hoànglonghải – Phong thủy Việt Nam

Xin Lưu ý: Công cụ “Tìm Kiếm Video” [Không Quảng Cáo] – b* Để xem video mới nhất (Bấm vào Filter bên góc phải. Sau đó chọn Date bên menu trái.)

Con ơi nhớ lấy lời cha,

Gió to sóng cả đừng qua sông Rừng

(Ca dao.

Sông Rừng là sông Bạch Đằng)

1)-Tổng quát

Việt Nam nằm chung với Lào và Miên trên một vùng đất, có tên gọi là Đông Dương.

Đông Dương, theo tiếng Tây là Indochina. Phân tích danh từ nầy, người ta hiểu rằng Đông Dương là nơi gặp gỡ của hai nền văn minh Trung Hoa (China) và Ấn Độ (India). Theo Wikipedia, nhà địa lý học Pháp gốc Đan Mạch Conrad Malte Brun là người đầu tiên xử dụng tên nầy trong sách của ông vào đầu thế kỷ 19.

Theo Brun, Indo gốc từ India (Ấn Độ), chớ không phải là từ Indonesia, thường gọi là Nam Dương, gốc là “India Archipelago”.

Từ rất lâu, người Âu Tây biết Ấn Độ trước, có thể do từ Marco Polo, làm quan bên Tầu đời nhà Nguyên (Mông Cổ) rồi viết sách quảng bá ra, khi đó Châu Âu chưa biết tới quần đảo Indonesia. Khi Kha Luân Bố tìm ra châu Mỹ, ông cứ tưởng lầm châu Mỹ là vùng phía Đông của Ấn Độ. Trong khi đó, Indonesia còn là một quần đảo chưa có tên quốc gia chính thức. Cái tên nước Indonesia cũng là do Tây Phương đặt cho.

Bởi vì phía Bắc Đông Dương là “Lục địa Trung Hoa”, phía Tây là “Lục địa Ấn Độ”, nên có khi người ta gọi Đông Dương là Bán Đảo. (Bán Đảo Đông Dương). Ngày nay, danh từ ấy ít được dung tới. Thời Pháp thuộc, có khi người ta gọi Đông Dương là “Viễn Đông”, (Far East). Saigon là “Hòn ngọc Viễn Đông”. Ngày nay, người ta gọi chung vùng nầy là “Đông Nam Á.”

Indochina là nơi gặp gỡ của hai nền văn minh lớn châu Á; một là văn minh China ở phía Bắc, và văn minh Ấn Độ (India) ở phía Tây.

Xét về vị trí, Indochina nằm ở phía Nam nước Tầu và phía Đông Ấn Độ.

Các nhà hàng hải Tây phương, và các giáo sĩ đạo Thiên Chúa, theo các tầu buôn của người Âu Tây mà đi giảng đạo, nhìn vấn đề một cách đơn giản, “ám thị” là lấy nước Tầu, China ở phía Bắc và Ấn Độ ở phía Tây mà đặt tên cho ba nước Việt Miên Lào là Indochina.

Một cách sâu sắc hơn, người ta thấy việc đặt tên ba nước nầy là Đông Dương thì không thích hợp, bởi vì ba nước nầy, không phải là của Tầu cũng như không phải là của Ấn Độ.

Ngay từ khi chúng ta học lớp Đệ Tứ, chương trình VNCH, về môn địa lý Việt Nam, các sử gia, giáo sư dạy cho chúng ta câu “VN là bao lơn nhìn ra ngã tư giao thông quốc tế”, nghĩa là từ Việt Nam, nhất là ở Miền Nam, nhìn ra biển, người ta có thể “thấy” tầu bè quốc tế chạy qua chạy lại trước măt mình, từ Nam lên Bắc, Tây qua Đông hay ngược lại. Phía ngoài lãnh hải Việt Nam là “Vùng biển Quốc tế” hay “Hải phận Quốc tế”. Các ghe “vượt biên” của những người trốn chạy Cộng Sản Hà Nội, sau năm 1975, khi ra tới “Hải phận Quốc tế” là yên tâm phần nào, không sợ tầu bè của Việt Cộng bắt giữ nữa.

So với các thành phố lớn Đông Nam Á, Saigon là trung tâm. Ta lấy một cái “com-pa”, mũi kim đặt ngay Saigon, quay một vòng, ta thấy Saigon là trung tâm của vùng Đông Nam Á nầy. Trước 1975, Saigon đã giữ được vị trí trung tâm ấy, nhất là về giao thông, đường không cũng như đường thủy. Sau 1975, vai trò ấy của Saigon đã không còn.

2)-Nam tiến, bao giờ thôi!

Cuộc Nam Tiến của người Việt, thường được tính từ thời Lý Thánh Tông, do công lao “phá Tống, bình Chiêm”, năm 1069. Vua Chiêm là Chế Củ, xin dâng đất ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính để xin chuộc tội.

Thật ra, nếu kể từ đầu, theo Léonard Aurousseau và M. Georges Maspero thì cuộc di dân về phía Nam của người Lạc Việt phải kể từ đời Tần Thủy Hoàng, sau khi ông hoàng đế nầy “tóm thâu lục quốc”, lập ra “đế quốc Tần”, xâm lăng nước Nam Việt của Triệu Đà. Một trăm tộc Việt bị Hán hóa 99, chỉ còn Lạc Việt “theo con chim Lạc mà đi về phương Nam, rồi định cư ở lưu vực sông Nhĩ Hà”. Những cuộc di dân về sau đó, chỉ là tiếp nối việc di dân của người Lạc Việt mà thôi.

Ngày nay, sau những làn “Boat people”, người Việt trong nước còn tiếp tục đi nữa, không phải là tiếp nối công trình của tổ tiên chúng ta, sau khi Triệu Đà mất nước hay sao?

Người ta có thể so sánh cuộc Tây Tiến của người Mỹ với cuộc Nam tiến của dân tộc ta. Năm 1910, sau khi hoàn thành công việc xây dựng căn bản thành phố San Francisco, với thời gian khoảng bốn trăm năm, việc di dân của người Mỹ coi như chấm dứt. “New Frontier” của anh em nhà Kennedy không thấy ai nhắc đến nữa, xứ Mỹ chỉ còn những “phong trào” người đến mà không có “phong trào” người đi.

Người Việt thì khác. Người đi còn tiếp tục đi nữa, mà chấm dứt thì chưa biết bao giờ.

Không có cuộc di dân nào thiếu mồ hôi, nước mắt và người chết. Không chắc cuộc Tây Tiến của người Mỹ và cuộc Nam Tiến của người Việt, không rõ “ai khổ hơn ai”, nhưng cứ đọc ca dao, chúng ta thấy người Việt gian khổ biết bao nhiêu!

Không bao giờ chúng ta được yên với người Tầu ở phía Bắc. Do đó mà chúng ta biết Nàng Tô Thị ở phố Đồng Đăng của Lạng Sơn:

“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,

Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.

Có chùa – làng nào cũng có chùa – có nghĩa là người Việt đâu có muốn gây sự với ai; nhưng ở yên thì người Viêt có bao giờ được yên. Ba năm trấn thủ biên ải một phiên, phân ly và đau đớn cho nhiều gia đình người Việt có “người đi thú” trên mạn ngược:

Ngang lưng thì thắt bao vàng,

Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài.

Một tay thì cắp hỏa mai,

Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền.

Thùng thùng trống đánh ngũ liên.

Quan sai xuống thuyền nước mắt như mưa.

Đốn tre đẳn gỗ trên ngàn,

Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai.

Miệng ăn măng trúc măng mai.

Những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng

Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng!”

Có vẫy vùng như thế nào đi nữa cũng chỉ trong cái giếng, không được giữa sông dài biển rộng.

Đó là hình ảnh người chồng; người vợ thì than thân:

Con cò lặn lội bờ sông,

Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non.

Nàng về nuôi cái cùng con

Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.

Năm 1558, Nguyễn Hoàng đem quân vào đóng ở Ái Tử, một cái truông nhỏ phía Bắc thị xã Quảng Trị:

Mẹ thương con ra ngồi cầu Ái Tử

Vợ trông chồng lên đứng núi Vọng Phu

Răng chừ nguyệt xế, trăng lu,

Con chim kêu mùa hạ, biết mấy thu hỡi chàng?”

Cách chơi chữ: thương con là tiếng Nôm. Ái Tử cũng là thương con, nhưng là “Danh từ Hán Việt”. Trông chồng là tiếng Nôm. Vọng Phu cũng là trông chồng, là “tiếng Hán Việt”. Hán Việt gốc là tiếng Tầu nhưng đã bị Việt hóa.

“Răng chừ” là bao giờ, tiếng địa phương “Quảng trị tui”. Lu là mờ, cũng là tiếng địa phương, “Quảng Trị tui”. Nguyệt và Trăng cũng là một. Tại sao phải nói tới hai lần Nguyệt và Trăng. Mà lại trăng mờ, như “Trăng mờ bên suối” của Lê Mộng Nguyên vậy. Đó là hình ảnh cô đơn, lạnh lẽo thường thấy trong văn chương, nhất là khi “trăng tà, bóng xế”, làm cho vợ hay mẹ thương chồng, thương con ở xa, đã lâu chưa về.

Con chim kêu mùa hạ, tức là thu sắp tới. Mùa thu là mùa ly biệt, mùa nhớ thương người ở xa, nhất là nhớ người ở ngoài biên ải, canh giữ kẻ địch ở phương Bắc, ở phương Nam. Những người đi canh giữ biên ải nầy, phải theo phiên, một phiên là ba năm, ngưuời lính thú đổi phiên vào mùa thu. Chinh Phụ Ngâm có câu:

Xót người lần lữa ải xa

Xót người nương chốn hoàng hoa dặm dài.

Hoàng hoa là hoa cúc vàng. Cúc nở hoa vào mùa thu.

Trên con đường đi vô phương Nam, người ta sợ cái gì?

Đường vô xứ Huế quanh quanh,

Non xanh, nước biếc như tranh họa đồ.

Thuơng anh, em cũng muốn vô

Sợ truông Nhà Hồ, sợ Phá Tam Giang!

Sau năm 1954, ở miền Bắc, đổi câu ca dao thành“đường vô xứ Huế” thành “Đường vô xứ Nghệ”. Nói như vậy là khiên cưỡng. Nghệ là Nghệ An, quê hương của Hồ Chí Minh. Vô xứ Nghệ thì không qua “Truông Nhà Hồ và phá Tam Giang”. Hai nơi nầy ở phía Nam xứ Nghệ. Nghệ ở phía Bắc. Vô, thông thường là đi “vô” nam. Từ Bắc đi vô Nam. Ngược lại thì gọi là đi “ra” Bắc.

Tản Đà viết:

Bao phen ra Bắc vào Nam

Bức dư đồ rách đã cam khó lòng.

Biểu tượng của Huế là sông Hương, Núi Ngự. Nó là hạnh phúc hay đau khổ?

Núi Ngự Bình trước tròn sau méo

Sông An Cựu năng đục mưa trong

Đôi ta như chỉ lộn vòng

Thương thì thương vậy, việc vợ chồng khó nên

Huế “quan cách vua chúa”, Huế “lễ nghĩa khó khăn”. Nó chỉ đem lại chia cách và đau khổ cho những người yêu nhau mà không lấy được nhau.

Huế, cựu kinh đô, dĩ nhiên có nhiều ca dao, nhiều người biết. Đây chỉ nhắc lại một câu từng có nhiều tranh cãi:

Gái đâu có gái lạ lùng,

Con vua lại lấy hai chồng làm vua.

Ngọc Hân công chúa là con vua Hiển Tông, trước lấy vua Quang Trung, sau lấy vua Gia Long. Người ta còn nói khi triều thần can vua Gia Long đùng lấy Ngọc Hân vì bà là vợ của kẻ thù, Gia Long nói: “Nước nó ta còn lấy, huống gì vợ nó.”

Câu chuyện nầy hoàn toàn sai vì người ta hiểu lầm. Người lấy vua Gia Long là công chúa Ngọc Bình, cũng con vua Hiển Tông. Người ta hiểu lầm công chúa Ngọc Bình là công chúa Ngọc Hân.

Qua khỏi Huế, người di dân gặp ngọn đèo cao 510 thước”

Chiều chiều gió thổi Hải Vân,

Chim kêu ghềnh đá, gẫm thân em buồn.

Cũng trong câu chuyện công chúa Ngọc Hân, chúng ta còn nghe câu ca dao nói về tình duyên giữa Ngọc Hân công chúa với vua Quang Trung:

Gió đưa mười sáu lá xoài,

Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi.

Câu chuyện công chúa Huyền Trân có nhiều gay cấn hơn. Khi vua Trần Anh Tông gã công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân, ca dao có câu:

Tiếc thay cây quế giữa rừng,

Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo.

Có nghĩa rằng cuộc hôn nhân nầy không “xứng đôi”. Công chúa là cây quế giữa rừng. Câu chuyện đâu dừng lại ở đó, nó còn là:

Tiếc thay hột gạo trắng ngần,

Đã vo nước đục lại vần lửa rơm.

“Hột gạo trắng ngần” là công chúa Huyền Trân. Vo nước đục là kết duyên với Chế Mân. Sau khi về nước Chiêm được hai năm, thì Chế Mân qua đời. Theo tục Chiêm Thành thì khi vua băng, hoàng hậu cũng lên giàn thiêu chết theo. Để cứu con gái, vua Nhân Tông hỏi triều thần có ai dám giả danh đi đám ma rồi lén đưa công chúa về lại nước ta.

Một người tình cũ của công chúa, Trần Khắc Chân tình nguyện làm công việc ấy. Tuy cứu được công chúa, nhưng thuyền hai người đi lạc trên biển, phải một năm sau mới về tới Thăng Long. Đó là câu chuyện “đi lạc” kỳ thú nhất trong tình sử của dân tộc chúng ta.

Trường Sơn là dãy núi “xương sống” của nước Việt Nam. Từ Trường Sơn, có những dãy núi “ngang”, từ Trường Sơn đâm ra biển, cản trở con đường đi về phương Nam của người Việt. Đó là những dãy núi giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, nổi tiếng với đèo Tam Điệp. Đèo Ngang nổi tiếng đẹp, nằm ở ngọn núi giữa Hà Tĩnh – Quảng Bình. Nổi tiếng hùng vĩ là Hải Vân giữa Thừa Thiên và Quảng Nam, và đèo Cả (cả là lớn nhất) giữa Khánh Hòa và Phú Yên.         

Hải Vân có Hải Vân quan, một thời binh lính triều đình đóng ở đây.

Người vợ đi thăm chồng, bỗng thấy:

Chiều chiều gió thổi Hải Vân

Chim kêu ghềnh đá gẫm thân em buồn

“Hòn Kẽm Đá Dừng” ở Quảng Nam, dù có đẹp như thế nào cũng không làm nguôi lòng người con:

Ngó lên hòn Kẽm Đá Dừng

Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi!

&

Tam Quan là xứ dừa nổi tiếng của tỉnh Bình Định. Dừa ở đây mọc tự nhiên theo bờ biển cũng có, người dân trồng thành vườn cũng có, không cần phải tiêu tưới gì cả, nên mới có câu ca dao:

Công đâu công uổng công thừa

Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

&

Đèo Cù Mông là ngọn đèo nguy hiểm nhất trên con đường Bắc – Nam VN, mặc dù đèo chỉ dài 7Km, cao 333mét; so vơi đèo Cả dài 12Km, cao 245mét; đèo Hải Vân dài 20Km, cao 510mét.

Trên con đường Nam Tiến, những chỗ có đèo, thường cũng là nơi binh lính đóng đồn giữ gìn biên ải. Chú lính trên “Hòn Cù Mông” trong câu ca dao sau đây, cũng là người lính thú ở phương Nam, thay cho hình ảnh người lính thú trong bài “ca dao con cò” ở phương Bắc. Người lính đi lâu quá, chưa về, nên người vợ phải di tìm chồng:

Tiếng ai trên núi véo von,

Phải chăng chú linh trên hòn Cù Mông.

Xa xa em đứng em trông.

Hỏi chàng lính mộ thử chồng em đâu?

(Ghi chú:

Lính mộ: lính tình nguyện.

Lính thú: Lính của nhà vua, có nhiệm vụ giữ gìn biên giới.

Lính lệ: Lính canh giữ nhà quan.

Lính dõng: lính canh giữ nhà quan ở miền thượng du. (Đại tướng Chu Văn Tấn, gốc là lính dõng)

&

Qua khỏi Bình Định, người ta thường e sợ “Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận”. Ngày xưa, Khánh Hòa nổi tiếng nhiều cọp. “Ma Bình Thuận” là Ma Hời. Hời là người Chàm. Chế Lan Viên, khi làm thông phán ở vùng nầy ông có thấy “Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi” hay không, hay ông chỉ hù họa người khác.

&

Sông Saigon, đoạn ngang Nhà Bè, là nơi gặp gỡ của hai sông Saigon và Đồng Nai. Xưa, ở đây có quán cơm trên một cái nhà Bè, khách thương hồ thường ghé lại ăn uống, trên con đường sông nước của họ. Ăn xong rồi thì người ta theo đường mà đi:

Nhà Bè nước chảy chia hai,

Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.

Xuôi thì về Gia Định, ngược thì lên Đồng Nai.

Ngày nay, Saigon không còn mang tên Saigon nữa, dân Saigon ngày nay, với cái tên thành phố mới, liệu người ta có bảo tồn được đạo đức như người xưa:

Đèn Sài Gòn ngọn xanh, ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu
Anh về học lấy chữ nhu
Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ.

Chữ “nhu” là chữ gì hỡi người thành phố tên mới “giàu xổi” ngày hôm nay?!

Con trai Nam Kỳ không thiếu người “ưa lấy vợ Huế”. Thế họ không biết con gái Nha Mân (Sa-Đéc) nổi tiếng đẹp xưa nay hay sao?

Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc
Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân
Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần
Thương em đứt ruột, tới gần lại run.

“Tới gần lại run” vì người con gái quá đẹp đấy!

Nhắc tới con gái Nha Mân, đừng quên con gái Thới Bình của tỉnh Rạch Giá xưa.

Trên con đường “Gia Long tẩu quốc”, bị quân Tây Sơn đánh đuổi riết, Nguyễn Ánh lên thuyền chạy trốn cho lẹ, không thể mang theo “bầu đoàn thê tử”; một lần ông để lại ở Nha Mân, một lần nữa ông để lại Thới Bình, nhiều người đẹp, coi như “cung phi mỹ nữ” của ông. Hai mươi năm sống ở xứ người, khi trở về lấy lại đất Gia Định rồi lên ngôi vua, những cô gái bị ông bỏ lại ngày xưa nay cũng đã già. Làm vua thì có bao nhiêu “người mới”, còn nhớ “người cũ” làm chi. Những “người đẹp” ngày xưa ấy, cũng có chồng con nơi họ bị “vua” bỏ rơi. Con cháu của giai nhân ngày xưa đó, nay là “con gái Nha Mân”, “con gái Thới Bình”.

Hình như con gái Thới Bình vướng một lời nguyền. Cô nào cũng che kín hai bàn tay bị bệnh phung. Những người lính VNCH xa xứ hành quân nơi nầy – như mấy ông bạn trong binh chủng TG của tôi –  không dám đụng tới những “người đẹp” nơi nầy bởi sợ dính vào lời nguyền như người dân ở đây truyền tụng.

Ông cha chúng ta ngày xưa không nhiều hận thù như người đời nay, nhất là những ai vướng vào một chủ nghĩa, tôn giáo.

&

Cũng khi “Gia Long tẩu quốc” ông để lại nhiều binh lính của ông ở miền Tây Nam Bộ. Họ trở thành người dân địa phương, là “người đến trước”. Mấy chục năm sau, khi Nguyễn Ánh đã lên ngôi, sợ bị trả thù, người Qui Nhơn theo nhà Tây Sơn bỏ xứ trốn vào Nam. Họ là những “người đến sau”, sống chung với “người đến trước.” Người đến sau bỗng thấy ngại ngùng:

Đến đây đất nước lạ lùng,

Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kiêng.”

Nhưng không có gì lo sợ cả vì “Người đến trước” giang rộng vòng tay đón “người xa xứ” mới đến:

Rồng chầu ngoài Huế,

Ngựa tế Đồng Nai,

Nước sông xanh sao lại chảy hoài,

Thương người xa xứ lạc loài tới đây.”

“Rồng chầu ngoài Huế”, nghĩa là xứ Huế đã có rồng chầu, tức là có vua, vua đã lên ngôi.

“Ngựa tế Đồng Nai”, là con ngựa của quan, đi trên Đồng Nai, là Gia Định đã ổn định việc cai trị.

Nhưng lưu dân vẫn tới, dù ngay xưa họ là hai thành phần đối nghịch nhau, người theo Nguyễn Ánh, người thuộc Tây Sơn. Họ thương nhau và chung sống với nhau trong tình đồng bào.

“Hòa hợp hòa giải dân tộc”, chính là ở nơi nầy, chính là trong tình nghĩa nầy, từ người dân quê Việt Nam, không phải do chính quyền “dạy dỗ”.

&

Vẫn chưa hết cuộc giang hồ.

Thế Giới chiến tranh thứ hai bùng nổ, người thanh niên Nam Kỳ thuộc địa bị bắt làm lính, cho “Nước Mẹ Pháp quốc” để qua đánh nhau với Đức bên châu Âu:

Tàu xúp-lê một, còn thương còn nhớ,

Tàu xúp-lê hai, còn đợi còn nhớ!

Tàu xúp-lê ba, tàu ra biển Bắc.

Tay vịn song sắt, nước mắt chảy ròng ròng.

Đôi ta mới ngộ mà ông Trời không thương.

&

Trong tiến trình đi về phương Nam của người Lạc Việt, dân tộc chúng ta có rất nhiều người mẹ, người vợ. Đó là “Nàng Tô Thị” ở Đồng Đăng, đó là “hòn Vọng Phu” của Nha Trang, Bình Định, đó là đèo “Mẹ Bồng Con” ở Long Khánh.

Trong dã sử, chúng ta còn thấy biết bao nhiêu “Hòn Vọng Phu” khác nữa, với nhiều câu chuyện truyền kỳ khác nhau.

Trong lịch sử các dân tộc khác nhau trên thế giới, có lẽ dân tộc nào cũng có hình ảnh những người mẹ can đảm, phi thường. Nhưng với dân tộc Việt Nam, sự can đảm lên núi trông chồng qua năm nầy tháng nọ:

“Người không rời khỏi kiếp gian nan,
Người biến thành tượng đá ôm con.

(Hòn Vọng Phu –Lê Thương)

Hay:

Người tung hoành bên núi xa xăm
Người mong chồng còn đứng muôn năm.

(bđd)

Thật kỳ lạ cho người đàn bà Việt Nam, bởi vì, chưa bao giờ tàn một giấc mơ thấy người chồng trở về.

Người chồng đi đã bao năm chưa thấy về
Đá mòn nhưng hồn chưa mòn giấc mơ

(bđd)

Muôn đời sau, liệu con cháu chúng ta còn não lòng khóc cho Bà như cha ông chúng ta ngày trước:

Một nghìn năm vừa mới thoáng qua
Núi non đau lòng nức nở khóc Bà

(bđd)

Và đến cả ngàn đời:

“Người người vẫn nhớ
Nhớ Hòn Vọng Phu….

(bđd)

Cái “Dũng” của người đàn bà, dân tộc nào cũng có, nhưng cái “Dũng chờ chồng đến hóa đá”  thì có lẽ chỉ có người đàn bà Việt Nam mới có mà thôi.

&

Thế rồi khi vào tới miền Tây Nam Bộ, tượng đá không còn là người phụ nữ mà lại là “Hòn Phụ Tử”. Có phải người đàn ông đã giành được danh tiếng của người đàn bà.

Tại vì công việc khai thác ruộng đồng miền Tây Nam Bộ khác trước rồi chăng. Đọc “Hương Rừng Cà Mau”, độc giả tìm được câu giải đáp nầy.

Dù cho khác như thế nào, vai trò người cha trong gia đình không thể thay thế người mẹ được. Có phải vì thế mà Hòn Phụ đã đổ ùm xuống nước, khiến người dân Kiên Giang bỗng có câu ca dao nhắc khéo Nguyễn Tấn Dũng:

Than ôi! Hòn Phụ đổ rồi,

            Dũng còn chi nữa mà ngồi khóc than!

Dũng là Nguyễn Tấn Dũng đấy!

3)-Phượng hoàng hay con cò mùa đông

Nhìn vào hình thể nước VN, người ta thấy giống hình một con chim:

-Vùng Móng Cáy như cái mỏ,

-Lào Kay như cái mồng.

-Đồng bằng Bắc bộ là cái đầu,

-Hà Nội là con mắt,

-Thanh Nghệ Tĩnh là cái cổ.

-Nam Ngãi Bình Phú là cái bụng trên.

-Đồng Bằng Nam Phần là cái bụng dưới,

-Hà Tiên là cái đuôi.

Người Việt Nam, vốn dĩ có lòng yêu nước, “chốn quê hương đẹp hơn cả”, như trong sách “Giáo Khoa Thư” thì hình thể nước Việt Nam, như mô tả ở trên là hình dáng một con chim, không phải con chim đại bàng như người Mỹ, mà là con chim Lạc, như trong lịch sử, cho thấy chúng ta thuộc dòng Lạc Việt, hay con chim Phượng – Hoàng, bởi vì chim là “tô-tem” của người Việt Nam. Vì thuộc dòng giống chim, nên bà Âu Cơ mới đẻ trứng, thay vì đẻ con.

Những người, “tơi tả” vì đất nước, dân tộc nầy, nhìn đất nước nầy với con mắt bi quan, thì ví hình dạng nước Việt Nam như một con cò, con cò thường thấy trên ruộng đồng, và cả trong văn học; thậm chí là con cò co ro, ốm đói đi kiếm ăn trong mùa đông giá rét; và dù đi nữa, thì con cò vẫn còn có một tấm lòng, “có xáo thì xáo nước trong”, “sống đục sao bằng thác trong.”

Tôi từng sống ở trại tỵ nạn Bidong những mấy năm, không thiếu những buổi chiều buồn, ngồi trên bờ biển Bidong nhìn vào bán đảo Mã Lai. Mã Lai cũng có một dãy núi xương sống, núi cao xanh biếc, trùng trùng điệp điệp chạy từ Bắc xuống Nam, nhưng trong thâm tâm, tôi thấy dãy núi xương sống của Mã Lai, không thể nào bằng rặng Trường Sơn của Việt Nam được.

Có thể hai rặng núi ngang nhau về tính cách hùng vĩ, nhưng nhìn trên bản đồ, rặng Trường Sơn uốn lượn hơn, uyển chuyển hơn, nên trông mỹ thuật hơn, không thẳng đuột một nét như rặng núi của Mã Lai.

Trường Sơn không đơn độc. Nó nằm chung trong “quần thể” của Hy Mã Lạp Sơn. Từ nơi “nóc nhà của thế giới” nầy, nhiều ngọn núi chạy dài theo nhiều hướng khác nhau: Hướng bắc với những ngọn núi ở vùng Trung Á; hướng tây với những ngọn núi đi về vùng Pakistan và Afghannistan; hướng nam với những ngọn núi phía bắc Ấn; hướng Đông với những ngọn núi vùng Hoa Nam và Trường Sơn của bán đảo Đông Dương.

Tuy nhiên, Trường Sơn lại nghịch hướng với dòng xuôi từ tây sang đông của vùng núi non vừa nói, mà lại chạy từ bắc xuống nam. Có phải vì vậy mà các nhà địa lý của ta, cho rằng Trường Sơn là “long mạch” của nước ta. Đó là long mạch lớn nhất trên địa cầu.

&

Với Đông Dương, Trường Sơn là nơi cao nhất, từ đó, cuối Trường Sơn là vùng đất thấp dần cho đến đồng bằng sông Cửu Long. Các ngọn núi Bà Đen, Cà Ná, Chúa Chan, Mây Tầu… là những ngọn núi rơi rớt cuối cùng của rặng Trường Sơn. Bên cạnh đó là vùng đất cao miềm đông Nam Bộ, thấp dần về phía đông Nam.

Hết núi tới gò, nên chi Gò Công là phần đất thấp cuối cùng của Trường Sơn, trước khi mặt đất chìm xuống dưới mặt biển. Phần nầy, tôi đã trình bày trong bài “Phong thủy đất Gò Công”.

Những “thầy địa lý Tầu”, từ cả ngàn năm trước, đã nghi ngại địa lý nước ta có nhiều đặc sắc, nói theo cách thông thường là “địa linh nhân kiệt”, có thể có một ngày nào đó, người Lạc Việ có thể phục hưng nước Nam việt của Triệu Đà, đưa người lên ngồi trên ngai vàng ở Bắc Kinh, nên các chú Ba tìm hết cách triệt yểm.

Đó là câu chuyện Cao Biền khi qua làm tiết độ sứ đất Giao Châu, nhiều tính cách huyền hoặc, trong truyền khẩu hơn là những sự kiện được bàn tới trong lịch sử và văn học nước ta, nên tác giả cũng không bàn tới ở đây.

hoànglonghải

(Các kỳ tới: Lịch sử và phong thủy đất Thăng Long, Thanh Nghệ Tĩnh, Huế và Saigon.)

Đã xem 13748 lần

Giới thiệu từ Quán văn

  • The Phantom of the Opera

1 Trackback / Pingback

  1. hoànglonghải – Phong thủy Việt Nam | CHÂU XUÂN NGUYỄN

Leave a Reply

Your email address will not be published.