Hoàng Phi thấy bóng mẫu thân, mừng vui, chạy lại ôm hôn, trêu ghẹo:

― Hài nhi hôn mẫu thân một cái nè, hai cái nè, hôn luôn mười hai cái nè, lâu quá không được hôn mẫu thân, bữa nay hôn cho đã đời mới được! À mẫu thân, ở nhà gia gia có ăn hiếp mẫu thân không? Lý Phi Hồng “Hiệp Khách Lan” nghe con nói vậy cũng cười, bà nói đùa:

― Ta ăn hiếp gia gia của mi thì có, vì kiếm pháp của ta đâu có kém gia gia mi đâu. Hoàng Phi vừa cười:

― Ý à, hài nhi hiểu rồi, khi nào có mặt hài nhi ở nhà, thì mẫu thân mới có dịp xuất chiêu “nũng nịu” với gia gia phải không? chứ làm sao mà cự nổi kiếm pháp họ Hoàng, à nữa khi gia gia xuất chiêu hình như lúc nào cũng thua mẫu thân thì phải, gia gia thắng làm sao được! gia gia mà đánh thắng hả, bà táo sẽ buồn đi ngủ ngay, thề là cả ngày ấy chắc chắn gia gia không có thứ gì bỏ vào bụng rồi? “hì hì” Lý Phi Hồng miệng cười lộ dáng trong lòng hạnh phúc:

― Lão xem mi được cái tài trêu ghẹo có duyên, lão nhớ mi lắm, thấy mi như được uống vài thang thuốc bổ, hôm nay sức khỏe của lão sung mãn lắm, sao hài nhi đi lâu về nhà vậy? ở nhà gia gia, mẫu thân, huynh tỷ và cả Trịnh, Lý đệ cũng rất mong mỏi hài nhi. Hoàng Phi chạy lại ôm mẫu thân:

— “Hì hì” hài nhi hôn mẫu thân nè, nè, hôn như vậy thì mới hết mong chờ. Lý Phi Hồng vui cười:

— Hài nhi độ này có mùi khét nắng, da hơi sậm, hình như hài nhi sống với gió sương nhiều lắm phải không, hài nhi đưa tay cho lão xem nào? Hoàng Phi sợ mẫu thân lo âu muốn dấu cũng không được, vì mẫu thân rất nhiều kinh nghiệm trong đời sống, bà mẹ nào cũng không muốn con mình khổ, luôn luôn thấy con mình ở bên cạnh như ngày còn bồng bế trong bầu nuôi sữa mẹ, tuy đã lớn nhưng vẫn lo từng bữa cơm, giấc ngủ và hơi thở cho con, nhất là Hoàng Phi chưa phải tuổi phong trần, bà lại càng lo hơn. Ly Phi Hồng cằm tay Hoàng Phi, hỏi:

— Hài nhi làm những việc gì ở ngoài đời mà chai cả hai bàn tay vậy, da lại bị sậm khét nắng nữa, hài nhi kể cho lão nghe nào ? Hoàng Phi thấy mẫu thân rơi lệ, vội kể cho bà nghe:

— Thưa mẫu thân, hài nhi làm những việc như trồng cây ăn trái, đào ao nuôi cá, tập luyện võ học, độc thư pháp, binh pháp, chỉ bấy nhiêu đó thôi, hài nhi không làm gì khổ cả, mẫu thân an tâm. À mẫu thân, có một việc mà hài nhi mới làm việc thiện đầu tiên, thấy cũng ngộ ngộ, hài nhi gặp một thúc mẫu bị bệnh chỉ chờ ngày lìa đời, mà lại cấn thai đã quá ngày khai hoa nở nhụy, hài nhi xuất chiêu phóng một tiên đơn vào huyệt “Kiên Trinh” thì bà ấy hơi tỉnh lại, rồi xuất luôn một viên “Đơn hầu” vào huyệt “Cột hầu” bà ấy rùng mình, tiếp theo hai tiếng phát ra rất lớn “bục bục” thế là trên nét mặt cả nhà bà ấy vui mừng, xem lại là song nhi một trai, một gái. Cả nhà đồng khoanh tay tạ ơn hài nhi, họ nhờ hài nhi đặt tên cho con của họ, nam là Đào Phụng Anh Hòa, nữ tên là Đào Trần Mẫn Trâm, cuối cùng hài nhi nhận làm nghĩa tử, mẫu thân có thấy diệu kỳ không? Từ đây mẫu thân đã có cháu nội rồi đấy “hì hì”. Lý Phi Hồng rất hài lòng, vì bà đã biết được con mình có lòng nhơn trợ khó phò nguy, bà càng thương nhiều hơn và biết những việc làm của Hoàng Phi ở ngoài đời, bà rất an tâm, chính nhờ tình mẫu tử hải hà, cho nên bà biết nhiều về Hoàng Phi, bà hỏi tiếp:

— Những việc làm của hài nhi, lão rất hài lòng, nhưng đừng xem thường sức khỏe, hài nhi phải tập luyện nội công, ngoại công để vượt qua thời tiết, hiện nay lão có may cho hài nhi sáu bộ bào phục mới và túi vải trong đó có các loại dầu gió, dầu cảm khi nào gặp dầm sương dãi gió có mà dùng, phải luôn đem theo bên mình nhá, khi dùng đến dầu tức nhiên là lão xuất hiện bên mi vậy. Hoàng Phi cảm động hôn mẫu thân một lần nữa:

— Nè bên phải cũng có dầu cảm, nè bên trái cũng có dầu gió “hì hì” bên nào cũng có dầu đã quá. Hài nhi thích hôn mẫu thân hoài, sống gần mẫu thân tinh thần hài nhi thoải mái lắm, ước gì sau này hài nhi được phục vụ mẫu thân. Lý Phi Hồng nghe hài nhi nói vậy, trong lòng vui vô cùng tả, tuy rằng chỉ bằng lời nói thế mà bà cảm thấy muôn vàn của quí nhất trong đời không thể nào bù đắp cho bà bằng chất triệu hạnh phúc:

— Được rồi sau này ta già yếu sẽ nhờ chính mi nuôi, như cho già ăn cơm, uống nước, trồng hoa cho già, cõng già đi chơi và nhiều việc khác già chưa tiện kể ra đây. Hoàng Phi cười:

— “Ha hà” có phải còn tắm, mặc bào phục và đi đổ phân cho mẫu thân nữa chứ, hài nhi thấy những việc làm đó là nghĩa vụ, hài nhi hãnh diện lắm, mẫu thân an tâm Hoàng Phi này đã nói tức là phải hành, hứa với mẫu thân không sai lời, Lý Phi Hồng bụm miệng cười:

— Lão nói cho vui thôi, sau này già này vẫn khỏe như voi “hì hì” bà nói tiếp, hài nhi vào trong tẩy trần đi và mặc bào phục mới, có thể một chập nữa gia gia hài nhi về đấy. Hoàng Phi “dạ”:

— Đa tạ mẫu thân, hài nhi vâng lời. Hoàng Phi đi vào hậu sảnh đường, khi ra sảnh đường Hoàng Phi thấy đủ cả nhà không thiếu một ai, có cả nhị đệ Trịnh, Lý nữa. Hoàng Phi thi lễ trước gia gia, mẫu thân huynh tý và nhị đệ Trịnh Lý:

— Hài nhi phục mệnh gia gia, mẫu thân và huynh tỷ. Hoàng Chỉnh tính hơi nghiêm nghị, hỏi:

— Đã hơn tháng hài nhi ra ngoài sao lâu về vậy? Lý Phi Hồng lên tiếng đỡ lời cho Hoàng Phi:

— Thưa tướng công, hài nhi đã trình bày hết cho thiếp nghe rồi. Hoàng Chỉnh nóng lòng, hỏi tiếp:

— Thế thì hài nhi còn có những việc gì mới nữa không?

— Thưa gia gia, mẫu thân. Hài nhi về đây thăm nhà vài hôm rồi đi Trường Sa, vì có hẹn với Vũ thúc thúc, có thể tháng sau hài nhi mới về nhà. Hoàng Khải hỏi thăm võ học của Hoàng Phi:

— Ngu huynh và tỷ tỷ ước gì hiền đệ truyền thụ võ học, không biết hiền đệ có chấp nhận không?

— Thưa đại huynh và tỷ tỷ việc này đâu có khó gì đâu, thế mà lâu nay ngu đệ không để ý đến, xin đại huynh và tỷ tỷ tha thứ cho, xem như khởi tập luyện hôm nay cũng được. Hoàng Lữ Thư vui mừng:

— Hay lắm tỷ tỷ muốn hiền đệ luyện cách nào hay nhất, khi xuất một chiêu là hạ thủ được đại huynh Khải, chỉ một chiêu là đủ rồi không cần luyện thêm nữa, hiền đệ nghĩ sao?

— À thì ra tỷ tỷ luyện võ không phải để giang hồ như tiểu đệ hay sao, mà chỉ để giang hồ với đại huynh à. Hoàng Lữ Thư cười:

— Đúng vậy, từ khi hiền đệ ít ở nhà không có ai chơi luyện võ với tỷ tỷ, bởi vậy tỷ tỷ mời đại huynh vi trùng sách ra đấu võ, lúc nào đại huynh cũng làm bộ thua chạy, tuy nhị đệ Trịnh, Lý có chỉ tỷ tỷ vài chiêu đã đánh đại huynh nhưng chưa đã, nay hy vọng những chiêu mới của hiền đệ. Hoàng Phi hiểu được ý của đại Huynh:

— Thì ra đại huynh bảo tiểu đệ truyền võ học cho tỷ tỷ, nhằm đánh đại huynh đấy à? Hoàng Khải cười, biết Hoàng Phi hiểu ý mình:

— Ngu huynh, làm như vậy để tỷ tỷ của đệ vui, phái nữ mà ngồi một mình thì họ buồn lắm, mỗi lúc ngu huynh thấy tỷ tỷ của hiền đệ ngồi tư lự một mình, ngu huynh mời vài chiêu, thế là cả ngày hôm ấy vui lắm, riêng ngu huynh cũng có một tí thoải mái để đọc thư pháp. Nói về thư pháp và võ học, thì mỗi pháp cũng có muôn vàn sở đoản sở trường, đại huynh đưa ra một ví dụ “Ngọc danh kiếm” “Thái danh kiếm” và “Thượng danh kiếm”.

            “Ngọc danh kiếm” màu đỏ, thông luật pháp của môn phái, quyền lực tối cao khi thi hành luật trong môn phái, nhiệm vụ xét xử nghiêm minh không thiên vị, nếu “Ngọc danh kiếm” vào tay người vô nghiêm minh thì bị loạn trong môn phái!

“Thượng danh kiếm” màu xanh, thông thạo sổ sách chi thu, tạo ra tài sản, bảo vệ sự nghiệp trong môn phái, quyền lực tối cao thi hành tra xét tài sản bị mất, nếu “Thượng danh kiếm” vào tay kẻ tham lam thì môn phái bị lầm than, khốn cùng !

“Thái danh kiếm” màu vàng, thông lầu kinh sử trong môn phái, tính hiền đạo đức, canh tân bảo cổ văn hóa, nhất là lưu truyền văn hiến Bách Việt, quyền lực tối cao khi thi hành xét xử kẻ vô đạo đức, nếu “Thái danh kiếm” vào tay người vô học thì môn phái sẽ bị mai một.

Nói chung ba pho kiếm pháp “Ngọc danh kiếm”, “Thượng danh kiếm” và “Thái danh kiếm” hiệp một gọi là “Tam Thanh Kiếm” thì môn phái đó cũng thành danh khắp thiên hạ.

Cả nhà ngạc nhiên khi nghe Hoàng Khải dẫn giải thư pháp, chính Hoàng Chỉnh cũng phải công nhận những lời uyên bác ấy có giá trị về sở học, riêng Trịnh Trường, Lý Bình Trung thì rất vui mừng vì hiểu được mục đích của ba pho kiếm, cả hai đồng cảm nghĩ thầm.

Ba pho kiếm sẽ xuất hiện nay mai. Còn Hoàng Phi đã có chuẩn bị đi Trường Sơ lấy “Ngọc danh kiếm” và “Thái danh kiếm” riêng Hoàng Lữ Thư trong lòng hơi buồn:

— Thưa đại huynh, như vậy từ nay muội không phá đại huynh nữa, vì nghe đại huynh dẫn giải về thư pháp trong kiếm pháp thì biết đại huynh đã là cao thủ thư pháp, vì chiều muội mà phải bỏ ra thời gian để giúp vui cho muội, nay mới biết được tình thương của đại huynh cho muội nhiều lắm, từ đây muội châm trà cho đại huynh, muội xin phụ lục tìm những chương thư nào mà đại huynh cần. Hoàng Khải rất thương Hoàng Lữ Thư và  Hoàng Phi nhưng lòng rất kín đáo. Hoàng Phi lâu nay cũng tưởng Hoàng Khải dốt giác thư pháp và binh pháp không ngờ đại huynh của mình lại thông thái như vậy. Hoàng Phi thấy đây cũng là dịp để biết về thông thái của đại huynh mình:

— Thưa đại huynh “Tam thanh kiếm” có thực, hay chỉ là truyền thuyết ?

— Hiền đệ hỏi câu này rất thú vị lắm, “Tam thanh kiếm” có thực chứ không phải là truyền thuyết, như không biết chủ nhân là ai thôi ! “Tam thanh kiếm” cũng có thể xuất hiện rồi nhưng vô dụng vì tam bảo kiếm vào tay kẻ bất tài, đôi khi còn làm hại đến thiên hạ nữa.

— Đại huynh căn cứ vào thư pháp nào mà biết có “Tam thanh kiếm” ?

— Nói về thư pháp thì cũng như võ học vậy, mình tìm được điểm khởi đầu, để làm bước tiến tới, gọi là căn bản rồi từ ấy mới tìm đến kết luận, đòi hỏi phải mất nhiều thời gian, thư pháp có dẫn giải mạch lạc, nhưng cũng có ẩn dụ nữa, như hiền đệ đã nghe một cách rõ ràng là tìm ra ẩn dụ pháp, nói một cách khác trong thư pháp ẩn dụ kín đáo để so sánh hình ảnh này với danh từ kia cho thêm phần sáng nghĩa, thay vì nói ba pho kiếm “Ngọc danh kiếm” “Thượng danh kiếm” và “Thái danh kiếm, thì ẩn dụ pháp là “Tam thanh kiếm” chữ “kiếm” thì ai cũng biết, nhưng chữ “Tam thanh” thì khó mà ai biết thấu! Mình phải hiểu chữ “thanh” là “Ngọc, Thượng, Thái” rồi mình đi tìm Ngọc là màu đỏ, Thượng là màu xanh, Thái là màu vàng, lúc này kết luận được rồi, tên của tam pho kiếm trong ấy có ba phổ kiếm cùng màu kiếm. Hoàng Phi, Trịnh Trường, Lý Bình Trung tự nghĩ thầm đại huynh nói rất chính xác như người đã cầm kiếm và phổ trên tay vậy. Hoàng phi thử đặt vấn đề:

— Thưa đại huynh, như vậy đại huynh có thấy “Tam thanh kiếm” đó chưa ?

— Một khi đã biết đến nó, tuy tay chưa cầm nhưng trí tuệ đã cầm rồi, nếu thích thì luyện không khó, chỉ còn một thời gian nữa là tìm ra “Tam thanh phổ” khi ấy cầm một que củi mục cũng thành “Tam thanh kiếm” Hoàng Khải mở ra thế giới thư pháp, cả nhà như mê như mẩn. Hoàng Phi, Trịnh Trường, Lý Bình Trung đồng khoanh tay bái phục đại huynh:

— Thưa đại huynh, đúng là chúng đệ đi trong bóng đen không thấy đường, trên tay đã có “Thượng thanh kiếm” và phổ, còn có phổ Thái kiếm nữa, thế mà vẫn chưa biết cách dùng. Hoàng Khải cũng nhiên:

— Thế thì ra quí đệ đã có “Thượng danh kiếm” và “Thái danh kiếm” rồi à, tốt lắm, hai hiệp một thì “Ngọc danh kiếm” phải về ngay, nhưng thử hỏi cầm que củi mục thành kiếm pháp được chưa? Nếu chưa được thì vất vả lắm mới thành công. Hoàng Khải hôm nay cao hứng gọi Hoàng Lữ Thư:

— Ngu huynh nhờ muội đi pha một bình trà thật nóng và thật ngon, để ngu huynh nói chuyện về võ học của huynh cho muội nghe nhá, Hoàng Lữ Thư “dạ”:

— Tiểu muội đây, kính vâng lời đại huynh xin đi liền. Cả nhà ai cũng cười thành tiếng, vì Hoàng Lữ Thư lâu nay thường sai bảo Hoàng Khải, còn đánh đại huynh nhừ tử nữa, hôm nay trở chứng bị sai khiến, ngoan ngoãn ai thấy cũng là lạ, lâu nay Hoàng Lữ Thư chỉ vâng lời gia gia, mẫu thân và Hoàng Phi. Hoàng Lữ Thư đem khay trà nóng, thơm vào sảnh đường:

— Thưa đại huynh, trà và có cả bánh đậu phụng nữa, mời gia gia, mẫu thân quí đệ cùng dùng. Hoàng Khải kể tiếp:

— Muội có biết ngu huynh luyện tập võ học không?

— Dạ thưa không ạ.

— Ngu huynh vì thương tiểu muội cho nên mới chịu đòn túi bụi, nhưng không thể chịu đòn mãi được mới tìm độc trong thư pháp có nói về võ học “Đả thâu lượng” do một nhà tu tiên sáng tạo gồm mười hai thức, hai mươi bốn chiêu, sau khi ông qua đời không có truyền nhân, may mắn trong hai mươi ngày ngu huynh tìm được võ học này, thế là tha hồ để cho tiểu muội muốn đánh đá cách nào cũng được, muội còn nhớ mỗi lần ngu huynh bị muội đánh đá cho đến khi tay muội mỏi mệt mới thôi, còn ngu huynh vẫn ngồi độc sách tự nhiên xem như không biết gì cả, đó là “Đả thâu lượng” mà nhà tu tiên đó vô lượng để cho mặc đời tiếp nhận cái nhân thiện.

Nhân hôm nay có Phi hiền đệ là võ học cao nhất, thử xuất quyền để xem có chuyển ngu huynh được không? À chú ý quyền xuất càng mạnh càng tốt. Hoàng Phi lấy làm lạ cũng xin xuất chiêu thử xem:

— Đai huynh, đỡ thử một quyền “Bích phong hỏa” trong “Công Quyền Lĩnh Nam” nhưng đại huynh phải ngậm trước viên thuốc này đã, có như vậy thân thể của đại huynh vô sự. Hoàng Khải miệng nở nụ cười cảm thông:

— Không có sao đâu, hiền đệ cứ an tâm. Hoàng Phi nghĩ thầm nếu có gì thì đại huynh mình chết sao! Chàng vội hoảng sợ:

— Thôi tiểu đệ thua cái cứng cỏi khó ai mà cám dỗ được đại huynh. Hoàng Khải hiểu ý Hoàng Phi:

— Hiền đệ chưa thử mà đã sợ ngu huynh chết à, không sao đâu. Hoàng Phi đề nghị:

— Tiểu đệ chỉ xuất một thành thôi, nếu đỡ được cũng tốt lắm. Mời đại huynh đỡ. Quyền xuất trúng vào Hoàng Khải phát ra một tiếng “xịt” cả nhà ai cũng bị ngộp thở choáng váng rợn rợn trong người như thể bị muốn cháy như than hồng, thế mà Hoàng Khải vẫn tự nhiên. Hoàng Phi không chần chờ hỏi:

— Thưa đại huynh, quả thực võ học “Đả thâu lượng” của đại huynh đã đến trình độ cao đỉnh, tiểu đệ không ngờ. Hoàng Khải cười rồi khẻ:

— Ngu huynh chỉ có “Đả thâu lượng” để làm vốn, người muốn hại ngu huynh cũng khó lắm và ngược lại cũng thế, nói về kiếm nhà mình thì ngu huynh luyện tập thành thục, nhưng không sử dụng đến, gia gia và mẫu thân cũng đã hiểu mục đích của ngu huynh chỉ vì tìm hiểu thư pháp và binh pháp. Lý Phi Hồng vào sảnh đường mời cả nhà:

— Thưa phu quân cùng các hài nhi đi dùng bữa. Cả nhà vừa ăn, vừa luận chuyện giang hồ rồi đến luận võ học trong nhà. Người hạnh phúc nhất là Hiệp Khách Lan, vì bà lúc nào cũng muốn cảnh gia đình náo động, không khí ấm cúng.

Hôm sau Hoàng Phi luyện võ cho Hoàng Lữ Thư, riêng Hoàng Khải lúc nào cũng ở trong thư phòng ít ra ngoài trừ khi dùng hai bữa sáng chiều. Hoàng Phi hỏi Hoàng Lữ Thư:

— Từ ngày nhị đệ Trịnh, Lý về nhà mình ở tỷ tỷ nghĩ gì về họ?

— Tỷ tỷ thấy nhị đệ Trịnh, Lý cũng rất đáng thương lắm, tỷ thương đệ bấy nhiêu thì thương Trịnh, Lý cũng thế, nhưng lạ thay tỷ chưa bao giờ nghe họ nói đến võ học. Hoàng Phi cười nũng nịu với chị:

— Tại vì nhị đệ thấy tỷ đánh đại huynh cho nên họ sợ không dám đến gần tỷ. Hoàng Lữ Thư cười:

— Thảo nào nhị đệ ấy sợ tỷ, như bà cọp cái vậy, thực ra cả nhà đã biết trò chơi của tỷ, là chỉ đánh đại huynh thôi, tỷ chỉ đùa cho vui, chứ đâu có ý gì, có lúc đại huynh còn giả bộ khóc ra nước mắt nữa, đại huynh giả như thực hay lắm, khi nào đại huynh không giả bộ thì tỷ đánh mạnh tay, thế là đại huynh giả bộ khóc, tỷ rất thích chơi như vậy, tỷ rất cũng biết thương đại huynh vậy, hôm nào đại huynh giả bộ hay thì tỷ đi nấu nước trà và lấy bánh để trong thư phòng cho đại huynh dùng, tỷ gọi đây là phần thưởng sau khi khóc. Hoàng Phi nghe Hoàng Lữ Thư nói vậy cũng cười:

— Thưa tỷ tỷ, từ đây đừng phá đại huynh nữa, đại huynh vì quá thương tỷ tỷ cho nên phải nuông chiều để làm cho tỷ tỷ vui, nay đệ mạo muội đề nghị như thế này không biết tỷ tỷ có chịu không?

— Đề nghị chuyện gì tỷ tỷ cũng nghe theo không cãi đâu, nói đi nào:

— Từ đây tỷ tỷ luyện võ với đệ, khi nào không có đệ thì luyện võ với nhị đệ Trịnh, Lý, tỷ tỷ nhớ thường đến thư phòng độc thư pháp với đại huynh, ngoài ra tỷ còn phải nhờ gia gia, mẫu thân hướng dẫn luyện nội ngoại công, có như vậy tỷ mới xuống núi giang hồ được. Hoàng Lữ Thư cười rồ:

— Hiền đệ đã nói sai, khi tỷ tỷ đi chợ Cửu Chân cũng gọi là ra khỏi nhà, tức là xuất giang hồ rồi, như vậy xuống núi còn một nghĩa khác “ha hà” Hoàng Phi cũng cười theo:

— Thưa tỷ tỷ, đệ gửi lại nhà hai con hạc nhỏ để đưa tin tức về cho đệ, tỷ tỷ không cần phải nuôi hạc, vì hạc tự biết đi tìm mồi để ăn, đệ gọi nó xuống tỷ làm quen với nó nhá. Hoàng Lữ Thư vui mừng khôn tả:

— Tốt lắm, có hạc để đưa tin thì hay tuyệt. Hoàng Phi ở nhà được ngày thứ sáu, nay chàng phải ra đi:

— Thưa gia gia, mẫu thân, đại huynh, tỷ tỷ. Hoàng hôn, Phi nhi cùng với nhị đệ Trịnh, Lý đi Truờng Sa có thể đầu tháng sau mới về. Hoàng Chỉnh, cả nhà xem Hoàng Phi đã trưởng thành, cho nên không còn lo âu gì nữa, Hoàng Khải thương em dặn bảo đôi lời:

— Hiền đệ và nhị đệ Trịnh, Lý đi ra ngoài đừng chạm nhau với người đời nhá, tam đệ còn nhỏ, dù đã có võ học nhập thánh cũng không biết hết giang hồ lắm hiểm ác! Hoàng Lữ Thư đôi mắt hơi đỏ, vướng lòng đôi hạt lệ:

— Phải chi tỷ tỷ đi với tam đệ thì hay biết mấy, tỷ tỷ sẽ lo cho tam đệ được ăn no ngủ ấm, tam đệ nhớ về sớn nhá đừng để tỷ tỷ mong chờ. Cả ba cúi đầu cảm ơn đại huynh, tỷ tỷ hai tay bái gia gia, mẫu thân. Ra đến sân Hoàng Phi lấy trong túi áo con Tu hú gỗ làm hiệu, năm đại hạc đáp xuống đất, cả ba lên lưng hạc bay về hướng Bắc, vẫy tay hẹn hội ngộ. Hoàng Phi, Trịnh Trường, Lý Bình Trung cho hạc bay gần nhau, rồi dùng mảnh da bò làm loa cùng nói chuyện sinh hoạt trong giới giang hồ mấy tháng xa cách. Hoàng Phi muốn biết về tình hình ở Quế Lâm:

— Tình hình của Thiếu Hiệp Quân đến nay như thế nào Trịnh đệ và Lý đệ cho huynh biết tường tận kết quả nhá. Gió thổi quá mạnh Trịnh Trường nói to:

— Thưa đại huynh, đệ cùng Lý đệ, đến doanh trại Thiếu Hiệp Quân cho hai con hạc bay lượn qua ba vòng vẫy tay chào các thành viên trong trại, rồi cho hạc đáp xuống, chỉ cần năm khác toàn thể tụ tập rất kỷ luật, chúng đệ được Thiếu Hiệp Quân tiếp đón trọng thể, khi vào trung tâm trại hội trường lộ thiên, nhìn qua đệ có cảm tưởng họ không tin tưởng khả năng của chúng đệ, lý do đơn giản là tuổi đời nhỏ và chúng đệ cũng chưa biết ăn nói, đó là khuyết điểm, cho nên không được lưu loát như đại huynh, để tạo uy danh buổi đầu, đệ và Lý đệ cùng phi thân lên đỉnh cột cờ xem bốn hướng rồi phi thân về trước hội trường lộ thiên, ý nói với Thiếu Hiệp Quân rằng xem địa thế lập trại có nghiêm phép không. Sau đó đệ mở lời ngay “Tại hạ rất khen quí anh hùng lập trại đúng nghiêm phép” cả hội trường đồng vỗ tay, đệ nói tiếp “Hôm nay huynh đệ tại hạ nhận mệnh lệnh của sư huynh Hoàng Phi đến đây cùng chung cộng khổ với quí huynh đệ” cả hội trường đồng vỗ tay một lần nữa, chúng đệ lên tinh thần, các lãnh tụ Thiếu Hiệp Quân giới thiệu họ tên thành phần nhân sự, chúng đệ cũng chúc sức khỏe xã giao hẹn ngày hôm sau luyện tập.

            Chúng đệ chia thành ba buổi luyện tập, sáng và chiều luyện tập cho toàn thể Thiếu Hiệp Quân tối luyện tập cho ba mươi lãnh tụ, sau ba ngày luyện tập riêng cho đại huynh Hoàng Anh Tuấn, Lê Chí Nam, Nguyễn Chung Kiệt và Hoàng Thanh Thủy. Đúng nửa tháng kiểm tra toàn bộ thấy kết quả ngoài dự định, tuy Thiếu Hiệp Quân có người tiếp nhận nhanh chậm nhưng tất cả đều là nghĩa hiệp, đệ cùng Lý đệ nhận xét đây là một tổ chức rất nghiêm minh, có tinh thần dũng khí, có thể nói là lực lượng tinh nhuệ. Đúng lúc tam Chu đệ đến trại báo cáo, năm ngày nữa Vũ thúc thúc sẽ đến trại, để nhập vào Cần Lĩnh Nam nhưng vẫn giữ tên binh đoàn Thiếu Hiệp Quân cho có tính độc lập, nhằm tạo nhân tài.

            Đệ cùng Lý đệ mời đại huynh Hoàng Anh Tuấn, Lê Chí Nam, Nguyễn Chung Kiệt và Hoàng Thanh Thủy để giới thiệu tam Chu đệ và trình bày mục đích của Cần Lĩnh Nam, tất cả đồng ý, nhận thức của người lãnh tụ Hoàng Anh Tuấn sáng suốt, ngay tại sảnh đường tất cả hội ý lập ra kế hoạch hành động, cũng như triệu tập Thiếu Hiệp Quân. Sáng hôm sau toàn thể binh ngũ chỉnh nghiêm nghe Hoàng Anh Tuấn truyền lệnh, ban bố kế hoạch và giới thiệu tam đệ Chu Thông, Chu Thiện, Chu Hào nhận trách nhiệm luyện tập để thay thế đệ và Lý đệ, công cuộc luyện tập tiến hành suôn sẻ.

Ngày thứ năm sau Vũ thúc thúc và ngũ nữ hiệp đến bằng phương tiện hạc, chúng đệ ra cửa trại tiếp đón, đại huynh Hoàng Anh Tuấn, Lê Chí Nam, Nguyễn Chung Kiệt và Hoàng Thanh Thủy triệu tập toàn thể Thiếu Hiệp Quân, binh ngũ nghiêm chỉnh tiếp đón Vũ thúc thúc lãnh tụ Cần Lĩnh Nam, Trung Tông, hơn ngàn tiếng vang trời, dậy đất, họ tung hô “Cần Lĩnh Nam Trung Tông thiên thần xuất hiện” Hoàng Anh Tuấn giới thiệu Vũ thúc thúc, ngũ nữ hiệp, Trịnh Trường, Lý Bình Trung, tam Chu đệ là những anh hùng “Cần Lĩnh Nam”. Trong ngày Vũ thúc thúc thuyết phục được toàn thể Thiếu Hiệp Quân. Vũ thúc thúc công bố từ đây mọi sự luyện tập võ nghiệp theo hằng lệ do ngũ hiệp, tam sư Chu phụ trách, còn phần nội bộ vẫn như cũ không thay đổi, đặc biệt luyện tập thêm binh pháp.

Vũ thúc thúc ra lệnh cho đệ, Lý đệ, tam Chu đệ đi vào sào huyệt tại Ðô Lung Lĩnh ở Trường Sa, bắt hết những tên. Tăng Bạch Hùng, Hà Chung Khoa, Hứa Vành Anh, Từ Ngọc Hú và trên bảy trăm đảng viên. Trước khi ra đi Vũ thúc thúc có dạy “Chủ trương bớt tù thêm bạn, nhất là độ lượng với chúng Chu Sa Đạo và Chung Thành Giáo” Chúng đệ thực hiện thành công, chỉ có một tên Từ Ngọc Hú chết vì nghiệp báo, y bất tài, tướng mạo không giống ai, chỉ có cái miện nói rất sạo như thiệt, người nào mới gặp y cũng tưởng là nhân tài đạo đức trấn một phương trời, nhưng vài ngày sau cái đuôi đàng điếm xuất hiện thì đã muộn màng, y có rất nhiều thù oán trong và ngoài “Chu Sa Đạo” mọi người xem y như không đội trời chung. Tính của y từ xưa nay thượng đội hạ đạp, làm tay sai đắc lực nhất cho Trần Mạnh Côn và Hoàng Cương, ai cũng phải sợ y. Ngày tàn của y, trong đồng bọn chỉ mặt đặt tên cho y là tên tội tầy trời. Y là tên đao phủ giết Lạc dân bừa bãi, cướp của người nghèo khó, ăn của người xoay lại hại người đúng là lừa đảo xảo trá, y tìm đủ mọi cách để hại người cương trực, hiếp dâm già trẻ lớn bé không tha một ai, trước khi vào “Chu Sa Đạo” y là dân chạy đầu ăn mối tại chợ Cầu Muối, chuyên nghề lắc túi, trút cá tôm. Toàn chúng “Chu Sa Đạo” còn nói rằng “Quí anh hùng muốn chúng tại hạ tùng phục, trước nhất phải đưa tên Từ Ngọc Hú ra phanh thây nếu không chúng tại hạ bất tùng phục”.

Chúng đệ thấy đây là chuyện vay phải trả rất rõ ràng đồng chấp nhận để họ tự xử quyết lấy. Thế là mỗi người tự động cầm đá đập vào đầu tên Từ Ngọc Hú cho đến khi chết họ mới chịu thỏa mãn, sự căm thù đến trời xanh nay mới được như nguyện. Cuối cùng họ xin thề tùng phục dưới cờ Cần Lĩnh Nam. Chúng đệ được lệnh Vũ thúc thúc, đưa lực lượng này về cho thúc thúc Chu Điệp, cách đây sáu ngày được biết họ cũng là người có chí khí, nay họ chuyên cần luyện tập võ nghiệp, đời sống của họ ở đây rất thoải mái.

Tuổi thiều hoa sức khỏe đầy tràn, tam huynh đệ đi cả đêm vẫn bình thường, nhưng đại hạc cần phải nghỉ ngơi và ăn uống, cả tam huynh đệ cho hạc bay vào khu rừng rậm. Người và hạc đánh một giấc nồng trên cây cổ thụ đến trời quá ngọ, hạc cùng người dùng trưa ăn uống no nê, tinh thần sảng khoái.

Hoàng Phi búng vào trước ngực mỗi đại hạc một tiên đơn “Hoàng sinh hổ” còn trong lòng Lý Bình Trung thì hơi nao nao, ý muốn hỏi đi Trường Sa có việc gì không? Nhưng không dám hỏi Hoàng Phi, vì sợ trong rừng có người lạ mặt, Lý Bình Trung xem tứ hướng rồi lấy mảnh da bò cuốn tròn lại làm loa, hỏi nhỏ với âm lượng trầm đủ để Hoàng Phi và Trịnh Trường nghe:

— Thưa đại huynh, lần này đi Trường Sa có việc gì hệ trọng không? Hoàng Phi hiểu ý của Lý đệ, chàng dùng nhĩ ngữ, nói:

— Chuyến đi này, mục đích là cho bọn La Đức được dịp mở đại hội tại núi Việt Tú gần Phiên Ngung thành. Lý Bình Trung, Trịnh Trường nghe hơi lạ tai, Trịnh Trường hỏi lại cho rõ:

— Thưa đại huynh, tại sao không tiêu diệt chúng, mà lại đi giúp chúng mở đại hội là nghĩa lý gì? Hoàng Phi ung dung cười, nghĩ thầm, đúng là nhị tam đệ chưa hiểu ý của mỗ:

— Đây là muốn tiêu diệt bọn La Đức cùng một lúc, chứ đâu phải giúp họ mở đại hội đâu, mà quí đệ lo gờn gợn thế! Thôi để huynh giải thích cho quí hiền đệ hiểu và từ dây chuẩn bị thực hiện tốt nhá. Đầu tiên đến Trường Sa lấy một món vật đó là kiếm và phổ “Ngọc danh kiếm” “Thái danh kiếm” món nợ thứ hai là lấy La Đức để tế lễ cho gia đình họ Trịnh, Lý lấy một món vật khác là phù Minh Châu trên tay của La Đức, vào sào huyệt của chúng ở trong đất Hán, nếu không mở đại hội thì làm sao mà bủa lưới bắt hết chúng được. Trịnh Trường nghe Hoàng Phi giải thích cũng vui mừng, nhưng chưa biết phải đối phó thế nào, mà cùng một lúc thu hoạch nhiều kết quả, chàng suy nghĩ không ra. Hoàng Phi hỏi Trịnh Trường:

— Bây giờ Trịnh, Lý đệ đã biết ý của ngu huynh chưa, thế thì nhị đệ có những phương pháp hành động nào hay hơn không? Trịnh Trường trả lời:

— Thực ra đi lấy kiếm và giết La Đức không khó, một trong huynh đệ ai cũng làm được, nhưng bủa lưới bắt hết chúng mới là khó, vì vậy mới để cho La Đức sống đến nay! Hoàng Phi lúc nào cũng bình thản trong việc làm có tự tin:

— Hiện hay ngu huynh có mang theo mười mặt nạ da người, trước khi rời khỏi lưng hạc thì thất cả đồng đeo mặt nạ, đến lúc chiều tà ngu huynh vào nhà La Đức, sai khiến thần khinh của y qua chiêu “Thu hồn bắt phác” trong “Huyệt Pháp Lĩnh Nam”. Nhi đệ án chừng năm khắc sau đi thẳng vào sảnh đường, từ lúc này huynh đệ chuẩn bị hành trang xe pháo đến sào huyệt Minh Châu. Trịnh đệ chuẩn bị tư thế lên làm đảng trưởng tạm thời, còn Lý đệ tùy hoàn cảnh liệu sau, cũng thể đi vào sào huyệt Ðô Lung Lĩnh bám sát Cộng Đảng, nhất là chú ý mụ già Phạm Thuy Ngu cùng những thổ phỉ như Tăng Bạch Hùng, Hà Chung Khoa, Hứa Vành Anh, Từ Ngọc Hú, còn về La Đức thì có ngu huynh điều khiển y bằng thuật nhĩ ngữ.

À còn việc triệu tập đại hội trong thung lũng Việt Tú, hiện nay ngu huynh đã có hai danh sách tay chân La Đức, một do Thái Tử Hồ cung cấp, hai do Vũ thúc thúc cung cấp. Trịnh, Lý đệ ở lại sào huyệt Châu Minh liên lạc bằng hạc, sau đó La Đức theo ngu huynh đến Việt Tú trước, ngày đại hội ấn định đầu tháng bảy. Trịnh Trường chưa hiểu hết ý, hỏi lại:

— Ngu đệ không hiểu hết ý xin đại huynh nói lại, hai nữa làm cách nào để sai bảo được La Đức đó mới là khó!

— Muốn sai bảo người khác phải có trình độ võ học kha khá mới làm được, nói ra đây quí đệ cũng không hiểu đâu, hay nhất là thực hành như ý ngu huynh.

Trời đã tối huynh đệ lên đường, sáng mai đến Trường Sa, tìm nơi hẻo lánh dùng bữa cơm no nê, rồi ngủ một giấc nồng cho đã, đến chiều huynh đệ mới hành động.

Hoàng Phi búng mình phi thân qua hậu sảnh đường vừa thấy La Đức chàng cúi đầu chào, tức thì trong người của La Đức bị một đồ huyệt “Hoa nở đơn điền” Thượng-hạ có huyệt “Hoa tử đơn điền” Nam-bắc có huyệt “Hoa phế đơn điền” cộng ba huyệt đáp số mười hai. Hoàng Phi mời La Đức:

— Tại hạ kính mời quản lộc đại phu đi thăm Châu Minh, để bàn việc triệu tập đại hội tại thung lũng Việt Tú. La Đức không hề biết đã trúng đồ huyệt của Hoàng Phi, ông tươi cười tự nhiên, còn tỏ vẻ hài lòng, ông gọi một võ sĩ bảo:

— Hiện nay trong nhà có bao nhiêu đảng chúng? Có một võ sĩ lực lưỡng đi ra:

— Thưa đảng trưởng, hiện nay trong nhà có ba mươi võ sĩ. La Đức ra lệnh:

— Nhờ hiền đệ cầm lệnh bài bạc này cử năm võ sĩ, phi mã khẩn đến Châu Minh cấp báo tối nay mỗ đến, trên đường đi nhớ xuất lệnh cho hai mươi giám binh bám vào lộ trình giữ an ninh khi mỗ đi qua. Tức tốc có hai mươi lăm tuấn mã phi ra khỏi cổng dinh. Hoàng Phi an tâm sai khiến:

— Thưa quản lộc đại phu cho gọi bốn tuấn mã thật tốt. La Đức đồng ý bảo người nhà:

  • Võ sĩ đâu chuẩn bị bốn tuấn mã.

Mỗi lần La Đức đến sào huyệt Châu Minh đem theo bao kiếm “Ngọc danh kiếm” “Thái danh kiếm” cùng với ấn tín đảng trưởng Châu Minh. Ngoài ra ông còn lấy đem theo ba bao nhỏ màu vàng, bạc, đồng. Mỗi bao mười hai lệnh bài vàng, bạc, đồng. Do nhà Hán ban tặng, trên mỗi lệnh bài có khắc một con giáp Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi rất công phu. Từ phó đến chúng đảng Châu Minh, thấy lệnh bài tức nhiên có mật thư, tất cả phải thi hành lệnh, người cầm lệnh có quyền tiền trảm hậu tấu. Hoàng Phi mời Trịnh, Lý đệ vào sảnh đường ra mắt La Đức. Hoàng Phi nói với La Đức nghiêm nghị:

— Xin đảng trưởng trao những thứ ấy cho nhị vị thiếu niên gìn giữ. Lúc này tâm thần La Đức như đứa trẻ mới lên ba, ông không phản ứng, Hoàng Phi bảo sao làm ông vậy, đôi khi tâm thần ông như con khỉ học trò xiếc, ông nói:

— Quí tiểu đệ phải bảo mật tam lệnh cho mỗ. Hoàng phi thúc dục:

— Đúng khắc lên đường. Cả bốn ra khỏi sảnh đường đã có tuấn mã chờ sẵn sàng, đồng phi thân lên tuấn mã đi luôn. Trên đường đi Hoàng Phi ra hiệu cho Lý đệ lấy trước “Ngọc danh phổ” Hoàng Phi hỏi La Đức:

— Xin đảng trưởng cho biết lai lịch tất cả những thứ đem theo có được không? La Đức nói một cách tự nhiên:

— Được chứ! ai cầm ấn tín là người đó mới là đảng trưởng. Hoàng Phi hỏi tiếp:

— Vậy hiền đệ Trịnh đang cầm ấn tín xem như là đảng trưởng rồi. La Đức không ngạc nhiên,nói:

— Đúng vậy, không sai. Hoàng Phi hỏi như tra vấn:

— Đã có ấn tín còn dùng lệnh bài để làm gì. La Đức trả lời theo từng câu hỏi một:

— Ấn tín để làm mật lệnh thay thế cho lệnh bài, mỗi mật lệnh viết xong xuôi mới bỏ vào lệnh bài, khi đảng chúng Châu Minh thấy lệnh bài tức nhiên là thấy đảng trưởng.

— Vậy mật lệnh dùng giấy mực gì để viết. La Đức trả lời:

— Không quan trọng giấy mực, chỉ viết mật lệnh rồi đóng ấn tín đảng trưởng là có hiệu lực tức khắc, bỏ vào lệnh bài, thế là tất cả phải thi hành, sau đó lệnh bài phải trở về đảng trưởng. Hoàng Phi hỏi trúng vào từng phần mật lệnh:

— Mỗi lệnh bài vàng, bạc, đồng có giá trị như thế nào? và thập nhị giáp có ý nghĩa gì? La Đức trả lời:

— Lệnh bài vàng thay đổi thành phần nhân sự trong đảng, lệnh bài bạc mật lệnh, lệnh bài đồng thực hiện công tác đảng. Còn thập nhị giáp chỉ trang trí cho lệnh bài. Hoàng Phi hỏi tiếp:

— Từ hôm nay đảng trưởng tạm thời trao quyền cho Trịnh đệ, còn Quản lộc đại phu đến thung lũng Việt Tú, chuẩn bị đại hội Châu Minh được không? La Đức trả lời:

— Được chứ, không có gì trở ngại cả, có như thế mới rảnh tay để thực hiện nguyện vọng của mỗ, ngày mai mỗ trao quyền đảng trưởng rồi đi luôn đến Việt Tú, nơi đó mỗ đã chuẩn bị cơ mật, vào đầu tháng sau sẽ mở đại hội. Hoàng Phi hỏi tiếp:

— Xin đảng trưởng trao danh sách mời anh hùng đại hội, để ngu đệ đích thân mời được không ?

— Ý của hiền đệ hay lắm. La Đức lấy ra một danh sách từ trong túi áo, nói tiếp. Hiền đệ cầm lấy danh sách này mời họ gấp nhá? Nhớ đóng ấn tín thay cho Phù. Bốn tuấn mã đã đến trước cổng sào huyệt Châu Minh và Hưng Việt nằm sâu trong đất Hán, thuộc Phúc Kiến, phía sau ngọn Việt Thành Lĩnh chạy từ Phúc Kiến, đến huyện Tuần Mai tỉnh Nam Hải.

Hướng chân trời đã thấy hừng sáng, bốn người đi thâu đêm dạn gió dày sương không gặp cản trở nào, nhờ thế mới đến sớm hơn dự định. Đảng chúng và phó đảng Châu Minh đã đứng hai hàng dài từ cổng vào sảnh đưởng, để đón tiếp đảng trưởng. Bốn người vào đến sảnh đường La Đức vấn an đảng chúng, rồi phân chia ngôi thứ. La Đức ngồi vào ghế đảng trưởng trung tâm sảnh đường, Hoàng Phi như một hộ pháp đứng sau lưng La Đức, đảng phó họ Giang tên Lính Đỗ ngồi ghế trái và Chưởng luật đảng họ Bành tên Lân ngồi ghế phải, Nguyễn Trường (Trịnh Trường) và Võ Trung (Lý Bình Trung) đứng dưới một bực phó đảng, tất cả đảng vụ đứng bực dưới của Trịnh Trường và Lý Bình Trung. La Đức giới thiệu Đào Công (Hoàng Phi) hộ pháp của mỗ, điều hành đại hội Việt Tú, phần dưới là quí đảng vụ Trường Sa họ Vũ tên Tùng Chính, Quế Lâm họ Mạc tên Châu Kiệt, Tượng Quận họ Nguyễn tên Giang, Phúc Kiến họ Lô tên Cát, Triết Giang họ Ma tên Chí Hà, Giang Tô họ Kiều tên Cừ, Hồ Bắc họ Tăng tên Hảo Mô, Tứ Xuyên họ Từ tên Thành, Quế Châu họ Đại tên Chi, Giang Tây họ Mai tên Hùng Cô và trên hai ngàn đảng chúng, tiếp theo La Đức thông báo từ đảng phó đến đảng vụ và hội đồng cơ mật đảng:

— Vào đầu tháng sau sẽ mở đại hội tại thung lũng Việt Tú, nơi đó mỗ đã chuẩn bị cơ mật từ lâu, nay mỗ muốn biết danh sách tất cả thành viên có nhiệm vụ thi hành công tác đảng chuẩn bị chưa? Tất cả đồng loạt dâng lên những tờ trình, ông nói tiếp: Sao không thấy tờ trình lương thảo, ngân quỹ và tù nhân. Lập tức đảng vụ trình lên cho La Đức và để ý có điều gì khác lạ, hỏi.

— Từ xưa nay đảng trưởng không để ý đến những chi tiết nhỏ và chưa bao giờ có những người trẻ hầu hay đứng ngang hàng với đảng phó và là ngồi gần đảng luật, có lẽ những bí ẩn bên trong chăng? Hoàng Phi, Trịnh Trường và  Lý Bình Trung tự biết cả ba đã đi vào hang beo, khi đã vào rồi mới biết tâm trạng nổi da gà, như có câu “Hang hầm ai dám mó tay” riêng Hoàng Phi biết khả năng của mình trong lòng tự tin nhủ rằng:

            Ta đã vào tận hóc đèo

            Anh nhi nào sợ hổ beo Hán phàm

            Xem ra như lũ lòng tham

            Chỉ cần gió đẩy nước làm bình trôi.

            Ha hà …

            Hoàng Phi truyền ý nhĩ ngữ vào tai La Đức, chàng bảo:

— Đảng trưởng ra lệnh bảo họ, mục đích hôm nay mỗ xét lại nội bộ trước khi mở ra đại hội, quí các hạ có phản đối không? La Đức nhái lại:

— Mục đích hôm nay mỗ xét lại nội bộ trước khi mở ra đại hội, quí các hạ có phản đối không? Chàng tự nói. Dĩ nhiên câu hỏi này để khép chặt suy nghĩ trong nội bộ đảng Châu Minh. Chàng còn hứa. Nếu có người dám mở miệng ta bóp bẹp rồi vẽ tròn vuông cho mà xem. Hoàng Phi cắt đứt được suy nghĩ của nội bộ, xem ra họ không còn nghi ngờ việc hành động của đảng trưởng, đây cũng là một câu trả lời nhằm búa đe những ai dám hỏi. Lạ Đức nói:

— Mỗ giới thiệu hai thiếu hiệp anh hùng Nguyễn Trường, Võ Trung để tỷ đấu cùng quí các hạ, xem ai thắng sẽ được cử vào chức vụ đảng trưởng Châu Minh đó là mỗ phân quyền chuẩn bị cho ngày đại hội tại núi Việt Tú, mỗ sẽ đứng trên các đảng. Khi nghe câu tuyên bố này từ La Đức, ai cũng háo hức muốn làm đảng trưởng, thực ra những cao thủ Châu Minh đã để mắt ngắm nghía từ lâu nhưng chỉ để bụng, nay được dịp thì không còn dè dặt nữa phải đoạt cho bằng được, riêng đảng chúng không một ai có ước mơ vì biết thân phận. Đảng phó Giang Lính Đỗ phi thân xuống trước sảnh đường, hướng về đảng trưởng, rồi xoay mặt ra sảnh đường:

— Mời quí anh hùng tỷ đấu với tại hạ. Đảng vụ Trường Sa, Vũ Tùng Chính, phi thân vào đứng khoanh tay:

— Có tại hạ đây, xin mời trăm chiêu cao thấp. Giang Lính Đỗ xuất đao “vu vu” như bão tố chuyển động khắp nơi, trong sảnh đường tất cả màn cửa tung bay, mọi người hơi choáng váng, rợn rợn. Vũ Tùng Chính xuất kiếm chiêu phong cũng không hèn kém, chưa đến năm chiêu kiếm đao “keng keng” qua lại đã thấy Giang Lính Đỗ đi vào địa ngục. đảng vụ Giang Tây, Mai Hùng Cô nhảy vào đấu trường, xuất ra năm thế một quyền đi thẳng vào lòng ngực thanh toán Vũ Tùng Chính lăn ra ngất lịm, Mai Hùng Cô xin lệnh tống vào ngục lao. Đảng vụ Quế Lâm,  Mạc Châu Kiệt nhảy vào bái tất cả anh hùng, xuất luôn kiếm pháp thách thức Mai Hùng Cô, quyền và kiếm quần nhau chưa đầy năm khắc Mạc Châu Kiệt bằm thành đống thịt. Đảng vụ Tượng Quận, Nguyễn Giang phi thân vào, hai tay bái anh hùng xuất luôn ám khí màu đen “Hắc bạch tỵ” Mai Hùng Cô mù đôi mắt. Đảng vụ Giang Tô, Kiều Cừ chậm chạp bước vào:

— Tại hạ xin lãnh hội ám khí của đại huynh, Nguyễn Giang quần một vòng ám khí xuất ra, Kiều Cừ lấy vạt áo trước của bào phất qua mặt của Nguyễn Giang lăn ra chết bất thường, ám khí khử ám khí có tên là “Song tinh ám” Trưởng đảng luật Bành Lân, phi thân xuống tại hạ xin hầu “Song tinh ám” Kiều Cừ xuất ám khí, Bành Lân hai tay xuất quyền đẩy ám khi lại Kiều Cừ thấy bị trúng độc, vội trầm mình giải độc không dùng ám khí, lần này Kiều Cừ sử dụng mười con rắn đen nhỏ bằng ngón tay dài năm tấc phóng vào Bành Lân, thay cho năm tay quyền, Kiều Cừ không cần ra chiêu, năm con hắc tỵ tự tìm mồi, vì khi Kiều Cừ phóng ám khí thì có một loại hắc khí hòa trong không khí bám vào thân thể của Bành Lân, thế là mười con rắn đen tha hồ tấn công, Bành Lân rợn người thất phách, chưa lấy được bình tĩnh thì mười rắn đen tiếp tục lao vào những yếu huyệt, Bành Lân xuất kiếm thép đen rắn tưởng nhằm đồng môn, kiếp pháp chủ ý bảo vệ huyệt đạo, không ngờ mười con rắn bị cắt đứt rơi xuống đất thành ba mươi đoạn, Kiếm cũng phóng đến lấy thủ cấp của Kiều Cừ. Còn vài cao thủ tự biết mình kém tài không ai ra tỷ đấu. Trịnh Trường phi thân xuống:

— Hiện giờ còn vị nào vào tỷ đấu với Trưởng đảng luật Bành Lân nữa không? chờ hơn năm khắc không ai lên tiếng, họ nghĩ rằng: Đảng trưởng được xem như Bành Lân đã nắm trên tay rồi. Trịnh Trường nói thẳng thắn:

— Mỗ xin lãnh hội vài chiêu mời đại huynh Bành Lân, trong sảnh đường mọi người ngơ ngác nhìn thật kỹ thì ra đây chỉ là một thiếu niên thì tài bao nhiêu mà thách đấu với Bành Lân, toàn thể cao thủ và chúng đảng lớn tiếng:

— Thiếu hiệp đừng xem thường mạng sống, hãy xem kỹ trước mặt biết bao nhiêu anh hùng hảo hán bị chết và thân tàn đấy ư ? hãy cút đi đừng đâm đầu vào cửa Diêm vương ? Trịnh Trường mặt nghiêm nghị:

— Thưa quí huynh đệ, mỗ đích thực là đảng trưởng Châu Minh, còn Bành Lân chỉ là bầy tôi của mỗ mà thôi. Mỗ nghe thiên hạ nói Bành Lân là tên cầm kỷ cương luật đảng, nhưng đa dâm hiếu sắc, háo danh, chỉ cần bấy nhiêu đó cũng đủ biết y là người thiên vị, không trong sạch, có phải thế không? Cả sảnh đường không một ai dám lên tiếng, vì sợ Bành Lân, trong đảng ai ai cũng biết mà không nói nên lời. Hôm nay lần đầu tiên nghe một thiếu hiệp bạo phổi nói thực những gì đã biết, ai cũng để lòng cảm kích, cũng thương số kiếp thiếu hiệp này vắn số quá! Chúng đảng trong sảnh đường truyền tin ra ngoài, mời đảng chúng vào nghe và thấy mặt thiếu hiệp dám đụng đến danh Bành Lân, trong sảnh đường rất đông nghịt người, Trịnh Trường nói mà không sợ chết. Hiện nay Bành Lân bỏ luật đảng, lấy luật không thành văn của cá nhân để tác oai tác quái, xét xử ép người vô tội, toàn là hàm oan, những huynh đệ chưa tiếp nhận lệnh bài của đảng trưởng, mà đã vào nhà lao rồi! danh sách nhà lao không lập, có nghĩa là không có phần ẩm thực, thử hỏi huynh đệ sống được bao nhiêu ngày. Tất cả đảng chúng toát mồ hôi, không một ai dám lên tiếng chỉ thở dài phó mặt cho đời. Họ muốn khích lệ khí khái Trịnh họ biết thiếu hiệp nói để rồi chết cũng không ân hận, trái lại anh hùng ở đây cũng hiểu thà sống qua ngày còn hơn chết dưới tay của Bành Lân. Bành Lân cười “ha hà” hỏi lại:

— Này tiểu tử, một ngón tay mỗ đưa lên có chịu nổi không? Trịnh Trường ung dung, đi qua đi lại trong sảnh đường:

— Dù trăm ngàn ngón tay đưa lên cũng vô dụng! Có một ông lão từ ngoài sân đi vào hai tay bị xiềng xích bằng dây kim loại màu đen to ngắn, còn hai chân cũng xiềng xích nhưng dây dài bước đi chậm chạp với tiếng xích khua lẻng kẻng, ông nói :

— Lão rất ái mộ hùng khí của tiểu hiệp, tiếc thay gặp nhau quá muộn, nhưng tiếu hiệp đừng lo sợ có mỗ đứng đây, tuy tay chân bị xiềng xích, dẫu có mười thằng Bành Lân mỗ cũng vồ được thây hắn. Bành Lân cười “ha hà” ngạo nghễ:

— Được rồi để mỗ thanh toán thằng tiểu tử họ Nguyễn tên Trường rồi đến mi. Bành Lân không phải là tên võ nghệ tầm thường, xuất chiêu một ngón tay, kình lực nội công “Châu thiên trụ” quét tới, Trịnh Trường đề khí nhẹ bộ pháp chuyển tránh ảo diệu, lực đẩy nội công của Bành Lân trúng vào một người đứng xem cách xa mười thước chết tại chỗ, mới một chiêu Bành Lâm đã biết tiểu tử này có tài chạy trốn, Bành Lân muốn dứt điểm cho nhanh hai tay tập trung nội lực mười hai thức một quyền “Thủ lôi phong” cả sảnh đường người yếu nội công phải lui ra xa hai thước, quyền xuất về hai hướng đông tây nhằm đấm vào Trịnh Trường, lần này ai cũng nghĩ rằng thiếu hiệp sẽ bị chết oan uổng. Trịnh Trường chỉ trầm mình là tránh được quyền độc hiểm, có đến tám người đụng phải quyền của Bành Lân chết tươi, về ông lão nhảy vào nhưng xiềng xích cản trở cho nên không thu hoạch được như ý.

Lúc này anh hùng mới dám vỗ tay khích lệ thiếu hiệp Nguyễn Trường, còn Bành Lân thì lòng hăng máu nổi lên, đem hết mười hai thành công lực mạnh nhất để sử dụng quyền “Thủ lôi độc” chiêu số xuất ào ào, cảnh vật trong sảnh đường phải biến đổi, tất cả bàn ghế bị gãy rắc rắc như có tiếng búa chẻ cây, mọi người phải chạy ra khỏi nơi đấu, chỉ những người nội công thâm hậu mới còn ở lại. Trịnh Trường, nói quả quyết:

— Mỗ đã tha mi, nhất quá tam, bây giờ Bành Lân ơi ? không còn thời giờ để xem cái thủ cấp của mi gửi vào địa giới !Trịnh Trường xuất chiêu số “Huyệt pháp bồ” hốt rác vào thùng, trong “Huyệt pháp Lĩnh Nam” có người khiếp sợ Bành Lân, người vừa lo âu cho thiếu hiệp. Tự nhiên có một tiếng “bục” rơi xuống đất tròn tròn lăn mấy vòng, máu chảy theo vết lăn rồi dừng lại. Mọi người thấy vật tròn như muốn tắc thở, miệng nói nghẹn ngào: Thôi rồi thiếu hiệp khí phách hiên ngang đi về trời rồi “hu…hu…” có nhiều người bình tỉnh hơn. Đó là đầu lâu của thằng chó chết Bành Lân. Cũng có người không tin vẫn nhắm mắt cầu khấn. Xin ông trời chứng, nếu sự thực là thủ cấp của thằng Bành Lân, lòng tại hạ được bình an, vô sự từ hôm nay.

            Sảnh đường trở lại sinh hoạt bình thường, La Đức công bố:

— Từ đây tân đảng trưởng Châu Minh là Nguyễn Trường, vậy tất cả hãy chúc mừng đón tiếp tân đảng trưởng, tại hạ khá khen tân đảng trưởng, chúc mừng hẹn gặp lại tại Việt Tú, kính chào chúc nhiều sức khỏe. La Đức rời ghế đảng trưởng ra đi cùng với Hoàng Phi. Trước khi ra đi Hoàng Phi bảo:

— Lý đệ ở lại âm thầm trợ lực với Trịnh đệ, dùng hạc báo tin cho ngu huynh biết mỗi ngày nhé ? Chào hiền đệ.

Những đảng vụ còn sống như Phúc Kiến có Lô Cát, đảng vụ Triết Giang có Ma Chí Hà, đảng vụ Hồ Bắc có Tăng Hảo, mời tất cả đảng chúng vào sảnh đường làm lễ đăng quang tân đảng trưởng. Nguyễn Trường tay cầm Ấn tín đứng lên, tất cả đảng vụ và đảng chúng đồng quì xuống minh thệ:

Một mực trung thành với đảng

Phục mệnh trưởng đảng Nguyễn Trường

Không thay dạ, đổi lòng hai

Chết dưới Phù của minh chúa.

Nguyễn Trường (Trịnh Trường) đưa lệnh bài vàng lên truyền lệnh tất cả chức vụ của người nào nay vẫn thế mà hành, nhưng phải báo cáo tường tận, những chức vụ khác mỗ đích thân bổ sung vào, đưa tiếp lệnh bài bạc truyền lệnh thực hiện công tác đảng, thả phóng thích tất cả tù nhân và đưa họ đến sảnh đường, Trịnh Trường ngó trong sảnh đường không thấy ông lão xiềng xích đi đâu cả rồi ? truyền cho đảng vụ Hồ Bắc, Tăng Hảo cầm một mật lệnh bài bạc, chàng nói nhỏ:

— Đi triệu ông lão bị xiềng xích vào gặp mỗ gấp. Mười khắc sau cả đoàn tù nhân đến sảnh đường, đảng vụ Phúc Kiến, Lô Cát, trình tấu lên đảng trưởng:

— Thưa đảng trưởng đây là tù nhân, xin đảng trưởng phát lạc cho họ, mời tất cả tù nhân quỳ xuống xin ân phước tân đảng sẽ ban ân tứ. Tất cả tù nhân quỳ xuống đồng tâu:

— Chúng dân khấu bái, đa tạ tân đảng trưởng ân xá. Trịnh Trường hỏi:

— Ai là người của Châu Minh đảng đứng bên phải, nếu không phải đứng bên trái. Tổng cộng đảng chúng một trăm sáu mươi người bị ở tù. Trịnh Trường nói tiếp. Kể từ đây quí huynh đệ trở lại đời sống bình thường như một đảng chúng tốt, tất cả quỳ xuống đa tạ đảng trưởng. Trịnh Trường nói tiếp. Như vậy tổng số còn lại là năm mươi hai người bị bắt về tội biết bí mật của đảng Châu Minh có phải không ? Tất cả xanh mặt, Trịnh Trường nói tiếp. Hôm nay tha tất cả quí huynh đệ có quyền về quê nhà sống với gia đình.

Mỗ ra lệnh nhà trù trong một tháng, phải nuôi dưỡng chăm sóc sức khỏe cho tất cả huynh đệ trong và ngoài đảng vừa thoát nạn tù đày. Sau một tháng sức khoẻ huynh đệ ngoài đảng khi bình phục muốn xin ở lại đây cũng được, còn có ý đi báo cáo với vua quan Nam Việt thì tùy ý lòng người.

Đúng lúc ông lão xiềng xích vào sảnh đường, Trịnh Trường ra lệnh:

— Hãy mở xiềng xích cho ông ta và cấp cho ông ta một nơi ăn ở đặc biệt, phục dịch như thượng khác của mỗ. Đảng vụ Triết Giang, Ma Chí Hà, thưa :

— Thưa đảng trưởng lão này là kẻ thù số một của cựu đảng trưởng, nếu hậu đãi như vậy thì sẽ khó cho tân đảng trưởng. Trịnh Trường “Hừ” một tiếng. Ma Chí Hà xanh mặt rung thấy rõ. Trịnh Trường, nói tiếp:

— Mỗ đã là đảng trưởng Châu Minh thưởng phạt nghiêm minh, từ lúc mỗ chính thức đăng quang lên đảng trưởng có việc gì không chính đại xin các hạ nói ra. Ma Chí Hà thấy uy quyền của tân đảng trưởng cũng sơ hải:

— Dạ, thưa việc gì đảng trưởng cũng quang minh. Trịnh Trường mọi việc đã an ổn lòng thong thả:

— Sở dĩ mỗ đãi ngộ lão ta, là vì dụng dũng khí và biết lẽ sống. Còn đối với người cựu đảng trưởng xem như quá khứ, nếu người ấy trở lại đây mỗ sẽ tiếp đãi như một đảng chúng bình thường. Tiếng vỗ tay vang cả sảnh đường, ca tụng tân đảng trưởng là vị anh hùng quang minh chính đại, toàn đảng chúng nay xin thề quyết sống chết dưới chân chúa đảng. Trịnh Trường, nói tiếp. Mỗ mong toàn thể từ đây một lòng sống theo tư cách của mỗ, chúc tất cả anh hùng khoẻ mạnh lòng tự tin ngày mai hạnh phúc hơn hôm nay, xin bế mạc. Đảng chúng tung hô, đổi lời ca mới:

Một mực trung thành với lòng

Phục mệnh uy quyền thượng tôn Nguyễn Trường

Không hai dạ một thẳng đường

Thà chết đầu hướng về phương nam dũng.

Trịnh Trường mời đảng vụ Lô Cát, Ma Chí Hà, Tăng Hảo và Lý Bình Trung ở lại để hỏi lý do :

— Lão bị xiềng xích vì nguyên nhân nào trở thành kẻ thù của La Đức. Mỗ muốn biết xin mời tam huynh trình bày. Lô Cát lập công nói trước:

— Thưa đảng trưởng, theo lời của La Đức kể lại. Lão này là kẻ cướp kiếm gia bảo của nhà họ La, cho nên đem về đây bỏ vào ngục, tra khảo hơn mười năm mà lão vẫn không khai tung tích cây kiếm, cách đây hơn ba năm được lệnh thả ra nhưng vẫn phải xiềng xích. Trịnh Trường hỏi:

— Họ và tên gì ? Ma Chí Hà vội nói:

— Khảo tra hơn mười năm mà lão cũng không nói họ tên. Lão cón nói họ tên của mỗ là La Đức, biết rồi mà tra hỏi hoài thế! Trịnh Trường hỏi tiếp:

— Biết lão này quê quán ở đâu không? Tăng Hảo trả lời:

— Lão này nói cùng quê hương với La Đức. Trịnh Trường xem ra đã có đầu mối, chàng hỏi tiếp:

— Lão này võ học thế nào? Tăng Hảo trả lời:

— Theo nhận xét võ học của lão này không phải là kẻ hèn kém, nếu so tài với La Đức thì không phân thắng bại, nay thả lão ra khác nào gây phiền hà trong đảng, không biết đảng trưởng có ý định biến thù thành bạn hay không? Trịnh Trường hỏi:

— Theo ý của quí vị có đồng ý với đảng vụ Tăng Hảo không? Lô Cát đồng ý, Ma Chí Hà phản đối. Trịnh Trường hỏi Ma Chí Hà:

— Thưa đảng trưởng, tại hạ là người tra khảo lão ta hơn mười năm trời, nếu thả ra như vậy thì khác nào đưa thịt cho hổ xơi! Trịnh Trường nghiêm nghị:

— Hổ không bao giờ xơi thịt dư thừa, vậy Ma Chí Hà an tâm, mỗ bảo đảm. Từ đây phải xem lão như người thân, không được xem thường lão, mọi việc để mỗ điều tra xét. Nhân tiện mỗ nhờ hiền huynh Tăng Hảo ra lệnh ăn mừng tân đảng trưởng ba ngày.

            Trịnh Trường và Lý Bình Trung tham khảo những lời nói của Lô Cát, Ma Chí Hà và Tăng Hảo về ông lão xiềng xích. Lý Bình Trung đề cập:

— Thưa đại huynh, có bốn nghi vấn, huynh và đệ cần phải tìm ra manh mối:

Thứ nhất, lão này là kẻ cướp kiếm gia bảo nhà họ La.

Thứ hai, lão bảo: Họ tên của lão là La Đức.

Thứ ba, lão này nói cùng quê hương với La Đức.

Thứ tư, nếu tỷ đấu với La Đức thì không phân thắng bại. Huynh cùng đệ đặt bốn câu hỏi và tự trả lời, câu hỏi thứ nhất. Đệ nhận xét họ La không có kiếm gia bảo, như vậy ông lão này không phải là kẻ cướp kiếm, người cướp kiếm mới chính là họ La. Thứ hai, họ tên của lão này là người quen của La Đức. Thứ ba, lão này cùng quê hương với La Đức. Thứ tư, võ học không phân thắng bại, như vậy là người đồng môn, Trịnh Trường khen:

— Lý đệ dẫn giải rất hợp với huynh, không sai, như vậy huynh và đệ tối mai đến thăm lão và giới thiệu họ tên, quê quán, gia gia của mình đễ lão xem mình như người thân có như vậy thì may ra biết mọi sự, ngu huynh thấy lão có cảm tình với mình lắm.

            Đúng hẹn Trịnh Trường, Lý Bình Trung đến phòng thăm lão, vừa bước vào cửa phòng ông lão hớn hở.

— Lão chào nhị vị thiếu hiệp. Gặp lại ông rất vui, Trịnh, Lý cũng cúi đầu chào theo lễ cung kính bề trên. Ông tỏ bày vui mừng:

— Lão kính xin chúc sức khoẻ đảng trưởng và thiếu hiệp. Trịnh Trường, Lý Bình Trung gỡ mặt nạ ra để ông thấy mặt thực, rồi bịt lại như cũ:

— Thưa tiên sinh, tại hạ họ Trịnh tên Trường, còn đây là nghĩa đệ họ Lý tên Bình Trung, quê hương huynh đệ của tại hạ ở huyện Giao Đỉnh thuộc Quế Lâm gia gia của tệ hạ là Trịnh Bảo thúc phụ là Trịnh Thành. Lão “ồ” lên một tiếng nước mắt tự trào ra và kêu lên:

— Lão chính là Trịnh Bảo vẫn còn sống đây, gia gia của hài nhi đây mà! Lý Bình Trung hỏi:

— Thưa thúc bá. “Ngọc danh kiếm” là La Đức, “Thượng danh kiếm” có phải chính thúc bá đấy ư, “Thái danh kiếm” Lý Bình Trương là gia gia của hài nhi đấy. Trịnh Bảo, Trịnh Trường, Lý Bình Trung, cha con bác cháu cùng ôm nhau khóc, trách sự thế quá khắc nghiệt. Ông kể lại.

— Nếu lão không kiên nhẫn và chịu đựng nhục hình thì không có ngày đoàn tụ như hôm nay, đã hơn mười năm sống khắc nghiệt trong lao lý, đọa đày, tra khảo, đói khát, lạnh giá kể như con người đã đến cửa Diêm-la nhưng cái đầu còn nơi trần thế vì vậy mới chưa chết, ngày nay gặp lại con và cháu lòng lão xem vẫn còn may mắn. Trịnh Trường kể về thân phận thúc thúc Lý Bình Trương và nhất là ân công Hoàng Phi nay là nghĩa huynh của Trịnh, Lý. Ông xúc động hỏi:

— Nhân vật Hoàng Phi có mặt ở trong sào huyệt này không? Trịnh Trường trả lời:

— Thưa gia gia có ạ, chính là người đưa La Đức vào lao lý. Còn nữa mọi kế hoạch chiếm sào huyệt Châu Minh là do người thực hiện.

— Quả là thắng lợi không đổ máu.

— Thưa gia gia, người trẻ đi với La Đức chính là đại huynh Hoàng Phi một mưu sĩ lỗi lạc thời nay, đại huynh dâng hiến cuộc đời chỉ vì Bách Việt, cũng chính đại huynh lấy được hai danh kiếm rất là kỳ diệu. “Ngọc danh kiếm” và “Thái danh kiếm” hiện Lý đệ đang giữ, còn hài nhi vẫn giữ “Thượng danh kiếm”. Trịnh Bảo, cười “ha hà”:

— Nhị hài nhi có biết hết về ý nghĩa của tam thanh kiếm này không?:

— Thưa thúc phụ, chúng hài nhi, được huynh học sĩ dẫn giải rất tường tận về “tam thanh kiếm” rồi. Ông hỏi tiếp:

— Lại là đại học sĩ nào vậy, người ấy họ tên chi mà biết được “tam thanh kiếm” vì đây là tam từ chỉ có đệ tử chân truyền mới biết mà thôi! Trịnh Trường thưa:

— Thưa gia gia, người này chính là đại huynh của ân công Hoàng Phi, học nghệ uyên bác, rất nhân từ, đức độ vô lượng, đại huynh thương chúng hài nhi lắm, tên là Hoàng Khải.

— Như vậy các hài nhi đã luyện tập thành công “tam thanh kiếm” chưa? dạ:

— Dạ, đã đến trình độ thuần thục, riêng “Ngọc danh kiếm” được đại huynh Hoàng Phi bổ túc thành chiêu kiếm siêu kỳ. Sau này có dịp gia gia gặp đai huynh và cả họ Hoàng. Trịnh Báo xúc động lời nói nghẹn ngào:

— Hôm nay cả nhà đã đoàn tụ rồi, vậy thời gian tới phải hành sự thế nào? Lý Bình Trung thưa:

— Thưa thúc bá, hiện nay trong đảng Châu Minh không ai biết họ tên của thúc bá, vậy nhờ thúc bá làm phó đảng lấy họ tên là Trịnh Trịnh có như vậy mới che được mắt những gian tế của La Đức mới điều hành được đảng chúng, hiện nay có ba đảng vụ rất sợ thúc bá nhưng mình ân tứ cho họ thì thu phục được nhân tâm, họ sẽ qui phụng mình, mình biến họ thành con cừu giang hồ và họ thấy mình chính là ân nhân của họ. Thưa thúc bá chỉ cần vài tháng là thúc bá lấy lại họ tên danh chính ngôn thuận, việc cần làm trước mắt là đảng Châu Minh sẽ đánh quân Hán từ sau lưng đánh tới, hiện nay Châu Minh được nhà Hán nuôi để làm phản Nam Việt, ngày tới ra sức luyện tập cho đảng chúng tinh nhuệ. Trịnh Bảo vui mừng:

— Tốt lắm gia gia sẽ thực hiện những gì mà nhị hài nhi tin tưởng ở gia gia, ngày mai tiến hành ngay.

            Hoàng Phi đưa La Đức về đến đồ trận Việt Tú, cùng lúc thảo thư mời tham dự đại hội, theo danh sách của La Đức, Vũ thư Minh và Thái tử Hồ, xem ra cũng trên trăm người.

            Hoàng Phi ra lệnh ba con đại hạc đưa tin cùng lúc mời Nam Niệt Vũ Đế, Thái tử Hồ và Tổ phụ đến Việt Tú tham dự cuộc thẩm vấn La Đức về tội bán đất bán dân Nam Việt cho Hán. Chỉ hai mươi khắc sau Nam Niệt Vũ Đế, Thái tử Hồ và Tổ phụ đến Việt Tú. Hoàng Phi quỳ xuống đất ra mắt, tâu:

— Muôn tâu Bệ hạ, Thái tử và Tổ phụ, điệt Phi chúc sức khoẻ cường kiện, anh minh, dũng khí, kiến tạo thanh bình, xã tắc cộng hưởng ân điển của Hoàng thượng, Nam Việt Vũ Đế lòng vui:

— Ý chà điệt nhi, ở đây đâu phải là hoàng cung, hay là Điện Thái Hòa mà điệt nhi hành lễ như vậy. Quả nhân miễn lễ điệt nhi, từ đây về sau miễn tấu như thế, bây giờ điệt nhi thẩm vấn La Đức để quả nhân nghe thâm kế của y. Hoàng phi dạ, tâu Bệ hạ, Thái tử và Tổ phụ chuẩn bị lên đỉnh bút đá mặt bằng, nhìn thấy La Đức đang ngồi dưới đồ trận. Hoàng Phi thẩm vấn La Đức:

— Mi đến đây để làm gì, mục đích thế nào, có bao nhiêu lực lượng, ai hợp tác với mi ?

— Thưa thần linh, tại hạ đến đây để tổ chức đại hội đánh chiếm Nam Việt. Mục đích lên làm Hoàng đế. Lực lượng đảng Châu Minh và Hưng Việt thống nhất thành một, đảng chúng trên hai ngàn hiện đóng trại ở bênh kia đất Hán, do nhà Hán đứng ra trợ lực, khi chiến tranh cương giới thì người Hán đi trước, tại hạ đi sau để lập chính quyền. Những người hợp tác đương nhiên là phải có quyền lực, đứng đầu tại triều đình.

Quan văn thì có Cửu viện Thượng thư Triệu Không Cương, Tư Ðồ Triệu Đạt Hùng, Thái Úy Triệu Mẫu Phương, Thái phó Phùng Hảo Anh, Quan Thị Ngự Sử Bạch Đình Hồng. Đứng đầu.

Quan võ thì có Triệu tướng quân Phương Đa, Tá trung lang tướng Trần Hoàng Thư, Chinh tây tướng quân Lê Thông, Tiền tướng Quân Nguyễn Bạch.

Đứng đầu Tôn nhân phủ có Triệu Tú Hải, Triệu Nguyên Dõng. Đứng đầu các châu v.v…

— Bao giờ đại hội, thiệp mời ban ra chưa?

— Thưa thần linh, đầu tháng đại hội mở ra ở đây, thiệp mời đã ban hành rồi.

— Mỗ chúc mi thành công!

— Thưa thần linh, nhờ thần linh hộ trì.

— Tốt lắm ngày ấy mỗ cũng tham dự, nhưng vẫn ở trên trời phán xuống. Chào La Đức.

Hoàng Phi ra hiệu cả bốn người phi thân xuống đất. Nam Việt Vũ Đế phán:

— Xem như quả nhân và cả triều đình làm ngơ không biết đại hội này, chờ đến ngày đầu tháng Muội tử Hồ và điệt Phi đến đây điểm danh, giam họ trong đồ trận chờ sau ngày thắng trận cương giới sẽ đem họ ra pháp trường cũng chưa muộn. Còn những việc liện hệ bọn làm phản điệt Phi tự hành động lấy không cần phải tâu lên quả nhân, chỉ mong kết quả tốt là Nam Việt thái bình, nay quả nhân rất hài lòng, chúc diệt nhi thành công.

— Muôn tâu, Bệ hạ, Phi nhi được bệ hạ ân sủng như thế này cũng mãn nguyện lắm, chúc bệ hạ xa giá bình an.

Hoàng Phi đi Quế Lâm thăm Vũ thúc thúc, ngũ cô mẫu và thăm Tổ phụ Hoàng Trung Nhất, chàng vào địa giới Quế Lâm trời đã sáng, hạc và Hoàng Phi tạm ngủ trên núi Hộ Miêu Nham để lấy lại sức, trên núi nhìn xuống thấy sơn thủy trữ tình, gió thổi hiu hiu, hạc và người cùng ngủ say sưa luôn một giấc hương quan đến chiều, hạc và Hoàng Phi thức dậy ăn uống no nê, nghỉ ngơi ba khắc mới lên đường.

Không đầy ba canh giờ đến thành Quế Lâm vào phủ Lạc Việt Vương, Hoàng Phi quỳ xuống hai tay bái Tổ phụ. Hoàng Trung Nhất gặp Hoàng Phi ông bất ngờ không nghĩ chàng đến lúc hoàng hôn. Ông gọi gia nhân mời cả nhà lên sảnh đường để cùng nhau vấn an, Hoàng Phi cúi đầu thi lễ vấn an cả nhà và chúc sức khỏe, Hoàng Phi về đất tổ ai cũng vui mừng. Tổ phụ Hoàng Trung Nhất hỏi thăm Tổ phụ Hoàng Hạc và cả nhà. Sau khi lễ nghi của gia tộc hoàn tất, ông nói:

— Họ Hoàng nhà ta dù đi đâu cũng nhớ đất tổ, điệt nam ngoan ngoãn lắm. Điệt nhi đã biết hết tình hình hoạt động của “Thiếu Hiệp Quân” và  “Cần Lĩnh Nam” ở đây chưa ? Hoàng Phi thưa:

— Thưa tổ phụ, điệt Phi không biết nhiều ạ! Hoàng Trung Nhất trình bày hết sinh hoạt và thành quả, ông rất hài lòng. Hoàng Phi thưa tiếp:

— Thưa tổ phụ, chính đất tổ nuôi chí khí anh hùng cung nhừ đó tạo ra sự nghiệp Thiếu Hiệp Quân và  Cần Lĩnh Nam, điệt Phi xin bái tạ ơn Tổ phụ. Hoàng Trung Nhất khen thầm. Giá gì họ Hoàng nhà ta có vài Hoàng Phi thì hay biết là bao. Hoàng Trung Nhất trực nhớ Hoàng Chỉnh sinh ra hai trai một gái tên Hoàng Khải, Hoàng Lữ Thư, Hoàng Phi là út. Ông hỏi tiếp. Gia gia, mẫu thân, cùng huynh tỷ điệt nhi thế nào. Tổ phụ có tin Hoàng Khải được triều đình phong học sĩ có phải thế không ?

— Thưa Tổ phụ, điệt Phi chưa về nhà cho nên không biết tin này, nếu vậy thì cũng xứng đáng lắm vì đại huynh thông minh, uyên bác và hành động đi đôi, ngoài ra đại huynh rất đôn hậu không tranh đua với ai. Hoàng Phi thưa tiếp:

— Thưa Tổ phụ, điệt Phi muốn đi thăm Thiếu Hiệp Quân và Cần Lĩnh Nam trong đêm nay, điệt Phi kính bái Tổ phụ cùng quí thúc phụ, huynh tỷ, xin phép cho điệt Phi lên đường ngày mai, sau đó điệt Phi còn phải đi nhiều nơi khác. Hoàng Trung Nhất cười:

— Đúng thế, Tổ phụ biết điệt nhi không có thời gian nhiều, mỗi khi về Quế Lâm thăm viếng Tổ đường như thế này cũng an lòng lắm rồi, khi nào có thời gian rộng rãi thì về đây hàn huyên với tổ phụ, điệt Phi cần việc gì gấp thì cho Tổ phụ hay tin sẽ tiếp ứng nhá. Tổ phụ chúc điệt Phi lên đường bình an.

— Phi nhi, chúc Tổ phụ và cả nhà cũng bình an, điệt Phi xin giã từ. Chàng đi về hướng Bắc, một khắc dư chàng đến Cần Lĩnh Nam vào sảnh đường chào Vũ thúc thúc, ngũ cô mẫu, thúc thúc Hoàng Anh Tuấn (cháu của Hoàng Trung Nhất) và tam Chu nghĩa đệ, đang bàn luận tổ chức đội ngũ lực lượng Quế Lâm, đúng lúc gặp Hoàng Phi thì rất là mừng. Kẻ mời người gọi vui nhộn lên, nhất là ngũ cô mẫu họ Chu. Chu Ngọc Thủy đề nghị:

— Tối nay cô mẫu nấu một nồi chè đậu xanh với đường cát trắng để ăn cho vui, lâu lắm mới gặp lại Phi nhi, quí vị tự nhiên bàn luận nhá, Hoàng Anh Tuấn trêu nghẹo cho vui:

— Thưa tỷ tỷ, đệ nghe đến chè là nước dãi trong miệng cứ chảy ra ào ào, thấy chè đậu xanh đường cát trắng là nhớ đến mẫu thân, hôm nay cho đệ gọi tỷ tỷ bằng mẫu thân nhá?  Cả nhà đồng cười. Vũ Thư Minh vào đề:

— Thúc thúc trình bày sơ qua để Phi nhi am tường tổ chức của nội bộ. Ngày nay Trường Sa Vương do nghĩa gia thay thế, đã trình tấu về triều, các tướng quân vẫn giữ nguyên. Việc quan trọng nhất là phát triển Cần Lĩnh Nam Trung Tông và Thiếu Hiệp Quân, riêng Cần Lĩnh Nam Trung Tông hiện nay đã có trên một ngàn ba trăm lạc dân giao dịch cũng như binh tinh nhuệ, trải rộng từ Bắc qua Đông, tại Tượng Quận cương giới có các trại giao dịch, như Minh Tha, Giang Thắm Hợp Ni lộc, Hồng Hà, Mã Quang, Hồng Tự, Tây Châu, Tân Châu.

Quế Lâm có cùng cương vực giáp với Giao Chỉ có các trại giao dịch, như Ba Ba, Tịnh Tây, Đại Tân, Bình Dương, Thượng Tứ, Thành Cảnh, Thẩm Châu.

Về thủy lộ tựa lưng vào Ly Giang di chuyển thuận tiện, núi cũng là nơi lưu trữ lương thực.

Lập trại giao dịch chủ lực tại thành Nam Ninh, do Thiếu Hiệp Quân phụ trách, lực lượng ba trại phụ tựa lưng vào núi Hoa Giang, ở núi Thái Sơn, Trung Tú, Phong Tháp có chín trại Hùng Vương.

Ngoài ra tại núi Quế Liên, Tam Lý, Điển Quảng, Kỳ Phong, Xuyên Sơn có mười tám trại giao dịch Hùng Vương.

            Núi Khê Nam có năm trại, An Tiêm một đến chín trại, núi Thất Tinh có ba trại Phù Đổng Tiên Vương, núi Sách Tỷ Sơn có hai trại Thủy Tinh, núi Hiệp Linh, Tháp Sơn, Tháp Sơn có mười trại giao dịch Sơn Tinh, núi Quân Thiệp Tiêu Thủy, Quán U, Trổ Đế, Lang Thạch, Cửu Sơn có hai mươi trại giao dịch. Luận bàn đến đây thì thấy Chu Ngọc Thủy, kéo một gã trung niên vào sảnh đường vừa lê lết nói:

— Bổn cô vào kho chứa ngũ cốc, thấy một trung niên mặt lạ đang ngủ, đúng là đệ tử Lý Thái Bạch đạo say mèm, hắn ngáy “khò khò” bên cạnh hũ chìm đã hết, trên vai mang túi vải chứa đầy ngân kim, cả sảnh đường nghe qua cũng cười. Vũ Thư Minh gọi quản gia vãng lai:

— Nhờ hiền huynh, đưa người này vào nhà khách vãng lai, sáng mai tiếp đãi trọng hậu, Người quản gia vâng lời rồi cõng ông khác lên lưng đi. Vũ Thư Minh nói tiếp hiền huynh nhớ sáng mai đưa người này đến đây nhá ? Mọi người trong sảnh đường cùng dùng chè đậu xanh và uống trà mãi đến khuya, mới chịu chia tay, hẹn ngày mai gặp lại.

            Tám giờ sáng tại sảnh đường đã đông đủ người, sau khi tra hỏi mới biết tên ăn trộm đêm qua lạc vào kho ngũ cồc vì say tưởng về đến nhà, y khai rằng :

— Mỗ đây ăn trộm của những quan lại tham ô để nuôi những người khèo khó, nay mỗ đã bị bắt xin cứ nạp cho quan, riêng số ngân kim này chia theo danh sách mà mỗ muốn tặng cho Lạc dân huyện Trung Thanh. Vũ Thư Minh ôn tồn, nói:

— Tại hạ họ Vũ tên Thư Minh, bắt nhầm đại huynh mong niệm tình, đại huynh tự do ra đi và hành động theo ý mình, nếu cần đến tại hạ xin góp một tay cùng với đại huynh, duyên may có ngày gặp lại. Người trung niên bất cần đời mỉm cười:

— Đa tạ, chào. Người trung niên ra đi không để lại họ tên, cả sảnh đường tiếp tục bàn thảo việc lập trại của đêm hôm qua. Vũ Thư Minh nói tiếp:

— Những kho lưu trữ lương thực phòng cơ tại núi Hoàng Bố, Cổ Trấn, Hưng Bình, Đồng Sơn. Những kho vũ khí tại núi Tuyết Thái, Bằng Nhật, Bạch Sa, Trổ Ngọt, Đồng Sơn.

Những lò đúc vũ khí tại núi Tam Lý, Kỳ Phong, Xuyên Sơn, Thất Tinh, Sách Tỷ Sơn, Hiệp Linh. Về di chuyển linh động, xuất binh tiếp ứng Bắc-Đông cùng lúc không bị những cản trở nào, những điểm trọng yếu thì có đội phòng cơ trấm biên, phòng ngự. Tuy Cần Lĩnh Nam Trung Tông mới thành lập, nay đã vững nhờ có Thiếu Hiệp Quân, Cần Lĩnh Nam Bắc Tông và anh hùng Tượng Quận thụ dụng được một số lớn các dân giáo bang, đảng phái gia nhập, lúc đầu một tập thể ô hợp, nay thời ổn địng và vững mạnh không thua gì binh đoàn tinh nhuệ.

Về dưỡng binh, luyện tập, tái vũ trang cho Cần Lĩnh Nam đã hoàn chỉnh, đóng trại giao dịch tại những sào huyệt cũ, nếu nói về sức mạnh chiến đấu Thiếu Hiệp Quân là lực lượng chính, Cần Lĩnh Nam lực lượng thứ nhì, thứ ba quân chiến trợ lực, thứ tư quân giao dịch cơ động, cả bốn hổ trợ cho nhau. Hoàng Phi rất hài lòng:

— Thưa Vũ thúc thúc, Phi nhi hình dung được mô hình tổ chức, đúng là nhà binh pháp, khi nào Phi nhi có thời gian sẽ đi thăm một vòng để chiêm ngưỡng bày binh bố trận của thúc thúc. Nhân dịp Phi nhi mời Vũ thúc thác, quí cô mẫu, Hoàng thúc thúc cùng nghĩa đệ ngày mai chuẩn bị luyện võ học.

Hôm sau Hoàng Phi dẫn giải từng chiêu một, luyện tập theo thức số võ học, về khả năng tiếp nhận thì tùy cơ chất của cá nhân, nhân dịp này Hoàng Phi cũng mời Lê Chí Nam, Nguyễn Chung Kiệt, Hoàng Thanh Thủy cùng luyện tập. Mười ngày luyện tập ai cũng tận lực kết quả tuy có khác nhau, nhưng cái chung trong mười ngày luyện tập dưới sự hướng dẫn của Hoàng Phi võ nghiệp tiến xa không biết đâu là lượng, có thể nói nay họ là những cao thủ giang hồ không hổ thẹn. Nói về bộ pháp ai cũng có thể phi thân lên núi một cách tuyệt kỷ, đốc mạch cũng đã thông lưu, nội ngoại công có khả năng hóa giải độc chất, xuất chiêu nhu cương tùy biến hóa phóng tâm, điểm huyệt cũng đến mức thần tốc và chính xác, theo nhận xét của Hoàng Phi, người đạt đến đỉnh cao nhất chỉ có mấy người như Vũ thúc thúc, ngũ cô mẫu, Lê Chí Nam, Hoàng Anh Tuấn, Hoàng Thanh Thủy, số còn lại là trung bình, sở dĩ có tiến bộ là nhờ kiếm pháp họ Hoàng, nhưng người ngoài làm sao biết ưu việt đó, về quyền cũng được bổ thúc. Đến đây có một con hạc nhỏ đem tin, Hoàng Phi mở giảng biên ra xem, tức tốc ra lệnh bốn con đại hạc bay xuống đất. Hoàng Phi bảo:

— Tam Chu đệ phi thân. Ba an hem họ Chu ngồi trên lưng hạc:

— Kính chào hẹn tái ngộ. Hoàng Phi nói với theo :

— Tam Chu đệ nhờ đến chỗ nghĩa đệ Trịnh, Lý ngày nghĩ đêm đi cứ theo con hạc nhỏ thì thành việc. Từ nay tam Chu đệ dưới sự điều động của Trịnh, Lý nhớ đem hết tài trí trợ lực cho nhị huynh nhá. Con hạc thứ tư đã, ấy lương thực và nước, ngu huynh chúc tam Chu đệ sức khoẻ bình an. Chu Thông, Chu Thiện, Chu Hào cưỡi vẫy tay chào, hạc bay về hướng Bắc.

            Hoàng Phi muốn biết về sinh hoạt của Thiếu Hiệp Quân, chàng hỏi Lê Chí Nam :

— Lê huynh, tình hình từ ngày thành lập đến nay có gì không giải quyết được, có thể cho tại hạ biết được không ? Lê Chí Nam nghĩ thầm  từ khi thành lập tổ chức Thiếu Hiệp Quân mãi đến nay mới hội ngộ lần thứ hai, lần đầu gặp không được lâu để tỏ bày ý nguyện, còn lần này thì chuyên luyện võ học cũng không có thời gian tâm sự, nói về võ học của mình có ngày nay cũng nhờ quí đệ của Hoàng Phi truyền dạy, những vị ấy đối với mình như tình sư phụ, không biết phải gọi Hoàng Phi bằng danh xưng nào, thôi thì liều gọi bằng sư phụ cũng phải thôi, Lê Chí Nam quỳ xuống bái hai bái, thưa:

— Thưa sư phụ, cho phép phải đạo đệ tử kính vinh danh sư phụ mong người tiếp nhận. Hoàng Phi từ chối:

— Lê huynh, có để lòng đến tại hạ cũng tốt, nhưng người gần nhất Lê huynh không thấy mà lại thấy người xa. Câu nói này làm cho Lê Chí Nam tỉnh ngộ. Thì ra sư phụ mình mới chính là Vũ Thư Minh, chàng vội quỳ xuống hai tay bái họ Vũ:

— Đệ tử đã để lòng ngưỡng mộ sư phụ từ lâu nhưng không giám bái sư, nay nhờ Hoàng sư huynh mới tỉnh ngộ được mong sư phụ đừng chê đệ tử. Vũ Thư Minh thực lòng:

— Lê đệ làm đệ tử ai cũng được, đừng câu nệ về phân quyền trong Cần Lĩnh Nam, như tại hạ đây là thúc thúc và quí cô mẫu vẫn phải nhờ đến Phi nhi chỉ điểm, theo tại hạ biết Phi nhi đã có đến thập bác đệ tử tuổi bằng tại hạ, võ học của quí huynh đệ ấy đã đến tuyệt kỹ cũng do Phi nhi chỉ điểm, ngoài ra Phi nhi còn có ngũ nghĩa đệ do Phi nhi đào tạo, chính Lê đệ cũng được chỉ điểm võ nghiệp, tại hạ hiểu Phi nhi sống không phải vì cái ta, mà điểm chính là phụng sự Bách Việt, sống như vậy mới đáng sống, Lê đệ chú ý tinh thần Bách Việt chủ đạo văn hiến Hùng Vương, sống biết hòa mình xem Thiếu Hiệp Quân là huynh đệ một nhà, có như vậy thì tại hạ tiếp nhận đệ tử và hai tiếng sư phụ mới có ý nghĩa. Lê Chí Nam vâng lời quỳ xuống bái lạy tuyên thệ:

— Đệ tử họ Lê tên Chí Nam xin tuyên thệ, kể từ đây, trên đời chỉ có Vũ sư phụ, đệ tử gìn ngữ ý chí không thay đổi lòng hai và giữ đạo nghĩa đối với sư phụ, nhân đây xin một bái với Hoàng sư huynh. Vũ Thư Minh hài lòng:

— Như vậy cũng phải lòng rồi đứng lên, từ đây đệ tử tập luyện càng nhiều thì trí tuệ càng minh mẫn, võ nghiệp mới vững vàng, tương lai có dịp để thi thố. Lê Chí Nam rất vui mừng để hết lòng nguyện theo tinh thần Vũ sư phụ. Lê Chí Nam, Hoàng Anh Tuấn, Hoàng Thanh Thủy và Nguyễn Chung Kết xin tam biệt về trại Thiếu Hiệp Quân.

            Hoàng Phi trở lại luyện tập thêm cho Vũ Thư Minh, ngũ cô mẫu về quyền, huyệt đạo, bày đồ trận và mở một số huyệt đạo để nội công được phát toàn diện. Chỉ cần một ngày là thành công. Hoàng Phi còn cho biết đối với Cần Lĩnh Nam Bắc Tông không có duyên được luyện qua các võ học này. Vũ Thư Minh cảm động vô cùng vì võ học không xin không cầu mà có, phải nói là duyên mới đúng như Hoàng Phi đã nói. Hoàng Phi xin tạm biệt thúc thúc cùng quí cô mẫu.

Trên đường về hoàng cung, Hoàng Hạc có lúc lạc quan, cũng đôi khi bi quan, đến Phiên Ngung trong lòng phấn chấn, cũng có đôi khi băn khoăn, bởi tất cả hướng về thế sự Nam Việt. Buổi chiều nay ông và Nam Việt Vũ Đế dùng hạc bay ra ngoài thành Phiên Ngung để ngắm cảnh, đôi khi suy nghĩ nhiều về triều đình hiện tạ, như trong quan trường lắm phe phái, không đoàn kết như trước. Mục đích Hoàng Hạc đến Phiên Ngung lần này là để thuyết phục lập lại cương giới Nam Việt.

Nam Việt Vũ Đế tuy tán thành phục hồi cương giới, nhưng văn võ lại không tự quyết, quyền hành hoàng tộc bị chi phối, bởi đam mê tham ô, quyền lực, nhiều đề nghị không thẩm quyền chức năng, mỗi người không còn lo việc chung Nam Việt, thêm vào đó quân quan cậy quyền thế. Nam Việt Vũ Đế tỏ bày cùng Hoàng Hạc:

— Hôm nay Quả nhân kiểm duyệt lại những quan thần tốt xấu, đều có ít nhiều gian tế và làm phản, việc này do Muội Tử Hồ mật tấu, khanh thấy tình hình trước khi xuất quân lập lại cương giới, thì xem tình hình quan trường, như văn có Quốc công Nguyễn Bồ Trọng, Thừa tướng Triệu Đa Bảo, Quốc hầu Tô Công Chính, Cửu viện Thượng thư Triệu Không Cương, Tư Ðồ Triệu Đạt Hùng, Thái Úy Triệu Mẫu Phương, Thái phó Phùng Hảo Anh, Quan Thị Ngự Sử Bạch Đình Hồng, Đô úy thái sơn Triệu Tư Khương, biệt giá tùng sự Triệu Mạnh Hòa,  Phủ Quốc Thư Lũ Ba Hồng.

Võ thì có Tể tướng Vi Quốc Đại, tướng quân Triệu Phương Đa, tá trung lang tướng quân Trần Hoàng Thư, chinh tây tướng quân Lê Thông, tiền tướng Quân Nguyễn Bạch, Ðông tướng quân La Thứ Lang, chấn tây tướng quân Tô Mậu Bích, chấn trung lang tướng quân Đinh Trần Thông, tướng quân Ngự Lâm quân Lê Tô Quát, tướng quân hộ thành Trang Thông, Cơ Mật Viện tướng quân La Cát Tưởng, hộ vệ quân Trần Thanh Danh. Trong danh sách văn võ này có người gian tế làm phản và cũng có người hết lòng trung vì Nam Việt.

Còn lại một ít quan văn võ chí khí anh hùng có thừa, không thuộc thế lực nào như Học sĩ Lê Mộng Nguyên, Quản lộc đại phu Triệu Vũ Thành, Trung quân tùng sự Đinh Công Khá, Gián nghị đại phu Phùng Tứ Tâm, Tây lương thứ sử Trương Hoán Cách, Phiêu kỵ tướng quân Triệu Bá Đạt, mai này trẫm quyết định trọng dụng họ đúng chỗ. Riêng những quan văn võ tứ trụ triều đình, các vương địa phương sẽ đồng loạt cho về vườn, theo tội năng nhẹ, triều đình mở khoa cầu hiền sĩ bổ khuyết vào triều chính.

Quả nhân nghĩ cho cùng nước nhà nghiêng ngửa mới biết chân thực lòng quân thần, trên dưới không cùng một ý chí thì Nam Việt khó mà tồn tại, toàn tôn tộc Bách Việt sẽ suy vong, Lĩnh Nam mất trên bản đồ, văn hiến Hùng Vương khó mà lưu truyền cho con cháu mai sau. Quả nhân sống gần quan trường mới biết thường tình phần đông là phường ca tụng bốc thơm không đúng sự thực, bản chất của quan trường hiện nay lòng không minh chính. Quả nhân thấy phần đông duy danh, duy quyền, duy tình, duy lợi, không mấy ai duy Tổ quốc!.

Tôn Nhân Phủ mấy mươi người nhu nhược, lắm chuyện hưởng thụ, Quả nhân chỉ còn trông cậy vào Muội Tử Hồ vừa thông minh văn võ song toàn có bản lãnh, biết tự lấy quyết định thay mặt triều chính, bỗng Nam Việt Vũ Đế nhớ điều gì lại hỏi Hoàng Hạc:

— Khanh thấy quả nhân có hèn lắm không?

—  Muôn tâu Bệ hạ, làm người đã là khó rồi, nhất là làm Hoàng đế thì lại càng khó hơn, người tài thường giải quyết được việc khó khăn, khi khó khăn đạt được kết quả thì tâm hồn mới thoải mái, như vậy một Hoàng đế trị vì xã tắc bình thiên hạ, đương nhiên gặp phải muôn vàn kể sao cho xiết. Bệ hạ soi gương tìm trong lòng có đủ can trường, đảm lược không đã rồi mới lấy quyết định quốc sự an dân, hạ thần không thể gọi là hèn.

Tâu Bệ hạ, như đã thấy Nội ngoại chính triều đình, được sống mấy mươi năm thanh bình, họ ăn không ngồi rồi mới sinh ra biếng nhác, cầu an, hưởng thụ, vị kỷ, họ còn tệ hơn nữa cấu kết với gian tế làm phản để mưu cầu sống cho cá nhân, bởi thế cương giới mới sinh sự, nếu Bệ hạ không ra tay trước thì Nam Việt tương lai khó mà lường được, binh pháp có nói “Ra tay trước người thì cướp được tinh thần của người” vậy chẳng có gì hơn xuất quân trước, mới lấy lại được cương giới .

— Đúng vậy, quả nhân có suy tư rất nhiều về việc này trước khi khanh tấu, hôm nay nhớ lại ngày trước, khi ấy quả nhân vào tuổi bách thọ cùng với hiền khanh tỷ võ, quả nhân có nói mai sau khanh là hào kiệt, ngày ấy hiền khanh cũng nguyện một lòng vì Nam Việt, từ ấy quả nhân nhớ khanh nhiều nhất nhưng lại ở mãi Giang Tô. Đến nay khanh đã về sống Cửu Chân xem như ở gần quả nhân, mỗi lời tấu của khanh quả nhân xem đây là một giá trị nên để lòng, quả nhân cũng biết chính trị vì quá lâu, đôi khi cũng không hoàn thiện, đó là nhược điểm của con người, không thấy yếu nhược. Ngày nay quả nhân thấy thẹn lòng không làm được việc cho đất nước Nam Việt. Nay chỉ biết khanh là trung thần tri kỷ nên quả nhân không xem khanh là vua với tôi, mà phải nói rằng tình huynh đệ, quả nhân ghen tị tài năng với khanh nhiều lắm, cho nên nay quả nhân quyết định làm một việc gì đó để đổi mới bộ mặt xấu xa của triều đình. Cho nên quả nhân quyết định khai tử những quan trường ô lại, quan nha hèn nhát, ít nhất cũng để lại trong lòng khanh một chữ Vũ Đế, hành động này nhằm tạo ra triều đình có kỷ cương mới, ngày mai quả nhập triều hạ chỉ, như quả nhân đã quyết định lập lại cương giới, đích thân quả nhân xuất chinh trừ phạt Hán. Còn về hoàng tộc văn, võ không đồng tình xuất chinh thì ở lại triều đình, chỉ quả nhân thân chinh sống thác do mệnh trời quyết định, không can dự gì đến quan lại nhu nhược, ai phản đối ý của quả nhân sẽ trảm.  Hoàng Hạc toát mồ hôi, sau khi nghe Vũ Đế có quyết định rõ rành, ông tâu:

— Muôn tâu Bệ hạ, đó là lý dũng của người đứng đầu anh hùng Nam Việt, lấy lý trí để quyết định, có như vậy thần dân mới hãnh diện đất Việt có đấng chúa minh quân, hạ thần kỉnh bái tạ ơn điện hạ. Hoàng Hạc cao hứng nói về kho tàng:

— Muôn tâu Bệ hạ, sau khi lập lại cương giới, Bệ hạ ban thưởng tướng sĩ những gì ? hay là chiến trận mỗi người một con chiến mã giống tốt và khoẻ, nếu tướng sĩ tử vong hay bị thương được cấp dưỡng, ban ruộng đất làm ăn, con cái của họ được học văn võ. Nam Việt Vũ Đế lòng bồi hồi se lại không biết phải trả lời thế nào! vì đây là sự hiển nhiên hậu chiến:

— Quả nhân lấy tài sản ở đâu mà hứa!

— Muôn tâu Bệ hạ. Chiến mã hạ thần cung cấp, còn Bệ hạ tịch thu tài sản của những quan trường gian tế làm phản, chu cấp cho quân sĩ lỡ tử vong nào ruộng đất v.v…Nam Việt Vũ Đế lo âu:

— Khanh đề nghị việc này rất hợp ý với Quả nhân, điều này hứa là thực hiện được. Nam Việt Vũ Đế hỏi tiếp, còn khanh có tài sản như thế nào mà hứa cung cấp chiến mã như vậy, rút lại lời hứa đi. À vừa rồi khanh đã làm một việc lớn quả nhân đây cũng đã thẹn rồi, đó là khanh đưa tất cả anh hùng từ phương Bắc tụ về Cửu Chân và Nhật Nam, tài sản của khanh bảo bọc họ được sống rất sung túc, Quả nhân làm vua mà không làm được gì cho dân an cư lạc nghiệp, quả là nhu nhược, nhân đây Quả nhân nói cho hết lời, từ khi cùng khanh đồng tâm vì Nam Việt chưa hề nghe khanh tâu một lời nào để xin phẩm triều đình và chưa giới thiệu ai trong gia tộc ra làm quan, Quả nhân biết họ Hoàng văn võ một góc trời, như Hoàng Bình, Hoàng Biên, Hoàng Vũ, Hoàng Lữ Giao, Hoàng Lữ Trinh, Hoàng Chỉnh và cả điệt Phi cũng có khả năng làm tướng quốc, chỉ có Hoàng Khải tiếp nhận phẩm học sĩ mà không ở triều, thế mà khanh vẫn lãnh đạm như vậy có ý gì ? Hoàng Hạc tâu:

—  Muôn tâu Bệ hạ, hạ thần đa tạ, Điện hạ nhớ đến con cháu của hạ thần như vậy cũng đã vinh dự lắm rồi, nhà họ Hoàng có lời hứa phụng sự Nam Việt chứ không vì quan trường, người đời có nói “Đức trường tồn, danh tuyệt mệnh”.

Nam Việt Vũ Đế và Hoàng Hạc trở về thành, quả nhiên sáng hôm sau Nam Việt Vũ Đế nhập triều hạ chỉ:

—  “Nay trẫm quyết định lập lại cương giới, đích thân Trẫm xuất chinh, tất cả hoàng tộc và quan văn võ những ai đã không đồng tình thì ở lại triều đình, Trẫm sống thác do mệnh trời quyết định, không can dự gì đến quý khanh, ai phản đối Trẫm trảm” Tất cả quan văn võ ai cũng hoảng hốt, chỉ dụ đã truyền trên dưới hoàng thân quốc thích, từ trước đến nay thường cản trở ý vua, nay hạ chỉ dụ có tiếng trảm ai cũng sợ đầu tạm biệt cổ. Cùng lúc Nam Việt Vũ Đế hạ chỉ đích thân rồng xuất chinh Đại Nguyên Soái, những tâm phúc như Hoàng Hạc nguyên là Quốc sư, Tây tướng quân có Phùng Nam, Đông tướng quân có Trần Bình Phương, Phiêu kỵ tướng quân có Âu Dương Lạc, Quản lộc đại phu Triệu Vũ Thành làm tướng quân Ngự Lâm Quân, Tiền quân có tướng quân Đinh Công Khá, giám nghị đại phu Phùng Tứ Lâm làm Tây quân, Tây lương thứ sử Trương Hoán Cách chưởng lý kho lương, phiêu kỵ tướng quân Triệu Bá Đạt hậu quân, Thái Tử Hồ điều khiển triều chính và giám sát cả nước Nam Việt, công việc binh cơ nội ngoại trị đã hoàn tất. Ngày hôm sau Nam Việt Vũ Đế hạ chỉ ra lệnh Lê Đại Nguyên tướng quân Ngự Lâm Quân, tướng quân Hộ Thành Trang Thông, Cơ Mật Viện tướng quân La Cát Tường, Truyền lệnh sứ Nguyễn Lao Trường. Đến từng nhà quan quân văn võ gian tế, làm phản độc chỉ truất phế, bắt về nhà lao nội thành chờ lập lại cương giới đem ra xét sử, tịch biên tài sản sung vào công cương giới, những ai trong hoàng tộc đương triều cũng bị truất phế và tịch thu tài sản, tội nặng bắt về nhà lao, tội nhẹ mời ra khỏi thành Phiên Ngung. Ngoài ra Nam Việt Vũ Đế còn triệu tập phân quyền triều chính Nam Việt gồm có Giao Chỉ Vương Âu Việt An Dương Lạc, Tượng Quận Vương Điền Việt Phùng Nam, Trường Sa Vương Mân Việt Chu Thông Được, Hải Nam Vương Dương Việt Đinh Bá Khôi, Nam Hải Vương Tây Việt Mân Việt Trần Bình Phương, Cửu Chân Vương Lạc Việt Nguyễn Ngọc Trang, Quế Lâm Vương Lạc Việt Hoàng Trung Nhất, Nhật Nam Vương Việt-Mường Lê Trung Văn, các động chủ Lạc Hồng, Lạc Khương, Lạc Trưng, Lạc Thạch, Mân Lạc, Lạc Đức và đại diện Bách Việt hải ngoại Trần Hoa Nam, Tô Trung Sứ, Mạc Tài Sơ, Trịnh Khả Minh.

Thành Phiên Ngung trở thành một khối ý chí bảo vệ cương giới đất tổ, hiệu triệu “Đánh Bắc, Bình Nam, Hưng Việt” Nam Việt Vũ Đế xuất binh chia làm hai mặt trận Tây có Tướng quân Phùng Nam, Đông có tướng quân Trần Bình Phương, Phiêu kỵ tướng quân Âu Dương Lạc hậu Tây và Đông. Nam Việt Vũ Đế hạ chỉ dụ, quân tiến “Bí mật” vào cương giới không được động đến tài sản Lạc dân, tại mặt trận Tây và Đông đặt dưới quyền Nam Việt Vũ Đế, và Quân sư Hoàng Hạc. Nam Việt Vũ Đế thảo Quốc thư gửi nhà Hán:

“Kính tâu Hoàng thượng điện hạ Hán Vũ Đế, từ xưa đã bao đời toàn tôn tộc Bách Việt, Lĩnh Nam, Nam Việt, yêu chuộng cầu lẽ sống thanh bình, cùng đồng liêu giao quí quốc một mực thuận hòa, nhưng không hiểu lẽ cớ gì. Quí quốc trở mặt ngày một ngày hai đã xâm phạm cương giới Nam Việt của tiểu quốc, chiếm đoạt một phần đất cương giới ấy. Toàn tôn tộc Bách Việt của tiểu quốc Nam Việt lấy lẽ lợi ích chung của lân bang, không chấp nhận cử chỉ khiêu khích của đại Hán, làm mất hòa khí thanh bình của hai quốc đã có. Tâu điện hạ tình hình đất của tôn tộc Bách Việt tại cương giới đã bị đại Hán chiếm cứ cho nên đời sống nơi này rất khốn khổ, ngôn ngữ bất đồng, tình chủng tộc và văn hiến riêng biệt.

Quí quốc hãy tưởng xem con hạc không thể sống chung với con cò. Người nào giống ấy, cương giới Lĩnh Nam trời đã định, vậy xin quí quốc tiếp nhận quốc thư này, xem đây là một yêu cầu xin hoàn trả lại những phần đất của tôn tộc Bách Việt, có như vậy đại Hán, Nam Việt mới được yên ấm, hai dân tộc tại cương giới được thanh bình.

Kính cầu Hán Vũ Đế điện hạ xuất chỉ dụ thu binh mã. Ký tên Nam Việt Vũ Đế”.

Truyền lệnh sứ Hoàng Biên đi Trung nguyên yết kiến nhà Hán Cao Hậu. Lúc này nhà Hán muốn chiếm mặt Tây Nam Việt, họ chuẩn bị dùng người Việt sống tại cương giới làm mộc bản cho chiến tranh, mặt Đông cương giới nhà Hán không chịu trả lại còn gửi binh đến chiếm thêm đất. Giám binh Nam Việt báo tin nhà Hán cho bọn Hồng Sản quyền tự do cướp phá, giết người Bách Việt sống tại cương giới, hiện thời cương giới Tượng Quận do Thái thú Trương Thượng Tể đứng ra điều binh, tại cương giới Quế Lâm, bọn Hồ Sản đảng cũng được thái thú Dương Tài Lập hổ trợ cướp phá và giết người, tại cương giới Nam Hải dưới quyền thái thú Tăng Khánh Bình điều động binh mã chuẩn bị lấn chiếm cương giới. Nhà  Hán gửi tướng Gia Cát Đồng từ Trùng Kháng đến Phúc Kiến chỉ huy trận chiến và tướng Ma Lộc Sơn từ Phúc Kiến đến cương giới Nam Hải chỉ huy trận chiến. Đặc biệt có quân phản quốc Châu Minh và Hưng Việt nằm sâu trong đất Hán, thuộc Phúc Kiến, phía sau ngọn Việt Thành Lĩnh chạy từ Phúc Kiến, đến huyện Tuần Mai tỉnh Nam Hải, chúng làm hậu binh lập chính quyền sau khi người Hán chiếm được phần đất của Nam Việt.

Nam Việt Vũ Đế truyền chỉ dụ lập đại bản doanh soái tướng tại biên giới Nam Hải. Bản doanh thứ hai do Quốc sư Hoàng Hạc lập tại cảng Hổ Môn, Nam Hải. Bản doanh thứ ba lập tại cương giới Tây bắc Quế Lâm do tướng quân Hoàng Trung Nhất điều binh. Bản doanh thứ tư lập tại cương giới Bắc-đông Tượng Quận do tướng quân Phùng Nam điều binh. Bản doanh thứ năm do Cần Lĩnh Nam lập tại các tuyến Ngũ lĩnh và Châu giang. Nam Việt Vũ Đế hiệu triệu “Đánh Bắc, Bình Nam, Hưng Việt” xuất chinh binh mã như vũ bão, binh mã hò reo tinh thần mạnh mẽ. Những tướng quân trợ chiến mặt Đông có Trần Bình Phương lập trại phía bắc sông Tây Giang, Phiêu kỵ tướng quân An Dương Lạc lập trại Bắc cửa biển Hổ Môn, ngoài ra lực lượng dân quân Cần Lĩnh Nam được Nam Việt Vũ Đế chỉ định vận chuyển lương thảo và tiếp ứng ba mặt trận, lúc này có đến ba lực luợng Cần Lĩnh Nam trợ chiến do Phùng Hưng, Vũ Thư Minh, cùng Hoàng Chỉnh thay thế Hoàng Biên, một lực lượng mạnh của dân quân Nam Việt, đặc biệt Quế Lâm, Tượng Quận có lực lượng Thiếu Hiệp Quân do Hoàng Anh Tuấn và Lê Chí Nam chỉ huy, mặt trận cương giới chia thành năm tiền phong, sáu mặt trợ chiến. Ba mặt trận cùng xuất phát giáp công một ngày.

Chiến trận Tây, năm ngày đầu tiền quân Nam Việt tràng vào bất thình lình lấy được hai phần tư cương giới, qua ngày thứ sáu tướng quân Phùng Nam tiền quân sâu vào mặt Tây bị sức ép của binh Hán cản trở do thái thú Gia Cát Đồng điều binh tiến quân án ngữ, ba tướng của Gia Cát Đồng tiến ra tiền trận Xuyên Điền Tô tay cầm đạo, Nga Hồ tay cầm song kiếm, Ðinh Phương tay cầm mã tấu. Xuyên Điền Tô xuất đao như mãnh hổ đói, tiếng đao rít lên “vù vù” binh sĩ Hán háo hức hò reo một góc trời, át cả tiếng đao, tiếng vó ngựa binh mã Hán tung bay mịt mù giáp trận. Binh mã Cần Lĩnh Nam Bắc Tông do Phùng Hưng bày ra trận phục binh, chỉ cần giáp trận là tiếng trống, thanh la, nổi lên thúc quân như vũ bão. Phùng Hưng và Xuyên Điền Tô đao kiếm vào tiền trận chiến. Đao của Xuyên Điền Tô quay tít rít lên thành tiếng “vù vù” đối với binh sĩ kém may mắn đứng gần xem như lấy sọ, không gian đao kiếm này chỉ dành riêng cho anh hùng thử thách. Tiếng đao chói tai không hù được Phùng Hưng, trong chiến trận Phùng Hưng điềm tĩnh nói hiệu kỳ của mình:

—  Kính chào tướng quân Xuyên Điền Tô tại hạ họ Phùng tên Hưng tướng quân hiệu kỳ Cần Lĩnh Nam. Xuyên Điền Tô gốc gác là tướng cướp thất học tính kiêu ngạo:

—  Mỗ chưa hề biết tướng man di là ai, chỉ cần lấy nhiều thủ cấp là vốn của mỗ ưa thích nhất, vậy mời thủ cấp lao vào đao mỗ đi, hãy đỡ chiêu “Cang châu quyết đao”. Phùng Hưng thấy tướng Hán lỗ mãng kiêu ngạo, Phùng Hưng đứng trước tướng Hán, cũng oai phong lẫm liệt đúng là tướng quân Nam Việt không phải đồ hèn để cho người Hán bắt nạt. Phùng Hưng xuất chiêu “Châu thành kỳ kiếm” trong “Tuyệt cao kỳ kiếm” đao kiếm “keng keng” Xuyên Điền Tô xuất luôn chiêu “Cang châu thuyết đạo”. Phùng Hưng dò dẫm đao pháp của Xuyên Điền Tô, mới hai chiêu đao kiếm “keng keng” thấy tướng Hán lảo đảo thì biết địch thủ chỉ có cái miệng to hơn cái bồ lúa, võ nghiệp của Xuyên Điền Tô chưa phải là cao thủ, tuy vậy Phùng Hương cũng nương tay để khai thác đao pháp tuyệt kỷ đến đâu mà khoái thích lấy thủ cấp của thiên hạ, đấu không hết hai mươi hiệp kiếm đao, Phùng Hưng quét nhẹ bay đầu Xuyên Điền Tô.

Phùng Hưng hai chân nhịp hông tuấn mã chạy thẳng vào trung đạo quân Hán, gặp ngay Gia Cát Đồng, Phùng Hưng biết đây mới là người mình muốn tìm, chàng xuất luôn chiêu “Luân sa kiếm ” trong “Tuyệt cao kỳ kiếm” đã bắt sống được Gia Cát Đồng. Lê Trung Kha song kiếm trợ chiến cho Phùng Hưng, nhưng gặp phải tướng Hán di Nga Hồ đấu một trận trên ba mươi hiệp không phân thắng bại, tướng Việt Lê Trung Kha bị thương, tuy mất một cánh tay trái vẫn đấu đến hơi thở cuối cùng cả hai đồng tử vong. Tướng Hán di Ðinh Phương đấu với Mạc Thu Tá đồng bị trọng thương. Tình thế có phần căng thẳng, tướng quân Phùng Nam xuất trận đưa hộ tiền quân vào trung tâm, phó tướng tây quân Lê Bình, phó tướng đông quân Trần Đông và phó tướng hậu quân Đỗ Trương, binh sĩ Cần Lĩnh Nam cũng vào trận đập cho bằng được quân Hán, quân Hán phải rút qua khỏi cương giới cũ để cố thủ.

Nào ngờ lúc này lại có một lộ binh đặc biệt xuất hiện không ai biết tên tuổi tướng quân họ Chu tên Điệp, thế đánh chẻ tre mãnh liệt vào quân Hán, quân Hán trở tay không kịp đầu hàng rất nhiều và bắt được tám phó tướng Hán, hỏi ra mới biết đó là Cần Lĩnh Nam dưới trướng của tướng quân Vũ Thư Minh, trận chiến hoàn toàn thắng lợi quân Hán khiếp đảm. Lượt trận chiến trường quân sĩ Nam Việt thì có Lê Trung Kha tử trận, Mạc Thu Tá bị trọng thương, binh sĩ tử thương hơn năm mươi, bắt sống được Thái thú Gia Cát Đồng, tướng Hán, Nga Hồ, Ðinh Phương và tám phó, binh sĩ Hán tử thương không biết bao nhiêu mà đếm cho hết, chiến lợi phẩm vô số. Mặt trận Tây cương giới Tượng Quận thắng lớn. Tin cấp báo về đại bản doanh Soái tướng Nam Việt Vũ Đế. Trận chiến mặt Tây chỉ sáu ngày bình định được cương giới, toàn dân vui mừng, lương thảo chiếm được của Hán phân phát cho dân, sửa lại nhà cửa, ruộng vườn và luyện tập dân tự vệ cương giới. Các mặt trận phía Đông và Bắc phấn chấn khôn tả.

 Mặt trận Bắc. Tướng quân Trần Bình Phương hạ trại Tây Giang, Phó tướng quân Lạc Hồng và Lạc Khương, tiền phong Trịnh Đình Thao, đông phong có Nguyễn Tào Đang, hậu trận có Nghiêm Hà Đức. Bên đông trận Hán có Thái thú Dương Tài, cùng các tướng Ðinh Phổ, Ngụy Ma, Liêu Hóa, Trương Dực, Lục Kháng, Tôn Ba, Cờ Hồ đảng có Lôi Minh, Tư Mã cầu.

Tướng quân Trần Bình Phương, xuất lệnh tấn công xông pha vào trận chiến, tiền phong Trịnh Đình Thao tay cầm kiếm phóng theo “Thành huyết Lĩnh Nam” vào tướng Đinh Phố rùng mình vung kiếm tránh đỡ không kịp thủ cấp Đinh Phố quăng về sau trận Tướng quân Trần Bình Phương, ông thấy cần phải cho quân binh Hán nhục chí khí, ông sử dụng cước pháp đá tung thủ cấp Đinh Phố tung lên trời thành trăm mảnh rơi xuống bên giặc Hán, binh tướng Hán thấy kinh sợ, Nghiêm Hà Đức tay cầm côn phi thân vào hông phía đông xuất côn đánh Ngụy Ma và Liêu Hóa, tay côn phóng ra liên hoàn một trăm bốn mươi thức “Hết nạc vạt đến xương” bọn cướp cương giới Ngụy Ma và Liên Hóa kẻ đổ ruột phế mạch huyệt tứ chí, người gãy xương sống làm ba khúc, võ công bị phế, hai phó tướng quân Lạc Hồng và Lạc Khương bao vây bọn Cờ Hồ đảng đánh chết hơn nửa, bắt sống được tướng cướp Chu Bá Cương, Lạc Khương trói chân tay đem về nộp cho tướng quân Trần Bình Phương. Thái thú Dương Tài phất cờ cho ba tướng Trương Dực tay cầm thương, Lục Kháng tay cầm trượng, Tôn Ba tay cầm đao tiến ra trận. Hậu trận tướng Nguyễn Tào Đang tay phóng chùy cho quân tiến vào đánh ba tướng Hán, thấy một đánh ba sợ thua, tướng Nghiêm Hà Đức chạy vào trận phóng cùng lúc bốn lần trên hai trăm phi tiêu, quân Hán tử thương, số còn lại sợ bỏ chạy, ba tướng Hán và hai tướng Nam Việt đấu trên hai trăm hiệp mới phân được thắng bại, hai tướng Hán, Ngô Trương Dực, Tôn Ba tử thương, bên Nam Việt tướng Nghiêm Hà Đức tử thương, trận chiến ác liệt kéo dài mười ngày, tướng quân Trần Bình Phương tiến quân sâu vào mặt trận trung quân nhằm bắt Thái thú Dương Tài. Dương Tài biết cự không lại đành phải chuyển binh mã chạy lấy thân, không ngờ gặp phải trước mặt tiền phong Trịnh Đình Thao:

—  Thà ta chết chứ không để Dương Tái chạy thoát. Hai bên đánh chí tử một mất một còn, đúc kết Thái thú Dương Tài và tướng Nam Việt, Trịnh Đình Thao đồng tử trận, binh sĩ Nam Việt truy sát quân Hán tan tác. Tướng quân Trần Bình Phương lập được kỳ công thu hồi cương giới, tuy tổn thất một phần tướng sĩ, nhưng đó chỉ là một phần trăm so với tổn thất của quân Hán, tổng kết chiến lợi phẩm binh khí lương thảo quân Hán mất trắng. Quân Nam Việt có tướng Trịnh Đình Thao và tướng Lê Trung Kha tử trận.

Có một đoàn quân xuất hiện từ đất Hán thuộc Phúc Kiến, phía sau ngọn Việt Thành Lĩnh đánh tới, tướng tiền đạo Trịnh Bảo, hữu tướng Trịnh Trường, hiệu kỳ Châu Minh tả tướng Lý Bình Trung, tướng hậu đạo Chu Thông, Chu Thiện, Chu Hào xuất binh từ huyện Tuần Mai tỉnh Nam Hải hiệu kỳ Hưng Việt. Vũ Thư Minh biết trước quân ta, ông hô lớn đánh phía tả thọc sâu vào hông quân của Cờ Hồ đảng, trận đánh nhanh và bất ngờ của Châu Minh và Hưng Việt xem như quân Hán không còn lối sống, vì đường rút do Châu Minh trấn giữ, tướng tiền đạo Trịnh Bảo, hữu tướng Trịnh Trường, tả tướng Lý Bình Trung, tướng hậu đạo Chu Thông, Chu Thiện, Chu Hào, quân tướng Hán chết dưới tay của Châu Minh và Hưng Việt quân tướng Hán hầu banh manh giáp chết chín còn một, thu được toàn kho lương thảo, san bằng được trang trại, quân tướng Hán tử thương như Ðinh Phổ, Ngụy Ma, Liêu Hóa, Trương Dực, Lục Kháng, Tôn Ba, Lôi Minh, Tư Mã Cầu, bắt được trên hai ngàn binh sĩ Hán và chiếm được của Hán phía sau ngọn Việt Thành Lĩnh. Trận chiến kết thúc nhanh nhờ nhị đệ Hoàng Phi và Trịnh Bảo.

Toàn dân háo hức cương giới đã trở về cố quốc Nam Việt, nay dân được an cư, tất cả lương thảo lấy được của quân Hán và Cờ Hồ phân phát cho dân, trong khi chiến tranh nhà cửa ruộng vườn của dân bị tàn phá nay tướng quân Trần Bình Phương ra lệnh xây dưng lại cho dân và làm thông hào cương giới để đề phòng quân Hán phản công.

            Soái tướng Nam Việt Vũ Đế nhận được tin cấp báo mặt trận Tây chiến thắng vỏn vẹn sáu ngày, chiến trận mặt Bắc, mặt trận Tây-đông toàn thắng hơn mười ngày, riêng mặt trận Bắc Đông đánh rất ác liệt, hai bên đồng tổn thất đã bước qua mười lăm ngày vẫn chưa phân thắng bại. Nam Việt Vũ Đế hạ chỉ dụ tướng quân Phùng Nam và tướng quân Trần Bình Phương tiếp viện trên bộ cho mặt trận Bắc-đông, riêng Hoàng Hạc xuất tất cả thương thuyền biến thành chiến thuyền đánh chặn trước mặt biển, không cho chiến thuyền quân Hán tiến vào cửa biển Hổ Môn, một số chiến thuyền của Nhật Nam bao từ mặt biển Quảng Châu đến Hải Nam nhằm chặn không cho quân Hán bọc hậu xuống mặt biển Nam.

Mặt Bắc-đông, Phiêu kỵ tướng quân An Dương Lạc hạ trại phòng ngự cửa biển Hổ Môn. Tướng quân Vũ Thư Minh kéo toàn lực lược Cần Lĩnh Nam Trung Bộ và Thiếu Hiệp Quân về án ngữ Châu Giang và làm tiền đạo đánh vào Bắc-đông cương giới Phúc Kiến, Thành Lĩnh. Ngũ phó tướng họ Chu phục binh, riêng Chu Trang Thủy cùng Hoàng Anh Tuấn điều binh Thiếu Hiệp Quân. Phó tướng quân Lạc Thạch, Mân Lạc, Lạc Đức, tiền phong Đinh Bình Nhi, trung phong Tô Tứ Minh hậu trận.

Bên đông Phúc Kiến có trại Hán thứ hai dưới quyền Thái thú Trường Thái Tể, có các tướng Ðinh Pha, Lục Khánh, Tương Tư, Dương Trung, Lục Phi Thắng, Võ Sung, Trương Sao Đồng, Trần Quỳnh, Ðào Tú Thư, Hồ Mi Gia, có cả bọn làm phản Mạc Hậu Tường bang, Khải Trần giáo và Chu  Minh đảng.

 Phiêu kỵ tướng quân An Dương Lạc, Nam Việt hạ lệnh tấn công, tinh binh các phó tướng quân Lạc Thạch, Mân Lạc và Lạc Đức đồng loạt xuất binh khí vào trận, đánh với các tướng quân Hán. Ðinh Pha, Lục Khánh, Tương Tư, không phân thắng bại quân sĩ hai bên tổn hao nhiều.

Tướng quân Nam Việt, Vũ Thư Minh cho xuất quân đánh vào trận bắc Thành Lĩnh, tiền phong tướng Chu Thanh Thủy, đông phong Chu Ngọc Thủy, tây phong Chu Thượng Thủy, nam phong Chu Hoa Thủy, hậu Chu Trang Thủy phất cờ lệnh.

Quân binh tiến vào đánh với các quân tướng Hán, như Dương Trung, Lục Phi Thắng, Võ Sung, Trương Sao Đồng, trận chiến mỗi khắc gia tăng. Các tướng Nam Việt kéo binh mã chuyển từ mặt trận Tây vào Đông phá Hán. Tướng quân Vũ Thư Minh gặp cùng lúc bốn tướng Hán. Vũ Thư Minh xung kích áp trận, nhảy vào ngọn giáo, ông xuất bộ pháp “Bành phong hội” và kiếm pháp họ Hoàng, tướng Hán, Dương Trung to lớn tay thương dũng mãnh xuất chiêu “Thiên long thương” một chiêu đầu còn nghe “keng keng”. Vũ Thư Minh xuất chiêu “Minh thành quyết” trong “Công quyền Lĩnh Nam” thu liền thủ cấp của Dương Trung. Tuy lấy được thủ cấp của địch nhưng bị một vết thương trước ngực khá nguy hiểm nhưng vẫn còn khả năng chiến đấu, Chu Thanh Thủy và Chu Ngọc Thủy nhảy vào trợ chiến đánh với tướng Hán, Trương Sao Đồng, còn Chu Ngọc Thủy đánh với Võ Sung. Lục Phi Thắng phi thân vào trận xuất chiêu tấn công, Vũ Thư Minh bình tĩnh xuất chiêu số “Minh thành công” trong “Công quyền Lĩnh Nam” lấy được một cánh tay cầm chùy của Lục Phi Thắng, tay trái Lục Phi Thắng rút ra một chùy lớn xuất chiêu “Hồ khẩu thủ” đâm tới, Chu Thượng Thủy thấy nguy hiểm phi thân vào trợ chiến, kiếm tốc mây bạt núi, xuất luôn hai mươi thức “Ban phủ kiếm” của Hoàng Phi sáng tạo và sử dụng bộ pháp không đầy một khắc tiện hai chân của Lục Phi Thắng, cùng lúc Vũ Thư Minh xuất chiêu “Đại la kiếm” trong “Tuyệt Cao Kỳ Kiếm” thủ cấp của Lục Phi Thắng rơi xuống đất sình. Vũ Thư Minh và Chu Thượng Thủy phi thân đến Chu Thanh Thủy và Chu Ngọc Thủy thì thấy cả hai cùng ôm nhau tử trận bao giờ, về hai tướng Hán, Võ Sung, Trương Sao Đồng phanh thây thành nhiều khúc. Chu Thượng Thủy bị thương nhẹ, sức khỏe còn sung mãn, riêng Vũ Thư Minh vết thương trước ngực quá sâu, thấy tình cảnh vợ tử trận xúc động té ngã xuống đất ngất lịm như đã chết, Chu Thượng Thủy cõng chàng phi thân vào trại để cứu chữa. Chu Hoa Thủy, Chu Trang Thủy cũng phi thân xuất trận đánh quân tàn binh Hán chạy tán loạn rồi chia nhau cõng Chu Thanh Thủy, Chu Ngọc Thủy về trại, biết không còn chữa trị được vì tim đã ngừng đập từ lâu và thân thể rất nhiều vết thương trầm trọng, cả hai cùng khóc tiếc thương cho hai chị Chu Thanh Thủy, Chu Ngọc Thủy đến đây là vắn số.

Chu Thượng Thủy ghé vào tai Vũ Thư Minh nói thầm giọng run run:

― Phu quân đừng bỏ chúng thiếp nhá! thanh âm tuy gần mà xa vì hơi thở không còn là bao! Chu Hoa Thủy, Chu Trang Thủy tuy ở xa nghe tiếng Chu Thượng Thủy nói vậy chạy tới cũng khóc, nhưng lý trí còn minh mẫn, phóng luôn vào huyệt đạo “Phong phù” “Trí đường” “Hạ tam lộ” trong “Huyệt pháp Lĩnh Nam” năm khắc sau thế là hô hấp trở lại bình thường, không sợ Vũ Thư Minh bỏ lại trần gian ngũ nữ hiệp xinh đẹp, đảm đang việc nước, việc nhà.

Vũ Thư Minh trong giấc điệp đậu cành trà mi. Hai tay ta ôm chặt ngũ đóa trà mi mỉm cười, tìm một chút hơi ấm của hương hoa dìu dịu. Ngày xa xa lắm có ngũ hoa chịu nở một cành, cho ta hơi thẹn thế gian chỉ nhất cành ngũ hoa, ngũ hoa biết cười tươi tắn còn là duyên trêu ghẹo vui vui, cho lòng ta ngây ngất, nhất nương cho ta tình trải rộng, nhị nương cho ta tình hết biết, tam nương cho ta tình vương khó tả, tứ nương cho ta tình trào rung động, ngũ nương cho ta tình sáng long lanh.

Đêm nay ta rong chơi trong vườn hoa nhà nàng, ta đứng cạnh ngũ nương đôi má đỏ hồng bảo ta đừng khờ khạo, để mặc cho ngũ nương xem ta như một vì sao, nhiều đêm ta đi cùng ngũ nương trong bóng tối như chòm sao bạch dương trước cửa thiên thần trên cao man mác, ta cùng ngũ tiên bay vào mây tuyệt đẹp, đêm nào cũng như đêm ấy, ngày nay và mai sau vẫn thế, tình yêu tràn đầy mãi mãi không vơi. Ta xin nguyện tàn cuộc chiến, sẽ cho ngũ nương tử một nhà trăm con ngàn tuổi, ngày vui hạnh phúc ấy không lìa nhau.

Ngũ thiếp ơi, Vũ huynh mệt quá tại sao ngạt thở chết mất thôi. Chu Thanh Thủy, Chu Ngọc Thủy, Chu Thượng Thủy, Chu Hoa Thủy, Chu Trang Thủy ơi ta yêu tất cả. Trong ngũ nương tử mất một thì đời ta không sống được. Nếu ta có qua đời thì nhớ chôn cùng mồ cho vui nhá…

Chu Thượng Thủy lòng đang buồn vì sợ  phu quân qua đời, khi nghe những lời nói ấy của Vũ, lại càng buồn thêm. Tiếng nói của chàng như đang bị nghẹn, muốn nói mà không thành lời, chỉ còn thủ thỉ:

— Trang tiểu muội ơi, muội đi lấy nước cho tướng công uống, tướng công đang khô cổ lắm rồi. Có lệnh chuẩn bị chuyển tướng quân Vũ Thư Minh và Chu Thượng Thủy về Hoàng gia trị bệnh. Đúng lúc Hoàng Phi đến cho uống “Hạc Chu Thảo” sinh mạng của Vũ Thư Minh đã qua khỏi tử thần. Chu Hoa Thủy nước mắt khóc chưa khô vừa lau vừa nói:

— Phu quân không thể chết được. Hoàng Phi hiểu nổi lòng đau khổ của tam nữ hiệp. Chu Hoa Thủy, lau nước mắt:

— Hoa, Thượng, Trang thúc mẫu đa tạ Phi nhi, đã cứu sống phu quân thúc mẫu. À sao không thấy Phi nhi có mặt ở chiến trường vậy?

— Thưa thúc mẫu, Phi nhi đang hành sử một việc rất quan trọng, chuẩn bị đưa đồng đảng phản quốc ra pháp trường hành quyết, cho nên không ra chiến trường là vậy. Nhân đây Phi nhi có đem theo một tuấn mã cước lực thiên hạ vô song để đưa Vũ thúc thúc về Hoàng cung dưỡng bệnh. Chu Thượng Thủy lòng bâng khuâng duyên ấm ngậm mà ngùi khi thấy chàng như thể khó sống, tuy vậy khi nói chuyện với Hoàng Phi bà vẫn ôn nhu như ngày thường:

— Thúc mẫu cũng bị thương vậy phi nhi còn thuốc nào để trị được không ?

— Thì ra thúc mẫu cũng bị thương à ? để Phi nhi xem mạch lý thế nào rồi mới trị “ối chà” bị trúng độc. Chu thượng Thủy sợ hãi hỏi:

— Phi nhi độc khí này khó trị không ?

— Thưa thúc mẫu an tâm, chỉ cần một viên “Hạc Chu Thảo” là hết bệnh liền.

Quân tướng Hán tử trận quá nhiều binh mã chạy loạn như rắn mất đầu, lại bị bao vây phá trận, trang trại của bọn cướp Hồng Sản tan vỡ, cả bọn làm phản Mạc Hậu, Tường Chỉ bang, Khải Trần giáo, Chữ Minh đảng cùng chết trong trận.

Qua ngày thứ mười bảy hải chiến hai bên vào trận, Nam Việt do Quốc sư Hoàng Hạc chỉ huy ba mươi chiến thuyền, quân Hán do tướng quân Vương Cao Hổ chỉ huy năm mươi chiến thuyền, lần đầu tiên quân Hán thấy chiến thuyền của Nam Việt,  quân Hán không biết những chiến thuyền này xuất phát từ đâu đến, bởi thế quân Hán xem chiến thuyền Nam Việt như cỏ rác, vì xem thường thuyền nhỏ và ít quân sĩ, quân Hán tiến vào cửa Hổ Môn qua hai mặt thủy, đúng như Quốc sư Hoàng Hạc đã bày trận trước. Tướng quân Hán, Vương Cao Hổ ra lệnh bốn mươi chiến thuyền cách tám mươi hải lý, mở cánh buồm tiến vào cửa Hổ Môn còn hơn vũ bão, tiền đạo do phó tướng Chu Hầu Bao, hậu đạo do Ngô Trung, Cương Thảo chỉ huy.

Quốc sư Hoàng Hạc ra hiệu ứng chiến, từ cửa Hổ Môn xổ hết cánh buồm và chuyển cánh buồm vào hướng lộng gió, chiến thuyền nhỏ cánh buồm nhiều và lớn, chiến thuyền bay như ngựa phi nước đại trên mặt biển, chỉ hơn tam khắc, bốn mươi chiến thuyền của quân Hán bị đồng loạt phát ra tiếng nổ “rầm…rầm…” đâm vào dưới đáy chiến thuyền, sức mạnh đại thương của cá-đao, thuyền Hán làm sao mà chịu nổi, nước vào thuyền như thác đổ, từ từ chìm vào đáy biển, quân Hán kinh ngạc thì đã muộn rồi, tướng sĩ Hán làm mồi cá mập, số còn lại rất ít được vớt lên làm tù binh gồm có Vương Cao Hổ, Ngô Trung và năm mươi binh sĩ khác.

Chiến thuyền Nhật Nam lập trận thứ nhì chận đánh mười lăm chiến thuyền của quân Hán vừa đi vào vòng Nam Hải để tiến lên hướng Hổ Môn do phó tướng Hứa Phủ, Tạ Cang, Từ Độ Không cũng bị chung một hoàn cảnh, Nhật Nam bắt được phó tướng Hán tên Tạ Cang và hai mươi binh sĩ.

Trận hải chiến sĩ tốt quân Hán tự mời cá mập xơi tươi hơn hai ngàn năm trăm mạng. Ba mươi chiến thuyền của Quốc sư Hoàng Hạc và hai mươi chiến thuyền của Nhật Nam vẫn đậu tại hải chiến, chỉ cho hai chiến thuyền chở tù binh vào Hổ Môn, chiến thuyền còn lại cho thủy thủ lặn xuống đáy biển để thu chiến lợi phẩm và đục thuyền lấy vỏ về sửa chữa lại, công việc thu chiến lợi phẩm ba tháng sau mới hoàn tất.

Nam Việt chiến thắng được là nhờ kỹ thuật đóng thuyền hai đáy, sáng tạo trận đồ hải chiến, kỹ thuật hải chiến mới, trang bị chiến thuyền cũng khác. Vỏ thuyền hai đáy chia ra làm hai phần trên và dưới, phần trên gồm thành thuyền và những cột buồm, thành thuyền ngoài vỏ bọc thép có trên hai trăm khóa cột đại thương đầu bịt thép, cột buồm có đến hai buồm câu, trung tâm thuyền có buồm cánh diều, dưới có buồm vuông, buồm hạc, cộng vào sức mạng của gió có thêm cánh buồm hoàng một vuông một hạc, tại boong thuyền có cột buồm phụng bạc, đầu thuyền có cột buồm ưng, những cột buồm này rất hảo gió lộng là chạy hết tốc lực, phần đáy thuyền thiết kế rất tinh vi khi ra trận lấp vào đáy thuyền một đại thương như cá-đao dài năm tượng bán kính, đầu bịt thép, hai bên hông đáy thuyền lấp vào mười đại thương cá-đao dài tam truợng bán kính đầu bịt thép, khi ra trận thủy thủ được chia ra làm hai cánh trên boong và cách lặn dưới đáy thuyền, thay phiên nhau trên boong dưới nước. Chiến thuật tinh nhuệ nhất chuyển buồm lấy gió chạy dọc, gió chuyển buồm xoay chạy xuôi, như người đi trên bộ, hai chân tùy nghi sai bảo cánh buồm, cánh buồm trung tâm là bộ não của chiến thuyền, đặc biệt thuyền có khả năng chuyển hướng tả hữu, ngang dọc nhờ vậy mới đâm thẳng vào hai bên hông thuyền địch.

Tin hải chiến thắng trận lòng tướng sĩ náo nức hướng về mặt trận Bắc-đông toàn dân Nam Việt tinh thần lên cao và đích thân Nam Việt Vũ Đế lượt trận hải chiến.

Hán thái thú Trương Thái Tể cũng được tin hải chiến thất trận lòng ông thối chí. Thái thú Trương Thái Tể nghe Phiêu kỵ tướng quân An Dương Lạc hạ lệnh cho tinh binh tấn công bắt tướng sĩ Hán chém đầu không tha, Thái thú Trương Thái Tể sợ hãi cởi chiến bào bỏ chạy lấy thân, các tướng khác cùng binh sĩ cũng chạy theo, chiến trận Bắc-đông có ba tướng Hán tử trận, như Lê Bình, Trần Đông và  Lạc Thạch.

Quân Hán bỏ lại chiến trường lương thảo, binh khí, chấm dứt chiến tranh lập lại cương giới Bắc-đông, tất cả lương thảo thu được phân phát, xây dựng lại nhà cửa và vườn ruộng cho dân, kết quả cuộc chiến Bắc-đông thắng trận vẻ vang, quân sĩ Nam Việt tử trận gồm có hai nữ tướng họ Chu Thanh Thủy, Chu Ngọc Thủy và nam tướng quân Lạc Thạch, Mân Lạc, Lạc Đức, Đinh Bình Nhi, Lê Trung Kha, Tô Tứ Minh. Tướng bị trọng thương gồm có Vũ Thư Minh, Chu Trang Thủy.

Trước mắt về quân tướng Hán chết trong trận ba mươi lăm, bắt làm tù binh hai mươi hai tướng, bắt được tướng trọng thương sáu mươi, quân sĩ bị chết như núi, trên ba ngàn tù binh Hán, chiến lợi phẩm võ khí, lương thảo, không đo, cân, đếm cho hết.

Tổng kết tướng quân Nam Việt tử trận mười một, trọng thương ba, binh sĩ tử trận ba trăm, trọng thương bốn trăm, kết quả trận chiến đã lập lại được hoàn toàn cương giới, được ghi nhận trận chiến “Vô tiền khoáng hậu” của Lĩnh Nam, có thế nói đây là sức mạnh quân sự Nam Việt, từ ấy người Hán không còn coi Nam Việt như cỏ rác. Nam Việt Vũ Đế lập đàng hạ chỉ dụ:

— “Tôn tộc Bách Việt lập quốc nhờ hùng chí, trên dưới một lòng hào kiệt hóa sức mạnh bạt núi dời thủy, nay quân thần Lạc Việt giữ bền vững được cương vực của tổ tiên không hao hụt một tấc đất Lĩnh Nam.

Tổ tiên Bách Viêt đã đổ ra nhiều xương máu mới lập quốc được như ngày nay, khó như vậy quân thần lạc việt phải giữ lấy đất tổ, anh hùng hào kiệt tướng sĩ một lòng vì xã tắc.

May thay ngày nay lập lại được bốn cương giới cũng nhờ tinh thần Nam Việt. Từ đây thấy mặt mãi quốc cầu vinh là bài trừ không dung thứ, bởi họ là Hán”

Nam Việt Vũ Đế, xuất chỉ trảm tất cả những quan quân mãi quốc cầu danh, tội phản tôn tộc Bách Việt, phản quốc Nam Việt, đem đến pháp trường cương giới xử trảm để làm gương cho đời nay và để lưu danh kẻ phản quốc cho đời sau. Cơ Mật Viện đọc tên và trảm từng người một như:

Văn có La Đức, Quốc công Nguyễn Bồ Trọng, Thừa tướng Triệu Đa Bảo, Quốc hầu Tô Công Chính, Cửu viện Thượng thư Triệu Không Cương, Tư Ðồ Triệu Đạt Hùng, Thái Úy Triệu Mẫu Phương, Thái phó Phùng Hảo Anh, Quan Thị Ngự Sử Bạch Đình Hồng.

Võ có Tể tướng Vi Quốc Đại, Đại tướng quân Triệu Phương Đa, Tá trung lang tướng Trần Hoàng Thư, Chinh tây tướng quân Lê Thông, Tiền tướng Quân Nguyễn Bạch.

Tôn Nhân Phủ có Triệu Tú Hải, Triệu Nguyên Dõng, Triệu Thứ Lan.

Nay Trẫm xuống chỉ dụ tại chiến trường. Từ đây toàn dân bốn cương giới Tây bắc, Bắc đông và Đông được miễn thuế ba năm, được cấp ngũ cốc làm mùa hai năm, những cương giới không bị chiến tranh cũng được miễn thuế hai năm và cấp ngũ cốc làm mùa một năm, toàn thể thanh niên từ hai mươi đến ba mươi phải tập võ nghiệp vào buổi chiều từ năm giờ chiều đến bảy giờ tối, nếu có binh biến thì bảo vệ cương giới của Tổ tiên, tức là bảo vệ tài sản chung của Bách Việt, lập ba Võ đường tại cương giới và một Văn võ Miếu tại thanh Phiên Ngung để hương khói những vị anh hùng Nam Việt. Thăng quan, tiến chức cho tất cả tướng sĩ tham dự lập lại ba cương giới. Nam Việt Vũ Đế ra chiếu chỉ:

— Tướng sĩ của nhà Hán được trả về nguyên quán, Nam Việt ban giao không xâm phạm cương vực lân bang, bảo vệ cương giới vĩnh viễn thanh bình. Cử lệnh sứ thường xuyên giao hảo.

Cờ Hoàng (Vuông) của Soái tướng Nam Việt Vũ Đế Chiến thắng đi đầu về Phiên Ngung thành. Cờ Hạc (Thang) của Âu Việt tướng quân An Dương Lạc, Điền Việt tướng quân Phùng Nam, Dương Việt tướng quân Đinh Bá Khôi, Mân Việt tướng quân Trần Bình Phương, Đông Việt tướng quân Nguyễn Ngọc Trang, Nam Việt tướng quân Phạm Bá Tư, Lạc Việt tướng quân Hồng Hưng Lạc, Việt-Mường tướng quân Lê Trung Văn, các động chủ Lạc Hồng, Lạc Khương, Lạc Trưng, Lạc Thạch, Mân Lạc, Lạc Đức và đại diện Bách Việt hải ngoại Trần Hoa Nam, Tô Trung Sứ, Mạc Tài Sơ, Trịnh Khả Minh đi sau chót.

Về đến Thành Phiên Ngung Nam Việt Vũ Đế hạ chỉ lập Văn võ Miếu Cương giới và thực hiện những lới hứa trước khi xuất quân, riêng Hoàng Hạc cũng thực hiện lời hứa với tướng sĩ.

Truyền lệnh sứ Hoàng Biên cũng về đúng lúc, nhà Hán cùng Nam Việt chấp nhận lui binh mã, cương giới được hai bên thuận hòa không xâm phạm cương giới giữa lân bang.

Triều đình Nam Việt Vũ Đế thất thập niên thay đổi cai trị mới, đề cử Lạc Việt tướng quân Phùng Nam làm Phó Nam Vương cai trị phía Nam.

Trong cuộc chiến lập lại cương giới Cần Lĩnh Nam tuẩn quốc ngũ anh hùng:

Nam Việt Vũ Đế lập đàng, chính Đế chủ lễ, Hoàng Hạc phó chủ lễ thay mặt Cần Lĩnh Nam.

Tượng Quận Vương, Trường Sa Vương, Nam Hải Vương, Giao Chỉ Vương, Cửu Chân Vương, Nhật Nam Vương, Đông Hải Nam Vương, Tây Hải Nam Vương đồng phó chủ lễ anh hùng Nam Việt.

Mộ chí ghi danh thập anh hùng :

– Lý Lý Dũng.

– Nghiêm Hà Đức

– Trịnh Đình Thao

– Lê Trung Kha

– Chu Thanh Thủy

– Chu Ngọc Thủy

– Lạc Thạch,

– Mân Lạc,

– Lạc Đức,

– Đinh Bình Nhi,

– Tô Tứ Minh,

Bia danh cao lớn, tú lệ, uy nghi bằng đá thạch ngọc màu xanh, mang dòng chữ “Lĩnh Nam Anh Kiệt” toàn dân đến đây nghiêng mình khâm kính cẩn, tiên thể và bài vị đặt tại Văn võ Miếu :

Nam Việt Vũ Đế xuất chỉ dụ, thực hiện lời hứa trước anh linh thập nhất anh hùng Nam Việt.

Tháng sau Quốc sư Hoàng Hạc phân phối trên ba ngàn chiến mã cho mỗi tướng sĩ có công tham dự trận cương giới, ai cũng mừng vui, ngày sau ba ngàn anh hùng tuân chỉ vào Điện Thái Hòa tiếp nhận lễ vinh thăng.

Nam Việt từ Bắc xuống Nam an hưởng vĩnh hòa, toàn dân có một đời sống sung túc hơn lúc trước nhiều, dẹp được hoạn quan, tham ô, nhu nhược, hoàng thân quốc tích không còn quyền thế như trước và  bọn mãi quốc cầu vinh bị trừ diệt.

Một thiếu phụ ngồi bất động trước trận chiến cương giới Bắc-đông Nam Việt. Người thiếu phụ khóc cho tướng công “hu…hu…” đang ôm con trai ba tháng. Lệ đầm đìa che phủ cả trần gian, như nơi chốn không nhân sinh, tiếng than trầm mặc, âm thanh ảm đạm thê lương, thở dài tiếc núi phận mệnh đeo đuổi anh hùng vắn số:

― Nay thiếp nhớ mãi và nhớ rất rõ ngày ấy. Có một thanh niên bị hai vết thương trên vai, một vết thương trước ngực, khi ấy em không biết từ cõi nào đến một chàng trai nhờ em chữa trị, khi cởi áo đầy liễm mấu, cũng là lần đầu tiên hai tay em rờ mó vào thân thể người thanh niên xa lạ, cảm thấy như trời sụp đổ, em tản lãnh nhưng lòng không bình thản, tuy thấy vết thương chàng quá nặng, nhưng thân hình rắn chắc, vạm vỡ, gồ lên từng ấy bắp thịt, vai vộng, chàng nhắm mắt ngất liễm, như người thả lỏng nội công, mồ hôi toát ra thơm kỳ diệu, hai tay lau rửa và thoa thuốc “Hoàng Hổ Cao” sau đó vết thương vai và  ngực của chàng đã khô đóng vảy, lúc ấy chàng tỉnh lại, thấy chàng đôi mắt tròn xoe, môi chàng tủm tỉm cười tạ ơn, đôi má em hồng hồng lòng khó nói, đôi ngày trôi qua mới biết chàng là Hoàng Đức vang danh kiếm pháp, chàng bị thương vì xã tắc, mưu cầu hạnh phúc cho người.

Không bao lâu vết thương trước ngực lành lại hoàn toàn, em không còn thấy những cái vạm vỡ ấy nữa, em mới thèm thuồng và muốn khám phá uy lực trên thân thể của chàng, từ ấy em cảm thấy yêu chàng. Một hôm lòng em bơ vơ theo vào vòm trời trăng sao, nghe chàng thì thầm:

Hương em như quế như gừng

Tỏa ra anh biết ngát lừng ai hay

Cảnh một nhớ ai mê mẩn tỉnh say

Hỏi em nồng tấm đượm đầy áo sương

Thì ra chàng đang ở bên em, lòng em như đang nổi rét, chàng cầm lấy tay lòng ấm lại từ ấy chàng và em bay bổng vào không gian, rồi tình thê phu nối tiếp bình an, sinh được một hài nhi chàng gọi Trịnh Đình Thông, em rất tự hào, giờ ngồi đây em hóa phận trầm mai. Phu quân ơi ? đi xa không trở lại, thiếp sống làm sao được khi vắng Phu quân, ôm hài nhi trên tay nhớ chân dung Phu nhân ấm áp lòng. Em phải sống cho hài nhi thành nhân, em phải sống thay phu quân trừ giặc Hán.

Thiếp cùng Thông nhi “hu…hu…” tiễn phu quân nhẹ nhàng siêu thoát.

Hồi 11

Xây Thành Đắp Lũy Phòng Cơ Biến

Huỳnh Tâm - Anh Hùng Nam Việt