Ông cháu họ Hoàng di chuyển bằng hai tuấn mã hồng thần, đi từ Giang Tô đến biên giới Việt-Hán (sông Dương Tử phía Nam có Động Đình hồ thuộc Nam Việt, phía Bắc có Bành Lãi hồ thuộc nhà Hán) Ông cháu họ Hoàng tạm trú tại Phong Lưu lầu tọa lạc phía Tây Động Đình hồ, hồ này lớn nhất Nam Việt, nước sâu xanh biếc, rộng bán kính hơn chín trăm dặm, những bải cát dài bờ, người ta thường gọi là biển Nội, mặt hồ thay đổi màu sắc từ sáng sương lam mờ đến đêm khua, sự đẹp trong ngày vào khắc tà dương, khi ánh sáng qua khắc tịch dương hóa hiện cảnh mộng, gọi hồn trữ tình cho thi ca ít nhiều cảm xúc, nhưng chưa hết sự đẹp của một ngày còn có khắc hoàng hôn đúng là cửa vào thiên nhiên đã bày ra trò chơi cho đời một cõi trần tiên ẩn hiện.

Tạo hóa cho Nam Việt một Động Đình hồ, danh lam thắng cảnh đẹp bất hư truyền, cũng là một cái đáy lưới thiên hóa chứa ngư sản phong phú, ngoài ra còn có củ sen, củ ấu đặc sản nổi tiếng nhất Nam Việt.

Đời sống dân cư ở đây sung túc, ngư dân tập trung sống trên mặt hồ, lập hơn trăm làng chài, dân số đông hơn thành phố. Trung tâm hồ còn có một cù lao lớn chừng ba mươi dặm, người ta tặng mỹ danh thủy tạ Động Đình Tiên, hồ này cũng là thủy lộ sinh tồn của sông Dương Tử.

Hoàng Hạc nhớ một thời tuổi bốn mươi, ông nguyên là đại tướng quân tiền đạo, đánh đuổi quân xâm lăng Hán ra khỏi Động Đình hồ.

Quân Hán thua bỏ hồn lấy xác chạy về bên hữu Bành Lãi hồ, nhờ vậy ngày nay toàn dân sống thanh bình, dân cư sinh hoạt rộn rịp, ghe thuyền tấp nập, quả là đất thần kinh khai quốc Lạc Việt, như ngàn năm xưa bảo phú đã truyền trong di phổ Lĩnh Nam.

Hoàng Hạc dừng chân ở đây chờ những người con đưa tin tức, để biết tình hình các nơi về thành Phiên Ngung tham dự đại hội anh hùng Bách Việt.

Ông cháu bước vào Phong Lưu lầu, chọn một chỗ ngồi khoảng khoát, nơi gốc trái gần cửa sổ ngắm cảnh biên cương quê hương đất nước và thưởng ngoạn một gốc vườn cây cảnh tô điểm khá nên thơ, nào là khóm tử trúc Nhật Nam, kỳ hoa Ngũ Lĩnh, chổ kia là kỳ thạch Động Đình hồ, nuôi cá huyền Cửu Chân, những mẫu đá khắc tượng nông gia đang làm việc ngoài đồng áng, phía trong lại điểm thêm một căn nhà mẫu nhỏ ba gian chữ nhất lợp tranh, thực là u nhã của mái ấm gia đình Lạc Việt, một tác phẩm non bộ miêu tả xã hội Bách Việt thanh bình.

Ngoài trời phảng phất khí hậu cuối đông đầu xuân của biên giới Nam Việt-Hán, hình ảnh thanh bình tràn vào tâm hồn họ Hoàng man mác, đang lạc vào cõi mộng du của hạt sương mai vừa mới khô trên đầu cỏ, điểm khởi của một ngày mới trong tâm hồn, ông thầm suy tư: Nói chung tiền nhân truyền lại cho con dân Bách Việt một giang sơn đất nước hùng vĩ, quả là thán phục người xưa có công dựng nước để cho đời sau thụ hưởng.

Chợt nghe bên đường vang dội những tiếng “vù vù…” Cát xa, bụi bay mịt mù, cây nghiêng lá vàng rơi theo vó ngựa. “Vèo vèo…” những ngọn cỏ ngó theo chiều gió của người vội vã phi nhân về hướng Nam.

Luồng suy tư tuôn trào trong lòng ông, có phải họ đang trên đường về Phiên Ngung thành chăng ? những họ là ai ? Sao mà vội vã lắm vậy ?

Những xôn xao ấy tạo trong lòng ông rộn ràng không ít, đưa ông về hoài niệm tình tự dân tộc, mà nó đã từng bồi dày theo tuổi ngoài tám mươi.

Mỗi khi ông được lệnh Nam Việt Vũ Đế triệu về Phiên Ngung thành để mưu sự việc quân cơ “Hợp Việt Xuất Hán” thì lòng lại càng thương nhớ quê cha đất tổ, nhất là hồi tưởng thuở tuổi mười hai phải theo ông cha xa quê hương lập nghiệp ở xứ người, tận mãi Giang Tô.

Những tiếng vó ngựa chầm chậm “lộp cộp” vang lên trên đường phố như gọi tỉnh thần trở ông về thực tại. Ông vội phóng vào vách cửa gỗ bên ngoài một “Mục bạch kim” làm ám hiệu nơi ông tạm trú, rồi tay quắt, miệng gọi tửu bảo:

― Hiền đệ, cho mỗ một bầu rượu năm chỉ và sáu cái bánh bao, à còn nữa nhờ hiền đệ chuẩn bị cho mỗ ba phòng trọ gần nhau. Tửu bảo khom lưng, khoanh tay trước ngược, lễ phép đáp:

― Dạ, thưa khách quan, chờ cháu một khoảnh khắc sẽ đem rượu, bánh bao ra liền, riêng ba phòng trọ cháu lo liệu có ngay, khách quan an tâm.

Lúc này có nhiều người khách cũng vào lữ điếm, có thêm sáu người mới vào ngồi một bàn cách nhau hai ông cháu họ Hoàng mười thước. Tửu Bảo thứ hai chạy đến mời :

― Thưa quí khách quan dùng thực đơn nào ? Tửu bảo này phục dịch có ngay. Một trong sáu người khách ưỡn ngực ra tỏ vẻ anh lớn trong cõi giang hồ, gọi:

― Nào một bầu rượu ba cân và sáu cái bánh bao. Tửu bảo khom lưng, trả lời :

― Khách quan chờ một khắc, không lâu cháu sẽ đem ra liền. Tửu bảo thứ nhất đem rượu, bánh bao đến bàn ông cháu họ Hoàng, ông lấy tiền ra trả cho Tửu bảo và tặng hai hào. Tửu bảo mừng vui đa tạ :

― Tửu bảo xin đa tạ khách quan, chúc khách quan thưởng thức bánh bao đặc sản của Phong Lưu lầu, hy vọng khách quan hài lòng khẩu vị. Họ Hoàng chưa kịp uống rượu, còn người cháu cũng chưa kịp ăn bánh bao.

Bỗng nhiên có một kình lực từ bàn sáu người lạ mặt phát ra, một tấm vải đen bay “vút vút” nội công khá khá lắm bay đến chuyển hướng thành vòng cung đến hớt lấy rượu, bánh bao, tấm vải bay trở về đem theo rượu, bánh bao rơi nhẹ xuống bàn của sáu người khách trẻ, họ cười khúc khích rồi lớn tiếng “ha hả” trong lòng họ lấy làm thích thú vô cùng, mời :

― Nào ngũ sư đệ, hãy uống rượu, ăn bánh bao tự nhiên, không phải trả tiền. Một người trẻ trong bọn nói theo:

― Ông lão kia đã trả tiền cho huynh đệ ta rồi, nào thuận nước đẩy thuyền uống rượu rông chơi, ăn bánh bao miễn phí thú vị lắm. Một trong lục lâm nói:

― Đại huynh, rượu ít quá không đủ uống, phải sáu lần rượu như thế này mới đủ ba cân.

― Tiểu đệ cứ từ từ mà uống, hôm nay là ngày huynh đệ ta sẽ uống hơn ba cân rượu đấy.

Tửu bảo thấy sáu ông khách quan này chính là huynh đệ Phùng Điền bang hành nghề giao dịch, từ Quế Lâm, Nam Hải, Côn Minh, đến Trường Sa riêng tại Động Đình hồ họ cũng có một trạm giao dịch. Thiên hạ đồn rằng họ giao dịch hàng chuyến, luôn cả hộ vệ đám tang đám cưới cũng nhận, không từ chối một thứ hàng nào miễn có tiền là được, đôi khi họ hành động như kẻ cướp, muốn lấy vật gì của ai không cần thưa, hỏi trước .

Ông cháu họ Hoàng tuy thấy cường đạo hành động vô lễ, nhưng vẫn bình thản không phản ứng, tiếp tục gọi tửu bảo:

― Hiền đệ tửu bảo lại đây, hãy xem như mỗ đã trả tiền cho sáu bạn trẻ kia vậy, bây giờ cho mỗ thêm một phần rượu, bánh bao nữa nhé.

Tửu bảo khoanh tay miệng lưỡi ấp úng, nói nhỏ đủ để cho khách quan nghe:

― Thưa khách quan hãy cẩn thận, mình nên giữ người đừng giữ của. Một lúc sau tửu bảo đem ra lần thứ hai, Hoàng Phi nhanh nhẹn xuất chiêu vào bánh bao, rồi đưa tay lên gãi đầu. Tiếp theo, một người khách trẻ xuất chiêu lấy rượu và bánh như lần trước, cả sáu người đồng thấy hai ông cháu họ Hoàng không phản ứng.

Ông lão họ Hoàng tiếp tục gọi rượu, bánh bao như hai lần trước, ông nói nhỏ chỉ đủ tửu bảo nghe:

― Sau khi những người khách quan bàn bên kia ăn no nê, thì hiền đệ đem rượu, bánh bao ra nhé. Tửu bảo thấy hai ông cháu này người hiền lành, đem lòng cảm tình. Tửu bảo nói nhỏ đủ để ông già nghe :

― Dạ khách quan, tửu bảo đã hiểu, nhưng xin thưa đừng để ý đến họ, xem như hôm nay không có việc gì vậy, có như thế mới an toàn cho khách quang. Thưa khách quan ở vùng này có một trạm giao dịch tên là Phùng Điền bang họ rất gờm. Hôm nay khách quan không được vui vì gặp phải tổng Phùng Điền bang, sáu người này ít xuất hiện ở đây !

Ngoài ra còn có các đảng cướp người Hán thường đến đây quấy nhiễu, như đảng Cờ Hồng, Cờ Hồ trên ngàn đảng viên, hai đảng này phần đông là người ở xứ Quế Châu, Phúc Kiến, Giang Tây được nhà Hán đứng sau lưng bao che, cứ thế mà họ lộng hành xem hồ Động Đình như trên đất Hán, thế lực của họ lớn lắm, họ thường vượt sông Dương Tử vào hồ Động Đình để ăn cướp.

À còn nữa tại đất Trường Sa này có đảng mãi quốc cầu danh, thế lực của họ như bóng ma giết người, ngoài ra có vài tổ chức kinh doanh lấy giang hồ làm thế lực tranh giành thương trường như rượu, tơ lụa, thực phẩm, gia súc, ngư nghiệp và đặc sản v.v… Họ giết người như nhổ cỏ, chính Phong Lưu lầu cũng phải đóng hụi chết cho các tổ chức đen ấy, tuy Ðộng Đình hồ này có ngài tổng phủ Cao Hổ Tiên, thật sự ra sức lo cho dân, thế mà khổ thay ! dù có chặt đầu thằng cướp này thì đầu thằng khác mọc ra càng tinh vi hơn, không thể nào tiêu diệt hết bọn gian ác. Hy vọng ngày sau, nếu có dịp tửu bảo này sẽ tiêu diệt hết bọn tham ô, ăn cướp, chính họ phá hoại xã hội và đục khoét dần tinh thần Bách Việt ta. Lão họ Hoàng từ khi vào Phong Lưu lầu cho đến giờ không nói một lời nào, ông thừa biết Động Đình hồ đang thanh binh thịnh vượng, nhưng cũng có mặt trái của xã hội, ông thở dài nói cho tửu bảo nghe :

― Mỗ thấy hiền đệ trẻ tuổi mà đã có lòng thương người, thân cốt cũng khá, khí tiết không tệ sẽ có ngày lập cơ nghiệp lớn, hôm nay mỗ rất hài lòng gặp được hiền đệ cũng đủ vui rồi. Ông nói tiếp. Nhưng rất tiếc tiêu diệt người Hán thì không khó, trái lại diệt người trong nhà mới là nan vấn ! Hay nhất phải có phương pháp sinh hoạt dung hòa xã hội mới mong giải nạn trong nhà !

Ông vừa nói đến đây thì nghe sáu tên Phùng Điền bang há miệng cổ ngẩng cao quát lớn :

― “ớ ớ”. Không ra lời khách quan trong Phong Lưu lầu lo sợ hoảng hốt có người nói:

― Miệng của huynh đệ Phùng Điền bang không ngậm lại được thế là nguy to, không chừng vạ lây phải tránh họ thì hơn ! Tất cả cùng một suy nghĩ. Chuyện gì đến với họ, tại sao họ lại bối rối như vậy, vì thế nào họ hoảng hốt ? Khách quan trong Phong Lưu lầu cùng nhau nói nhỏ :

― Ôi thôi nguy lắm rồi, tất cả chúng ta hãy từ từ rút lui ra khỏi nơi đây là vừa. Lục Phùng Điền bang gọi tửu bảo nói không ra lời:

― “ớ ớ”. Có ý đe dọa cả Phong Lưu lầu, ông lão họ Hoàng biết đây là do Phi nhi cảnh cáo lục nhân kia, khi Phi nhi đưa tay lên gãi đầu thì lúc ấy sáu “Mục bạch kim” phóng dựng đứng vào sáu cái bánh bao, người ăn phải bị hai đầu “Mục bạch kim” đâm thủng xuyên qua hàm trên, dưới và lưỡi, như vậy khó mà nói được, máu chảy lưa thưa như trời mưa chuẩn bị tạnh.

Tất cả khách quan trong Phong Lưu lầu kinh hãi, không một ai biết danh thủ nào, ai cũng sợ xanh mặt, họ tự biết thân phận mỏng manh như cánh chuồn chuồn, không phải là đối thủ Phùng Điền bang, đành bỏ lại những ly rượu, thức ăn còn dang dở, họ tự rút lui để giữ thân, họ tự động bảo nhau chuồn đi mau, ai nấy rời khỏi bàn, tuy vậy cũng có người tính hiếu kỳ tự hỏi. Tình thế hôm nay sẽ ra sao ? không ai trả lời.

Thôi thì đành vậy “tránh voi chẳng xấu mặt nào”, những khách quan tạm trú còn nói rằng. Có thể Phong Lưu lầu biến thành tro bụi không chừng ! Hai ông cháu họ Hoàng vẫn ngồi tại bàn ung dung bỏ mặc chuyện đời chung quanh, ông lão đưa bầu rượu lên uống khen.

― Rượu ở đây thơm hương vị như quế miền Trường Sơn, Âu Lạc. Người cháu khoan thai ăn bánh bao cũng khen:

― Tổ phụ ơi, bánh bao ở đây có hương vị nấm Mân Việt (Trường Sa) thịt heo Điền Việt (Tượng Quận) bánh bao này không thua gì mẫu thân của điệt Phi làm “tuyệt tuyệt” rất hợp khẩu vị, Tổ phụ ơi, ăn thử bánh bao ở đây có đúng như nhận xét của điệt Phi không ?

Bọn Phùng Điền sáu người đứng lên phi thân đến bàn của ông cháu họ Hoàng, tay múa, chân đá chỉ vào miệng ra dấu “ớ ớ”, thở dài từng chập, rồi hỏi:

― “ớ ớ” có phải lão trượng này hại huynh đệ tại hạ chăng ? Một gìa một trẻ kia từ đâu đến, xin hỏi lão trượng cao tính đại danh môn, ở địa phương hay từ đâu đến ? Ông lão họ Hoàng nhỏ nhẹ trả lời:

― Thưa quí huynh đài, mỗ đây họ Hoàng tên Hạc, đến từ Giang Tô, còn đây là điệt nhi của mỗ tên là Hoàng Phi. Năm nay mỗ đã ngoài tám mươi thì giờ đâu mà để ý đùa với quí huynh đài chứ. Lục Phùng Điền kinh hãi, hầm hừ kêu lên:

― “ớ ớ” có phải thằng lỏi họ Hoàng tên Phi này chăng ? Mi hại huynh đệ tại hạ chứ gì ? Hoàng Phi ngẩng đầu lên có vẻ tôn kính:

― Thưa quí đại huynh, tôi là một trẻ con, mới lên mười thì làm gì biết hại người, hai nữa quí đại huynh võ công phi phàm, nội lực bạt gió như thế thì ai mà qua mắt được. Bọn Phùng Điền suy nghĩ. Ừ nhỉ lão gìa đã ngoài tám mươi tuổi sức đã mòn đến ngày tận, còn thằng lỏi kia cũng thế, chỉ mới lên mười làm gì có nội lực uyên thâm, như vậy ai là người phóng kim vào miệng của huynh đệ mỗ, người này là ai mà không thấy xuất hiện, để xem bản lãnh như thế nào ? Một trong sáu đồng đảng “ớ ớ” lấy hết sức la lớn:

― Mời anh hùng xuất hiện, huynh đệ tại hạ xin nghinh tiếp hậu đãi. Không một tiếng người nào xuất hiện, tất cả hiện diện trong Phong Lưu lầu lặng ngắt như tờ, bọn Phùng Điền tinh thần khó xử, tâm tính hoan mang, da mặt đổi màu lộ lòng bẽn lẽn, trên trán đã xuất mồ hôi hột. Trước mặt chỉ còn đối diện Hoàng Hạc, Hoàng Phi vẫn tiếp tục uống hết bầu rượu và bánh bao, hai ông cháu rời khỏi bàn. Hoàng Hạc gọi tửu bảo:

― Hiền đệ, cho chúng tôi tiếp nhận ba phòng trọ. Hai ông cháu cùng theo tửu bảo lên trên lầu, ở dưới lầu chỉ còn lác đác vài khách quan hiếu kỳ, bọn Phùng Điền chân tay múa lung tung, tay cho vào miệng gỡ cây “Mục bạch kim” nhưng càng gỡ thì lại càng vô cùng đau buốt, miệng đã hả ra gần hai khắc, cả xương quai hàm bị ê ẩm, mỏi tê, họ xem đây là một cuộc tra tấn để báo thù, họ tự hỏi kẻ nào ở trong bóng tối hại mình. Thời gian trôi qua vẫn không thấy địch thủ xuất hiện.

Huynh đệ Phùng Điền bang, lúc này đã có lòng khiếp sợ địch thủ không tên tuổi, hình bóng cả sáu phi thân ra khỏi Phong Lưu lầu đi tìm thầy thuốc chữa trị. Hoàng Hạc tuy trong lòng để ý khen Hoàng Phi, nhưng không hài lòng thủ pháp phóng “Mục bạch kim” Ông dịu dàng mỉm cười :

― Này điệt Phi, thủ pháp khá lắm, nhưng nội công rất kém cỏi, tuy cư xử với bọn họ như vậy rất lịch sự, nhưng chưa phải là danh môn bản phái nhà ta, bây giờ điệt Phi xem tổ phụ phóng mười hai “Mục bạch kim” vào cây hồng lạp thành chữ Hoàng Phi, vậy đến đấy mà xem cây hồng lạp thế nào? Dạ:

― Thưa tổ phụ, chiêu pháp hay quá, như vậy tổ phụ phóng “Mục bạch kim” vào lúc nào mà điệt Phi không thấy ?

― Khi nãy tổ phụ lấy ngón tay quẹt ngang qua mũi là phóng luôn “Mục bạch kim” thay vì điệt Phi phóng “Mục bạch kim” rồi gãi đầu, nếu như người võ học kỳ tài thì đã biết điệt Phi là địch thủ, hai nữa điệt Phi gãi đầu không được tự nhiên, đó là cử chỉ sơ hở, không khác nào báo tin cho họ biết hành động của mình ! Vậy từ đây điệt Phi phải cẩn thận.

― Thưa tổ phụ, điệt Phi đã hiểu rồi ạ, còn mười hai “Mục bạch kim” của tổ phụ phóng ra thế nào mà lại êm ru vậy ?

― Khi tổ phụ phóng “Mục bạch kim” ra thì phải dùng nội lực đẩy mạnh vào trong “Mục bạch kim” nhớ đừng để nội lực phát ra âm thanh hay vang tiếng động, phóng ra nhanh nhẹn mà vẫn không có tiếng gió, ngọn đèn hồng lạp vẫn không rung động, đó là võ học “Mục bạch kim” của nhà ta vậy.

Hoàng Phi ngạc nhiên lần đầu tiên thấy thủ pháp của tổ phụ, chàng ngơ ngác ở điểm vận nội lực vào “Mục bạch kim”

― Thưa tổ phụ, điệt Phi có thể học được thủ pháp này không ? và nội lực của điệt Phi bao giờ sẽ được như tổ phụ ? Hoàng Hạc dáng điệu ung dung mỉm cười :

― Điệt Phi an tâm, tổ phụ sẽ dạy điệt Phi về nội công, thức biến, từ căn bản theo thời gian không bao lâu điệt Phi vận dụng thủ pháp cũng như tổ phụ, thôi tổ phụ cùng điệt Phi hãy luyện nội công, nhớ định thần nghỉ ngơi để lấy lại sức khỏe.

Bây giờ hãy ngồi tĩnh tọa vô tâm, lòng phóng tạp, mở cửa “Nê hoàn cung” hấp thụ khí Dương bên ngoài chuyển vào cửa “Nê hoàn cung” dụng thần kinh chuyển khí Dương đến “Đại truy” chuyển trở lại “Nê hoàn cung” thành khí Âm xuất ra ngoài như nước chảy từ từ, cả thân thể ấm áp là đi vào giấc nồng.

Ông cháu Hoàng Hạc ngủ ngồi một lúc hơn tam khắc, tinh thần phấn chấn, nội lực sảng khoái, xem như lộ trình đã đi qua từ Giang Tô, Tiết Giang, Phúc Kiến, Giang Tây, Hồ Bắc vào biên giới Bách Việt đã hai mươi bảy ngày mà không lao lực.

Hoàng Hạc nhớ lại, trên lộ trình đã đi qua địa phương nào có cộng đồng Bách Việt, thì hai ông cháu vào tạm trú một hay hai ngày, mục đích đàm đạo đại sự Nam Việt, nhân tiện đề cử người tiếp nhận lệnh bài tham dự đại hội anh hùng Bách Việt.

Còn hôm nay ở đây là Trường Sa, cũng đến lúc chuẩn bị đi thành Nhạc Dương thăm viếng những nghĩa hiệp năm xưa, như Quản Lộc đại phu, La Đức ngoại hiệu “Hiền Nhân Thiên Phủ” Phi Đình Hầu tướng quân Chu Thông Được ngoại hiệu “Trí Phù Nguyệt Đồng” Phiêu kỵ tướng quân Tô Trang Khan ngoại hiệu “Trường Thanh Hoa Pháp” đạo sĩ Trần Mạnh Côn ngoại hiệu “Đạo Hầu Chơn Nhơn” Thái úy Đinh Thành Châu ngoại hiệu “Bạch Vân Tiêu Sầu” đạo sĩ Trần Thượng Độ ngoại hiệu “Cố Đạo Trưởng Hiền”.

Hoàng Hạc chưa kịp đi thì Phùng Điền bang trở lại Phong Lưu lầu để tìm hai ông cháu họ Hoàng. Bọn họ nhất quyết khẩn định địch thủ chính là lão già, vì hai phần rượu cùng bánh bao điểm tâm khi sáng bị họ cướp lấy, thấy ông lão vẫn ung dung không phản ứng, quả thực đây là cao thủ.

Lúc này Phong Lưu lầu đông khách quan đến ăn uống náo nhiệt, khách quan ngạc nhiên thấy sáu tên Phùng Điền hổn hển, miệng phù đỏ ối như trái gấc, tay chỉ lia lịa “ớ ớ” hỏi tửu bảo:

― Tiên phụ họ Hoàng còn ở đây không ? Trên lầu có tiếng cửa phòng “kẽo kẹt” Hoàng Hạc ở trong phòng ngẩng đầu ra trả lời:

― Có mỗ đây, quí huynh đài gọi mỗ chuyện chi thế ? Sáu người phi thân lên cửa phòng, Hoàng Hạc vẫn đứng bình thản trước mặt huynh đệ Phùng Điền, cả sáu người đầy vẻ lo lắng, sợ hãi vì chưa bao giờ gặp uy lực như lão họ Hoàng. Về Hoàng Hạc cũng biết bọn này còn kém võ học lắm, nếu đem tỷ đấu luận anh hùng thì Hoàng Phi trên một cái đầu.

Hoàng Hạc bao giờ cũng ung dung là vì tính người không ưa gây sự. Hôm nay Phùng Hưng tự thu mình đem thân đến nhờ người, mới nói nhỏ nhẹ như thế, xem như họ đã biết người biết ta:

― Thưa tiên sinh, lục huynh đệ tại hạ đã phạm thượng, xin tiên sinh ân xá cho huynh đệ tại hạ một dịp cuối cùng, vì có mắt mà không thấy bạch tiên ông cho nên phạm lỗi lầm này, kính vạn tạ mong tha thứ. Hoàng Hạc suy nghĩ. Lục nhân trẻ này có nhân nghĩa chi đâu mà gọi ta bằng bạch tiên ông !

― Thưa quí huynh đài, mỗ không đích thân làm như vậy, nhưng mỗ giới thiệu quí huynh đài với điệt Phi, y có thể hoá giải được cho quí huynh đài. Hoàng Hạc gọi luôn Hoàng Phi :

― Điệt Phi đến đây tổ phụ cần.

― Thưa tổ phụ có điệt Phi.

― Tổ phụ nhờ điệt Phi hoá giải bệnh kỳ lạ cho quí huynh đài này nhá. Hoàng Phi cung kính cuối đầu xá tổ phụ:

― Dạ, điệt Phi vâng lời Tổ phụ, xin chào quí đại huynh, bệnh hả miệng chưa hết à ? Thôi được để tại hạ thử hoá giải xem có linh nghiệm không ? Lục huynh đệ Phùng Điền nghe Hoàng Phi nói vậy cũng phải đành liều mình, tuy trong lòng không chắc gì hết cơn nguy hiểm, chỉ còn cầu may ! Hoàng Phi nẩy ý. “Hù bớt một thêm hai” để cho cả bọn nhận ân phúc của ta :

― Thưa quí đại huynh, nhưng mà không bảo đảm lắm vì y thuật trị liệu của tại hạ còn kém lắm. Hoàng Phi suy nghĩ một lúc, nói tiếp. Thôi được, mời quí đại huynh vào phòng để tại hạ giải bệnh cho.

Cả sáu vào phòng mà lòng lo ngại, hoàn toàn không tin thầy lang trẻ. Hoàng Phi hiểu ý nói khích lục nhân:

― Quí đại huynh không lầm nhĩ thức đâu, đừng ngại, nếu nhĩ thức không tốt xem ra chẳng có gì quan trọng, nhưng cái miệng của tại hạ không tốt đó là mang phiền phức cho bản thân này, sao quí huynh không tin hả ? đến đây ngồi tĩnh tọa đi. Tất cả lục nhân tự động vâng lời theo tiếng nói có sức mạnh của người quyền lực, Hoàng Phi nói tiếp:

― Quí đại huynh ngồi xuống sàn nhà, theo hàng ngang tư thế kiết già, tinh thần tập trung phóng tâm, tại hạ bắt đầu xem kinh lịch mà chữa trị. Lục nhân ngồi xuống, tay trái Hoàng Phi điểm vào huyệt “Nê hoàn cung” gọi là một dương, tay phải điểm xuống huyệt “Đại thủy” gọi là một âm, chữa trị thứ tự từng người.

Cây “Mục bạch kim” biến mất, sáu bộ hàm của huynh đệ Phùng Điền vang lên thành tiếng “cụp cụp” quai hàm trong miệng trở lại bình thường, tuyến mạch được thông, bọn Phùng Điền có cảm giác thân thể như gói lộng cánh buồm, thuyền chạy lướt trên mặt biển, tâm thần sảng khoái bay bổng, máu hết chảy miệng đã êm êm, bọn họ đồng khen:

― Quả là tiểu tiên sinh có y thuật kỳ diệu. Cùng lúc cả sáu người vội vàng sụp thân xuống sàn nhà lạy tạ ơn Hoàng Phi:

― Lục huynh đệ tại hạ, xin đa tạ tiểu tiên sinh, đã cứu kiếp sinh, ơn người không biết đền đáp đến đâu cho vừa, ân công tuổi trẻ mà đã phi thường đúng là tế thế nhân sinh không biết đâu mà lượng, thưa tiểu tiên sinh như vậy cây sắt nhỏ nhọn hoắt ấy là vật gì vậy, hiện giờ nó đã bay ra ngoài miệng hay còn trong người, tiểu tiên sinh có thể cho huynh đệ tại hạ biết được khộng ?

Câu hỏi bất ngờ Hoàng Phi không tài nào ứng biến trước được, vội suy nghĩ. Ờ câu hỏi này cũng hay lắm, mình hãy tìm lời nói tâm y để buộc trói chúng lại không cho hành nghề bất lương thì hay biết mấy, thôi thì sự vô tình mình tạo ra ý tâm giao với họ, chàng mỉm cười:

― Thưa quí đại huynh, trước hết tại hạ gửi mỗi huynh một hộp gia y “Hoàng Hổ” thoa vào nơi đang ê ẩm, chỉ một thoáng qua thôi thì linh nghiệm ngay. Tại hạ biết cây kim hai đầu nhọn hoắt, hiện vẫn còn ở trong người của quí đại huynh, nó có thể vào kinh mạch, nếu vận dụng nội lực hay võ công thì máu sẽ di chuyển kim vào tim, nói chung tuổi thọ còn tùy sinh hoạt mỗi ngày của quí đại huynh.

Lục nhân Phùng Điền thở dài hiện ra sắc mặt buồn hiu, lòng suy nghĩ mênh mang, tuy thoát đau nhói cái miệng, nhưng không thoát sống cái thân, bây giờ đi ăn cướp không được nữa, muốn đi tu để thành đạo cốt tiên nhơn cũng không sống được bao lâu, quả là thời gian này xem như hẹn với tử thần.

Phùng Điền nay trở thành tàn phế nội công, ngoại thương đành phải sống thân hiền cho trọn vẹn với thế gian ! thản nhiên họ hỏi Hoàng Hạc:

― Bạch đại phu tiên sinh, lục huynh đệ tại hạ được sống như thế này là nhờ lệnh điệt của tiên sinh ra tay cứu độ, huynh đệ tại hạ không biết lấy gì để báo đáp ân công, huynh đệ tại hạ xin tặng hết sản nghiệp, cùng toàn thể huynh đệ Phùng Điền hơn hai trăm nhân khẩu xin theo hầu hạ đại phu tiên sinh và tiểu tiên sinh, chúng tại hạ từ nay nguyện bỏ nghiệp giao dịch.

Hôm nay chúng Phùng Điền có đôi lời tự hối với tiên sinh, thực sự mặt trái chính huynh đệ tại hạ hành nghề ăn cướp, nhân hôm nay xin cạn lời cùng đại phu tiên sinh, cũng như tiểu tiên sinh biết ít nhiều về sinh hoạt của lục Phùng Điền, nếu mai sau có mệnh hệ nào cũng không còn gì để ân hận !

Sáu người tự lòng hối cải, họ thực tình nói ra lời này với Hoàng Hạc cùng Hoàng Phi, họ thổ lộ không còn gì để giấu kín, họ nghĩ rằng có như vậy mới bỏ xuống tất cả tội lỗi oan nghiệt, để trở về với con người thực sự tốt, huynh đệ Phùng Điền tự dưng hớn hở lớn tiếng:

― Ôi cha chả y đơn Hoàng Hổ linh nghiệm thật, cảm ơn bạch đại phu tiên sinh, tiểu tiên sinh. Phùng Hưng thấy sự hoá độ của hai ông cháu họ Hoàng để lòng cảm kích, thổ lộ thân thế của mình:

― Bạch đại phu tiên sinh, tiểu tiên sinh, xin tiếp ba lạy kết nghĩa của lục huynh đệ tại hạ, đem thân này hầu hạ nhị vị tiên sinh, nhân đây xin giới thiệu tại hạ chính là tổng bang chủ Phùng Điền, họ Phùng tên Hưng, người này là nhị sư đệ Lữ Gia phó bang, tam sư đệ Trịnh Đình Thao trưởng quản tài chính, tứ sư đệ Lê Trung Kha trưởng quản nhân khẩu, ngũ sư đệ Mạc Thu Tá trưởng luật bang, lục sư đệ Hoàng Quốc Kỳ trưởng kế hoạch hành động.

Lục huynh đệ tại hạ không cùng họ nhưng khi gia nhập Phùng Điền thì theo họ của Phùng tổng bang chủ, xin đại phu tiên sinh tiếp nhận cho huynh đệ Phùng Điền được quy đầu về một mối sống dưới ân ban của đại phu tiên sinh và tiểu tiên sinh .

Cảnh ngộ chung quanh bất ngờ đưa đẩy không biết trước, âu cũng nguyên do sáu “Mục bạch kim” của Hoàng Phi mà trở thành lãnh tụ Phùng Điền bang.

Hoàng Hạc biết ăn nói làm sao bây giờ, tự suy nghĩ. Không ngờ điệt Phi chưa xuất thân giang hồ mà đã có bản lĩnh như thế, tuy nay mới mười tuổi mấy tháng mà nó đã như người từng trải, vân du khắp nơi, nó biết cách ứng phó linh động, nó bảo sáu tên cướp ngồi theo hàng ngang trước mặt ta, có nghĩa là nó nhờ ta tiếp nhận lấy sáu “Mục bạch kim” tuy Hoàng Phi không nói ra nhưng ta đã biết ý nó, thôi thì lúc này đang cầm cây phất trần gia bảo trên tay nhận lấy sáu “Mục bạch kim” cũng hợp tình thế .

Trong khoảnh khắc Hoàng Hạc đã tiếp thu sáu “Mục bạch kim” vào cây phất trần rất tinh diệu, lúc ấy Hoàng Phi tay quét một âm, một dương vào huyệt “Nê hoàn cung” và “Đại thủy” pháp thuật cũng tạm tinh diệu, hai ông cháu biết diễn biến sáu “Mục bạch kim” bay ra khỏi miệng của huynh đệ Phùng Điền, Hoàng Hạc khen thầm. Điệt Phi quả có thông minh hơn cha là nhà có phúc, nhưng không biết tương lai biến đổi theo thời gian thì thân căn của nó sẽ đi về đâu. Hôm nay mỗ không thể thấu hiểu trước việc tương lai của Hoàng Phi ! rồi ông ôn tồn với lục huynh đệ Phùng Điền:

― Mỗ vân du nay đây mai đó thì không thể nào tiếp nhận ủy thác của quí huynh đệ được, nhân đây mỗ muốn biết quí huynh đệ sinh sống trong vùng này như thế nào để biết liệu việc mai sau. Nếu có ngày gặp lại mỗ xin chén thù tạc cho phải tình thâm. Phùng Hưng chầm chậm cúi đầu.

― Kính thưa đại phu tiên sinh, lục huynh đệ tại hạ vốn là người bốn phương trời kết nghĩa tại huyện Phù Ninh ngã ba Giao Chỉ, Quế Lâm và Thượng Quận, nguyên Phùng Hưng họ tộc Điền Việt quê quán Thượng Quận, Lữ Gia họ tộc Âu Việt quê quán Giao Chỉ, Trịnh Đình Thao họ tộc Mân Việt quê quán Nam Hải, Lê Trung Kha họ tộc Lạc Việt quê quán Nhật Nam, Mạc Thu Tá họ tộc Thái Việt, quê quán Giao Chỉ, Hoàng Quốc Kỳ họ tộc Lạc Việt quê quán Trường Sa. Địa danh hoạt động Trường Sa, Quế Lâm và Nam Hải, mỗi nơi có từ năm đến tám trạm giao dịch, tại hồ Động Đình này có một trạm, thực chất sống bằng sức mạnh ăn cướp của người, biết rằng sống như thế không tốt, đôi lúc huynh đệ tại hạ cũng suy nghĩ ra tay làm hiệp nghĩa, nhưng tiếc thay không gặp người đồng hành ý tưởng hiệp nghĩa. Nay may gặp đại phu tiên sinh, tiểu tiên sinh giáo hóa, hy vọng mai này thực hiện chí người hữu dụng mà không hổ thẹn lương tâm của kiếp sinh.

 Huynh đệ tại hạ tạo nghiệp được một sơn trại có trên hai trăm bang chúng tọa lạc khắp nơi, đời sống sung túc, dự trữ phòng hờ thiên tai có thể sống hơn ba năm liền mà không sợ đói khó.

Thưa đại phu tiên sinh cái tính trẻ huynh đệ tại hạ khi sáng lấy rượu và bánh bao đó chỉ là đùa cho vui, chứ không phải cố ý khiêu hấn hay vì đói khó, âu cũng vì huynh đệ tại hạ tuổi trẻ lớn nhỏ ba mươi, hai chín. Hoàng Hạc cảm tình lục nhân, ông suy nghĩ. Tuy họ là người thảo khấu thật, nhưng khi biết phục thiện ắt là người tốt, mai sau họ sẽ hơn những người ngoài miệng nói đạo nghĩa mà trong lòng chứa toàn là kế hại người. Ông trầm ngâm một lúc:

― Thì ra tất cả quí huynh đệ, là người Bách Việt cả, hay lắm mỗ đây là người Lạc Việt tổ tiên của mỗ quê quán Quế Lâm và Giao Chỉ, mỗ sinh ở kinh đô Phiên Ngung, khi lên mười hai thì một phần gia đình di cư lập nghiệp Giang Tô, còn lại một phần gia đình lập nghiệp Cửu Chân, như vậy quí huynh đệ cùng mỗ một nhà Bách Việt, hôm nay gặp nhau như thế này cũng là do ân tứ của tổ tiên Bách Việt hợp thành.

Nhân đây mỗ đề nghị quí huynh đệ theo mỗ làm việc tốt cho tôn tộc Bách Việt, hãy bỏ cuộc tranh giành sức mạnh, đời sống ích kỷ cá nhân. Có như vậy thì võ nghiệp của quí huynh đệ mới dùng được vào việc hưng thịnh cho tôn tộc Bách Việt, không biết quí huynh đệ có ý này không ? Hoàng Hạc vốn tính cẩn thận, thăm dò suy nghĩ trong tính khí của lục Phùng Điền. Ông hỏi tiếp:

― Quí huynh đệ có bao giờ nghe nói đến “Hợp Việt Xuất Hán” chưa ? Phùng Hưng tình lòng chan chứa xúc động vì đã nghe thân phụ giải thích cụm từ này nhiều lần, vốn Phùng Hưng con nhà tướng, văn võ song tuyệt, tự xuất khẩu để trả lời chí khí của mình :

Làm trai vị xã tắc tay gươm

Hề ngại lòng đất ươm chí cường

Giang san gọi núi sông thương

Áo vải thân sơ lên đường binh mã.

Tất cả vỗ tay khen ý lời của huynh đệ Phùng Điền. Phùng Hưng nói tiếp.

― Sự nghiệp của lục Phùng huynh đệ kể từ đây xem như xung công tạo hưng thịnh Bách Việt, bây giờ xin đại phu tiên sinh định liệu cho chúng đệ tử. Riêng cụm từ “Hợp Việt Xuất Hán” tuy đệ tử có nghe người lớn nói cách đây hơn sáu năm.

Thực ra Phùng Hưng đã nghe chính gia gia là Phùng Nam đàm luận đại sự với quí thúc phụ, nhưng không để lòng vì xa nhà đã hơn mấy năm, cho nên không để ý việc xã tắc, nay có dịp nghe lại mới cảm động đến lòng nhớ gia gia. Phùng Hưng thưa tiếp:

― Đệ tử có nghe mà không biết nghĩa lý mục đích của “Hợp Việt Xuất Hán” có quan hệ gì với Bách Việt mình như thế nào, cũng không hiểu ai chủ trương !

Hoàng Hạc suy nghĩ tinh tế. Những tuổi trẻ này có tư chất, khí khái lắm nhưng không gặp may, riêng về lời nói của Phùng Hưng, cũng đủ hiểu người lớn đây có thể là thân thuộc của Phùng Hưng mới biết “Hợp Việt Xuất Hán” nếu không nhằm chính Phùng Hưng này tướng mạo hao hao Phùng Nam. Ông an lòng vui mừng, ôn tồn:

― Được rồi mỗ đề nghị như thế này, toàn bộ sự nghiệp của quí huynh đệ tự xử lý lấy, chuyển thành kinh doanh, nhân lực tại Động Đình hồ ngày mai di chuyển địa điểm, thay đổi người, dùng đường sông để di chuyển, lập thành mối dây liên lạc với nhau, riêng về cụm từ “Hợp Việt Xuất Hán” sau này quí huynh đệ sẽ hiểu nguyên do. Trí tuệ Phùng Hưng bừng sáng hiểu ý kế hoạch của Hoàng Hạc, Phùng Hưng khoanh hai tay trước ngực, cúi đầu thưa:

― Đại phu tiên sinh, lời giáo huấn quả là thần lực, kính phục, thế thì lục đệ tử không phụ lòng tổ phụ, ngày mai sẽ hành động ngay, bán tất cả tài sản lưu trữ tại hồ Động Đình và các nơi khác chuyển thành kinh doanh đường sông, đường biển, nhưng không biết lộ trình đi sông đi biển, vậy nhờ tổ phụ chỉ giáo:

― Tốt lắm, sau khi mua được ghe thuyền, mỗ sẽ giới thiệu Hoàng Vũ cùng một số người giàu kinh nghiệm về lộ trình đường sông, đường biển am tường qui luật sinh hoạt trên mặt nước, hiện nay cần thiết có khái niệm sinh hoạt tổ chức đội ngũ ghe thuyền. Ông dừng lại để uống một hớp trà xanh, rồi nói tiếp: Ghe thuyền có nhiều loại như sau.

Ghe Linh làm bằng nan, chất liệu tre để đi câu cá. Ghe Đĩnh dùng bằng thân cây lớn dài rồi khoét bộng, ở Nam gọi ghe Linh hay ghe Lườn. Tu Lự thuyền lấy những thanh ván gỗ đóng lại thành thuyền lớn, còn gọi là ghe mành, ở Nam gọi là ghe Bầu. Ghe Cửa hoạt động ở cửa biển dùng để đánh cá. Đại Trường Đà thuyền lớn có nhiều buồm cũng để đánh cá và đi buôn. Ghe Hầu để cho quan di chuyển, ở Bắc gọi là Lâu thuyền, cũng dùng vào đi buôn hay du thuyền. Qua Thuyền có gắn mũi qua tức là chiến thuyền, đặc biệt có hai tiếng lóng là “Thuyền rồi” ý nói kỹ thuật đóng thuyền tinh xảo. Phùng Hưng vui mừng:

― Tổ phụ tiên sinh, nhờ sự khai sáng nay chúng đệ tử sẽ thực hiện được những lời chỉ bảo, nhân hôm nay xin khai tử Phùng Điền, đổi lại danh xưng mới là Hoàng Đức không biết ý tổ phụ tiên sinh thế nào ?

― Mỗ nghĩ danh xưng mới Hoàng Đức cũng hay lắm, khai tử Phùng Điền sáng lập Hoàng Đức, nghĩa là “Da vàng đức độ” có phải thế không ? riêng về sinh hoạt nội bộ mỗ tin tưởng lục huynh đệ thừa khả năng hành xử đúng sở nguyện, nhưng phải nhớ “Nghĩa bất thủ tài” biết linh hoạt thì mọi hành động sẽ được như ý. “Từ bất chưởng minh” đương nhiên việc làm nào cũng chú ý huyền biến, muốn cứu người thì phải có bản lãnh cứu mình, vì mình đang đứng trước mọi thử thách.   Thành đại sự không nệ tiểu nhục, lập đại công không ngại lỗi nhỏ, trách nhiệm quân tử mưu tài bất mưu phú.

            Khi đã nhận mình là Hoàng Đức thì phải có ba cách nhìn người để biết sở thích của họ, người ham công danh đôi mắt thường nhìn lên mão dưới hia, người háo sắc thường nhìn thân thể phái nữ, người tham tiền thì sáng mắt chỉ biết tiền, ba loại người này không trong sạch, có rất nhiều khuyến điểm, nắm được họ thì sai bảo theo ý mình. Quí huynh đệ cũng nên nhớ không được dồn người nhút nhát thành sợ hải, khi họ sợ hải thì tự họ biến thành dũng sĩ, lúc ấy huynh đệ là chuột sợ mèo, khó mà tránh nguy bởi mình tạo ra. Lời phân giải lý tình của Hoàng Hạc xoay chuyển huynh đệ họ Phùng ý thức được lộ trình hữu sự phải đi, cũng đến lúc suy tư phục thiện, sống để góp phần vào cuộc đời thăng hoa. Phùng Hưng cảm động:

― Thưa đại phu tiên sinh, chúng ngu đệ tử trí tuệ hẹp hòi Phùng Điền đổi thành Hoàng Đức, chỉ có nghĩa ý để tạ ân công, luôn luôn nhớ đức hạnh của tiểu tiên sinh, đã hướng dẫn lòng người đến hữu dụng, không ngờ Hoàng Đức lại là “Da vàng đức độ” đa tạ ơn sâu của tổ phụ tiên sinh giáo huấn. Lục huynh đệ tử đã giác ngộ, từ nay nguyện thực hiện mục phiêu “Da vàng đức độ” từ đây chúng đệ tử không phụ mỹ ý của tổ phụ tiên sinh, ban ân đức tinh thần Bách Việt, lục gia đệ tử nguyện một lòng vì sơn hà xã tắc. Phùng Hưng giục giã huynh đệ:

― Này ngũ sư đệ Hoàng Đức hãy đi theo sư huynh để kịp thời giờ chuyển trạm. Xin tạm biệt tổ phụ, tiểu tiên sinh, hẹn tái ngộ chiều ngày mai. Hoàng Hạc đứng dậy theo phép chủ nhà chào:

― Mỗ, hẹn quí huynh đệ đồng tái ngộ. Lục Hoàng Đức cũng chào rồi xuống lầu, trong tửu lầu đông khách quan ăn uống náo nhiệt. Lục Hoàng Đức hối hã ra khỏi Phong Lưu lầu. Lại có người quát thật lớn : Tất cả đứng lại. Như thể muốn kéo giật thụt lùi lục nhân. Người lạ mặt thứ hai tiếp theo lớn tiếng:

― Này lục Phùng Điền tất cả không được ra khỏi nơi này, hãy nạp tiền mãi lộ mới được bước chân ra khỏi cửa, ngân kim mang trên người để hết trên bàn này ! Cờ Hồ mỗ quản lý cho, nếu trái lệnh mỗ mượn tạm lục thủ cấp làm lễ vật tế thần linh Cờ Hồ, còn nữa trạm giao dịch của họ Phùng tại hồ Động Đình mỗ sẽ phóng hỏa cho chúng bay theo mây khói. Vâng lời thì sống chống lại thì chết, suy nghĩ thật kỹ đi, đừng để muộn màn. Phùng Hưng quát lại, tay chỉ vào mặt đồng đảng Cờ Hồ quát nạt:

― Im miệng, ai lấy thủ cấp thì chưa biết rõ, trước mắt mỗ chỉ thấy cẩu Cờ Hồ đảng không còn lối quay đầu về Hán, cũng nên nhớ một khi vào hồ Động Đình có khác nào “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quân quan Hán” có phải thế không ? Khôn hồn cút ngay, nếu còn đứng ở đây thì đừng trách mỗ, bằng không xin mời tuốt kiếm ra đón tiếp vài chiêu, lần này mỗ ra tay vì mục đích trừ khử bọn ác như cỏ dại Cờ Hồ, nay không trừ trước thì ngày nào đó cỏ dại sẽ mọc lên che phủ Trường Sa .

Phùng Hưng vừa nói dứt lời, đẩy ra một chiêu mười hai thức kiếm “Trụ long thành” trong “Tuyệt cao kỳ kiếm” vang lên hai tiếng “bốp bốp” Phùng Hưng nói tiếp. Mỗ cảnh cáo trước Cờ Hồ đảng, từ đây không được vào đất Nam Việt, sao không rút lui còn đứng đó ?

Tên Cờ Hồ đảng hứng chịu một chiêu của Phùng Hưng, đứng không vững té gục đầu xuống bàn, hai tay dan ra như thể ôm đống ngân kim. Trịnh Đình Thao phi thân đến bàn ngân kim quát to:

― Cờ Hồ đảng quân hung đồ, đừng trách mỗ, lục huynh đệ của mỗ nay chính là Hoàng Đức thực hiện tinh thần hiệp nghĩa, còn tên Phùng Điền đã khai tử từ lâu. Mỗ là Trịnh Đình Thao dù có ngân kim cũng không để cẩu Cờ Hồ các ngươi lấy được một đỉnh hào nào .

Trịnh Đình Thao nói đến đây nhớ lại lời của Hoàng Phi căn dặn, “Nếu dụng nội lực võ công thì cây bạch kim sẽ theo mạch máu vào tim” liền phi thân lên lầu hỏi Hoàng Phi:

― Thưa ân công, nếu như động võ thì có quan hệ gì đến cây kim trong người không ? Hoàng Phi suy nghĩ một chặp mới nói:

― Đại huynh an tâm, tại hạ đã có cách trị liệu, như vậy quí đại huynh vận dụng hết tinh lực kiếm pháp, sau đó tại hạ xem lại kinh mạch chận cây kim không cho vào tim, sau đó tìm cách lấy cây kim ra không thể để mất cơ hội, đây cũng là dịp tốt trừ được bọn giặc cỏ Hán, quí đại huynh tự nhiên tung hoành. Trịnh Đình Thao cười cầu tài :

― Dạ. Đôi chân xuất chiêu phi thân xuống lầu đứng trên bàn có ngân kim, Trịnh Đình Thao ra mật hiệu. Chiến đấu một mất, một còn, để cho ngũ huynh đệ dụng hết tuyệt kỷ kiếm pháp. Phùng Hưng, Lữ Gia, Lê Trung Kha, Mạc Thu Tá, Hoàng Quốc Kỳ phi thân cùng lúc đến bảo vệ Trịnh Đình Thao. Phùng Hưng nghiến răng:

― Hôm nay mỗ xử sự chứ không phải xử người, ép mỗ thì đừng trách. Riêng số ngân kim này tại hạ xin trả lại cho quí khách quan, còn đồng đảng Cờ Hồ ba mươi tên, lục huynh đệ tại hạ xin lấy gió tanh mưa máu chan rưới vào đất cho chúng đi thăm Diêm-vương về chầu nhà Hán. Huynh đệ tại hạ xin hứa cùng quí khách quan, từ nay Cờ Hồ đảng không còn đất sống tại Động Đình hồ và kể từ hôm nay người Hán phải sống bên bờ Bắc hồ Bành Lãi. Tại hạ quyết định quét sạch hai đảng Cờ Hồ, Cờ Hồng xin mời tuốt kiếm.

Cờ Hồ thấy thế lực Phùng Hưng chỉ có lục nhân thì coi không bằng nửa con mắt, còn nghĩ rằng võ nghiệp của lục Phùng cũng tầm thường thôi. Đầu đảng Cờ Hồi hứng chí cười :

― “Hà hả” Mỗ nguyên đệ tam thập nhị Cờ Hồ đảng, hiện đứng đầu ba mươi nhân mã há sợ bọn Phùng Hưng ư ? Mã Cao chỉ vào mặt Phùng Hưng, như thể muốn lấy mạng đối thủ:

― Tại hạ họ Mã tên Cao, đệ tam thập nhị Cờ Hồ đảng, chắc Phùng Hưng kia cũng đã biết đến danh mỗ rồi, những kẻ nào đã biết danh mỗ mà còn đứng đó xem như nước giải xuất trước khi đầu rơi xuống đất. Mã Cao nói tiếp. Quí huynh đệ đâu, binh khí tuốt trần lấy đầu lục tử họ Phùng cho mỗ. Phùng Hưng tay chỉ vào mặt, mắng:

― Tốt lăm, tốt lắm, cẩu Cờ Hồ tên ngựa què điên, hãy đội mồ cao bay xa chạy, mi chỉ là một mã phu miệng nhai cỏ mục, loại Hán trọc đầu hiếu chiến, hãy xem ai lấy đầu ai cho biết. Phùng Hưng tính khí không phải sợ chết, nói tiếp.

― Nhưng trước khi đi vào tỷ đấu sống còn, mỗ xin hỏi Mã Cao lần cuối cùng. Tại sao đảng Cờ Hồ không ăn cướp ở đất Hán mà lại vào Động Đình hồ, Cờ Hồ đảng có biết rằng mỗi khi vào Động Đình hồ ăn cướp đương nhiên biết lối vào còn lối ra thì không, hôm nay Cờ Hồ chết nơi này rồi đấy.

À còn nữa, ăn cướp đêm có thể châm chước được, ăn cướp ngày khó tha, ngày tàn của bọn ô hợp này xem ra đã đến lúc rồi, tại hạ thử hỏi lần cuối, đảng Cờ Hồ có khả năng ra khỏi nơi đây không ? Phùng Hưng cười “hà hả” lớn tiếng rồi nói tiếp.

Từ khi mỗ lập nghiệp có mang tiếng ít nhiều là ăn cướp, nhưng chỉ ăn cướp của nhà giàu, quan lại tham ô, chứ chưa hề lấy tài sản kẻ khó, mỗ cũng có giết người nhưng chỉ nhắm vào cường hào, ác bá, đạo tặc để bảo vệ dân lành, chứ chưa bao giờ gặp ai giết nấy, còn đảng Cờ Hồ giết người vô tội, ăn cướp bừa bãi như vậy là hành động bất lương, không nhân cách, nay mỗ hành xử theo tinh thần giang hồ để trừ khử đảng Cờ Hồ, tay kiếm của mỗ nay có dịp thách thức một phen. Mã Cao bị Phùng Hưng nói thẳng không sợ rơi đầu, cho nên nét mặt Mã Cao hóa ra xám thẫm, hầm hừ.

― Đã là ăn cướp mà còn nhân đạo, ăn cướp nửa vời thà làm cẩu cho rồi, ăn cướp mà không có thế lực thì khác nào chết không đất để chôn, dù sao hôm nay mỗ cũng mượn Phong Lưu lầu làm nghĩa địa chôn bọn Phùng Điền. Lữ Gia gằn giọng, tay chỉ vào mặt Mã Cao quát lớn:

― Cờ Hồ đảng đúng là loại óc heo, lưu manh, mưu đồ cấu kết quyền lực với nhà Hán, vượt biên giới vào đất Động Đình hồ để ăn cướp, vơ vét tài sản của Lạc dân Nam Việt, dùng ngân kim cấu kết gian thần Nam Việt, hầu bành trướng thế lực gian tế cho nhà Hán, tài năng của các ngươi chí có thế đấy ư ? Bọn đảng Cờ Hồ bị Lữ Gia chỉ mặt, vạch trần đồ mưu tội ác của chúng, Mã Cao không nói được nửa lời, đỏ mặt lớn tiếng:

― Bây giờ lấy sức mạnh phân thắng bại đó là chân lý giang hồ, không cần nói nhiều, xin mời. Phùng Hưng tay cầm chuôi kiếm, trong bụng chửi thầm. Hôm nay huynh đệ ta ra tay được một lời hai, thứ nhất là trừ được bọn Cờ Hồ, thứ hai là chính cứu lấy mình ra khỏi cái chết cây kim trong người, Phùng Hưng cực kỳ vui mừng .

― Hay lắm, hay lắm, mỗ có một đề nghị ra khỏi Phong Lưu lầu, ngoài kia rộng rãi tỷ đấu thoải mái, xem ra ai sẽ lấy đầu ai ? Mỗ quyết rằng dù nay có cả thập nhị cẩu đảng Cờ Hồ cũng chôn tập thể ở đất Động Đình hồ.

Riêng cái bàn ngân kim kia, người thắng cuộc đấu này được quyền tùy nghi sử dụng, như vậy có được không ? Mã Cao gật đầu đồng ý, liền phất tay động tác hiệu lệnh, đồng đảng phi thân ra khỏi Phong Lưu lầu.

Lúc Mã Cao phất tay cũng là lúc xuất ám khí phấn độc “Bạch âm tính” có khả năng phá công lực đối phương, tuy lục Hoàng Đức không đề phòng ám khí, nhưng đã tránh được nhờ cây phất trần của Hoàng Hạc đẩy gió bạt vào phấn độc chuyển qua hướng khác. Lục Hoàng Đức đồng phi thân theo. Phùng Hưng đứng trước mặt Mã Cao mời:

― Mời đệ tam Cờ Hồ ra chiêu trước. Mã Cao tay cầm đao phi thân tiến tới rất nhanh :

― Này Phùng Hưng đỡ. Mã Cao tay đao kình lực hạ đơn điền, xuất nội công một chiêu năm thức “Trụ lư phong” mười thành công lực bao phủ bốn mặt, tiếng xé gió “vù vù” tất cả bộ hành trên đường phố nghe cũng phải nhức đầu óc, những ai không có nội công cao đành phải tránh xa nơi tỷ đấu bốn trượng.

Lục Hoàng Đức đồng xuất kiếm nhẹ như tay cầm cành lá, vận nội công kiếm thép, tinh thần sản khoái không rung động trước chiêu số của địch thủ. “Trụ lư phong” đã xuất đao đụng với kiếm liên hồi “keng keng” xã giao hai mươi hiệp chưa phân thắng bại. Phùng Hưng vận nội công mỗi lúc kiếm thép tỏa hồng như lửa trong lò đúc, xuất hai chiêu mười thức “Huyệt thành phong kiếm” trong “Tuyệt cao kỳ kiếm” phi từ cao đánh chẻ xuống, tinh lực mũi kiếm rung động “vu vu” thân pháp, chiêu thức tinh kỳ “vụt vụt” đâm luôn ba chiêu mười lăm thức vào đỉnh “Nê hoàn cung” Mã Cao không kịp đỡ chiêu kiếm đành phải chết trong vòng thành chiêu thứ sáu “Đại huyệt kiếm” thân người bị chẻ ra làm đôi. Còn Lữ Gia, Trịnh Đình Thao, Lê Trung Kha, Mạc Thu Tá, Hoàng Quốc Kỳ đồng sử dụng một trăm lẻ tám thức “Phong tâm kiếm” nội lực tuy kém hơn Phùng Hưng, nhưng đủ sức lấy mấy chục thủ cấp của đồ đảng Cờ Hồ, bộ hành trên đường phố cổ võ tiếng vang một vùng, ai cũng hoan hỷ chúc mừng lục hiệp Hoàng Đức, trận chiến đã kết thúc, lục Hoàng Đức vào Phong Lưu lầu ôn tồn tuyên bố :

― Mỗ nhờ quí khách quan đem mấy chục xác đồng đảng Cờ Hồ chôn tập thể, mời quí khách quan tiếp nhận lại ngân kim, tuyệt đối không ai được nhầm lẫn của ai. Hoàng Hạc ở trên phòng trọ không ra mặt, Hoàng Phi đứng trên lầu thấy huynh đệ của Hoàng Đức xử thế với khách quan như vậy đem lòng cảm kích, nhất là thán phục võ nghiệp kiếm pháp “Tuyệt cao kỳ kiếm” và “Phong tâm kiếm” tinh diệu, ở Hoàng Hạc biết lục Hoàng Đức bị trúng một phần nhỏ độc phấn.

Không gian Phong Lưu lầu trở lại bình thường, Hoàng Phi mời lục Hoàng Đức lên lầu, vào phòng để xem lại kinh mạch:

― Quí đại huynh đưa tay ra để tại hạ xem mạch lý thế nào rồi ? Hoàng Phi xem mạch từng người một, lúc nào trên mặt cũng chăm chú vào tâm lý của lục huynh đệ Hoàng Đức, Hoàng Phi thở nhẹ lên tiếng:

― Quí đại huynh chú ý khi tại hạ lấy cây kim ra thì nhớ thoa thuốc “Hoàng Hổ” vào nhé ? Lục huynh đệ Hoàng Đức đồng lên tiếng:

― Dạ. Hoàng Phi chữa trị cho Phùng Hưng trước, Hoàng Hạc tâm tư suy nghĩ. Hoàng Phi tuy tuổi còn nhỏ mà đã có những ý nghĩ rất mới lạ, biết dụng tư duy biến thành hành động, biết thu phục nhân tâm biến thù thành bạn, mà không cần động võ. Trước đây mỗ xem Hoàng Phi cũng như mười đứa cháu khác, nếu có tài trí cũng không thể nào hơn sáu trai, hai gái của ta được, ta rất tự hào những người con ấy, chuyến này mỗ đi Phiên Ngung đem theo Hoàng Phi, vì nó là đứa con út của Hoàng Chỉnh. Hôm nay không ngờ Hoàng Phi biết tùy nghi ứng xử theo hoàn cảnh, tuy ta đã từng trải hơn năm mươi năm giang hồ, mà vẫn không đoán trước được ý của cháu mình, hiện ta là nhà mưu lược của Nam Việt Vũ Đế đương thời, mà vẫn còn chậm chạp trước tình thế do Hoàng Phi tạo ra, thử hỏi tương lai Hoàng Phi có hữu dụng được cho Lạc Việt không ? quả là một câu hỏi hôm nay ta khó trả lời. Hoàng Hạc nghĩ tiếp. Mỗ văn võ lưỡng toàn, nguyên là đại phú gia đất Giang Tô, thế mà vẫn sống như một Lạc Việt bình dân, người đời chỉ biết ngoại hiệu Hạc-kiếm-cầm-tiêu “Sử dụng độc huyền cầm, thổi tiêu, tỷ võ cùng lúc” nay ta hy vọng tư chất Hoàng Phi sẽ là Hoàng Hạc mai sau. Một tiếng ôi cha của Phùng Hưng cắt luồn suy nghĩ Hoàng Hạc.

Ông thấy Hoàng Phi rút một cây Mục bạch kim từ huyệt “Hồ thanh ngưu” của Phùng Hưng, ông an tâm vì huyệt này vô hại, cùng lúc Phùng Hưng thoa thuốc “Hoàng Hổ” vào chỗ mũi kim, Phùng Hưng thấy rõ cây kim rút ra vừa kinh hãi, vừa mừng trong dạ từ nay thoát chết rồi, miệng cười sảng khoái:

― Đa tạ tiên sinh ân công, đã cứu mạng lục Hoàng Đức, nay chỉ biết đền đáp bằng cách lấy kiếp sinh mà sống trọng nghĩa với tiên sinh. Hoàng Phi tươi cười:

― Ân công, lễ nghĩa nầy để làm gì, cứu người mà cứ bảo phải đền ơn thì hoá ra mua bán con bệnh ư, khác nào duy lợi hay sao, độ người như tạo được thân thích, thế ấy lòng mình mới có đức sinh, vui sống ngoài vòng biển khổ ! vì vậy đại huynh đừng để ý làm gì, hãy sống hạnh phúc chính mình, lấy ý phục vụ vì Nam Việt là người đại trượng phu chí thành, há như thế thì hay biết là bao, có vậy toàn dân Việt nào sợ gì quân Hán xâm lăng.

Hoàng Phi nói những lời vừa rồi, ký ức Phùng Hưng đã từng nghe gia gia dạy bảo, nay mới động lòng giác ngộ, bởi vậy người đời có câu “Đường mòn, nhân nghĩa không mòn” quả nhiên Phùng Hương khởi tánh nở rộ hai tiếng Bách Việt thân thương, tinh thần Phùng Hưng đắt ý cười.

― Thưa tiên sinh ân công, những lời vừa rồi đúng như thế, người đời có nói “Anh hùng không luận thời gian” xuất hiện từ tuổi thơ ấu, không chờ đến tuổi trưởng thành. Từ nay lục Hoàng Đức xin kỉnh bái tiên sinh làm sư phụ. Hoàng Phi cười.

― Mỗ làm sư phụ của lục Hoàng Đức không được đâu, người ta sẽ cười lục đại hiệp đấy, hiện nay kiến thức của mỗ còn kém lắm, võ học cũng không là bao, nếu mỗ tỷ đấu may ra chỉ hạ được tửu bảo Phong Lưu lầu mà thôi, chứ làm sao hạ được “Tuyệt cao kỳ kiếm” và “Phong tâm kiếm” của lục Hoàng Đức.

Thực tế trình độ kiếm pháp nhà họ Hoàng và Mục bạch kim của Hoàng Phi đã được chính thức trao kiếm võ học gia môn cách đây mười một tháng, nay đi theo Hoàng Hạc mục đích để luyện nội công, thử lửa kiếm. Phùng Hưng vui:

― Sư phụ không nhất định là cao thủ giang hồ, kiếm pháp rồng bay, phượng múa, nội lực cao thâm như núi thái sơn, cũng không nhất thiết là kiến thức uyên thâm, chỉ cần lấy đức cứu được người sống thì đời sẽ tôn vinh sư phụ rồi, dạy người học được một chữ cũng là sư phụ vậy, như người ta có nói “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” Hôm nay lục Hoàng Đức xin quì kỉnh ba bái chính thức làm đệ tử của sư phụ, xin sư phụ nhận lời cho. Hoàng Phi ngạc nhiên ngực phập phồng, phất tay vội nói:

― Thôi, đứng dậy đi, lục Hoàng Đức đừng làm vậy, mỗ xin từ chối làm sư phụ, hai nữa sư phụ thì phải am tường đường đạo, đường đời mới được chứ, tuổi chút xíu như mỗ làm sư phụ của lục Hoàng Đức thì ai mà tin, thiên hạ bao la sẽ nhạo báng lục Hoàng Đức ngông cuồng, hôm nay có phải là ngày họa lớn cho mỗ không ? nếu thiên hạ tìm mỗ để tỷ kiếm thì làm sao mỗ đấu lại ! Sao khi nghe Hoàng Phi nói, Phùng Hưng lại càng cương quyết hơn:

― Lục Hoàng Đức này không nhận lầm sư phụ đâu, xin sư phụ an tâm, riêng về kiếm pháp võ học thì trước sau gì sư phụ cũng biết “Tuyệt cao kỳ kiếm” và “Phong tâm kiếm” đối với sư phụ thì không khó.

 Một khi Phùng Hưng đã công nhận Hoàng Phi là sư phụ thì ngũ huynh đệ Hoàng Đức cũng đồng ý. Tuy vậy Phùng Hưng cũng hỏi ý kiến của huynh đệ:

― Theo ý của ngũ sư đệ thế nào ? Huynh đệ kết nghĩa một nhà cùng nhau cộng hưởng hạnh phúc, khó khăn cùng chịu, riêng về cá tính thì huynh đệ xưa nay vẫn tôn kính lẫn nhau. Tam sư đệ Trịnh Đình Thao trầm ngâm.

― Thưa đại huynh, từ xưa nay đại huynh là mẫu mực của chúng đệ, những quyết định của đại huynh không khi nào sai lòng trái ý, vả lại hôm nay không phải là ngày của hôm qua, như cuộc diễn biến vừa rồi của Tiên sinh ân công đã chứng thật cho chúng đệ hiểu biết chân nghĩa là gì rồi, đại huynh cùng chúng đệ tôn sư phụ Hoàng Phi cũng là đạo làm người vậy, chúng đệ cả thảy đồng ý. Hoàng Phi cười “hà hả” :

― Quí đệ tử nhớ nhé, đến khi lâm đầu không thể chối cải cuối đầu, có thế mới là sĩ khí giang hồ. Hoàng Phi tiếp tục lấy “Mục bạch kim” còn lại trong người của ngũ huynh đệ Hoàng Đức.

Dưới mắt của Hoàng Hạc vừa buồn cười, vừa không hài lòng thằng cháu thầy lang ba trợn, nó không hiểu nhiều huyệt đạo, thế mà cứ làm lanh, cũng may tư chất nó thông minh cho nên được việc.

Thực ra Hoàng Hạc và Hoàng Phi đã biết sáu cây “Mục bạch kim” không còn trong người, nhưng vì chuyện đưa đến phải ra tay như thiệt, Hoàng Phi một tay phóng “Mục bạch kim” vào huyệt “Hồ thanh ngưu” một tay rút ra “Mục bạch kim” tay vừa quét là phóng vào huyệt thật nhanh, tay rút thì từ từ để cho bệnh nhân có cảm tưởng kỳ diệu. Hoàng Hạc cũng phục Hoàng Phi ở chỗ kỹ thuật rút “Mục bạch kim”.

Hoàng Hạc thấy sắc mặc huynh đệ Hoàng Đức có phần thay đổi mà ông đã biết bị trúng độc của Cờ Hồ đảng, trong lòng ông chìm đắm suy nghĩ một lúc rồi tự thầm: Vừa rồi bị trúng một ít chất độc của gian Hán, tuy vi, đởm, tam tiêu, bàng quang, đại trường, tiểu trường của lục Hoàng Đức đang ở trang thái bình thường, nhưng sau này có hại đến lục phủ ngũ tạng ông nói:

― Nhân đây quí huynh đệ cũng ngồi theo tư thế cũ để mỗ giải độc cho, chú ý hai huyệt đạo Thiên Cổ và Thiên Nguyệt có nhói một ít mà không hại, nếu để lâu ngày chất độc sẽ vào túi mật đấy.

Lục Hoàng Đức sợ hải không biết chất độc của ai hại mình ! Vội vâng lời không dám hỏi Hoàng Hạc, tất cả ngồi theo thế như cũ, trôi qua bảy khắc sau cảm giác ấm áp toàn thân không còn lạnh. Hoàng Hạc vui mừng ông nói tiếp.

― Bây giờ quí huynh đệ về trạm di chuyển người và tất cả tài sản đến địa điểm mới trong ngày hôm nay, thực hiện những gì đã thảo luận, ngày mai chỉ cần một huynh đệ đến đây cho biết tin tức là được rồi. Huynh đệ lục Hoàng Đức quì xuống bái ân tổ phụ:

― Hôm nay chúng con xin bái tạ ân ra mắt Tổ phụ, chúc Tổ phụ bình an. Hoàng Hạc ôn tồn:

― Hôm nay cũng đạt phúc lắm, mỗ đã ngoài tám mươi, các huynh đệ cũng vào trạc tuổi lớn hơn con út của mỗ, là gia gia của Phi nhi, như vậy mỗ làm tổ phụ cũng không ngại gì, thôi mỗ miễn lễ các hiền nhi đứng lên, về trạm càng sớm càng tối, hãy tạm biệt đi thôi.

Hoàng Phi tiển đưa lục huynh đệ Hoàng Đức ra cửa Phong Lưu lầu, rồi trở lại phòng bị tổ phụ trách vấn:

― Điệt Phi à, trong người của điệt Phi vương đạo thì ít còn bá đạo thì nhiều, tuy hôm nay Phi nhi có thành công đôi việc, nhưng không thể lấy đó làm thành quả cho tương lai, Phi nhi phải lấy cái thực tế để thi thố với người, đừng lấy cái giả mà hoa mắt người, Ta biết gia gia của Phi nhi là người vương đạo, không thể nào giáo dục Phi nhi thành người bá đạo được, như vậy Phi nhi đã học ai những hành động không chính minh vậy ? Hoàng Phi biết lỗi, trầm ngâm thưa:

― Thưa tổ phụ, gia gia điệt Phi ngày ngày dạy bảo, hy vọng mai sau hài nhi sẽ trở thành người hữu dụng cho xã hội, cũng như tổ phụ vừa dạy điệt Phi những lời vàng ngọc ấy, điệt Phi nào dám quên, lúc nào cũng để lòng lời dạy bảo của tổ phụ, những việc vừa rồi là do vô ý, phản ứng tự nhiên, nó bảo tâm điệt Phi hành động trong lúc cấp bách, thực ra điệt Phi không có ý nào khác hơn, nay điệt Phi có lỗi với tổ phụ, hành động mà không vấn ý truớc với tổ phụ, xin tổ phụ thương điệt Phi mà tha thứ, đừng cho gia gia, mẫu thân biết thì sẽ bị đòn tan thây. Hoàng Hạc trầm ngâm một lúc:

― Thôi được từ đây điệt Phi làm việc gì phải hỏi ý của tổ phụ trước, bây giờ điệt Phi ngồi đây tập nội công, đến chiều đi ăn cơm, rồi tối luyện võ, sáng mai tổ phụ kiểm tra lại võ học của điệt Phi hiểu chưa ? Từ lúc này không được tự ý ra khỏi phòng ! Hoàng Phi biết đây là một hình phạt nghiêm nghị với tình người năng động.

Huynh đệ Hoàng Đức về đến trạm giao dịch Động Đình hồ, gõ mõ hồi thứ nhất “cốc cốc” Phùng Hưng tuyên bố:

― Hôm nay triệu tập toàn thể quí bang chúng trong trại để di tản đến nơi mới, cùng lúc bổ sung nhân sự. Từ nay Phùng Điền bang có danh xưng mới là Hoàng Đức, lục huynh đệ của mỗ xin tuyên bố tộc danh, như Phùng Hưng, Lữ Gia, Trịnh Đình Thao, Lê Trung Kha, Mạc Thu Tá, Hoàng Quốc Kỳ. Mục đích sự thay đổi này cho phù hợp hoạt động nghĩa hiệp. Huynh đệ nào theo Hoàng Đức bang thì đến nơi mới lập nghiệp, còn không sẽ được cấp số vốn về nguyên quán sinh sống, còn trạm dịch này sẽ phóng hỏa hôm nay. Bang chúng đồng lên tiếng:

― Lục huynh đệ Tổng bang chủ Hoàng Đức ở đâu, chúng bang cùng ở đó, nguyện hy sinh, sống chết có nhau cùng tổng bang chủ. Phùng Hưng tuyên bố tiếp:

― Thưa quí huynh đệ, tinh thần nghĩa hiệp của quí huynh đệ đối với lục huynh đệ mỗ xem như một lời thề nguyện sống chết có nhau kể từ hôm nay. Ba mươi hai bang chúng trạm hồ Động Đình đồng vui mừng vỗ tay hoan hô hoạt động nghĩa hiệp của Hoàng Đức khởi đầu từ lúc này. Tiếng gõ mõ “cốc cốc” nổi lên báo động hồi thứ hai bang chúng khuân vác tất cả vật dụng cần thiết xuống ghe thuyền, hối thứ ba gõ mõ “cốc cốc” Lữ Gia thay mặt Phùng Hưng tuyên bố:

― Tổng bang chủ quyết định khởi hành, đoàn ghe thuyền về hướng bắc hồ Động Đình. Tạm lập trạm mới tại nhà trưởng trạm Lưu Đình Thanh gần mé sông Tương Thủy hợp lưu của hồ Động Đình. Lưu Đình Thanh vui mừng:

― Thưa tổng bang chủ, quí huynh đệ, theo ngu đệ thấy từ xưa nay Phùng Điền bang chỉ hoạt động trên đường bộ, tỷ như ngày nay hoạt động thêm đường thủy thì thuận lợi hơn nhiều. Nếu tính từ Động Đình hồ di chuyển trên sông Ly Thủy thì vào được phía Đông nam Trường Sa, xuyên qua Quế Lâm rồi đến Tây Giang nối vào thành Phiên Ngung, lấy đường thủy làm huyết mạch ra vịnh Hổ Môn, về phía Đông hồ Động Đình còn có sông Tương Thủy chảy vào hai phụ lưu sông Bằng Giang, sông Tây Giang, sông Kỳ Cùng từ Giao Chỉ chảy ngược lên nối vào phía đông Quế Lâm, tây Thượng Quận đây là một hợp lưu của sông Bắc Giang, Đông Giang và Tây Giang cùng chảy ra cửa biển Nam Hải, đặc biệt sông Tương Thủy có một hợp lưu thứ hai ở phía đông Châu Giang chảy xuyên qua Nam Hải. Phùng Hưng tươi cười:

― Hiền đệ Lưu Đình Thanh, nhờ đâu mà hiểu rạch ròi về đường thủy vậy ? Lưu Đình Thanh có lòng tin đã tuyết phục được bang chủ:

― Thưa bang chủ, ngày còn thơ ấu tiểu đệ theo gia gia mua bán hàng tơ lụa, di chuyển bằng đường thủy, đi khắp mọi nơi nhờ vậy mới biết, nay mạo muội trình bày không biết bang chủ có dùng được không ? Phùng Hưng tươi cười:

― Rất cảm ơn hiền đệ, đây cũng là mục đích của Hoàng Đức đang chuẩn bị hoạt động cả hai đường bộ và thủy, hôm nay may có hiền đệ biết rạch ròi thì Hoàng Đức tăng được sức mạnh ! mỗ tán đồng ý kiến của hiền đệ. Nhân đây mỗ nhờ hiền đệ vẽ một bản đồ đường thủy trong mươi ngày, hiền đệ sẽ nhận lãnh nhiệm vụ phó Quản binh thủy, nay mai mỗ tuyển chọn trăm huynh đệ luyện tập hoạt động đường thủy. Lưu Đình Thanh vui mừng:

― Đa tạ bang chủ, ngu đệ thi thố hết khả năng, sự hiểu biết này đáp lại lòng tin dùng của bang chủ !

Lục Hoàng Đức đã có suy nghĩ về kế hoạch đường thủy, tương lai những con sông chính là mạch huyết hoạt động của Hoàng Đức bang. Hoàng Đức khởi nghiệp mới thay hình đổi thể, tổ chức sinh hoạt như thôn làng, lập trạm theo gia cư Lạc dân, thế đất sau lung là núi, trước mặt là sông, dịch trạm chỉ huy đặt ngay những thị trấn lớn nhỏ, tổng chỉ huy lấy rừng làm trú mật. Phát triển bang chúng dựa trên tiêu chuẩn khả năng đức hạnh, bảo mật hoạt động của bang bằng hiệu lệnh. Phùng Hưng truyền khẩu lệnh khẩn:

― Nay dịch trạm có tên và có số, tổng cộng ba mươi chín trạm đang hoạt động ở khắp nơi, nhưng chỉ thay đổi nhân sự cho phù hợp tổ chức mới .

Đại bản doanh Hoàng Đức đặt tại núi Qui Liên Sơn, Tây giáp Tượng Quận, Đông giáp Quế Lâm. Núi rừng Qui Liên Sơn hiểm trở phong cảnh mây bay một giải lụa gấm, trên bầu trời mây động như rồng, chiếu xuống hồ nước xanh đổi theo mầu sắc từng hồi, gió thổi nhẹ sóng dồn mặt nước vỗ lăn tăn như ánh sao rơi lấp lánh, cảnh thơ mộng như “Hồng lĩnh nhật xuất, Hoàng hoa hào khí, Lưu hoa vương vũ, Hoàng phố vân tường”

Chỉ một đêm bầu đoàn Hoàng Đức phía Bắc hồ Động Đình di chuyển về hướng Nam lập trạm dịch hoàn bị. Phùng Hưng phát động lần thứ hai lập trạm bí mật do lục Hoàng Đức chỉ huy, Lữ Gia dẫn một đoàn lập trạm dịch cửa biển Hổ-Môn thành Phiên Ngung, Trịnh Đình Thao dẫn một đoàn lập trạm cửa biển Nam Hải, Lê Trung Kha lập trạm tại phía đông Châu Giang, Mạc Thu Tá lập trạm cửa biển Long Biên, Hoàng Quốc Kỳ lập trang trại nam Tây Giang. Hoàng Đức phân năm cư trú mới thành một lực lượng liên hoàn hoạt động giao dịch bằng đường bộ, đường thủy, còn Phùng Hưng quản thủ đại bản doanh Hoàng Đức. Huynh đệ Hoàng Đức ước hẹn một tháng sau các nơi định cư hoàn tất. Ghe thuyền di chuyển trên sông mua ngay trong ngày được hai mươi ghe thuyền nhỏ lớn, riêng mặt biển thì dự trù mua hai thuyền bầu. Từ đây giao dịch lương thiện, lấy nghĩa chiêu hiền đãi sĩ, anh hùng thù tạc, diệt bạo trừ gian, mọi hoạt động từ đây chỉ mục đích phù trợ Nam Việt.

Nói về Hoàng Hạc, ông đã từng nghiên cứu tỷ mỉ chiến pháp, kinh doanh đường bộ và đường thủy, ông am tường sự lợi ích đường thủy, ông để hết tâm trí vào sông ngoài trong nội địa Nam Việt, nhất là Trường Sa, Nam Hải, Tượng Quận, Quế Lâm, Giao Chỉ, Nhật Nam, Cửu Chân, Châu Nhai và Đam Nhỉ.

Ngày đúng hẹn Phùng Hưng đến Phong Lưu lầu trước thăm tổ phụ, sư phụ sau trình bày sinh hoạt của Hoàng Đức, cho tổ phụ am tường tình hình đã thay đổi mới, như lập cư, tổ chức hành chánh, giao dịch. Sau khi Phùng Hưng trình bày, Hoàng Hạc thầm khen mỗ tán thành, tâm phục tài năng điều động không khác nào một viên tướng khiến mã dụng binh. Hoàng Hạc vui mừng:

― Công việc như vậy tốt lắm, tổ phụ hẹn hiền điệt đó, à nhớ ngày mười lăm tháng chạp đến cửa biển Hổ-Môn, tại Phụng Tiên lầu, tổ phụ chờ hiền điệt từ sáng đến trưa. Đôi lời cuối tổ phụ muốn hiền điệt chú ý đời sống cho tất cả huynh đệ được ăn dư để, xem nhau như một đại gia đình Hoàng Đức, có như vậy mới làm được việc lớn cho Nam Việt, ngày mai tổ phụ sẽ nhờ người mang đến cho hiền điệt tất cả những bản đồ đường thủy nội địa Nam Việt. Phùng Hưng ngạc nhiên hỏi:

― Thưa tổ phụ những bản đồ ấy hiện giờ có ở đây  không ? Hoàng Hạc ôn tồn:

― Hiền điệt an tâm hiện không có ở đây, nó ở trong trí của tổ phụ, chỉ cần vẽ ra là có tất cả. Phùng Hưng ngạc nhiên, vui mừng hỏi tiếp:

― Hưng nhi không ngờ trí tri của tổ phụ diệu lược, Hưng nhi vâng lời giáo huấn của Tổ phụ.

― Tổ phụ hy vọng hiền điệt thành công mọi việc làm của mình, từ đây hiền điệt đi vào ngã rẽ của cuộc đời mang trách nhiệm Bách Việt, chí khí nghĩa hiệp của hiền điệt là tinh thần của tổ phụ, đáng hãnh diện lắm, bây giờ tổ phụ với hiền điệt tạm biệt ở đây. Phùng Hưng tiếp lời:

― Dạ, Hưng nhi xin tạm biệt, chúc tổ phụ cùng sư phụ sức khỏe bình an, tạm biệt tổ phụ và sư phụ.

Hoàng Phi ở lại Phong Lưu lầu để chờ đón quí thúc phụ. Hoàng Hạc thân hành đến thủ phủ Trường Sa thành Nhạc Dương thăm viếng Trường Sa Vương, những đại hiệp cố nhân, tri kỷ.

Hoàng Phi tiễn đưa tổ phụ, cho đến khi tiếng vó ngựa xa dần, không còn thấy hình bóng mới xoay lưng vào, cùng lúc ấy thấy một gia đình đến Phong Lưu lầu gồm hai vợ chồng và bốn trẻ trạc tuổi chín đến sáu, họ vào Phong Lưu lầu xin thuê một phòng lớn để nghỉ tạm một ngày đêm, tửu bảo hướng dẫn đến phòng bên cạnh Hoàng Phi, nhân dịp này Hoàng Phi cũng ra tay giúp họ đem đồ đạc lên phòng, lúc đầu gia đình này tưởng Hoàng Phi là điếm tiểu nhị Phong Lưu lầu, khi hiểu ra mới biết Hoàng Phi cũng là người đang ở trọ phòng kế bên, cả gia đình họ cảm kích tính tình tương trợ chân thực, họ cảm ơn Hoàng Phi. Tửu bảo cũng đang đứng kế bên liền giới thiệu:

― Thưa khách quan, đây là đại huynh Hoàng Phi, ở trọ tại đây được mấy hôm mà ai cũng mến, tửu bảo ao ước sau này có dịp kết thân với người bạn tốt như đại huynh đây ! Lý Bình Trương đang đưa gia đình chạy trốn, mục đích là bảo vệ sự sống còn nhà họ Lý, hiện giờ địch thủ chưa xuất hiện, mọi cử động nào cũng cẩn thận trước, dè dặt người trong bóng tối, tuy vậy đứng trước người bạn trẻ ông vẫn tự nhiên với lòng mình tự tin, trong lòng ông thầm: Người trẻ này không đến nỗi hại gia đình ông, rồi tự giới thiệu:

― Thế thì hay quá tâm ý tương đồng, mỗ là Lý Bình Trương, đây là Triệu Thư nương tử, còn đây là Lý Bình Trung anh cả của Lý Bình Tam, Lý Thư Phụng, Lý Thư Hồng cả gia đình tại hạ, hân hạnh được biết người bạn trẻ. Theo nhãn lực của mỗ, người bạn trẻ có tư chất rất phi thường, tiếc rằng mỗ không còn thời gian để ngưỡng mộ, tuy vậy gặp một lần cũng đã mãn nguyện lắm rồi. Mỗ xin đi xuống lầu gọi một ít rượu để nhâm nhi.

Lý Bình Trung vừa gặp Hoàng Phi cũng có ít nhiều cảm tình, tự nhủ: Theo như lời của gia gia mình, ông chưa bao giờ nhận xét bất cứ ai hai tiếng “phi thường” và gia gia còn nói “tuy vậy gặp một lần cũng đã mãn nguyện lắm rồi” Đến đây Hoàng Phi mời:

― Hiền đệ Lý Bình Trung đi cùng tại hạ xuống lầu ăn sáng nhé ? Lý Bình Trung tự xuất luồn suy tư về một người bạn mới biết qua thời gian quá ngắn ngủi. Người tốt đối với mình làm lòng áy náy, đang trên đường tản cư về quê ngoại để trốn kẻ thù, suy ra ở thế gian này cũng có người thù người ân nhưng không thấy hình dạng, ước gì mình có sự xét đón như gia gia thì hay biết mấy ! hiện giờ tuy rằng bao tử có gọi phải bỏ vào chút đỉnh thực đơn cho nó khỏi khổ, nhưng không tiện nói ra, hai nữa tiền không có mà ăn của người thì không mạnh miệng để kết thân. Hoàng Phi hiểu được ý của bạn, bằng cách cắt ngang luồng suy nghĩ Lý Bình Trung ở đây, Hoàng Phi mời:

― Tại hạ mời các hạ không nên từ chối, từ chối có nghĩa là không chấp nhận tình thâm giao. Lý Bình Trung tự đáy lòng nói:

― Thưa hiền huynh, tại hạ chấp nhận, nhưng tại hạ không có dịp để trả cái thâm tình này ! còn nữa mai sau gặp lại mà cũng không có tiền để thù tạc với hiền huynh thì khó coi lắm, cho nên đành phải từ chối vậy mà, tại hạ đề nghị với hiền huynh, mình không ăn sáng, ngôi trên này nói chuyện cũng vui lắm rồi ! Hoàng Phi trả lời:

― Các hạ à, đừng khách sáo, cứ xuống lầu ăn sáng với tại hạ, còn chuyện mai sau sẽ tính. Lý Bình Trung thấy mới biết nhau mà tình chân thực, đành miễn cưỡng rón rén đi theo Hoàng Phi, xuống lầu ngồi vào bàn, Hoàng Phi gọi bạn tửu  bảo:

― Hiền đệ, cho tại hạ bảy phần bánh bao và trà, mỗi phần ba cái, hai phần tại bàn này, một phần tại bàn của lệnh nghiêm và bốn phần đem lên phòng của lệnh mẫu. Tửu bảo:

― Vâng, tại hạ phục vụ tức thì còn Lý Bình Trung thì rất ngạc nhiên, tự hỏi tại sao ông bạn trẻ này rộng lòng như thế ? theo lời của tửu bảo giới thiệu thì Hoàng Phi là người bạn tốt. Ta hy vọng gặp bạn tốt ! Khi mới gặp sáu người họ Lý, Hoàng Phi đã thấy được hoàn cảnh của nỗi nhà, ẩn hiện trên đôi mắt thầm kín của Lý Bình Trương, nên Hoàng Phi không ngại để lòng giúp họ mà không cần phải đền đáp ơn nghĩa. Sau buổi ăn sáng Hoàng Phi trả hết chi phí, cả nhà họ Lý cảm động. Hoàng Phi mời cả nhà họ Lý vào phòng mình để thưởng thức bánh cốm, trà đặc sản Đồng Tương. Lý Bình Trương hỏi:

― Hiền đệ từ nơi nào đến đây ? tạm trú ở đây đã bao lâu rồi ? Hoàng Phi thực thà :

― Thưa thúc thúc, Phi nhi đến từ Giang Tô, tạm trú ở đây đã vài hôm, có thể ngày mai theo dòng nước xuôi nam về thành Phiên Ngung tham dự đại hội. Lý Bình Trương “ồ” lên một tiếng:

― Tiếc quá, tiếc quá không tham dự được, như vậy hiền đệ có tham dự khộng ? Hoàng Phi đã nói là lời chân thực:

― Thưa thúc thúc, Phi nhi có tham dự, nhưng thúc thúc tiếc việc gì vậy ?

― Mỗ tiếc vì ngàn năm muôn thuở thành Phiên Ngung mới có dịp đại hội anh hùng Bách Việt, thế mà mỗ phải đi về quê, vậy là không còn dịp nào nữa mới tiếc quá là vậy ! rồi ông thở dài như người thất vọng. Hoàng Phi động lòng:

― Thưa thúc thúc, về quê rồi trở lại thành Phiên Ngung tham dự cũng chưa muộn, vì còn vài tháng nữa hội mới khai mạc kia mà ?

― Đúng vậy, nhưng mỗ có nhiều việc phải làm như chạy cơm áo cho cả gia đình, mỗ hy vọng gặp lại hiền đệ lần thứ hai, khi ấy nhờ hiền đệ thuật lại diễn biến đại hội này cho mỗ nghe nhé ? Hôm nay mỗ gặp người bạn trẻ tốt trong hoàn cảnh tình cờ, thời gian thì có hạn, nên mỗ thay mặt cùng gia đình xin phép trở gót về phòng, buổi điểm tâm sáng nay mỗ ghi nhớ, đa tạ nhiều. Lý Bình Trung xin phép ở lại:

― Thưa gia gia cho phép hài nhi, ở lại đây giao hảo cùng với hiền huynh Hoàng Phi nhé ?

― Tốt lắm, hài nhi tự nhiên, hầu chuyện với hiền huynh đó là tình thâm cần phải làm !

Thời gian trôi qua đã vào giờ ngọ, năm người trong gia đình họ Lý đi xuống lầu để dùng cơm trưa, Lý Bình Trương đi ngang qua phòng Hoàng Phi, mời Hoàng Phi và gọi Lý Bình Trương cùng dùng cơm trưa. Lý Bình Trung thưa:

― Thưa gia gia, hài nhi còn no lắm. Hoàng Phi cũng thưa lại:

― Đa tạ thúc thúc, Phi nhi cũng vậy, thúc thúc tự nhiên, chúc cả nhà dùng cơm hợp khẩu vị. Bàn cơm trưa của Lý Bình Trương ở phía trái cánh cửa sổ phòng trọ của Hoàng Phi chừng bảy thước. Lý Bình Trung cùng Hoàng Phi tâm đầu ý hợp luận bàn đam mê võ học, bỗng dưng Hoàng Phi nghe một luồng gió từ trên mái nhà phi thân xuống, tuy không thấy hình dạng nhưng biết đó là một bóng cao thủ lạ mặt. Hoàng Phi vội nép mình ngó qua khe cửa sổ thấy người mặc áo nâu, chít khăn nâu che kín đầu và mặt, chỉ còn chừa đôi mắt. Kẻ lạ mặt phi thân thật nhanh đứng trên bàn cơm của thúc thúc tay cầm kiếm xuất liên hoàn chiêu kỳ lạ, đã sát hại mẫu thân cùng các em của Lý Bình Trung, địch thủ vung kiếm lấy mất bốn thủ cấp, riêng thân phụ Lý Bình Trung trên tay vẫn cầm đôi đũa, tay cầm bình trà để đối chiêu với kiếm. Hoàng Phi gọi Lý Bình Trung xem:

― Có thích khách. Lý Bình Trung vừa trông thấy mẫu thân, các em đã bị người chít mặt sát hại, muốn la lên mà miệng không thành lời, muốn phi thân xuống lầu mà chân vẫn đóng như đinh tại chỗ, nước mắt cứ chảy như suối làm mờ đôi mắt, thân thể yếu như người mắc phải bệnh, miệng ú ớ như kẻ nằm thấy ác mộng:

― Kẻ nào đang truy kích gia gia ta ? Hoàng Phi trên tay đang cầm chung trà, vận hết nội lực đã học được nơi tổ phụ, phóng theo thủ pháp “Bạch mục kim” trúng sau gáy phía cổ trái, máu của thích khách tuôn xối xả xuống đất, cũng là lúc thủ cấp của Lý Bình Trương rời khỏi thân thể, người áo nâu, bịt mặt ngó lên lầu thấy năm sáu phòng mở cửa sổ, không biết chung trà từ đâu phóng ra, rồi phi thân mất dạng, cuộc diễn biến quá đột ngột không đầy hai phút, khách quan trong Phong Lưu lầu cả Hoàng Phi, Lý Bình Trung cũng không kịp phản ứng, sự việc thảm thương trước mặt mọi người đều phẫn nộ, tang thương cho năm người vắn số, không ai biết nguyên do thế nào ? năm người phải chết một cách vô cớ. Về phần Hoàng Phi phản ứng nhanh nhất, còn Lý Bình Trung vì hoàn cảnh thê thảm xúc động quá mạnh mất hết ý chí, cho nên không phản ứng được gì, chân chưa bước được ra đến bực cửa lầu, thì người áo nâu đã biến mất. Hoàng Phi, Lý Bình Trung vội xuống lầu thấy cảnh toàn gia cùng chết một thức kiếm như nhau. Trong lòng Lý Bình Trung không còn suy nghĩ được những cách nào để làm tang sự cho thân nhân, vì Lý Bình Trung không biết quê ngoại ở đâu ? đem năm thi hài an táng nơi nào cho tiện ? Hoàng Phi thấy mọi người bối rối, rồi hỏi ý:

― Tại hạ mời hiền đệ về phong riêng để trao đổi tang sự, Hoàng Phi đề nghị nhờ ông chủ Phong Lưu lầu cùng mười tửu bảo, đứng ra làm lễ an táng, mọi chi phí Hoàng Phi chi trả, hiền đệ Lý Bình Trung nghĩ thế nào ?

― Thưa hiền huynh, tang sự cho tiện nhất là hỏa táng ! Hoàng Phi hỏi:

― Tại sao hiền đệ phải hỏa táng ?

― Thưa hiền huynh, khi nào tiểu đệ tìm được hung thủ thì mới mai táng chưa muộn, bây giờ tiểu đệ uất hận lắm, hẹn ngày trả thù cho gia gia, mẫu thân và các em, còn hiện giờ chỉ biết khóc trong lòng mà thôi. Nói đến đây những tiếng nấc từng hồi, òa lên khóc. Kẻ thù ám hại gia đình ta là ai ? ta phải tìm cho ra kẻ thù ấy, ta không được tuyệt vọng ! Tự hỏi : Sau khi tang sự hoàn tất thì không còn con đường nào để sống, quê ngoại-nội ở đâu ? Hoàng Phi thấy hoàn cảnh như vậy, mở lời đề nghị:

― Hiền đệ trả phòng, rồi vào phòng tại hạ ở tạm, riêng về năm hài cốt gửi lại nhà người quen biết của tại hạ ở hồ Động Đình, các hạ đi tìm sư phụ học võ sau khi thành tài thì mới tìm hung thủ chưa muộn, theo tại hạ thấy hung thủ là nhân vật võ học cao thâm, vô lường con người này rất nguy hiểm, cho nên các hạ cẩn thận, theo tại hạ nhận xét hung thủ này mặc áo nâu, chít khăn nâu che kín đầu và mặt, chỉ là ám hiệu một đảng nào đó, đương nhiên đầu hung thủ này tóc không nhiều, cho nên chít khăn che kín đầu, tại sao họ phải chít khăn mặt, tức là người không lạ với gia đình hiền đệ, hiện nay khó mà tìm ra hung thủ, tuy vậy không thể nào qua khỏi lưới trời, lúc này tinh thần Lý Bình Trung đã bình tĩnh:

― Tại hạ thấy gia gia dùng đôi đũa như đoản kiếm, đâm vào cánh tay trái để cắt đứt gân của hung thủ, đây là chiêu “đả trường đoản kiếm” như vậy cánh tay trái này chắc chắn đã bị liệt, không còn sử dụng được, trước sau gì cũng tìm được hung thủ qua thương tích cánh tay trái. Hoàng Phi hỏi:

― Hiền đệ có thấy được một phần chiêu số và thức kiếm của hung thủ không ?

― Thưa hiền huynh, tiểu đệ không còn hồn phách nào để ý chiêu kiếm kỳ lạ này ! có thấy mà không được rõ lắm ! hy vọng nhãn lực hiền huynh, thấy điều gì chỉ dạy tiểu đệ .

― Tại hạ chú ý tất cả những chiêu kiếm của hung thủ, như vậy tại hạ xuất chiêu để thử nghiệm, nhằm sau này hiền đệ tìm ra hung thủ, hiền đệ chú ý nhé, bây giờ tại hạ xuất chiêu chậm chạp ba lần, khi đến lần thứ tư tại hạ xuất chiêu thức thật nhanh, nhân dịp này hiền đệ cũng luyện tập để biết võ học của hung thủ mà mình muốn tìm ! bắt đầu xuất chiêu lần thứ nhất, đến lần thứ tư. Hoàng Phi tra kiếm vào vỏ, rồi nói tiếp:

― Tại hạ chỉ biết liên hoàn kiếm này mà không biết chiêu số. Lý Bình Trung tuy đang buồn cảnh tang gia, nhưng lại ngạc nhiên không ngờ Hoàng Phi thông minh về võ học, tự nghĩ thầm, chỉ cần tìm ra hai yếu tố chính như thương tích cánh tay trái, kiếm pháp là phát hiện được hung thủ ngay. Quả nhiên hiền huynh Hoàng Phi thực lòng muốn giúp ta trả mối thù này, rất hợp với lòng ta trong lúc đau khổ, quả như người đời có nói “Bể khổ mênh mông rồi cũng có lúc vào bờ” Lý Bình Trung cười lên như kẻ điên:

― Ta sẽ tìm được thù nhân, kẻ thù kia không thể nào cao bay xa chạy. Hoàng Phi phân tích tiếp võ học để cho Lý bình Trung tiếp thu kiến thức võ học mới:

― Hiện giờ tuy hiền đệ đã hiểu hết ba mươi sáu chiêu thức của hung thủ, nhưng không thể sử dụng được vì có những bí ẩn của nó ở bên trong, để tránh hiểu lầm hung thủ, tại hạ tự sáng tạo ra một thức kiếm mới để hướng dẫn hiền đệ, theo kiếm pháp của họ Hoàng. Chiêu thức thứ nhất “Đã ngưu thần nhơn” xuất chậm ra nhanh gồm tám chiêu kiếm, dung hợp vào kiếm pháp thứ ba mươi sáu của hung thủ.

Chiêu thứ hai “Long hổ thần kiếm” xuất dương thu về âm gồm bốn đường kiếm, dung hợp theo kiếm pháp thứ ba mươi lăm của hung thủ .

Chiêu thứ ba “Mộng hồn thần kiếm” xuất hư chiêu là thực gồm năm đường kiếm, dung hợp theo kiếm pháp thứ ba mươi bốn của hung thủ .

Chiêu thứ tư “Bích hưng thần kiếm” xuất chiêu chẻ ngang, chẻ dọc gồm chín đường kiếm, dung hợp theo kiếm pháp thứ ba mươi ba của hung thủ .

Những thế kiếm pháp này biến hoá bao nhiêu chiêu tùy theo ý của mình, hiền đệ sử dụng những chiêu thức này, nếu gặp phải địch thủ nó hóa thành khắc tinh, như vậy địch thủ không biết đâu là chiêu pháp thực hư.

Bây giời hiền đệ tập lại cho thật kỹ, nhớ không nên đòi công đạo vào lúc này, vì lai lịch kẻ thù không phải tầm thường, muốn đòi lại công đạo cho gia đình phải tìm đích thực kẻ thù. Hoàng Phi thấy Lý Bình Trung lo lắng, hiểu được ý:

― Thế thì hiền đệ có những dự phòng nào cho tương lai chưa ?

― Thưa hiền huynh, hiện giờ trống rỗng, tất cả đều là số không, chưa biết phải đi về đâu ! còn tương lai thì vô định ! Hoàng Phi đề nghị:

― Tại hạ xin kết nghĩa tình huynh đệ được không ? Lý Bình Trung trong lòng đang buồn, khi nghe tiếng kết nghĩa, tuy lòng buồn lại hoá ra vui mừng, suy nghĩ mình đang trong cơn đau thương của gia đình, đến đường cùng hiểm nghèo, mình được kết nghĩa với Hoàng Phi thì chẳng khác nào chuẩn bị chết lại được người cứu sống:

― Lý Bình Trung vội quì xuống, tiểu đệ xin hai lạy để làm lễ kết nghĩa huynh đệ, đột nhiên tửu bảo từ ngoài cửa cũng chạy vào lạy, giới thiệu tiểu đệ họ Trịnh tên Trường, Hoàng Phi cũng vội vàng lạy theo để trả lại hai lễ, cả ba thiếu niên ôm nhau cùng khóc. Hoàng Phi giải thích trước khi phân định huynh đệ.

Trước khi kết nghĩa huynh đệ phải hiểu ít nhiều về đặc tục tộc Việt như cắt tóc, lấy máu uống thề, xâm mình làm hiệu, đi đường thủy lấy thuyền làm xe, lấy chèo làm ngựa, đến thì như gió thoảng, đi thì khó đuổi theo, võ học bản nguyên nhân nghĩa, quí hiền đệ thấy thế nào ? Trịnh Trường thông minh lanh lợi, vốn sống đã trải qua trong lớp áo tửu bảo, chưa hề nghe ai nói về đặc tục tộc Việt, lúc này Trịnh Trường mới biết được ý, chàng tháng phục Hoàng Phi như một âm công chỉ lối đường về. Hoàng Phi nói tiếp:

― Đúng thế phải thực hiện những đặc tục của tộc Việt, đó là căn bản không thể thiếu được trong lúc này, hãy phân định theo tuổi tác huynh đệ.

Ca ba làm lễ kết nghĩa Hoàng Phi đại ca, Trịnh Trường nhị ca, Lý Bình Trung tam ca. Hoàng Phi có phần không ngờ đến, chàng hỏi:

― Lý do nào mà nhị đệ biết lễ kết nghĩa này ?

― Thưa đại ca, tiểu đệ đi đến phòng mục đích là để thăm đại ca cùng vấn an tam đệ, nhưng không dám vào vì lúc đại ca múa kiếm dạy tam đệ, đệ hiểu được ít nhiều lòng người, trong lúc tam đệ làm lễ kết nghĩa, tiểu đệ cũng không ngoài ý đó, nhưng không có dịp, bây giờ thì sự tình cảm ứng tự nhiên đưa đến lễ kết nghĩa này, âu cũng là trời định, xin đại ca rộng tình thương cho. Hoàng Phi thăm dò ý kiến:

― Về phần tại hạ, thì không có gì trở ngại cả, Lý đệ thì cũng thế, bận tâm nhất là Trịnh đệ đây. Trịnh Trường thành thực trả lời:

― Thưa đại ca, tiểu đệ cũng cùng hoàn cảnh như Lý đệ, hiện nay làm nghề chạy bàn, sống tạm ở đây khi có dịp là tạm biệt Phong Lưu lầu. Hoàng Phi nghe Trịnh Trường nói vậy cũng hiểu được ít nhiều cảnh ngộ:

― Tuy rằng có dịp tạm biệt nơi này, nhưng cũng phải trình thưa cho ông chủ biết, có như vậy mới thuận lòng nhau giữa ông chủ cùng Trịnh đệ, nếu sau này thành danh còn phải trở về đây để báo ân, còn không cũng về lại tiếp thục làm tửu bảo chứ. Trịnh Trương cười trả lời:

― Đại huynh nói như vậy cũng phải, để tiểu đệ đi trình sự việc cho ông chủ biết, một lát nữa tiểu đệ sẽ trở lại báo tin để đại ca hay.

Lý Bình Trung xin về phòng lấy kiếm của gia gia đem theo làm vật gia bảo, tìm mãi mà không thấy “Thái danh kiếm” trong lòng bồi hồi, tự nghĩ ta đã mất cả nhà, còn mất kiếm, vậy từ đây xem như ta không còn thấy mặt gia gia rồi, quả là kẻ hung thủ quá tàn nhẫn, may mà cuốn phổ “Thái danh kiếm” còn ở trong túi áo của mình, lúc này mi mắt đỏ hoe, khóc từng tiếng nức nở, như bị kẻ lạ mặt đang bóp cổ họng làm cho cuống quản khó thở, nước mắt tuôn chảy không ngừng, Lý Bình Trung vội lấy vật dụng cần dùng đem theo, lòng dâng cao uất hận, thét lên ba tiếng thật to làm phòng bên của Hoàng Phi không biết chuyện gì bên ấy ? Lý Bình Trung ra khỏi phòng, cùng lúc Trịnh Trương cũng trở lại tinh thần thoải mái, còn Lý Bình Trung vẫn còn tiếng khóc, cả hai vào phòng. Hoàng Phi hỏi:

― Thế nào mà Lý đệ khóc, còn Trương đệ thì hớn hở vậy ? Trịnh Trường trả lời trước:

― Thưa đại ca, ông chủ đồng ý cho tiểu đệ đi lập nghiệp, còn cho bảy lạng bạc nữa, ông nói khi nào cần tiền thì cho ông biết. Hoàng Phi hỏi:

― Ông chủ tốt với nhị đệ như vậy là có nguyên nhân. Trịnh Trường không dám vui mừng vì thấy Lý Bình Trung nước mắt còn trên mi, vội thưa:

― Thưa đại huynh không hiểu đâu, ông chủ chính là thúc phụ của tiểu đệ, từ ngày gia đình tiểu đệ qua đời cùng một lúc cả thảy bảy người, lúc ấy tiểu đệ mới sinh ra được hai ngày, nằm ngủ trong chăn cho nên hung thủ không phát giác ra được. Thúc phụ mới đem về nuôi, nhờ thế mà sống được đến ngày nay, thúc phụ của tiểu đệ hiểu được lý do phải tạm biệt, còn nhắc đi nhắc lại nhiều lần : “trên đường đời phải cẩn thận” ngoài ra thúc phụ còn nói “Hài nhi à ! khi nào võ nghệ siêu quần thì thúc phụ sẽ cho biết hung thủ đã giết cả gia đình hài nhi là ai ? còn bây giờ thì không tiện, chúc hài nhi thượng lộ như chí nguyện”. Hoàng Phi hỏi Lý Bình Trung:

― Còn Lý đệ tình trạng như thế nào mà la hét vậy, khóc mãi thế ?

― Thưa đại ca, gia tài của tiểu đệ chỉ còn lại cây “Thái danh kiếm” thế mà đã bị kẻ cắp mất rồi ! Người đời có câu “Kiếm đao còn là người còn, kiếm đao mất là người mất” cũng còn may tiểu đệ đang luyện tập kiếm, cho nên Thái danh kiếm phổ còn trong người của tiểu đệ ! Tuy tiểu đệ mất kiếm mà vẫn còn cán kiếm, Trịnh Trường vội hỏi:

― À, gia gia của ngu huynh có cây “Thượng danh kiếm” như vậy có sự liên hệ gì với cây “Thái danh kiếm” không ? trong ấy có bí mật gì không ? Lý Bình Trung ngạc nhiên, trả lời:

― Thì ra là thế, tiểu đệ có nghe gia gia kể lại rằng. Từ thuở thiếu niên ba người cùng ở huyện Giao Đỉnh thuộc Quế Lâm, kết nghĩa huynh đệ, học cùng một sư phụ, khi sư phụ qua đời có tặng cho mỗi đệ tử một cây kiếm, mỗi cây kiếm có tên tuổi khác nhau chiêu thức cũng vậy, tên của ba cây kiếm là “Ngọc danh kiếm”,”Thái danh kiếm” và “Thượng danh kiếm” gọi chung là “Tam Thanh kiếm” Đại đệ tử của sư tổ tiếp nhận “Ngọc danh kiếm” Nhị đệ tử tiếp nhận “Thượng danh kiếm” còn gia gia tiểu đệ tiếp nhận được cây “Thái danh kiếm” tam huynh đệ này rất thương nhau, họ sống thanh bạch đúng nghĩa với hào hiệp, khi cả gia đình “Thượng danh kiếm” qua đời mà không biết nguyên nhân, vào lúc tuổi còn thanh xuân. Gia gia của tiểu đệ không còn tha thiết gì với đời nữa, nên hạ lạc về miền thôn dã để sống ẩn, cho đến ngày nay thì bị nạn cả nhà tại nơi đây. Bây giờ Trịnh Trường mới hiểu được mối liên hệ giữa mình với Lý Bình Trung:

― Này Lý đệ, bây giờ đã nguôi nỗi buồn phiền một phần nào chưa ? Lý Bình Trung trả lời:

― Thưa nhị ca, tiểu đệ đã nguôi rồi ! Trịnh Trường nói tiếp:

― Trời cao có mắt, huynh đệ chúng ta không hẹn mà gặp, đây mới gọi là định luật trái đất tuy to mà nhỏ, người thân ở gần chính là truyền nhân “Thượng danh kiếm” đây, gia gia của ngu huynh là Trịnh Bảo. Lý Bình Trung vui mừng hai tay gạt nước mắt:

― Đúng rồi chính là sư huynh của gia gia tiểu đệ đó ! như vậy đại huynh còn giữ cây “Thượng danh kiếm” không ? chuyện này quan trọng vì trong chuôi kiếm có phổ “Thượng danh kiếm”.

Trịnh Trường hai tay run run, tự trách mình có kiếm mà không biết sử dụng, quả là người mù đứng trước ánh thái dương, may mà hôm nay gặp được duyên cơ mới sáng ! Trịnh Trường mở túi vải đựng kiếm, rồi lấy vỏ kiếm ra, Lý Bình Trung mừng quá nói liền:

― Đại huynh ơi ! đúng rồi vỏ kiếm màu vàng thì chuôi kiếm cũng màu vàng, trên sóng kiếm còn ghi “Thượng danh kiếm” đặc biệt phổ giấy cũng màu vàng, quả thực như vậy không sai. Đại huynh vặn nắp dưới chuôi kiếm xem phổ còn không ? Trịnh Trường tay càng run mạnh hơn, cho nên vặn rất là chậm chạp, hai nữa kiếm để trong bao lâu ngày đường nắp răn khô cho nên khó mở, cuối cùng mở ra cũng được, đúng là phổ “Thượng danh kiếm” còn nguyên. Những tiếng thở dài của tình huynh đệ đã hiểu thấu tâm can, để lòng hướng về tương lai. Từ nay Trịnh Trường ra sức luyện tập “Thượng danh kiếm” còn Lý Bình Trung tiếp thục luyện tập “Thái danh kiếm” Hoàng Phi thấy rõ việc đi tìm hung thủ không khó:

― Chúng ta đi tìm hung thủ không khó nữa đâu, hiên nay chúng ta ở trong bóng tối, cho nên phải cẩn thận thứ nhất “Thượng danh kiếm” gửi lại nhà, chỉ đem theo phổ. Thứ hai nhờ nhị đệ thưa với thúc phụ, xin gửi tạm năm hài cốt, năm sau sẽ trở lại thỉnh về nơi cư ngụ mới. Thứ ba bí mật luyện tập “Thượng danh kiếm” và “Thái danh kiếm” tuyệt đối không động thủ hai kiếm pháp này với bất cứ ai, có như thế mới bảo mật được, riêng “Ngọc danh kiếm” quí đệ phải cẩn thận không nên tìm lai lịch trong lúc này, trừ khi Trịnh đệ, Lý đệ thành danh. Hoàng Phi lấy ra sáu lạng vàng tặng Trịnh Trường, Lý Bình Trung cả hai không muốn tiếp nhận. Hoàng Phi nói:

― Đây là sơ giao mà, còn hai lá thư này mới là quan trọng. Thư thứ nhất hướng dẫn Trịnh đệ, Lý đệ đến địa chỉ cư ngụ để học văn, luyện nội công cùng luyện hai bộ kiếm pháp “Tuyệt cao kỳ kiếm” và “Phong tâm kiếm”. Thư thứ hai ngoài bao đề: Người nhận Phùng Hưng, người gửi Hoàng Phi. Mời Trịnh đệ, Lý đệ đọc lại hai lá thư trước khi lên đường, khi đến nơi nhờ người báo tin cho huynh biết, rồi ở đó cho đến khi nào huynh đệ tái ngộ. Trịnh Trường và Lý Bình Trung mắt ứa lệ, lòng cảm động cả ba ôm nhau khóc một hồi rồi từ giã, chúc nhau thượng lộ bình an. Trịnh Trường, Lý Bình Trung xuống lầu, vào phòng riêng cúi đầu lạy thúc phụ xin tạm biệt, hẹn ngày về nhận lại cây kiếm. Lý Bình Trung tạ ơn ông chủ Phong Lưu lầu, xin lạy hai lạy xem như tình thúc phụ, cùng lúc nhờ thúc phụ giữ hộ năm bộ hài cốt, còn tất cả vật dụng của gia đình tặng cho những ai cần dùng, cả hai thiếu niên trên vai mang theo quần áo cá nhân, một lần nữa Lý Bình Trung đa tạ ông chủ Phong Lưu lầu. Ông vấn an Lý Bình Trung:

― Mỗ họ Trịnh tên Thành, chúc Lý nhi thượng lộ bình an ! Trịnh nhi cũng thế, thúc phụ mong ngày tái ngộ ! Trịnh Trường và Lý Bình Trung hẹn ngày tái ngô:

― Thưa thúc phụ, Lý nhi, Trịnh nhi hẹn ngày báo ân, không phụ lòng thương yêu của thúc phụ, tạm biệt thúc phụ, tạm biệt thúc phụ.

Cả hai thiếu niên song vai ra đi cùng thề nguyền: “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo”.

Hồi 2

Lĩnh Nam Bách Việt Một Cõi Bờ

Huỳnh Tâm - Anh Hùng Nam Việt