra.

Năm 1953, năm Thìn, Huế gặp một trận lụt lớn, cửa Nhà Đồ, phía trên cột cờ Ngọ Môn, bị sập, nên sau nầy người ta gọi là “cửa Sập”. Theo nhận xét của nhiều người Huế, trong trận lụt nầy, núi Bãng Lãng ở thượng nguồn sông Hương bị sạt lỡ. Đó là “điềm trời”, bởi vì hai  năm sau, 1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm tổ chức “Trưng cầu dân ý”, vua Bảo Đại bị trất ngôi. Bấy giờ, nhà Nguyễn mới thực sự bị dứt nghiệp.

Thế tại sao, khi Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm giết, Nguyễn Hoàng cho người đến vấn kế Trạng Trình. Trạng Trình bảo “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân.” Chỉ mới 9 đời Chúa, 13 đời vua – từ 1558  là khi Nguyễn Hoàng đem quân vào Nam, đến “hăm ba tháng mười Bảo Đại dân truất ngôi, 1955 – như một câu hát tuyên truyền thời bấy giờ, nhà Nguyễn không còn chỗ dung thân, làm chi tới “vạn đại”.

Lại có thầy địa lý giải thích: Sau khi “hồi loan” -1949 – Quốc Trưởng Bảo đại “đóng đô” ở Đà Lạt, rồi qua ở Canne bên Pháp, đâu còn ở phía nam Hoành Sơn như sấm Trạng Trình dặn dò, để có thể dung thân ngàn năm. Chính ông Bảo Đại “vi phạm” lời sấm, chớ đâu phải cụ Trạng Trình nói sai.

Độc giả nghĩ như thế nào?

3)-Phong thủy Saigon

Vị trí Saigon như thế nào trong tổng thể dịa lý Việt Nam?

Nhìn hình thể rặng Trường Sơn, chúng ta thấy rằng, phía Bắc là đầu của Trường Sơn; vậy phía Nam là cái đuôi!

Ngay từ phía Nam Trường Sơn, thế đất thấp dần.

Cao nguyên là vùng đất thấp phía cuối những ngọn núi cao của Trường Sơn; rồi từ Ban Mê Thuột, theo Quốc lộ 14 đi dần về hướng Đông Nam, đất thấp dần. Saigon là vùng bằng phẳng cuối cùng sau khi qua khỏi miền Đông Nam Bộ. Từ Saigon cứ theo hướng cũ mà đi, về Tiền Giang và Hậu Giang, không đồi, không núi, ngoại trừ Tam Sơn (ở Rạch Giá), Thất Sơn (Châu Đốc), Hà Tiên thuộc về thế đất khác – hệ thống Núi Voi ở biên giới Miên Việt. Còn như, sau Saigon, thế đất huớng Đông Nam Saigon chỉ còn gò. Đó là “Gò Công” như tôi trình bày trong bài “Phong thủy đất Gò Công.”

Cuối Trường Sơn, là lác đác vài ngọn núi rơi rớt của Trường Sơn. Đó là các ngọn núi Bà Đen ở Tây Ninh, núi Bà Rá ở Bình Phước, núi Chứa Chan ở Long Khánh, núi Mây Tầu ở Phước Tuy.

Một cách tổng quát, người ta có thấy “vị thế” của các ngọn núi trên là “tay long, tay hổ” các “thầy địa lý” cũng nói như thế.

Trên bản đồ, sông Saigon ở phía trái, sông Đồng Nai, ở phía phải, tụ nhau thành một ngã ba sông ở Nhà Bè, có khi người ta gọi là sông Nhà Bè, như trong câu ca dao “Nhà Bè nước chảy chia hai”.

Hai con sôn nầy cũng uốn lượn như “rồng chầu” ở Thủ Đức, bán đảo Thanh Đa.

So ra, Saigon có địa thế đẹp nhất và giao thông thuận tiện nhất cả đường thủy lẫn đường bộ ở phía Nam nước ta.

Tuy nhiên, theo vài thầy địa lý, họ cho rằng vùng Thủ Thiêm, bên kia sông Saigon, ở phía Bắc là sông Đồng Tranh (còn gọi là sông Thị Vải –là một nhánh của sông Đồng Nai), chảy ra Vũng Tầu, mới đắc địa hơn đất Saigon bây giờ.

Tôi không nắm chắc về phong thủy Thủ Thiêm, nhưng thời Đệ Nhất Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã có chương trình phát triển Saigon cũ – là Saigon bây giờ và xây dựng Saigon mới, tức là vùng Thủ Thiêm.

“Chương Trình Phát triển Kinh tế Hậu Chiến” Stanley -Thúc, ngoài những phần nói về nông nghiệp, công nghiệp, có một phần nói về giao thông Saigon, đường bộ, đường thủy và đường sắt.

Điểm quan trọng nhất chính là ở Thủ Thiêm, nơi nầy sẽ là “trung tâm” nối liền ba thành phố Saigon, Biên Hòa và Vũng Tầu làm một. Trong viễn tượng đó, Thủ Thiêm là “Trung tâm Thương mãi và Giao dịch Quốc tế”. Saigon mới lớn hơn Saigon cũ. Con đường nói liền Saigon cũ và Saigon mới đặc biệt là một cây cầu qua sông Saigon, song song với cầu Xa Lộ Saigon – Biên Hòa. Cầu nầy, phía Saigon cũ, bắt đầu từ cuối đại lộ Hàm Nghi.

Sau khi “cởi trói”, chính quyền Cộng Sản Hà Nội đã “cóp” những ý chính trong “Chương trình Stanley-Thúc”, nhưng thay vì bắt cầu qua sông Saigon thì họ lại cho đào đường hầm, theo ý kiến của Đỗ Mười. Theo Trần Đĩnh trong “Đèn Cù”, “người ta” muốn đào đường hầm để phí tổn cao hơn, sẽ có lợi nhiều hơn. Dĩ nhiên, cái lợi đó chính là tiền “lót tay” cho người nắm quyền cai trị.

Mặ dù đã có đường giao thông, nhưng việc xây dựng “Saigon mới” tiến hành rất chậm, theo chương trình Stanley-Thúc, không biết bao giờ mới xong. Bao giờ Saigon, Vũng Tàu, Biên Hòa kết thành một để “hòn ngọc viễn đông” cũ trở thành thành phố lớn nhất vùng Đông Nam Á thì không biết.

Có phải cũng vì lý đất Thủ Thiêm sẽ thành vàng nên Hòa Thượng Không Tánh trở thành “vô gia cư”?

4)- Địa linh nhân kiệt

Nước ta có nhiều vùng được là “địa linh nhân kiệt”. Jhông ít vùng “sản sinh” các bậc vua chúa, dân chúng tôn vinh là “Minh Quân”. Thông thường những nơi đó phát sinh các dòng vua có công lớn với đất nước như Đinh, Lê, Lý Trần, hậu Lê, các chúa Trịnh Nguyễn, các danh tướng có công đánh đuổi ngoại xâm và mở mang bờ cõi về phương Nam, v.v…

-Châu Đường Lâm, nay thuộc Sơn Tây, quê hương của Ngô Quyền, người đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, giành lại quyền tự chủ sau một ngàn năm Bắc thuộc.

Ninh Bình: Lê Hoàn quê ở Hoa Lư, Ninh Bình.

Bắc Ninh: Lý Công Uẩn quê ở làng Cổ Pháp, Bắc Ninh. Ông cho dời đô từ Hoa Lư về Đại La, nằm mộng thây có rồng hiện lên ở Đại La nên đổi tên thành Thăng Long.

Quảng Ninh: Quảng Ninh, sau dời về Tức Mặc (Nam Định) là quê hương Nhà Trần. Vua Trần Nhân Tông, được tôn là ông Tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Nhà Trần gốc là môt trong Bách Việt, thuộc vùng Phúc Kiến bên Tầu, chống sự Hán hóa của Tầu mà di cư sang nước ta, làm quan từ đời Thục Phán. Thục Phán sau bị Triệu Đà cướp mất nước.

Thanh Hóa: Lam Sơn, Thanh Hóa là quê hương Lê Thái Tổ, nhà Hậu Lê.

Thanh Hóa: Gia Miêu (Tống Sơn) Thanh Hóa là quê hương chín chúa 13 vua Nguyễn.

-Thanh Hóa: Vinh Lộc, Thanh Hóa, quê hương của Trịnh Kiểm.

Kể từ Bắc chí Nam, ở xứ nào, cũng có anh hùng liệt nữ, các nhà văn hóa, danh sĩ… chỉ khác nhau nhiều ít mà thôi.

Thời hiện đại, nổi danh là các vùng Kinh Bắc, Nam Định, Sơn Tây, Thanh Nghệ Tĩnh. Các tỉnh miền Trung, tỉnh nghèo như Quảng Trị cũng có nhiều người nổi danh, rồi kéo về tận miền Đông Nam Phần, miền Tây Nam Phần, đều như thế cả.

Sau đây, tôi sẽ kể vài vùng đuợc gọi là “địa linh nhân kiệt” như tổ tiên chúng ta đã gọi vậy:

a)-“Hồng Lĩnh Sơn Cao”:

Đây là vùng núi Hồng Lĩnh.

“Hồng Lĩnh chín mươi chín ngọn” trãi dài từ phía tây đèo Tam Điệp tới đèo Ngang.

Tại sao 99?

Đúng ra là môt tram ngọn núi, ấy là nói theo truyền thuyết, là một tram con voi, tượng trưng cho Bách Việt. Một con phản lại vua, tức là phản lại dân tộc, bị chém chết, còn lại 99 con. Chín mươi chin ngọn núi, tượng trưng cho chín mươi chín con, cho chin mươi chin bộ tộc Việt, trung thành với đất nước, còn lại cho tới bây giờ.

Chín mươi chin ngọn núi đẹp và hùng vĩ. Có người cho rằng, sau khi về hưu, Nguyễn Du đã dạo khắp chin mươi chin ngọn núi nầy. Nhờ vậy mà tâm hồn thanh khiết, cao thượng, cao vòi vọi như chin mươi chin ngọn Hồng Lĩnh.

Nhà cách mạng Võ Liêm Sơn, người từng theo Phong Trào Đông Du, bị Tây bỏ tù nhiều năm, làm giáo sư văn chương ở trường Khải Định, năm 1945, theo kháng chiến một thời gian ngắn thì nghỉ, về hưu, theo chân Nguyễn Du, ngao du sơn thủy khắp 99 ngọn núi nầy, kẻ lại tâm sự:

Non Hồng chin mươi chin ngọn,

                        Ngọn cao thứ nhất trước nhà tôi.

                        Năn tuổi tôi đã biết yêu núi,

                        Cách nay năm chục ngoại năm rồi.

 

                        Thuở nhỏ vì sao tôi yêu núi?

                        Yêu vì có cái dáng sợ hãi

                        Làn lần tôi biết cái đáng yêu

                        Nghe gió tung bay long mát rợi.

 

                        Năm mười hai tuổi lên chùa Hương

                        Mây xô, suối dắt, dóc đưa đường

                        Một cảnh thanh u trên cao rộng

                        Lòng tôi giao đọng iữa mênh mang.

 

                        Hái hoa, ăn quả, uống nước suối!

                        Nước mát lòng tôi càng đắm đuối,

                        Nguyện đời ở lại với non Hồng

                        Trong đám chăn bò cùng đốn củi.

 

                        Ông thầy áo thụng ngồi giường cao,

                        Sân Trình, cửa KHổng đã ra vào,

                        Bải tôi trong những đống sách cổ,

                        Thiếu gì non nước để tiêu dao.

 

                        Non Hồng từ đó càng xa cách

                        Tôi ngày chôn đầu rong đống sách.

                        Bức tranh sơnthủy trong đầu tôi,

                        Khuyên điểm ông đồ đà xóa sạch.

 

                        Đường đời kế đó vạch tung ra,

                        Thách tôi nếm thử bước sơn hà!

                        Non Hồng ở lại không thay đổi

                        Tôi cứ đi đi mãi đén già!

 

                        Phen nầy rở về vì việc nước

                        Ngắm lại non Hồng không khác trước.

                        Ngỗn ngang trăm mối chất bên lòng

                        Muốn tỏ cùng non không tỏ được.

 

                        Đầu non mây bạc bóng tờ mờ

                        Đầu tôi tóc bạc dáng bơ phờ

                        Ngọn gì cao ngất bên non đó?

                        Có phải mồ tôi đang đợi chờ?

 

                        Chờ có một ngày tôi trở bước

                        Sang cõi vô sinh như kiếp trước.

                        Linh hồn cùng với xác trầm tang

                        Vẫn cứ đinh ninh lời nguyện ước.

 

                        Bên mồ có mọc một cây thông

                        Để cho xương thịt máu vun trồng

                        Theo gió reo lên một khúc nhạc

                        Kêu vang chin chin ngọn non Hồng.

 

            “Địa linh” Thanh Nghệ không phải chừng đó. Đứng ở cửa Thần Phù, nơi Từ Thức đi tìm lại cõi tiên, nhìn ra biển, người ta thấy:

“Hồng Lĩnh sơn cao, song ngư hải khoát, nhược thị minh thời, nhân tài tú phát.”

Song ngư là hai hòn đảo phía ngoài cửa, trông như hai con cá bơi giữa trời cao biển rộng. Còn như “nhân tài tú phát” ở xứ nầy thì nhiều lắm.

Thanh Nghệ, không những là nơi sản sinh nhiều vua chúa, quan trường, mà cả những người lính thường, cũng được gọi là “ưu binh”, sau trờ thành “loạn kiêu binh”. Và cả “sinh thánh” nữa:

“Đụn sơn phân giái,

            Bò đái thất thanh.

            Nam Đàn sinh thánh.”

Theo dã sử câu nầy là của Trạng Trình. Cụ Trạng Trình tiên đoán khi núi Đụn nứt làm đôi, thì khe nước ở núi nầy khô, nước không chảy nên không còn nghe tiếng (thất thanh). Bấy giờ thì Nam Đàn (huyện Nam Đàn Nghệ An) có bậc thánh ra đời.

Cụ Phan Bội Châu quê ở làng Đan Nhiễm, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Thực tế, quê nội Hồ Chí Minh ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên, thân phụ ông Hồ Chí Minh là ông Nguyễn Sinh Sắc, sau đổi là Huy, là con ông Hồ Sĩ Tạo, với bà Hà Thị Hy, tên tục là Cô Đèn. Ông Hồ Sĩ Tạo quê ở làng Lai Nhã, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau khi lưu lạc về Cao Lãnh, Sadec và chét ở đó, ông Nguyễn Sinh Sắc (Huy) vì sợ Tây theo dõi, lý do là cha của Nguyễn Sinh Thành, Cọn Sản Đệ Tam quốc Tế, hoạt động ở Nga và Tầu, nên đổi sang họ Vương. Ông Huy lấy một bà vợ quê ở vùng nầy, sinh ra một mình Vương Chí Nghĩa. Nhưng Nghĩa có tới 7 người con. Một trong các con của Nghĩa là Vương Chí Việt. Việt đi tu, pháp danh là Thích Chân Quang (thượng tọa) ở chùa Phật quang ở Vũng Tầu.

Sau 1975, sư Chân Quang về Lai Nhã, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, để nhận lại họ của mình. Sư Chân Quang không về làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tức là ông phủ nhận cái gốc tích nhận vơ của ông Nguyễn Sinh Nhậm, thân sinh ông Nguyễn Sinh Sắc, khi ông Nhậm nhận ông Sắc là con của ông. Khi nầy, tức là khi ông cưới cô Đèn làm vợ, ông Nhậm đã 70 tuổi, cô Đèn thua ông 40 tuổi, và đang có bầu. Đứa con trong bụng mẹ là con ông Hồ Sĩ Tạo.

Trong trình tự đó, ông Hồ Chí Minh, thuộc dòng dõi ông Hồ Sĩ Tạo, không thể là quê ở Nam Đàn, như trong câu “sấm” của Cụ Trạng Trình.

Tôi xin trích lại đoạn văn sau đây:

“Trong một cuộc gặp giữa cụ Phan Bội Châu, học giả Đào Duy Anh, và nhà nho Trần Lê Hữu, nội dung cuộc đối thoại chỉ xoay quanh tình thế nước nhà và tương lai sẽ ra sao, Trần Lê Hữu có hỏi: “Thưa cụ Phan, “Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh” chẳng phải là cụ hay sao? Cụ còn thất bại nữa là người khác!”

Phan Bội Châu đáp: “Kể cái nghề cử tử xưa kia tôi cũng có tiếng thật. Dân ra thường có thói trọng người văn học và gán cho người ta tiếng nọ tiếng kia. Nhưng nếu Nam Đàn có thánh thực thì chính là ông Nguyễn Ái Quốc chứ chẳng phải ai khác.”

Cụ Phan Bội Châu là người tự trọng nên từ chối việc người ta cho rằng ông là “Nam Đàn sinh thánh”.

Riêng về những người Cộng Sản Hà Nội, những người làm chính trị cũng như văn học, cứ nhận vơ “Nam Đàn sinh thánh” chính là ông Hồ Chí Minh.

Thật ra, cụ Phan Bội Châu mới là người huyện Nam Đàn; còn ông Hồ Chí Minh, đúng là người huyện Thanh Chương.

Bóp méo lịch sử trắng trợn như vậy, chỉ có người Cộng Sản mới làm được.

Bỏ qua đi những người nhận vơ trắng trợn, nhìn vô vùng đất Thanh Nghệ, chúng ta không thể phủ nhận nhân tài vùng đất Thanh Nghệ.

Xét về lịch sử, những người khi nước nhà có loạn, đi theo hướng Bắc, hướng nước Tầu thì có Trần Ích Tắc, Mạc Đang Dung, Lê Chiêu Thống.

Những người chống tầu xâm lược thì đi về hướng Nam. Hướng Nam có đèo Tam Điệp, là một chướng ngại chống Tầu xâm lăng, kéo dài cuộc khang chiến, cũng như trốn chạy kẻ thù. Khi chạy về phương Nam, phần đông trụ lại đất Thanh Nghệ. Có phải đó là lý do hội tụ nhân tài.

Khi thua Trương Phụ, cha con Hồ Quý Ly, mặc dù gốc là người nước Ngu bên Tầu – nên khi làm vua, ông đặt tên nước là Đại Ngu – không chịu đầu hang, cha con ông chạy về Nghệ An.

Mặc dù cha con Hồ Quí Ly là những người tài ba, nhưng vì ông là người cướp ngôi nhà Trần, nên không được dân chúng về theo:

Chàng về Hồ, thiếp cũng về Hồ.

            Chàng về Hồ Hán, thiếp về Hồ Tây.

Hồ Hán có nghĩa là hồ Hán Thuơng, con thứ của Hồ Quý Ly, được vua cha truyền ngôi cho. Vì hồ quí ly cướp ngôi nhà Trần, nên dân chúng không cho là chính thống. “Hồ Tây” còn có tên là hồ “Lãng Bạc”, noi hai bà Trưng tự vẫn.

Cha con Hồ Quí Ly thà chết, không chịu hàng quân Tàu, dù được hứa hẹn, mua chuộc.

Hồ Hưng Dật, quê ở Chiết Giang bên Tầu, sang làm thái thú ở Diễn Châu, là ông tổ họ Hồ, tổ tiên của Hồ Quí Ly. Trong dòng dõi nầy có bà Hồ Xuân Hương.

Họ Hồ chính là ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉng Nghệ An; sau phát them một nhánh họ Hồ nữa ở làng Lai Nhã, huyện Thanh Chương, cũng Nghệ An.

Ông Hồ Sĩ Tạo, cha thật của Nguyễn Sinh Huy, quê ở làng Lai Nhã nầy.

Thời “Trịnh Nguyễn phân tranh”, chúa Nguyễn ở Đằng Trong và chúa Trịnh ở Đằng Ngoài đánh nhau 7 trận lớn. Mỗi khi chúa Nguyễn đem quân đánh đánh ngoài, thường bắt dân ở vùng Thanh Nghệ Tĩnh đem vào Nam lập nghiệp. Đất Đằng Trong thì rộng nhưng thiếu dân.

Vì việc cướp dân nầy nên cha con Hồ Thơm ở An Lạc bình Định có nguồn gốc là họ Hồ ở Nghệ An. Bởi “đất trong Nam là đất chúa Nguyễn” nên khi an hem nhà Tây Sơn khởi binh, họ phải đổi từ họ Hồ ra họ Nguyễn. Do đó, dã sử nói tên Nguyễn Huệ chính là Hồ Thơm. Sách “Phi Lạc sang Tầu” của Hồ Hữu Tường có kể chuyện nầy.

Tuy nhien, sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi, những người họ Hồ ở An Lạc Bình Định phải đi trốn một lần nữa. Đọc “Thằng Thuọc con nhà nông”, người ta còn nghe Hồ Hữu Tường, quê ở Cái Răng, Cần Thơ có gốc gác từ họ Hồ ở Bình Định.

Còn lang bang một điều nữa, giáo sư Hồ Tài Huệ Tâm ở đại học Havard Boston, lại là con gái của ông Hồ Hữu Tường.

Không rõ họ Hồ còn đi đâu xa nữa không?

b)-Phong thủy đất Gò Công.

Về đây nghe em, về đây nghe em
Về đây mặc áo the, đi guốc mộc
Kể chuyện tình bằng lời ca dao
Kể chuyện tình bằng nồi ngô khoai
Kể chuyện tình bằng hạt lúa mới
Và về đây nghe lại tiếng
xưa,

Để nhớ trong tiếng vỡ bờ!

(thơ A-Khuê, nhạc Trần Quang Lộc)

Tháng 9 năm 1971, tôi nhận sự vự lệnh về Gò Công.

Lần đầu tiên thấy thị xã nầy, tôi hơi sững sờ. Nó là một nửa của “Phố cổ Hội An”.

Tại sao lại một nửa?

Phố Hội An phần nhiều là những ngôi nhà cổ, cổ theo phong cách xây dựng: vách gạch, tường loang và thấp, mái cong, mặt tiền không ngang bằng mà “xô lệch”, nó là hậu quả của phong thủy về hướng nhà, cửa trước thông tuốt ra cửa sau của con đường phố bên kia. Hơi lạ một chút: Hội An có cầu Nhật (chùa cầu) thì Gò Công có “cầu Tây Ban Nha.”

Nhìn chung, một nửa các nhà phố ở Gò Công là những ngôi nhà cổ, có lẽ có số tuổi, từ năm mươi năm trở lên.

&

Trước 1975, Chiêm Tinh Gia Huỳnh Liên có viết một cuốn sách về đất Gò Công. Ông cũng có viết thêm mấy cuốn sách về các tỉnh khác.

Sách của Chiêm Tinh Gia Huỳnh Liên, có nói tên chữ của xứ Gò Công là “Khổng Tước Nguyên”. “Khổng tước” là con công, còn “nguyên” là cái gò. Nôm na gọi là Gò Công.

Thật tình, sách của Chiêm Tinh Gia Huỳnh Liên không có gì hay, ngoài cái tên chữ “Khổng Tước Nguyên” còn lại trong trí tôi mà thôi.

Tháng 6 vừa rồi, về thăm Việt Nam, tôi lại về thăm Gò Công, đi với một người mà  tôi là  “người cũ”, hiểu theo câu thơ của Tản Đà là “Lạnh lẽo hơi thu chiếc lá bay, Gió đưa người cũ lại về đây!”

Tháng Sáu, dĩ nhiên không có “hơi thu lạnh lẽo” như Tản Đà nói; mà về, thì tôi tự về, nhớ “người cũ” thì tìm về, chẳng có gió nào đưa cả. Thành ra, lòng thì vui lắm, bởi vì, trước 1975,  tôi phục vụ ở Gò Công một năm chẳn chòi. Mà kỷ niệm thì nhiều lắm, buồn vui, hạnh phúc và khổ đau cũng nhiều lắm. Chuyện cũ khó quên, nên tôi nói tôi “tự về” là vì vậy.

Chuyện riêng thì xin cho tôi khỏi kê khai vô đây, như kiểu làm bản tự khai hồi mới vô trại Cải Tạo vậy. Còn chuyện chung, thì xin nói ra, cho độc giả biết ít nhiều về Gò Công cho vui.

Về tính cách “hành chánh”, tôi cũng xin khỏi bàn tới, chẳng hạn như Gò Công là “đất Hoàng Gia”, nói rõ ra là “quê ngoại” vua Tự Đức, nên Gò Công không thống thuộc “Trấn Gia Định”, cũng không thuộc “Nam Kỳ Lục Tỉnh”, chỉ khi Triều Đình Huế bị Tây buộc phải giao Nam Bộ lại cho Tây cai trị, thì Gò Công không tránh khỏi cái số phận “xa lìa đất Mẹ” mà thuộc vào đất “Nam Kỳ thuộc địa” – Nam Kỳ thuộc địa có nghĩa là đất nầy của Tây, không còn dính dáng gì tới nước An Nam hay Việt Nam nữa cả.

Cái hoàn cảnh “xa lìa đất Mẹ” nầy làm cho nhiều nhà yêu nước chống Tây cho tới cùng, hy sinh cả tài sản và thân mình, để giành lại mảnh đất nầy cho Tổ Quốc.

Rồi có người tử trận, tử hình: Ông Trương Định, ông Nguyễn Trung Trực, ông Nguyễn Duy Dương… Nhiều lắm, xin kể sau.

Dĩ nhiên, cũng không ít kẻ “theo Tây”. Giấy mực công khó đâu mà viết tên những người nầy.

Trong thời gian một năm “phục vụ” ở Gò Công, tôi đi khắp cả tỉnh nầy. Tôi dám chắc có người sinh đẻ ở Gò Công, nhưng chắc chi đi “khắp tỉnh” như tôi!

Hồi ấy, “ngoài” thị xã, cũng thuộc quận Hòa Lạc, tỉnh Gò Công có bốn quận: Hòa Lạc, Hòa Tân, Hòa Bình, Hòa Đồng. Hòa nào tôi cũng có tới, và dĩ nhiên tôi cũng không lạ gì với các “đám lá tối trời”. Tuy nhiên, người “xứ lạ” như tôi, cũng ít có ai qua tới cù lao Phú Thạnh Đông. Phú Thạnh Đông là một xã, thuộc quận Hòa Bình.

Cù lao Phú Thạnh Đông nằm giữa hai “sông”cửa Tiểu và cửa Đại, nhưng mà chỗ chút mút của nó nữa kia, tôi cũng tới rồi.

Tên nghe hơi lạ: “ấp Phào Đài”.

Chẳng lạ gì đâu, từ thời nhà Nguyễn, vua quan đã dựng ở đây một cái pháo đài, để ngăn ngừa “quân xâm lăng” hay hải tặc Hải Nàm. Dân Hải Nàm chuyên nghề cướp biển giỏi lắm – Nếu độc giả nào có đọc cuốn hồi ký của tôi, do nhà Văn Mới xuất bản – nhan đề là “Hương Tràm Trà Tiên”, còn có cái tên phụ là “Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng”,  sẽ thấy tôi bàn không ít tới nạn hải tặc – dân Hải Nàm – bọn cướp nầy “lộng” dữ lắm, cả mấy trăm năm trước trong vịnh Thái Lan. Ai ai cũng ngán.

Bạn đọc cũng có thể biết chút ít về bọn hải tặc nầy khi đọc “Kho vàng Hòn Tre” của Sơn Nam. Hòn Tre ở ngay cửa vịnh Rạch Giá đấy, xa xôi gì đâu!

Nói dông dài như vậy, cũng để thưa với độc giả rằng, tôi từng đi khắp Gò Công. Đã tới “ấp Pháo Đài” rồi thì sá chi “Bãi biển Tân Thành”, “Vàm Láng” (dân địa phương gọi là “Dzàm” Láng đấy, tiếng Nam Bộ mà.

Còn như Đồng Sơn, thì lạ lắm. Lạ chẳng qua Đồng Sơn nằm trên con đường ghe thuyền từ miền Tây Nam Bộ, từ Hà Tiên, Rạch Giá chở hàng lên Saigon thì đi qua kinh Chợ Gạo, ghé Đồng Sơn trước khi lên Saigon.

Độc giả có ai thắc mắc khi tôi viết “ghé Đồng Sơn”?

Bên kia kinh Chợ Gạo, ngang Đồng Sơn là Bình Phước của tỉnh Long An: lúa gạo, cây trái, rau củ là thổ sản phong phú. Bên nầy là Gò Công, ruộng không nhiều bằng bên kia kinh Chợ Gạo, nhưng gạo Gò Công thì ngon nổi tiếng: Gạo Chợ Đào, gạo Móng Chim, gạo Nàng Hương.

Năm tôi về Gò Công, lương tiền không bao nhiêu, mà cũng chẳng có “tư lợi” chi, nên khó ghé vào ăn ở những nơi cao lương mỹ vị. Tiệm Chú Cưng ở kế bệnh viện Quân Dân Y cũ, lâu lâu tôi mới tới.

Vậy mà người dân thường Gò Công thì tới đều đều, chứng tỏ họ không nghèo, và mấy ông “quan to” thì vừa nhiều tiền vừa muốn đến “nghía” con gái Chú Cưng thường ngồi “két”. Cô ta cười với khách một cái, tuy chưa “nghiêng nước, nghiên thùng” (đúng chữ là thành đấy), thì cũng đủ cho mấy quan chết mê chết mệt.

Lương nhỏ, tôi ăn cơm tháng ở mấy quán bình dân. Bình dân nhưng xong bữa ăn cũng đả lắm. Cơm gạo thơm, ăn với cá kèo. Tuyệt! Mấy chục năm rồi, nhắc tới còn thấy ngon!

&

Nói dông dài, vậy “phong thủy” Gò Công có gì khác với xứ sở người ta?!

Dễ thấy lắm!

Nếu độc giả đồng ý với tôi, rặng Trường Sơn là cái xương sống của nước Việt Nam thì đầu” của nó là các dãy núi hình nan quạt ở phía Bắc: Rặng Đông Triều, Rặng Hoàng Liên Sơn, v.v…

Vậy thì cái “đuôi” của nó là ở đâu?

Cái đuôi của nó là Cao Nguyên Trung Phần. Ngó xuống nữa, là những ngọn núi cuối cùng, coi như cái đuôi của rặng Trường Sơn là các núi Bà Đen (Tây Ninh), núi Bà Rá (Phước Long), núi Đồng Long (Bình Long), núi Chứa Chan (Long Khánh), núi Mây Tầu (Phước Tuy).

Những ngọn núi nầy đều “linh thiêng” cả đấy. Núi nào cũng có sự tích huyền bí, như dân Nam Bộ ưa chuyện huyền bí vậy.

Núi Bà Đen có “Sự tích Bà Đen”, có dịp sẽ kể sau. Núi Đồng Long là “chứng nhân” của “Bình Long Anh Dũng”. Núi Bà Rá là “chứng nhân” của trận đánh mở màn cho cái gọi là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”. Núi Chứa Chan là nơi tôi ở tù Cải Tạo.

Năm 1977, tôi bị “biên chế” về trại Xuân Lộc. Trại không xa núi Chứa Chan. Đỉnh núi bằng phẳng, ngay ngọn là một cái hồ khi nào nước cũng đầy. Hồ đó là miệng núi lửa đã tắt đâu từ cả triệu năm trước.

Hồ có nước khi nào cũng đầy nên núi mới có tên Chứa Chan.

Nhưng kể từ cuộc Nam Tiến mấy trăm năm trước, người Việt đi tìm đất sống, đã đến định cư nơi nầy. Họ có nhớ quê hương “ngoài kia” không mà đã thấy lòng không những Chứa Chan mà Chan Chứa một mối tình sầu. Từ đó mà Chan Chứa đẻ ra:

Chứa Chan!                 -Chán Chưa?   hay lòng còn:

            Chan Chứa!          nên –Chưa Chán.

Nếu bạn đọc muốn biết thêm câu chuyện về núi Chứa Chan nầy, xin hãy đọc “Vết Nám”, Hồi ký Cải Tạo, cũng do tôi viết và nhà Văn Mới Xuất Bản.

Đó là những ngọn NÚI cuối cùng.

Thấp hơn núi là GÒ. Nếu đó không phải là “GÒ” Công thì còn có gò nào nữa?

Do đó, các nhà địa lý phong thủy thấy rằng: Gò Công là “điểm chót”, điểm cuối cùng của rặng Trường Sơn.

Gò Công còn bao gồm cả sông Tiền (Tiền Giang) với hai cái cửa biển đầu tiên trong 9 cửa (Cửu Long) là Cửa Tiểu, cửa Đại.

Cửa Tiểu, Cửa Đại cũng là điểm cuối cùng của sông Cửu Long, là con sông “chấm dứt” ở đó. Sông bắt nguồn từ Tây Tạng.

Cửa là Cuối sông; nguồn là đầu sông, tuy rằng ở đây chẳng có chàng và nàng để hát câu“Quân tại Tương Giang đầu, Thiếp tại Tương Giang vĩ” như trong Chinh Phụ Ngâm.

Bạn đọc chắc phải đồng ý với tôi Gò Công là điểm hội tụ của hai cái cuối cùng, một của núi (Trường Sơn) và một của sông (Cửu Long).

Theo cách nhìn phong thủy, Gò Công là điểm hội tụ cuối cùng của sơnthủy. Sơn thì có Kim (mỏ vàng, bạc, sắt, thép… ở trong núi), mộc (cây rừng) hỏa (lửa trên núi, Trường Sơn từng có hỏa diệm sơn, nên có đất đỏ, đồn điền đất đỏ như Phú Giềng), Sơn nào lại chẳng có Thổ, là đất và đá. Vậy thì Gò Công là nơi hội tụ có đủ: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, mà cái nào cũng Đại, cũng Trường, cũng Vĩ, phong  phú, đa dạng, nhiều vô sô kể… Tiền rừng bạc biển là đây!

Có lẽ, dựa tên nhận định đó, độc giả không phản đối khi tôi nói rằng, Gò Công là vùng đất có nhiều cái đặc biệt, rất đặc biệt là khác.

Đó là địa linh.

Công không thuộc hang “tứ linh” (long, lân, qui, phụng), nhưng không phải là loại chim thường. Dân nhậu thì khoái thịt công, ngon hơn thịt gà, cũng thuộc loài “cầm”. Lông công được dùng trong làng hát bội. Các ông “tướng phường tuồng” (không biết ngày xưa trong đời thực người ta có làm như vậy không?!) Các ông tướng cắm lông công trên lưng, trên mũ. Trước khi múa kiếm hay long đao, hay nói tuồng, các ông vói tay vuốt cái lông công, làm “điệu bộ” (phường tuồng)

Trước khi tìm hiểu về “nhân kiệt”, chắc tôi phải nói một chút ít về “nhân văn” Gò Công. Nói “nhân văn” là nói cho to chuyện mà thôi, không phải để “hù” ai về cái công việc tìm hiểu dân tình Gò Công; nhưng dù sao, đó cũng là nếp sinh hoạt của một vùng đất mà nếu không nhìn vào bản đồ, người ta có thể nghĩ rằng xứ Gò Công nằm lọt ra ngoài biển Đông.

Hôm nhận sự vụ lệnh xong, sáng sớm ra bến xe Trương Vĩnh Ký, – hồi ấy chưa có bến xe Miền Tây -, thấy mấy chiếc xe đò chạy đường Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Rạch Giá… ra bộ xôm tụ, đông vui lắm. Chiếc xe đò thì dài, loại trên năm chục chỗ ngồi, mấy chú lơ mời gạch, gọi hàng inh ỏi. Một chiếc thì đang đón khách lên xe, chất hàng, cột hàng rộn rịp… Chiếc bên cạnh thì đã nổ máy, chờ tới phiên mình.

Tới chỗ xe đò đi Gò Công, thấy “êm” hơn. Chiếc xe đò thì nhỏ hơn, nhiều lắm thì cũng trên ba chục chỗ ngồi, khách khứa lên xuống ít hơn. Tôi lên xe tìm một chỗ, ngó quanh. Khách về Gò Công đang bỏ xách, túi lên kệ, mà hình như người nào cũng có một hay hai… ổ bánh mì.

Tôi tự hỏi, ưa ăn bánh mì là phải mua tận Saigon hay sao? Nhắm bộ Gò Công nhỏ quá nên không có lò bánh mì hay sao? Hay bánh mì Gò Công không ngon? Quả thật, khi về Gò Công ít lâu rồi, tôi đâu có thấy lò bánh mì ở chỗ nào đâu?!

Trình diện xong, lo về cho sớm vì sợ… hết xe. Té ra, xe đò Gò Công đi Saigon hay ngược lại, ngày nào tối đa là hai chuyến, khi tới mùa cherry chín, bạn hàng chở cherry lên Saigon; còn không thì mỗi ngày chỉ một chuyến, bởi vì khách Gò Công đi về Saigon, đâu có bao nhiêu!

`           Đấy! Điều mà các ông nhạc sĩ gọi là “Nỗi buồn tỉnh lẻ” chính là nỗi buồn của tôi khi mới về Gò Công vậy.

Gò Công cũng “đi năm phút đã về chốn cũ” và cũng có “em (Pleiku) má đỏ môi hồng”, nhìn, hay “nghễ” một chút, cũng đỡ buồn cho một người lính xa nhà như tôi.

Khi trời chiều đã xuống, ngồi ở bến xe, vắng hoe – nơi sau nầy, khi trời tối,  tôi từng thấy “mấy anh mấy chị” hẹn nhau ở đây, giữa hai chiếc xe đò đậu kế nhau, để kín đáo hôn nhau, hay làm gì nữa, ai mà thấy được, không thì sợ thiên hạ, “Người ta thấy kìa, kỳ chết.” thì một người từng đi nhiều như tôi, “trên bốn vùng chiến thuật”, “tôi thường đi đó đây…” hỏi thử có buồn không nhỉ?

Từ thời niên thiếu, bạn bè đã gọi tôi là “thằng lãng tử”, bởi vì ngay hồi còn là học sinh Đệ Thất, Đệ Lục, súng đạn đang rền rĩ, vậy mà tôi đã đi khắp Quê Ngoại Quảng Trị tôi rồi: Phía bắc thì Vĩnh Linh, Gio Linh, Bến Hải; phía đông thì Cửa Tùng, Cửa Việt; phía tây thì Nhà Thờ La Vang, và xa hơn nhà thờ La Vang nữa kia, sát chân núi Trường Sơn, là nhà  thờ  Phước Môn, và  “Rừng thông hai mộ.” Rừng thông có ngôi mộ hai ông bà Quận Công Nguyễn Hữu Bài.

Tôi từng ngủ qua đêm ở đồn Diên Trường, một nơi ít ai biết nhưng đó chính là “Cây Đa Bến Cộ” (Cây đa bến cũ) nơi xảy ra câu chuyện tình dang dở, từng được người Huế, và cả người miền Trung kể lại qua ca dao, và sau nầy, còn được phổ nhạc nữa đấy.

Đó là bến đò Diên Trường, trên sông Diên Trường, trong trận chiến năm 1972, báo chí miền Nam gọi đó là “Đại Lộ Kinh hoàng”, với câu ca dao:

                        Trăm năm “diều” (nhiều) nỗi hẹn hò.

                        Cây đa bến cộ (cũ) con đò khác đưa!

                        Cây đa bến cộ (cũ) còn lưa (lại)

                        Con đò đã thác năm xưa tê (kia) rồi.

_____________

“Xuân đã đem mong nhớ trở về,

                        Lòng cô gái ở bến sông kìa!

                        Cô hồi tưởng lại ba năm trước

                        Trên bến cùng ai đã nặng thề

Rồi:

                        Bỏ thuyền, bỏ lái, bò dòng sông

Cô lái đò kia đi lấy chồng

(Thơ Nguyễn Bính-

Nguyễn Đình Phúc phổ nhạc)

Yêu đương, hẹn hò! Thế là xong.

Nhưng trong lòng tôi thì mãi không xong… Vì tôi buồn khi thấy ai bạc tình với ai! Tôi là người đa cảm mà!

“Thằng lãng tử” quê ở ngoài Trung xa xôi, bây giờ lạc bước tới Gò Công. Và rồi cuộc đời còn đưa đẩy tôi đi đâu nữa? Ba năm sau, khi miền Nam thất thủ, tôi đang “phục vụ” ở một vùng đất, từ đó, ngó ra là Hòn Phụ Tử chẳng bao xa! Trong đời lính, tôi đi “đầu trời cuối biển” rồi chớ còn chi nữa!

&

Về địa lý, Gò Công có những cái do người ta xây dựng và những cái do bàn tay Tạo Hóa.

Nếu ở Saigon, thấy một cái gì đó do Tây dựng lên, ít ai thấy lạ, suy nghĩ: Dinh Norodom, sau nầy là Dinh Độc Lập, nhà thờ Đức Bà hay Sở Thú, phố Catinat là chuyện thường.

Còn ở Gò Công, bỗng nhiên tôi thấy lạ vì ở đó có cây “cầu Tây Ban Nha” và “ao Trường Đua”.

Khi Tây mới xâm lăng Nam Bộ, năm 1862, có liên minh với quân Y-Pha Nho. Y Pha Nho cũng là Tây Ban Nha. Vậy thì sau khi chiếm Ba Tỉnh Miền Đông Nam Phần, bọn xâm lược Y Pha Nho có đóng ở Gò Công? Họ xây cầu để đi nên mới có tên cầu Tây Ban Nha hay bởi một lý do nào khác, không thấy ai nói tới?

Và cả nơi giải trí của họ nữa chứ: “ao Trường Đua”.

Đây là một cái ao hình chữ nhật, gần như hình vuông. Giữa là ao, chung quanh là bốn con đường ngựa chạy đua quanh cái ao.

Năm tôi về Gò Công, 1971, cầu Tây Ban Nha gần muốn hư mà không thấy sửa chữa, còn tệ hơn “Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi”.

Ao Trường Đua” thì còn nhưng ngựa đua thì tuyệt nhiên không thấy, cả những nhà nuôi ngựa đua cũng không còn, còn khách đánh cá ngựa, chắc đã cuốn gói về Tây.

Cảnh cũ không còn thường làm cho người ta buồn, nhưng khi những cuộc đua ngựa không còn nữa, tôi không chắc dân Gò Công có người buồn. Chiến tranh tàn khốc lan khắp tỉnh. Dân miệt quê sợ súng đạn, chạy lên thành phố, dựng nhà quanh “Ao Trường Đua”. Nhà thì cái nhỏ, cái to, cái thấp, cái cao, cái lợp tôn, cái lợp lá. Nhà nầy sát nhà kia, làm cho “Ao Trường Đua” trở thành một xóm nhà bình dân, mà vui, thân cận, hài hòa và “thương nhau” hơn. Có lẽ ở đó cũng có những cô hàng xóm, tuy ở nhà mình, nhưng cũng gởi hồn cho cánh bướm bay qua nhà bên cạnh, để có người than thầm:

Bướm ơi! Bướm hãy vào đây

Cho ta nhắn gởi câu nầy chút thôi!

&

Như đã nói, việc hình thành đất Gò Công là từ những cái lạ, là sự kết hợp giữa Trường Sơn, là ngọn núi “xương sống” của nước Việt Nam, và sông Cửu Long là con sông nổi tiếng trong “địa lý địa cầu”.

Trong viễn tượng đó, đất Gò Công có gì lạ chăng?

Thiếu nước ngọt, vì không đào được… giếng.

Không đào được chỉ là một cách nói. Đào được đấy, nhưng không tới mạch ngầm, chỉ có nước hôi bùn. Nôm na, như người dân quê Việt Nam thường nói thì Gò Công là đất không “chưn”, có nghĩa là đất Gò Công thay vì “nằm” trên một lớp đất đá thì nó lại nằm trên… bùn, mà lại bùn than, có màu đen, bùn lưu niên, hàng triệu năm, còn mùi hôi nên nước giếng không xử dụng được.

Về địa lý, Gò Công có hai phần rõ rệt: Phần phía Đông, phía biển, và phần phía Tây, giáp ranh với Long An.

Dựa trên sự quan sát về tính cách địa lý trước 1975, kể từ con đường từ thị xã Gò Công đi Bắc Cầu nổi, người ta thấy từ vùng nầy ra tới biển thì “nền của đất” chỉ là bùn, nói theo địa lý thì đó là bùn trầm tích, nên “không đào giếng được”. Tuy nhiên, bên cạnh con đường nầy, ra khỏi thị xã Gò Công khoảng hai ba cây số, phía bên trái là khu “Lăng Hoàng Gia”.

Cái “Hoàng Gia” nầy ảnh hưởng đến Gò Công nhiều là đương nhiên, nhưng cái ảnh hưởng đó ra tới Huế, cựu kinh đô và ngược lại.

Xin thông cảm, lại phải “dông dài” một chút về “Hoàng Gia” nầy. Trước hết là ông… Ba Bị.

Theo quan điểm thông tục thì “ông Ba Bị” là “ông Kẹ”, là những “ông” thường hay bắt cóc trẻ con, v.v… và v.v…

Những ngưòi già, cố cựu của Huế, giải thích “Ông Ba Bị” chính là thân phụ Bà Từ Dũ. Ông Ba Bị người Gò Công, thường lang thang các vùng quê ở miền Trung, Thừa Thiên, Quảng Trị, v.v… Sau nầy, cái danh của “Ông Ba Bị” mới lan ra nhiều nơi ở trong nước.

Sau khi Gia Long lên ngôi (1802), rồi đến đời Minh Mạng (1920-40), chiến tranh đã chấm dứt, đất nước ổn định; kinh tế, nhất là ở phía Nam phát triển. Trong nông nghiệp, nhiều giống lúa được đem thử nghiệm, gieo trồng. Giống lúa Thần Nông, là giống lúa của Xứ Chùa Tháp, được các sư huynh một dòng tu Thiên Chúa Giáo, đem về giới thiệu cho dân Long Xuyên. Đất Long Xuyên rộng, phải gieo trồng bằng “sạ”, không cấy như các nơi khác. Ruộng lớn quá, cấy làm sao nổi. Sạ nhanh hơn.

Nhìn chung, miền Nam đất rộng, phì nhiêu, trồng lúa rất thích hợp. Và cũng từ đó, trong Nam có nhiều giống lúa khác nhau: ngắn ngày, sản lượng cao, hay nhiều giống lúa ngon, lúa thơm, v.v…

Ông Phạm Đăng Hưng là người có công lớn với Nguyễn Vương khi Vương đang chống nhau với nhà Tây Sơn, khôi phục mảnh đất miền Nam. Khi ông mất, 1825, thọ 60 tuổi, đời Minh Mạng, nhà vua phong tặng ông hàm Vinh Lộc Đại Phu, Trụ Quốc Hiệp Biện Đại Học Sĩ, thụy Trung Nhã. Vua Thành Thái lại truy tặng ông là Đặc Tấn Vinh Lộc Đại Phu, Thái Bảo, Cần Chánh Điện Đại Học Sĩ, tước Đức Quốc Công.

Vốn yêu nông nghiệp, ông Phạm Đăng Hưng, thân phụ Bà Từ Dũ muốn đem các giống lúa đang phổ biến ở miền Nam giới thiệu với nông dân miền Trung, nhất là vùng Trị Thiên. Ông thường tới các làng để “giới thiệu” cho nông dân những giống lúa đang thịnh hành ở trong Nam. Ông đeo bên mình ba cái bị, đựng ba thứ giống lúa khác nhau. Ai xin giống nào thì ông bốc cho một nắm, để nhân giống mà trồng.

Ông vốn dĩ tính tình hiền hòa (dân Nam Bộ mà), bình dị, làm quan nhưng cũng áo nâu, quần nâu, lang thang từ làng nầy qua làng khác, nhìn qua, cũng hơi quái dị. Vả, ai ai cũng sợ ông? Sợ là vì ông là quan to trong triều. Và vì cái sợ đó, mà Ông Ba Bị bị “đồng hóa” với ông Kẹ, để các bà mẹ dọa những đứa con nít hay khóc hay vòi.

Có thể khi còn sống, ông đã chọn một “cuộc” đất đẹp nhất ở Gò Công để làm nơi an nghĩ ngàn năm. Chỗ đó, như tôi đã nói ở trên là “Giồng Sơn Qui”, tức khu “Lăng Hoàng Gia”.

“Giồng Sơn Qui” có hình dạng một cái mai rùa. Tôi không rõ đầu của mai rùa quay về hướng nào, nhưng đó là một “cuộc” đất cao, không cao lắm, khá đẹp và có hai cái đặc biệt:

Ở Gò Công (đông) không đâu đào được giếng thì “Giồng Sơn Qui” có một cái giếng khá lớn, bốn mùa đều có nước, và nước rất ngọt, dùng rất tốt.

Từ cổng vào, người ta thấy có một “Nhà bia” bên phải. Đây là tấm bia bằng đá ở Núi Non Nước, Đà Nẵng. Bài văn bia do Phan Thanh Giản viết. Khi tấm bia nầy được đưa từ miền Trung vào để dựng ở mộ ông Phạm Đăng Hưng thì bị Pháp cướp mất (1860) để bọn chúng làm bia cho đại úy Barbé, bị quân của Nguyễn Trung Trực giết chết, xưa là đường Barbé, nay là Võ Văn Tần. Mãi đến năm 1999, bia nầy mới được đưa về lăng, đựng ở nhà bia bên trái. Mặt sau bia nầy, khắc tên đại úy Barbé, có hình “thánh giá” ở trên cùng.

Trong khi tấm bia cũ bị Tây cướp mất, (cướp nước, cướp dân và cướp cả bia), nên năm 1899, vua Thành Thái sai làm một tấm bia khác, với nội dung như tấm bia bị cướp và dựng nên ở “nhà Bia” bên phải.

Tháng 6 vừa qua, tôi và Vân cùng con trai Hải Bằng, trên đường đi Gò Công về, ghé vào thăm lăng, nơi tôi và Vân, 45 năm trước, từng đưa nhau đi chơi ở đây.

Trong khi người giữ lăng, giới thiệu về ngôi mộ cụ Phạm, giải thích ngay trên mộ có xây một cái tháp nhỏ, tượng trưng cho Thiên – Địa – Nhân, thì Vân chỉ cho tôi xem cái hình bát quái ngay dưới cái tháp nhỏ. Đó là việc “yểm bùa” sau khi mộ xây xong. Yểm bùa, theo cách nghĩ của người Việt Nam là để mộ không bị phá. Phá mộ để lấy vàng ngọc được chôn theo người chết hay để dòng dõi họ Phạm không còn được “truyền đời” về chức phận, quan cách, v.v…

Nhà thương hộ sinh lớn nhất Saigon, và cả Việt Nam, được đặt tên là “Bệnh Viện Từ Dũ”, đúng ra là Thái hậu Từ Dụ, tên là Phạm Thị Hằng, mẹ vua Tự Đức.

Bà là người dạy con rất nghiêm. Một số người Huế còn nhớ câu chuyện một năm gần đến ngày “đại kỵ” (kỵ vua cha, tức Thiệu Tri), vua Tự Đức đi săn chưa về. Quá lo lắng, bà liền sai quan binh đi tìm. Được nửa đường quan binh thấy vua Tự Đức đứng ở mũi thuyền đốc thúc binh lính chèo gấp vì nước lũ đang về, mà thuyền đang đi ngược sông Hương. Trời đang mưa lớn, nhà vua ướt đầm.

Về đến kinh đô, biết tội mình, vua Tự Đức để nguyên quần áo ướt, qua dinh của mẹ, nằm xuống sập, đặt lên mông một cây roi mây, chờ mẹ đánh. Làm vua rồi mà vẫn còn chờ mẹ đánh!

Bà Từ Dụ giận con, ngồi quay mặt vào tường. Sau một hồi lâu, bà xoay mặt ra, đưa tay hất cây roi mà ban rằng:

“Có một mẹ một con, con đi đâu lâu, thời mẹ ở nhà trông đợi lắm. Sao con không báo cho mẹ hay trước? Thôi tha cho. Đi chơi để quan quân cực khổ thì phải ban thưởng cho người ta.”

Vua Tự Đức khấu đầu lạy tạ lỗi: “Từ nay con không dám như vậy nữa”.

Người Huế còn biết nhiều chuyện về đức hạnh, nhân ái, mẫu mực của Bà Từ Dụ. Có lẽ vì vậy nên năm 1948, tên bà được đặt cho một bệnh viện phụ sản lớn nhất Việt Nam.

Về Giồng Sơn Qui, thường gọi là Gò Rùa, tức “Lăng Hoàng Gia”, sách “Gò Công Xưa và Nay” của Chiêm Tinh Gia Huỳnh Minh có ghi lại câu:

Lệ thuỷ trình tường ngoại,

Quy khâu trúc phước cơ.

Nghĩa là:

Nước ngọt trổ điềm lành,

Gò Rùa vun đất phước!

Khu lăng mộ nầy gồm có:

-Bình Thành Bá Phạm Đăng Dinh, tổ ngoại (3 đời?) vua Tự Đức. Phạm Đăng Dinh sinh ở Quảng Ngãi vì gốc gác ở ngoài đó.

-Phước An Hầu Phạm Đăng Long. (con P. Đ Dinh, và lăng vợ Phạm Thị Tăng)

-Quốc Công Phạm Đăng Hưng. (thân phụ Bà Từ Dụ)

và lăng vợ Phạm Thị Du).

Người Việt làm nghề biển thường có tục “Thờ Cá Ông”, vì cá ông thường cứu ghe thuyền bị bão ngoài khơi! Vì vậy, dọc theo bờ biển Việt Nam, có nhiều làng biển lập đền thờ cá ông, khi “ông lụy”, có nghĩa là xác cá ông chết, tấp vào bờ, dân làng đem chôn, lập miếu thờ.

Miếu thờ ở Vàm Láng là lớn nhứt, mỗi năm cúng kỵ rất linh đình. Việc nầy có liên quan đến lịch sử. Có lần Nguyễn Ánh bị Tây Sơn đánh đuổi, chạy ra biển, lại gặp bão, nhờ cá ông cứu, đưa vào Vàm Láng. Thành ra, Vàm Láng trở thành nơi “cứu vua”. Miếu không to, giỗ không lớn thế nào được!

&

Gò Công thuộc đất “Nam Kỳ Thuộc Địa”, nên cũng không ít “dân Tây”, tức là người có “quốc tịch Pháp”.

Nhận việc xong, thấy tôi là kẻ xa nhà, Trưởng Ty Vũ Như Bách mách nước: “Phía sau ty, có ngôi nhà từ đường. Có mấy anh em đang ở tại đó. Anh sang đó, xin bà cụ chủ nhà mà ở với họ.”

Nhà nầy đâu lưng với Ty, dài ba gian hai chái – kiểu nhà xưa, lợp ngói. Sân trước rộng, trồng cây kiểng, nằm kế bên con đường từ hông chợ ra phía cầu Tây Ban Nha. Bà cụ đã già, ở với con gái và cháu ngoại ở ngôi nhà mới xây bên cạnh.

Bà dễ tính. Khi tôi xin “tạm trú” thì bà ừ liền. Con gái bà là Chị Hoa (tôi không chắc đúng tên). Chị có thằng con trai lớn, tên Khôi, con một ông đại úy. Không thấy ông đại úy đâu cả. Có lẽ ông đã “cởi ngựa truy phong” chạy mất dạng như Sở Khanh trong truyện Kiều rồi. Kế Khôi là hai đứa em gái, – đầm lai – Mỹ lai thì đúng hơn – Mắt xanh mũi lõ – chưa tới tuổi đi học. Mẹ chúng làm sở Mỹ.

Một tối, tôi lấy cái kèn Melodica của tôi ra ngồi ở hiên nhà thổi chơi cho đỡ buồn. Tôi đang “say sưa” với các bản classique, từ “Đã quên hết sầu chưa? Lời người là ý thơ…”  Sérénate, đến “Thôi buồn làm chi, Nhớ tiếc làm chi, bao nhiêu sầu nhớ sẽ tan đi…” (Tristesse) và “Về đây mái tóc còn xanh xanh, Về đây khi…” (Come back Sorento) thì bà cụ đến ngồi cạnh lúc nào tôi không hay!

Tôi ngưng thổi khi bà cụ bảo:

-“Tôi còn mấy dĩa của “Tino Rossi”, khi nào xuống nhà (của cụ) tôi cho “cậu” nghe!”

(Tino Rossi là danh ca người Pháp, gốc đảo Corse, nổi tiếng khắp Âu Mỹ khoảng giữa Thế kỷ 20).

Vậy đấy! Âm nhạc là một nghệ thuật không biên giới. Những bản classique là sản phẩm của Tây Phương hồi thế kỷ 17, 18. Nó theo chân Thực dân Pháp mà qua Việt Nam hồi thế kỷ 19. Bây giờ, nó trở thành “nhịp cầu thông cảm” giữa hai người Việt Nam, một già một trẻ.

Nghĩ vậy, tôi hỏi:

-“Mấy người cùng ở tại đây, có ai chơi loại classique nầy cho cụ nghe chưa?

-“Mấy chục năm nay, từ khi Tây rút về Tây, lần nầy là lần thứ nhất, tôi nghe “cậu” chơi loại nhạc nầy.” Bà cụ trả lời.

Tôi lại hỏi:

-“Cụ không đi Saigon, nghe nhạc ở “QueenBee”, “Đêm Màu Hồng” sao?

-“Tôi có đi với con gái, nhưng ở đó không ai hát nhạc nầy.”

-“Phải! Tôi nói. Thỉnh thoảng người ta mới chơi “Nhạc Cổ Điển Tây Phương”, nhưng chỉ trong đám bạn bè thân thiết mà thôi. Mấy bài nầy chơi Piano thì hay lắm.”

-“Cậu từng nghe chưa?” Bà Cụ hỏi.

-“Dạ! Có nghe rồi, mà nghe từ một người bạn thân.” Rồi tôi kể:

-“Năm cháu học lớp Đệ Nhất, một lần tới thăm một cô bạn gái cùng lớp, tên cổ là Hoàng Thị Ngọc Trâm. Đang ngồi chơi thì cô ta bảo: “Tiếp “nhà văn” thì phải có quà đặc biệt.” – Cháu lúc đó, còn đi học nhưng đã viết chơi cho nhiều báo ở Saigon, ở Huế, kiếm “chút tiền còm nhuận bút” uống cà-phê, chớ có là “nhà văn nhà veo” gì đâu! Tuy nhiên, bạn bè ai cũng biết tôi có bài đăng báo.

Thế rồi cô bạn gái đến mở nắp cây đàn dương cầm của cô ra, và bắt đầu đánh mấy bản nhạc cổ điển. Tôi đứng sát bên, nhìn cô ta đánh đàn.

Đánh xong vài bản, cô ta ngưng lại, hỏi tôi: “Hải nghe được không?”

Tôi tinh nghịch trả lời:

-“Hải có nghe đâu! Hải chỉ nhìn!”

-“Âm nhạc mà nhìn? Nhìn cái gì?” Cô ta hỏi.

-“Nhìn bàn tay Trâm chạy trên phiếm đàn, đẹp không thể tưởng tượng được!” Tôi nói.

Trâm cười to:

-“Các bạn thấy không? “Ông” Hải nầy ga-lăng số một. Kiểu đó thì dù  “ông” không yêu người ta, người ta cũng yêu “ông.”

Cả bọn cùng cười: “Có cả Trâm đấy!”

Nghe nói vậy, Trâm cũng cười luôn.

Tôi không nghĩ cô ta yêu tôi. Con gái Huế thường nhìn cao hơn. Cô nào có bằng tú tài thì phải lấy chồng kỹ sư, bác sĩ. Cô nào có bằng cao nhứt, tiến sĩ, bác sĩ thì đành chịu… ở góa.

Nghe xong câu chuyện, Bà cụ cũng cười, nói với tôi: “Chắc “cậu” đắc đào lắm”.

Tôi đùa: “Nam mô A-di-“Đà Lạt”, “bần tăng” là kẻ tu hành!

Bà cụ là con nhà điền chủ, “dân Tây”, học “trường đầm”, “văn hóa Pháp”, có lấy chồng Tây không thì tôi không biết. Chị Hoa, con gái cụ, không có nét giống Tây.

&

Không bao lâu sau, tôi rời căn nhà đó, về “Yêu Luôn”. Tiếng tôi gọi đùa tên xã Yên Luông!

Cảnh cũ, người cũ cũng đã bao lần đổi thay mất rồi!

Bà cụ thì “Quốc tịch Pháp”, con cháu bà thì đã về Mỹ. Không ở được “quê mẹ” thì đành về “quê cha” vậy!

Ở Yên Luông, lại có một “ông Tây” khác: “Ông Một Lục”.

Một hôm, xã trưởng Nguyễn Thành Thông, rủ tôi: “Tới nhà Ông Một Lục ăn giỗ đi.”

Tôi ngần ngại:

-“Ông ta không mời tôi mà!”

Xã Thông giải thích:

-“Ông ta có nhờ tôi nói lại. Nghe nói anh là giáo sư lịch sử mà. Tới nói chuyện cho vui.”

Nhà “Ông Một Lục” là nhà ngói. Nôm na là “nhà cao cửa rộng”, vườn tược rộng, cây lá hoa quả sum suê, chứng tỏ đây nhà giàu, có lẽ không phải “Ông Một Lục” đi lính Tây mà giàu. Gốc nhà “điền chủ” thì đúng hơn.

Ba người chúng tôi ngồi ở phòng khách, bộ xa-lông gỗ, màu đỏ, đẹp. Chúng tôi uống rượu vang. Sau khi chào hỏi, tôi hỏi:

-“Ông Một có biết ông Phan Tử Lăng không?

Ông Một Lục trả lời cộc lốc: “Không.”

Tôi trả lời, không trực tiếp vào người tôi hỏi:

-“Ngoài tui, đi lính Tây, loon lá lên tới adjudant (thượng sĩ) là cao nhất. Không ai được đóng loon quan một, quan hai (thiếu úy trung úy). Mãi khi Pétain đầu hàng Hitler, Tây ở Đông Dương cần sĩ quan mà người bên Tây không qua được. Bấy giờ, Tây mới cho người Việt Nam học sĩ quan ở trường quân sự Ton. Vậy mới có quan Tây người Việt. Ở Huế, nổi tiếng nhứt là “ông Quan Một” Phan Tử Lăng, lính Khố Đỏ. Ra trường ông đậu thủ khoa. Sau khi Nhựt lật đổ Pháp, ông theo Phong Trào Thanh Niên Xung Phong của bộ trưởng Phan Anh, chính phủ Trần Trọng Kim. Rồi ông theo Việt Minh. giỏi thì giỏi nhưng chỉ tới quan “tá” mà thôi. Gốc “tạch tạch sè” mà.

“Ông Một Lục” không hiểu “tạch tạch sè” là gì, tôi phải giải thích là “tiểu tư sản.”

Ông Một Lục nói:

-“Trong Nam, phải vô “dân Tây” mới được đi học làm quan (sĩ quan). Hồi Pháp-Đức bắt đầu đánh nhau, Tây bắt dân trong Nam đi lính bên Tây. Tôi cũng vậy. Lên tới quan một thì hết giặc, tôi xin về nước.”

Tiệc xong, trên đường về, xã Thông cười nói với tôi:

-“Ông nầy dâm lắm, thỉnh thoảng ông đi chơi đĩ ở…

(Tôi không nhớ địa điểm xã Thông nói, hình như trên con đường đi Hòa Lạc, phía bên nầy Cầu Đúc.”

-“Sao ông biết?” Tôi hỏi.

-“Khi nào ông thấy chiếc xe đen của ông đậu ngoài đường là ông đi “vô xóm” với “chị em” đó.

“Ông Một Lục” có chiếc xe Traction Avant, kiểu “onze legère”, tự ông lái xe lấy.

“Dân Tây” ở Gò Công thì có dòng họ “Nguyễn Hữu” ở Hoà Đồng nữa, tôi sẽ viết khi nói tới “Bà Hoàng Hậu Nam Phương.”

Mùa Hè năm 1972, người ta gọi là “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Lửa thì cháy ở Bình Long, Kontum, Trị Thiên. Gò Công thì yên lắm, không có “binh lửa” nhưng không có nước. Ngày 8 tháng Tư Âm Lịch đến rồi mà trời vẫn không mưa. Ca dao có câu:

“Mồng Tám Tháng Tư không mưa,

            Chị em bán cả cày bừa mà ăn.”

Lúa thì đã cấy xuống ruộng rồi, mà ruộng thì không có nước. Trời không mưa! Hạn đấy! Ruộng nứt nẻ như hình mu rùa. Mấy cái hồ nước ngọt trong làng cạn tới đáy. Người dân thường chứa nước mưa trong mấy cái “mái” (lu, vại, nói theo cách người Trung, người Bắc), “mái” nào cũng hết nước. Nhà Tây xây, như dinh tỉnh Trường, Ty Công An, nền nhà là cái bồn chứa nước mưa. Chỉ những nhà đó mới không ca câu: “Lạy Trời mưa xuống, Lấy nước tôi uống, Lấy Ruộng tôi cày…”

Tới ngày rằm thì “Trời đổ cơn mưa” lớn. Cả tỉnh ai cũng mừng, đi đâu, ở đâu, cũng chỉ nghe dân chúng bàn tới chuyện mưa.

&

Ở quán Chú Cưng, mỗi sáng, các cụ già ở thị xã hay gần đâu đó, thường đến tụ tập nhau, uống càphê, bàn chuyện đang đánh nhau đâu đó ở ngoài Trung, trên Cao Nguyên. Từng là một thời theo Nam Bộ Kháng Chiến, nhưng vì một lý do nào đó, bỏ Việt Minh mà về, nhưng trong lòng mấy cụ, vẫn còn vấn vương một chút oai hùng của thời trai trẻ, nên khi bàn chuyện đánh nhau đâu đó, “Phe ta” thì thường “rút lui”, mất đất dần dần, như cái bánh tiêu mấy cụ đang ăn sáng, bánh bị cắn dần dần, như phía Nam mất lãnh thổ vậy. Vậy mà mãi tới 30 tháng Tư, 1975, mấy cụ già mới ăn hết cái bánh tiêu. Khi họ ăn xong, thì chính con cháu mấy cụ “đi trình diện học tập cải tạo.” Bánh thì hết, nhưng “Học Tập Cải Tạo” tới “mút mùa Lệ Thủy” mà chưa thấy về.

Cái tình trạng ngồi uống xàphê, nói “dốc theo kiểu Nam Bộ” đó làm cho ông Trung Tá Tỉnh trưởng Lê Trọng Nghĩa thấy nóng ruột. Một hôm, trong một “buổi họp toàn tỉnh”, ổng tuyên bố: “Nói với mấy cụ già uống càphê sáng ở quán Chú Cưng, có ngày tôi hốt hết thì đừng trách tôi.”

Nghe dọa, mấy cụ cũng sợ đấy. Nhân khi có trận mưa to, mấy cụ bàn qua chuyện… mưa. Mưa để có nước uống uống, và để làm ruộng, không phải để “Em đến thăm anh một chiều mưa!” Đây là chuyện của tôi và Vân.

Khi tôi ở Gò Công, cũng có một lần “Đồng Khởi”.

Cái “Đồng Khởi” nầy chỉ là mượn cái danh từ của Bà Nguyễn Thị Định. Ở đây thì “toàn tỉnh” đi hành quân, đồng khởi. Lính tráng thì hành quân đâu đó, lùng sục ở các “Đám lá tối trời”, còn “Nhân Dân Tự Vệ” thì tập họp, đặt chốt canh ở các ngã ba, ngã tư đường, ở các cây cầu, các bến đò, bến xe, v.v… Ban ngày, làm gì có “mấy chả” ra tới đó mà canh gác cho mệt. Thế là người ta tụ họp nhau lại mà nhậu: Canh chua, cá lóc, cá kèo, lại kể cả cá thòi lòi, nếu thiếu mồi, và… cá hộp nhà binh.

Ông tỉnh Trưởng lại tuyên bố: “Đi “Đồng Khởi” mà Nhân Dân Tự Vệ cũng đòi cá hộp. Có cá rồi, hễ cứ thấy nhà nào có trồng me thì vô nhà đó trải chiếu ra “Đồng Khởi”, hết “ít ly” đến “y lít”.

Ở Gò Công có nhiều nhà trồng me, và cả trồng so đũa nữa. Đâu phải để nuôi dê, mà để dành cho dân nhậu đấy! Me hay bông so đũa nấu canh chua thì hết sẩy!

&

Gò Công có tới hai bà hoàng hậu. Nói cho đúng thì một bà Thái hậu (Mẹ vua) là bà Từ Dụ. Nhà Nguyễn, kể từ đời Minh Mạng, không có hoàng hậu, chỉ có chánh phi, thứ phi, v.v… Thành ra, bà Từ Dụ không phải là “hoàng hậu đời Thiệu Trị”; mãi đến khi Hồng Nhậm lên ngôi vua, hiệu Tự Đức, thì bà Từ Dụ được phong làm Thái hậu.

Bà Nguyễn Hữu Thị Lan thì “cứng” hơn. Khi vua Bảo Đại cầu hôn, bà ưng thuận nhưng với điều kiện: Phải phong bà làm hoàng hậu, tức là phá lệ nhà Nguyễn, và chỉ một vợ một chồng, không có chánh phi, thứ phi gì cả. Vua Bảo Đại chấp thuận, nhưng về sau thì ông “phạm lời hứa”, có những ba bà thứ phi.

Bà Nguyễn Hữu Thi Lan quê ở Đồng Sơn.

Trên liên tỉnh lộ Gò Công – Mỹ Tho, gần tới cầu Chợ Gạo, quẹo phải là đi vào con đường lớn, xe hơi chạy được. Chạy được một đổi, khoảng vài ba cây số, người ta thấy hai ngôi nhà lầu lớn, kiểu Tây Phương, xây cạnh nhau, có hàng rào bao quanh. Nhìn qua, người ta có cảm tưởng như khung cảnh thôn quê bên Pháp, chớ không phải Việt Nam. Đó là hai nhà lầu của dòng họ Nguyễn Hữu Hào.

Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt, đây nơi là bị chiếm, đóng đồn. Dĩ nhiên, hai bên có đánh nhau nhiều trận nên mái hư, vách loang lổ vết đạn, cửa nẻo không còn. Bây giờ bị bỏ hoang. Cô Xuân, làm thông dịch viên cho Mỹ, nói với tôi đây là nhà của Bà Tám Đào và Chín… (tôi không nghe rõ). Vì chiến tranh, hai bà nầy đã tỵ nạn bên… Tây. Họ là “dân Tây” mà!

Ông Nguyễn Hữu Hào là đại điền chủ ở Đồng Sơn, có Tây học, đậu tú tài Pháp. Đã là đại điền chủ, ông còn kinh doanh ngành trồng trà, cao su ở miền Đông Nam Bộ và có cả ngàn mẫu ruộng ở Long Mỹ, tỉnh Rạch Giá (tên cũ). Vì vậy, khi ông rể Bảo Đại phong “quận công” cho cha vợ, thì ông Nguyễn Hữu Hào lấy tước hiệu là “Long Mỹ Quận Công”.

Vợ ông, tên là Lê Thị Bính, con gái Huyện Sĩ, tức Lê Phát Đạt, cũng là một đại điền chủ ở Gia Định.

Hai ông bà Nguyễn Hữu Hào chỉ sinh được có hai con gái, người con lớn lấy chồng Tây, Didelot, làm “Khâm mạng Hoàng triều Cương thổ” (đất của nhà Nguyễn, nhưng mà Tây “quản lý”) và cô em là Mariette Jeannette Nguyễn Hữu Thị Lan, sinh ngày 4.12.1914 tại Gò Công.

Năm 1932, sau khi học ở Tây về, vua Bảo Đại ngồi lại trên ngai vàng, ngai nầy được vua cha Khải Định truyền cho năm 1925, khi Khải Định qua đời.

Vua còn trẻ, chưa vợ. Ông Đoàn Thêm, tác giả “Việc Từng Ngày” kể: Khi nhà vua ra thăm đất Hà Thành, con gái Hà Nội nô nức đón vua, mong được làm hoàng hậu. Hà Thành con gái nổi tiếng đẹp và thanh lịch. Cuối cùng, Bảo Đại chọn Nguyễn Hữu Thị Lan, cũng du học ở Pháp về. Đây là một cuộc tình duyên có sắp đặt vì âm mưu… chính trị.

Khi trở lại Việt Nam, ngồi trên ngai vàng, vua Bảo Đại muốn đem cái sở học của mình ở bên Tây, để cải cách đất nước. Ông lập một nội các mới, gồm những người trẻ, đòi Tây phải thi hành đứng đắn các hiệp định đã ký với Triều Đình Huế. Vua còn lập một “Ủy ban Cải cách” để thực hiện ý định cải cách đất nước của nhà vua.

Tây chỉ muốn Bảo Đại làm vua bù nhìn, bèn chặt hết “vây cánh”, cải tổ nội các, buộc ông Ngô Đình Diệm từ chức thượng thư. Ông Ngô Đình Diệm không từ chức cũng không được, và Tây trói tạy ông vua lại bằng một sợi giây… tình.

Nguyên khâm sứ Eugène Charles, cha nuôi Bảo Đại, đã về hưu, được gọi qua Việt Nam, lo việc cưới vợ cho Bảo Đại. Charles tổ chức một party ở Dinh Đốc Lý Đà Lạt, Bảo Đại đến dự, và Nguyễn Hữu Thị Lan đến bái yết nhà vua. Hôm đó, cô Nguyễn Hữu Thị Lan mặc một bộ đồ đen, áo dài Việt Nam, đến ra mắt vua, quỳ trước mặt vua và hôn nhẫn trên tay vua.

Một cuộc sắp đặt, làm như tình cờ, cộng thêm với một triệu đồng Đông Dương làm của hồi môn nên Bảo Đại rơi ngay vào cái bẫy “Sắc bất ba đào”.

Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách,

            Sắc bất ba đào dị nịch nhân.

(Nguyễn Giản Thanh, lúc còn đi học, một hôm tan học, gặp trời mưa, bọn học trò đứng đợi mưa dưới hiên nhà. Thầy đồ ra câu đối: “Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách” (Mưa không then khóa mà giữ được khách) Giản Thanh đối lại: “Sắc bất ba đào dị nịch nhân” (Sắc đẹp phụ nữ, không phải sóng nổi, nhưng dễ nhận chìm người)

Bảo Dại bị “nịch nhân” tuy sắc đẹp bà Nam Phương không bằng con gái Hà Thành. Tuy nhiên, nhà vua giải thích rằng các tiên đế thường lấy vợ gốc miền Nam, nên ông cũng chọn một cô miền Nam và đặt tên là Nam Phương (Hương thơm của miền Nam). Phương là hương thơm, như “Mượn chùm “phương thảo”, hú vía thuyền quyên” trong “Bài Tựa Truyện Kiều” của Chu Mạnh Trinh vậy.

Người Pháp và các ông giáo sĩ theo Đạo Thiên Chúa La Mã, nghĩ rằng đã “gài” được Bảo Đại: Tây thì trói được Bảo Đại, còn Giáo hội Thiên Chúa La Mã thì đạt được ý đồ từ đời Bá Đa Lộc. Người nối ngôi ông Bảo Đại sẽ là người có đạo Thiên Chúa, đưa “thần quyền” vào “thế quyền” như các nước Châu Âu trước khi có những cuộc “cách mạng tư sản”.

Tháng 8 năm 1945, Bảo Dại thoái vị, giáo hội Thiên Chúa vuột mất ý đồ một ông vua theo dạo Thiên Chúa, vì ông Bảo Đại trao ngai vàng lại cho ông… Hồ Chí Minh, và bà Nam Phương Hoàng Hậu lại à người yêu nước hơn yêu chúa, mặc dù bà là người của Nam Kỳ thuộc địa, dân Tây, học trường đầm.

Trong thời kỳ Việt Minh nắm chính quyên ở Huế, cũng như mọi người dân Huế, bà tham gia tích cực các phong trào dân chúng, nhất là trong các “Tuần lễ vàng”.

“Tuần lễ vàng” ở Huế do ông dược sĩ Phạm Doãn Điềm làm chủ tịch, lấy danh nghĩa là để giúp chính phủ có tiền mua súng đạn chống Tây tái xâm lăng nước ta. Bà Cựu Hoàng Hậu tham gia.

Có người kể, hôm ấy, tham gia “Tuần lễ vàng”, bà Nam Phương lấy hết nữ trang đeo vào người. Tới chỗ hành lễ, trước mặt mọi người, bà gở bỏ hết các nữ trang để đóng góp cho nhà nước. Hành động của Bà như là một gương mẫu, khuyến khích mọi người noi theo.

Học vấn mở mang trí óc con người ta đấy!

Tôi không rõ nguồn gốc ông Nguyễn Hữu Hào như thế nào, chỉ nghe nói ông là một đại điền chủ, có học, nhưng không nghe ai nói dòng dõi ông ta.

Tuy nhiên, về bà Hoàng Hậu Nam Phương, dư luận nói tới ông ngoại bà, ông Huyện Sĩ nhiều hơn.

Huyện Sĩ là một trong bốn người giàu nhứt Nam Kỳ hồi bấy giờ, theo câu tục ngữ: “Nhất Sĩ, nhì Phương, Tam Xường, Tứ Hỏa.” Đó là các ông: Huyện Sĩ, Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương, Bá Hộ Xường (tên thật là Lý Tường Quan, bố vợ tướng André Trần Văn Đôn), Hui Bon Hoa, dân chúng thường gọi là “Chú Hỏa”.

Huyện Sĩ có tên là Lê Phát Đạt, thuở nhỏ, nhà nghèo lắm,  làm nghề chăn vịt. Sau vô làm bồi cho một ông “cha Tây”. Ông nầy thương tình cho đi học trường dòng ở Pénang, Mã Lai. Sau khi tốt nghiệp, ông về nước làm thông ngôn cho Tây, nhằm lúc Tây đang đánh chiếm ba tỉnh miền đông Nam Phần. Thời thế tạo “anh hung?”

Khi Tây đánh tới, dân chúng chạy trốn cả. Khi tình hình tạm ổn, Tây gọi dân chúng về, làm ăn như cũ. Bấy giờ, phần đông dân chúng không về, không nhận lại ruộng. Người ta tin tưởng ít lâu đuổi xong giặc Tây, sẽ về lại nhà cũ, khỏi đắc tội với triều đình vì theo giặc. Ruộng bỏ hoang, Tây bèn cho bán đấu giá. Huyện Sĩ tìm cách mua hết, giá chỉ bằng 1% giá thường. Mấy năm sau, Huyện Sĩ lại trúng mùa, trở nên giàu có nhất nhì thời bấy giờ.

Giàu có rồi, để “vẻ vang” với đời, ông mua chức huyện, thường gọi là “huyện hàm”.

Ông có công lớn trong việc xây dựng các nhà thờ ở Saigon và vùng phụ cận, có công lớn trong việc truyền bá đạo Thiên Chúa ở miền Nam.

Khi bà Nguyễn Hữu Thị Lan về làm hoàng hậu, bà được bên ngoại tặng cho một triệu đồng Đông Dương để làm của hồi môn. Có phái vì số tiền hồi môn lớn quá, nên người dân thường nhắc đến Huyện Sĩ chăng? Trong cuộc đời làm vua, Bảo Đại “tiêu tiền của vợ” nhiều hơn “tiêu tiền của triều đình”.

Gò Công còn có nhiều nhân vật nổi tiếng khác nữa. Sau đây tôi chỉ kể tên. Độc giả muốn biết thêm, xin đọc sách của ông Hứa Hoành:

Nhân vật nổi dậy chống Tây:

Trương Định: Quê vợ ở Gò Công. Ông được triều đình Huế giao nhiệm vụ khai khẩn đất hoang ở đây. Trong thời gian nổi dậy chống Pháp, căn cứ của ông ở trong các “đám lá tối trời” Gia Thuận, thuộc Gò Công.

-Nhà văn tiên phong Nam Bộ, nổi tiếng khắp nước là ông Hồ Văn Trung, tự là Hồ Biểu Chánh, quê ở Bình Thành, Gò Công.

-Nhà báo Viên Hoành Hồ Văn Hiến, em ông Hồ Biểu Chánh.

-Nhà văn Lê Sum, tự Trường Mậu.

-Giám mục Nguyễn Bá Tòng.

Huỳnh Văn Khiêm, phủ hàm Khiêm, người rất yêu thích thơ văn, hào hiệp, được coi như một Mạnh Thường Quân xứ Gò Công.

-Công tử Georges Phước, tương tự như Hắc Công Tử (Sadec) hay Bạch Công Tử (Bạc Liêu), con đốc phủ sứ Lê Công Sủng. Ông Huyện Đậu là bố vợ Công tử Georges Phước.

-Ông Huyện Huỳnh Đình Nguồn, một nhà thơ yêu nước.

-Ông Huyện Hiểu, không rõ họ, vừa giàu có vừa hào hiệp.

Lê Quang Liêm, một công chức nổi tiếng của Tây.

-Người nổi tiếng nhất là Luật sư Vương Quang Nhường, quê ở xã Yên Luông Đông (xã của Vân), tốt nghiệp luật sư ở bên Tây, từng làm Bộ trưởng Giáo Dục thời Bảo Đại làm Quốc Trưởng, rể vua Thành Thái (mệ 16, tên Cưới – Linh ?, em vua Duy Tân), tức là “phò mã”. Ông cậu tôi, Bác sĩ Phan Văn Hy là chồng mệ 14. Vua Thành Thái có 22 công chúa, cùng có tên chữ đầu là Lương, như Lương Lang, Lương Linh,v.v …

Khi vua Thành Thái bị đày, chính ông Vương Quang Nhường vận động chính phủ Pháp cho cha vợ “qui cố hương”. Vua Thành Thái được về nước, sau đó băng hà ở Vũng Tầu nam 1953.

Ở Gò Công cũng có “Thiên Địa hội”, “phản Thanh phục Minh”, nhưng hoạt động không mạnh.

-Giáo sư Nguyễn Văn Bông, thạc sĩ Công Pháp Quốc Tế, Viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, lãnh tụ đảng Tân Đại Việt và chủ tịch Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến, quê ở Gò Tre, Gò Công. Ông bị ám sát chết ngày 10 tháng 11 năm 1971 tại Saigon.

Hiện nay, Gò Công có hai nhận vật nổi tiếng, còn sống, một là “Út Bạch Lan”. Không phải cô đào hát Út Bạch Lan mà một “đực rựa”, là anh hùng Quân Đội VNCH. Ông là đại đội trưởng Trinh Sát Dù, tốt nghiệp cùng khóa 22A trường Võ Bị Quốc Gia với “Hùng móm” (Hoàng Ngọc Hùng) là em út của tôi. Tháng 7 năm 1972, khi “Hùng móm” tử trận ở Quảng Trị, Út Bạch Lan khóc bạn: “Dambe, Charlies mày không chết, ai xui mầy về chết ở Quê Hương. Đau lắm Hùng ơi!”

Khi tôi bị chuyển về trại Cải Tạo Long Giao thì được “biên chế” vào một khối với Út Bạch Lan, nhưng Út đã trốn trại một cách thần kỳ một hôm trước đó rồi. Câu chuyện nầy tôi có kể trong hồi ký “Vết Nám” do Văn Mới xuất bản.

Thứ hai  là Bà Trương Mỹ Hoa, từng là Phó Chủ Tịch Quốc Hội, bây giờ là Phó Chủ Tịch Nước. Bà quê ở Gò Công, cách ăn mặc bị người ta chê: diêm dúa, hơi quê. Bà không tập kết Bắc, hoạt động nằm vùng ở miền Nam từ 1960. Bà bị chính quyền miền Nam giam tù 11 năm (từ 1964 đến 1975), trước khi Dương Văn Minh đầu hàng thì bà được tha ra khỏi tù.

Và, có lẽ không ai không biết “Con nhạn trắng Gò Công”: Phương Dung, với “Những đồi hoa sim” làm say đắm biết bao nhiêu người.

Vài lời kết:

 

Xin nói hai điều:

1)-Phong cách Gò Công.

Đi khắp miền Nam, người ta sẽ thấy cách sinh hoạt, tôi gọi là “phong cách” cho văn vẽ một chút, của người dân Gò Công giống phong cách người Huế, tuy không nhiều.

Mỗi gia đình đều biết gìn giữ “nếp nhà”, trọng lễ nghĩa, coi trọng việc học của con cái, giống như những gia đình trung lưu của Huế. Nhiều người thuộc họ Phạm, dòng dõi ông Phạm Đăng Hưng, nhưng họ không khoe khoang rằng mình “con vua cháu chúa” như người Huế.

Khi tôi còn sống ở ngôi nhà từ đường như tôi kể ở đoạn trước, mỗi chiều, khi tôi ngồi thổi Mélodica chơi ở trước hiên nhà thì thấy phía nhà đối diện thấp thoáng có bóng một cô gái cũng… ngồi chơi! Không biết cô có lắng tai nghe “Tiếng đàn tôi” hay không! Sau đó, hỏi chuyện cô, tôi mới biết cô tên Phạm Thị Hồng, dòng dõi cụ Phạm Đăng Hưng. Bất chợt cô hỏi tôi: “Trong các tác phẩm Tự Lực Văn Đoàn, anh thích nhân vật nào?”

Tôi trả lời: “Dũng của Đôi Bạn”. Cô ta cười: “Đó là nhân vật tiểu thuyết hóa, Trương mới là người thực hơn chớ.” Trương là nhân vật chính trong “Bướm Trắng”. Tôi hơi giật mình, học trò lớp Đệ Nhị mà có nhận xét như thế là tinh tế lắm, khác con gái Huế đấy!”

2)-Giai cấp thống trị.

Khi Tây xâm lăng nước ta, họ “dựng” một tầng lớp làm tay sai cho chúng. Những người được chọn làm tay sai là những người có đạo, tức là người trung thành với Giáo hội Thiên Chúa La Mã. Trong việc xâm lăng nước ta, quyền lợi của Thực dân và quyền lợi của Giáo Hội đan chéo vào nhau. Thực dân và “những tên thực dân mặc áo thầy tu” cũng chỉ là một mà thôi. Trong viễn tượng đó, một lớp người “yêu chúa hơn yêu nước” xuất hiện. Họ cùng một lập trường phản quốc như linh mục Hoàng Quỳnh: “Thà mất nước, không thà mất Chúa”. Lê Phát Đạt hay Nguyễn Hữu Hào là ở trong trường hợp nầy.

Sau đó, Tây thực dân mở rộng việc đào tạo tay sai, hay nói một cách nhẹ nhàng hơn, những người có Tây học, để giúp người Pháp trong việc cai trị. Hàng ngũ “trí thức mới” miền Nam. Đó là trường hợp các ông Diệp Văn Cương, Bùi Quang Chiêu, v.v…

Vì ảnh hưởng văn hóa Pháp, là môi trường họ xuất thân, ý thức thế nào là Bình Đẳng, Tự Do, Bác Ái (như trên lá cờ Pháp ba màu xanh trắng đỏ) và thế nào Dân Chủ, Độc Lập, chính tầng lớp trí thức mới nầy lại hoạt động chống Tây. Đảng Lập Hiến của ông Bùi Quang Chiêu, và các vị trong nhóm “Đệ Tứ Quốc Tế” và cả Hoàng Hậu Nam Phương.

Sau hiệp định Genève 1954, ngay một số linh mục du học ở Pháp về, cũng không phải là những nhà tu hành “ngoan ngoản” với Giáo hội Thiên Chúa La Mã. Họ muốn xây dựng một Giáo hội độc lập với La Mã.

Miền Nam VN trở thành nơi tập trung và phát triển tầng lớp Tây học, phần đông thuộc giai cấp tiểu tư sản. Trong khi đó thì Cộng Sản cũng nổi lên, từ sau “Nam Kỳ Khởi Nghĩa” và Nam Bộ Kháng Chiến, thuộc thành phần vô sản.

Hàng trăm năm qua, trong hoàn cảnh đất nước phân ly “chống Tây và theo Tây”, tiếp sau đó là “chống Cộng và theo Cộng”. Chưa bao giờ dân tộc Việt Nam ly tán, tranh giành, và thù ghét nhau sâu sắc như bây giờ!

Có phải đó là “con đường tiêu vong” của Dân tộc?

(Bài viết nầy để tặng Nguyễn Thị Vân, quê ở Gò Công, nhân ngày sinh nhật thứ 61 của Vân).

c)-Phan Rang, vùng đất tận cùng

Theo tổ chức hành chánh triều Nguyễn, Ninh Thuận, tên chánh thức, không được coi là một tỉnh vì diện tích nhỏ, dân ít. Tỉnh lớn, hoặc hai ba tỉnh gom lại, đứng đầu cơ quan hành chánh là Tổng Đốc (hàm thượng thư), tỉnh nhỏ là Tuần Vũ. Ninh Thuận cũng như Đà Lạt, “tỉnh” nhỏ nhất thì gọi là Đạo. Đứng đầu đạo là “Quản Đạo”. Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, năm 27 tuổi, trước khi làm thượng thư, từng giữ chức vụ “Quản Đạo Ninh Thuận.”

Một ít về lịch sử:

Thời Bắc Thuộc, ranh giới giữa Cửu Chân của Giao Châu và nước Chiêm Thành là đèo Ngang? Đời Lý, năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông đem quân đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Vua Chiêm xin dâng đất Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính để xin chuộc tội.

Đó là cuộc xâm lăng và chiếm đất Chiêm Thành đầu tiên của người Đại Việt.

Theo học giả Thái Văn Kiểm, những cái tên như Địa Lý, Ma LinhBố Chính, còn lại trong các vùng đất như huyện Bố Trạch, thuộc tỉnh Quảng Bình, và Vĩnh Linh, Gio Linh, thuộc tỉnh Quảng Trị.

Cuộc Nam Tiến của người Việt được tiếp nối với vua nhà Trần, “đổi” Công Chúa Huyền Trân để lấy đất hai châu Ô và Rí (sách viết là Lý. Viết Lý là sai, nhưng chữ Nho không có chữ Rí nên phải viết trại là Lý). Cũng theo cách suy luận như trên, tên châu Ô nay còn lại ở địa danh sông Ô-Lâu, ranh giới Quảng Trị Thừa Thiên, một trong ba con sông đổ nước vào phá Tam Giang, và Nam Ô (phía nam châu Ô), nơi sản xuất nước mắm nổi tiếng ở phía nam đèo Hải Vân.

Chính sách xâm lăng của “Đại Việt” trong cuộc Nam Tiến không thiếu phần độc ác và tàn nhẫn.

Sai khi Bình Định Vương đánh đuổi quân Minh về Tầu, Vương giành được quyền tự chủ, thì Chiêm Thành cũng không còn bóng quân Tầu, lại chịu ảnh hưởng Đại Việt. Chiêm Thành lại bị chia thành hai nước: Vijaya (Đồ Bàn) Panduranga (vương quốc).

Chia để trị vẫn là chính sách xưa nay trên toàn địa cầu.

Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh đánh Chiêm Thành. Sau khi thắng trận, và để tận diệt nước Chiêm, vua Thánh Tông chia Chiêm Thành thành ba nước: Chiêm Thành, Hóa Anh và Nam Phan, đặt ba nước có ba ông vua “mâu thuẫn nhau”. Tự ba ông vua nầy chống nhau, để “tự diệt”. Từ đó về sau, người Chiêm chỉ có thể thực hiện những cuộc nổi dậy nho nhỏ, chứ vua Chiêm không thể đem quân đánh phá Đại Việt như trước kia, và dân tộc Chiêm dần dần tiêu vong.

Ba nước Chiêm nầy ở phía Nam đèo Cả.

Để ghi lại công trạng của mình, vua Lê Thánh Tông lên “Núi Đá Bia”, tên chữ là “Thạch Bi Sơn”, cho khắc một bài thơ vào cái bia đó. Ngày nay, Thạch Bi Sơn vẫn còn bài thơ.

Dân tộc Chiêm bấy giờ chia làm ba: Một số còn bám lại đất tổ ở phía nam đèo Cả, chính yếu là ở Phan Rang và vùng phía tây xứ nầy, một số khác di cư về Châu Đốc, lập thành một xứ người ta gọi là “Chà Châu Giang” và một số chạy qua Cam-Pu-Chia. Trước vụ “cáp Duồn” ở Campuchia năm 1970, thời Sihanouk còn làm quốc trưởng, báo chí Saigon có nhắc đến Kasem, trưởng phòng Nhì của quân đội Miên, nổi tiếng tàn ác đối với người Việt bên xứ ấy. Y là người Miên gốc Chàm. Sự tàn ác của y có phải từ lòng hận thù người Việt đã tiêu diệt nước Chiêm?

Khi Nguyễn Ánh và Tây Sơn chống nhau, người Chiêm theo Nguyễn Vương. Vì vậy, sau khi lên ngôi, để trả ơn, vua Gia Long không có chính sách cai trị khắc nghiệt như dưới thời Minh Mạng.

Khi Nguyễn Ánh chống nhau với Tây Sơn, vua Chiêm là Po Saong Nyung Ceng từng phò trợ Chúa Nguyễn. Vì vậy, khi lên ngôi, Gia Long cho Po Saong làm vua nước Chiêm.

Khi Minh Mạng làm ngôi, vì sự mâu thuẫn với Lê Văn Duyệt, nhà vua kiểm soát chặt chẽ xứ Chiêm, bắt Phó Vương là Po Klan Thu (tên Việt là Nguyễn Văn Vĩnh) về giam ở Huế cho đến khi ông nầy qua đời.

Sự mâu thuẫn giữa vua Minh Mạng và Lê Văn Duyệt đưa tới chính sách cai trị có mục đích tiêu diệt văn hóa Chiêm Thành, xóa bỏ hoàn toàn “Vương Quốc Chiêm”, biến lãnh thổ nước Chiêm thành một tỉnh năm 1832. Nước Chiêm không còn, vua Chiêm cũng không còn và dân tộc Chiêm trên đường tiêu vong. Kinh đô nước Chiêm cuối cùng ở Phan Rang cũng không còn.

&

Phan Rang là thủ đô cuối cùng của dân tộc Chiêm.

Văn hóa Chiêm như ngọn đèn sắp hết dầu, bừng lên một chút ánh sáng rồi tắt ngấm. Có phải vì vậy nên ở Phan Rang có nhiều di tích tháp Chàm đẹp và hùng vĩ. Đó là tháp Po Klong GiaRai, Po RôMê xây dựng vào thế kỷ 17, Tháp Mỹ Sơn, Po Nagar… Tháp Po RoMe được coi là một “bản sao” của tháp Pô Klong Giarai.

Sau khi triều đại Chàm sụp đổ, hình ảnh và lịch sử cũng như dân tộc Chàm để lại nhiều dấu ấn trong lòng người Việt. Ông Lê Đình Khởi, – thầy giáo dạy lớp nhì của tôi, niên khóa 1949-50 -, trước 1945, ông từng làm việc nhiều nơi ở Đông Dương: Phan Rang và cả Phnom Pênh, từng nói với bọn học trò chúng tôi: “Khi đứng trước một cái tháp Chàm, lòng mình bỗng thấy buồn và như tiếc nhớ một cái gì đấy! Có phải trong dòng máu của mình có dòng máu của người Chàm. Trong quá trình Nam Tiến, không hẳn cha ông chúng ta không có việc pha tạp dòng giống giữa người Việt và người Chàm!”

Tuy nhiên, tập thơ “Điêu Tàn” của Chế Lan Viên, “khóc than” cho dân tộc Chàm, thì nhà thơ không phải là một người Chàm chính gốc như Chế Linh. Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, một thời ông làm thông phán ở Phan Rang. Có phải vì từng làm việc ở Phan Rang mà ông thấy “Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi.”

Phan Rang là nơi có vũ độ thấp nhất Việt Nam, vì vậy, đây là “vùng đất khô”, chỉ thích hợp cho những loài cây chịu khô, ít nước. Do đó, Phan Rang có một ít phẩm vật nổi tiếng, nhất là tỏi.

Giống như Bình Định, xuống xe ở ngay trung tâm thành phố, nhìn quanh, du khách chỉ thấy bốn bề là núi, không biết hướng nào là biển, hướng nào là núi, phải “định thần” một lúc mới nhận ra; nó hoàn toàn khác với Huế, nhìn về phía Tây, người ta thấy ngay dãy Trường Sơn, ngược với hướng Tây là hướng biển Thuận An.

Vậy mà người Huế và người Qui Nhơn đổ thừa cho nhau câu nói “Sơn bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá, nữ da dâm”. Cho tới bây giờ, nói cho ngay tình, tôi không biết câu nầy ám chỉ nơi nào. Phan Rang cũng bốn bề là núi như Qui Nhơn, nhưng không nghe ai dùng câu trên để ví với vùng đất Phan Rang.

Trên con đường đi về phía Nam, qua khỏi đèo Cả, du khách đôi khi cảm thấy lòng buồn, bâng khuâng, và cảm thương cho thân phận người di dân trong cuộc Nam Tiến của cha ông ta ngày xưa.

Thử nghe vài câu:

Mũi Nậy bảy bị còn ba,
Mũi Dinh chín bị không tha bị nào.

Đi ghe qua Mũi Nậy (nậy có nghĩa là lớn), ở Phú Yên, mang theo bảy bị gạo, ăn hết ba bị là qua được. Qua Mũi Dinh, ở Ninh Thuận, bảy bị gạo, ăn hết cả bảy, chưa chắc qua được. Vậy thì qua Mũi Dinh khó khăn và nguy hiểm hơn mũi Nậy nhiều. Mũi Dinh được xem như điểm “Cực Đông” của vùng bờ biển nước ta.

Tiếng ai trên núi véo von,

                        Phải chăng chú lính trên hòn Cù Mông,

                        Xa xa em đứng em trông,

                        Hỏi thăm chú lính thử chồng em đâu?

Đèo Cù Mông ở Bình Định.

Câu ca dao có vẻ gì như Chinh Phụ Ngâm vậy: Người vợ đi tìm chồng ở ngoài biên ải.

Vùng đất nầy, ngày xưa đáng sợ lắm đấy: “Cọp Khánh Hòa, Ma Bình Thuận” đấy. Ma Bình Thuận cũng là Ma Hời.

Năm 1964, sau khi làm giám thị kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp ở Quảng Ngãi, một số giáo sư chúng tôi, vô làm giám khảo ở Hội Đồng thi Nha Trang. Chúng tôi bèn họp nhau thuê xe hơi đi theo quốc lộ. Cho tới bây giờ, tôi còn giữ trong lòng tôi những cảm tưởng u buồn về chuyến đi ấy, nhất là khi đi qua đoạn đường Đèo Cả, lòng người lẫn lộn với những ý tưởng về cuộc Nam Tiến của cha ông ta ngày trước. Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, gian nan, khốn khổ còn hơn cả cuộc Tây Tiến của người Mỹ khi họ di cư về phía Tây.

Phan Rang là quê hương của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu.

Theo cách kê khai lý lịch của người Việt Nam từ xưa, quê quán hay bản quán của một người, phải kể từ nơi sinh cơ lập nghiệp của cha ông. Các Chúa Nguyễn phần đông sinh ra và lớn lên ở phía nam sông Gianh, nhưng quê quán của họ là Gia Miêu, Ngoại Trang, Thanh Hóa, phía bắc sông Gianh.

Nếu tính theo cách đó, thì Phan Rang chỉ là nơi sinh, nơi lớn lên, cư trú (khi còn trẻ) của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Vậy quê hương bản quán của Tổng Thống ở đâu?

Thân phụ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là cụ Nguyễn Văn Trung, gốc là một kép hát của một gánh hát rong nào đó, quê quán ở Cái Bè hay Cai Lậy. Xưa, có những gánh hát bội nhỏ, tương tự như kiểu “Gánh Hát Giữa Rừng” trong “Hương Rừng Cà Mâu” của Sơn Nam. Đó là những gánh hát bội – hồi đó cải lương chưa phát triển như sau nầy, di chuyển bằng ghe, từ xã nầy qua xã khác ở thôn quê. Nơi nào trù phú thì ghé lại hát ở đình chợ, đình làng năm ba nữa. Nơi nào vắng vẻ thì tối hát, sáng “dông”. Có khi tới mùa lúa, gặt hái xong rồi, thì chủ điền kêu gánh hát về, hát năm ba bữa cho tá điền coi chơi, miễn mua vé.

Gánh hát, trong đó có cụ Trung, khi ấy cụ còn trai trẻ, ghé lại làng Tri Thủy, rồi “nghe theo tiếng gọi tình yêu”, như cách nói của “văn nghệ cải lương”, kép Trung bỏ gánh, lấy vợ, lập nghiệp ở quê người.

Sau nầy, khi đã nên danh phận, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có cho người về Cai Lậy, Cái Bè tìm lại tổ tiên, nhưng không tìm được. Thời gian lâu dài và chiến tranh loạn lạc, không ai còn nhớ tới anh kép hạt bỏ quê quán, xiêu lạc nơi xứ người đã lâu.

Như vậy thì “huyệt đế vương” của Tổng Thống Thiệu, như ông thường nói, ở đâu? Không chắc ở Cái Bè Cai Lậy, có huyệt đế vương, nhưng đó cũng là nơi sản sinh ra “Vua Hề Trần Văn Trạch”. Làng hề cũng dễ lên ngôi vua. Thời Việt Nam Cộng Hòa, Saigon ít ra có những “Năm ông vua hề”.

Vậy chính đất Phan Rang là “huyệt đế vương” của Tổng Thống Thiệu chớ gì nữa!

Ông sinh trưởng là làng Tri Thủy. Nơi nầy, đúng là “địa linh nhân kiệt”. Trước khi vô làng, người ta phải đi theo một con đường đất, sau nầy được mở lớn, có một “bãi đá”, tên thường gọi là “Bãi Đá Dao” vì ngay chính giữa bãi là một tảng đá lớn, có hình mũi nhọn như mũi dao.

Bên kia “Bãi Đá Dao”, qua một cái vịnh nhỏ, là một ngọn đồi, có mấy tảng đá, dân làng gọi là “Đá Mặt Quỉ”, mặt mũi giống người, nhưng trông có vẻ ác như mạt quỉ.

Một bên là “Ông Thiện”, một bên là “Ông Ác”. Dân làng nói vậy. Dĩ nhiên, người dân gần gũi với ông Thiện và sợ ông Ác.

Hòn Đá Dao ngàn năm vẫn vậy, “vững như bàn thạch”, bỗng đầu năm 1975, hòn đá “tự nhiên” nghiêng sang một bên! Tại sao nó nghiêng được? Người ta không thể hiểu được! Có điềm lành, dữ gì hay chăng?

Trong đời có những “Điềm Lạ” hay có khi người ta gọi là “Điềm Trời”. (Xem “Điềm Trời” cùng tác giả trên VănTuyển.net)

Chẳng hạn như ở Vịnh Hà Tiên, “Hòn Phụ Tử” có cả triệu năm nay, bỗng mấy năm trước đây, “Hòn Phụ” bỗng đổ ùm xuống nước, khiến dân Rạch Giá “sáng tác” câu ca dao:

Than ôi “Hòn Phụ” đổ rồi,

                 Dũng còn chi nữa mà ngồi khóc than!

“Dũng” là Nguyễn Tấn Dũng đấy!

Lại bỗng nhiên, cũng thời gian với “Đá Dao” bị nghiêng, trên Quốc Lộ 1, đoạn qua Phan Rang, một đàn sâu đen, bò ngang qua đường, hết con này đến con khác, liền một dây cả ngày không dứt. Xe đò thấy vậy, e ngại điềm linh thiêng, không dám chạy qua, sợ cán nhằm sâu, làm cho xe bị kẹt một hàng dài.

Cựu Thiếu tá Nguyễn Văn Tiếp, một “bạn tù” của tôi ở Trảng Lớn, khi ấy làm Chánh Sở Tâm Lý Chiến, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quân Khu II, kể lại với bạn tù rằng chính anh lãnh nhiệm vụ điều tra việc “Sâu bò qua đường”, xác nhận việc ấy là có thật.

Vậy rồi Tổng Thống Thiệu từ chức ngày 21 tháng Tư năm 1975. Người ta coi ông như vị “Tổng Thống cuối cùng” của Việt Nam Cộng Hòa, vì Tổng Thống Trần Văn Hương hay Tổng Thống Dương Văn Minh, dù có thực hiện đúng thủ tục hiến pháp hay không, thì mấy ông nầy chưa cầm quyền chưa vững đã phải xuống chức.

&

Nhìn lại lịch sử, người ta có thể coi Phan Rang như là một nơi chấm dứt của hai triều đại: Sự chấm dứt của các vua Chiêm. Tại đây nước Chiêm Thành biến mất trên bản đồ, và sự chấm dứt của nước Việt Nam Cộng Hòa có vị tổng thống sinh quán ở vùng đất nầy.

Điều bí ẩn, – nếu người ta tin như vậy -, thì bí ẩn ấy là ở Phan Rang, vùng đất cuối cùng, chớ không phải ở Saigon, ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi Đại Tướng Dương Văn Minh, ra lệnh đầu hàng.

Sự chấm dứt của một triều đại, dù oan hay ưng, dù tốt hay xấu  như thế nào, cũng để lại trong lòng người một nỗi buồn, khi “tấn tuồng lịch sử” qua đi.

Có điều đáng buồn, tháng Sáu vừa qua, khi tôi đến Phan Rang vì việc nhà, không hiểu tại sao tôi không cảm nhận được “Hồn thu thảo” như của Bà Huyện khi Bà trở về thăm lại “Thăng Long thành”. “Tâm hồn chai đá” cũng là điều đáng tiếc cho những ai thấy đời người là đáng thương!

tháp PoroMe
Bản đồ thành phố Hà Nội

D)- Ông Ba Bị (“Vô ngã vị tha”)

Ở Huế, Thừa Thiên và các tỉnh phía Bắc Huế, những đứa trẻ cỡ tuổi tôi, có ba “ông” rất dễ sợ.

Một là cụ Ngáo, người giữ nhiệm vụ thi hành án chém của triều đình. Khi một “tội” nhân nào đó, bị vua phê “trảm”, có nghĩa là bị tử hình và xử bằng cách chém, thì cụ Ngáo thi hành cái án nầy. Khi ông Nguyễn Sinh Sắc – còn có tên gọi là Huy – thân phu ông Hồ Chí Minh – làm tri huyện Bình Khê, mang tội “say rượu đánh chết dân”, bộ Lễ điều tra, tôi trạng rõ ràng thì vua Thành Thái phê “trảm giam hậu” – nghĩa là tội “trảm”; may nhờ ông Ngô Đình Khả xin vua tha cho; nếu không, ông ta có thể bị cụ Ngáo chém rơi đầu rồi. Việc nầy, nếu đọc giả muốn biết rõ hơn, xin đọc bài “Quan hệ Ngô gia – Hồ gia” của tôi, in trong cuốn “Theo Dòng” do Văn Mới xuất bản; cũng có đăng trong VanTuyển.net

Trong vụ án Vua Duy Tân khởi nghĩa năm 1916, hai nguời cùng với vua âm mưu nổi dậy là Thái Phiên, Trần Cao Vân, bị chém ở bãi chém An Hòa, phía bắc Huế. Tôi không rõ cụ Ngáo có thi hành công việc chém hai ông nầy hay không. Ty nhiên, nói về việc người thi hành án chém, ở Huế, cụ Ngáo là người nổi tiếng nhất, không ai bằng. Cụ có tài “chém treo ngành”, như câu chuyện cùng tên trong “Vang bóng Một Thời” của Nguyễn Tuân.

Chém cách nầy là chém không cho đầu lìa khỏi cổ. Người bị chém bị trói tay vào cọc, vươn đầu tới. Đao thủ phủ vừa múa đao vừa hát, sau khi uống một chén rượu để “lấy gan” – có nghĩa là cho đủ can đảm, vì nhiều can phạm có cái thần sắc oai hùng làm cho đao phủ sợ. Lưỡi đao đi rất “ngọt”, nhưng để cho đầu tử tội khỏi rớt xuống đất lăn long lốc, đao phủ canh lưỡi đao “đi” như thế nào để phần da ở cuống họng không bị cắt, giữ cho cái đầu còn dính vào thân mình.

Cụ Trần Quí Cáp cũng bị Tây buộc triều đình Huế kêu án tử hình. Cụ Trần bị án “yêu trảm”. Yêu là cái lưng; thay vì chém ngang cổ thì cụ Trần bị chém ngang lưng.

Ở Huế, cụ Ngáo không có vợ con gì. Hễ cụ vừa tới đầu xóm, thì hầu hết các con chó trong xóm sũa dậy lên. Chúng vừa sũa vừa chui xuống trốn ở gầm giường. Người ta nói chó sũa cụ vì cụ hay ăn thịt chó. Tuy nhiên, hồi tôi làm việc ở dinh điền Cái Sắn, vùng định cư của người Bắc di cư năm 1954, người ăn thịt chó không thiếu, nhưng có thấy ai bị sũa như cụ Ngáo đâu!

Có người nói rằng linh hồn những người bị cụ Ngáo chém, thường lẩn quất quanh cụ, “oan hồn chưa siêu thoát, nên cụ đi đến đâu, chó sũa đến đấy”.  Vấn đề nầy, có thể thuộc lãnh vực siêu hình, linh thiêng, làm sao có thể giải thích tường tận.

Thứ hai là “ông Kẹ” hay có khi người ta gọi là “ông Ba Kẹ”. Ông Kẹ cũng là một nhân vật người lớn dùng để dọa trẻ con. Không rõ nguồn gốc ông Kẹ như thế nào, nhìn bề ngoài, ông Kẹ dữ hơn cụ Ngáo bởi vì ông Kẹ có “mười hai con mắt”.

            Nhân vật thứ ba là ông Ba Bị.

Như tôi có nói trong bài “Phong thủy đất Gò Công”, ông Ba Bị là một nhân vật có thực. Đó chính là ông Phạm Đăng Hưng, là “quốc trượng” tức là cha vợ vua Thiệu Trị, thân phụ bà Phạm Thị Hằng, tức bà Từ Dũ (Dụ), ông ngoại vua Tự Đức, từng có công lớn và làm quan các vua đầu đời nhà Nguyễn. Khi Nguyễn Ánh chưa lên ngôi, ông từng đem quân đánh Tây Sơn. Khi nhà Nguyễn dựng lên xong rồi, ông hai lần làm thượng thư bộ Lễ, được truy tặng Vinh Lộc Đại phu, Trụ quốc Hiệp biện Đại học sĩ.

Sau khi thôi làm quan, ông thường đi thăm thú các vùng quê, nhất là các tỉnh miền Trung. Đi đâu ông cũng vai mang ba cái bị lè kè, đựng ba thứ hạt giống lúa của miền Nam, phổ biến cho dân vùng ngoài ấy. Đó là những loại giống lúa tốt của miền Nam, năng xuất cao, lúa thơm ngon, v.v…

Thôi làm quan, ông ăn mặc bình dị, chân đi guốc mộc, quần áo nâu như người nhà nông, không “tiền hô hậu ủng”, không ngựa xe, v.v… Người dân kính trọng ông vì ông từng làm quan to, là quốc trượng. Dân còn sợ huống chi con nít. Thành ra, đối với những đứa trẻ hay quấy, ông trở thành một thứ ông Kẹ.

Trong cách nói và thói quen suy nghĩ của người bình dân, ông cũng là ông Kẹ để dọa con nít. Cũng trong cách nhìn cách nói như thế, ông Kẹ hay ông Ba Bị trở thành ông “Ba Bị chín quai, mười hai con mắt”.

Khi còn nhỏ, tôi cũng như các em tôi từng bị đe dọa như thế nên sợ ông Ba Bị. Vì vậy, có lần ba tôi rầy ông anh cả tôi: “Dọa em cái chi! Ông Ba Bị là ông Phật đó.”

Tại sao ông Ba Bị là ông Phật? Dĩ nhiên, dần dần, tôi không tin ông Ba Bị ăn thịt trẻ con, nhưng tôi cứ thắc mắc, tại sao ông ta lại là ông Phật.

Khi lớn, đọc sách – tôi không đi chùa – tôi “ngộ” ra, ông Phật không chỉ là ông ngồi trên tòa sen, tóc quăn, vai trần, quanh đầu có hào quang, hay “ôông” – nói theo kiểu người Huế, gọi một cách thân mật và tôn kính các vị “đại lão hòa thượng”, áo nâu sồng; ấy là “bần tăng”. Bần tăng dĩ nhiên là “tăng nghèo”, áo nâu có miếng vá ở cùi chỏ, chân mang guốc mộc. Phật cũng không phải là các “Phật tử thuần thành”, đọc “thiên kinh vạn quyển” mà là người “ngộ” Phật theo con đường cao siêu nhất: “Vô ngã vị tha”, có nghĩa không có cái gì của mình, là vô ngã, và biết cách sống cho người khác, “vị tha”.

Ông Ba Bị có cái gì?

Khi ông là Phạm Đăng Hưng thì ông có nhiều thứ: quan to trong triều, giàu có, lại cha vợ vua.

Nhưng khi ông là Ba Bị thì ông có cái gì?

Ông không có cái gì cả. Ông cũng mang guốc mộc, cũng quần áo nâu như người nông dân VN. Ông đi bộ như người nhà quê, không xe, không ngựa, không lính gác, lính hầu. Ông bỏ hết lại cho triều đình. Trong hình tướng đó, đúng ông Ba Bị là “vô ngã”. Ông chỉ có ba cái bị, đựng ba thứ hột giống để đem cho người nông dân làm giống gieo trồng. Ba cái bị đó chúng minh sự “vị tha” của ông.

Đúng! Ông là người “vô ngã vị tha”.

Ông là người thực hành đạo Phật. Ông là người tượng trưng cho đạo Phật VN, một thứ đạo Phật không giống đạo Phật của người Tầu. Ông là một Phật tử khác xa Đường tăng Tam Tạng, nhưng ông là một phật tử có thua gì ông Tam Tạng đời nhà Đường?

Trong cách nhìn đó, người ta thấy đạo Phật ở xứ ta khác với các tôn giáo khác, với đạo Phật các nước khác, một thứ đạo Phật ai cũng tu được, làm được, rất dễ làm, bởi vì “vô ngã vị tha” chính là cái căn bản của Phật dạy. Ông Ba Bị đã hực hiện lời Phật dạy, một cách đơn giản, ai ai cũng có thể làm như ông Ba bị vậy./

hoànglonghải

Hân-hạnh giới-thiệu Sách Mới: “THEO DÒNG” của TUỆ CHƯƠNG HOÀNG LONG HẢI

Đã xem 3717 lần

hoànglonghải - Phong thủy Việt Nam

Chân thành cảm ơn tác giả hoặc quý vị nào đó đã đăng bài viết này lên Quán Văn.

[ Thành viên mới xin ĐĂNG KÝ ]
[ Thành viên ĐĂNG NHẬP ] để đăng bài
(Quý vị sẽ nhìn thấy cách chỉ dẫn đăng bài.)

Máy chiếu VPL-DX240 XGA

Chuyên phân phối MÁY CHỦ DELL POWEREDGE T30 E3-1225 V5

Phân phối thiết bị mạng Cisco FULL mã

Máy in hóa đơn, máy in bill PRP-085 Giá hot

NỆM CAO SU KIM CƯƠNG TỔNG HỢP KHUYẾN MÃI TẶNG GỐI

Thuốc diệt GIÁN thần kỳ

Nhà Hàng SÀI GÒN PHỞ TOMBALL, TX CẦN NGƯỜI

Cần Sang Nhà Hàng Phở Vùng TOMBALL, TX

Bán xe Toyota Camry 2004. 2.4 mới cứng. Hệ thống máy móc tân tiến cùng dàn video từ nước ngoài

Cần bán 4 lô đất khu du lịch Cam Ranh và Diên An – Khánh Hoà

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách

Motel Nhi-Nhu-Yen nằm bên cạnh biển Nha Trang đón chào quý khách