Sau cuộc chiến cương giới đến hồi an hưởng thanh bình, Nam Việt đi vào xây dựng đất nước. Hoàng Hạc khởi đầu sử dụng kho tàng nhằm phát triển Nam Việt, qua sự phê chuẩn của Nam Việt Vũ Đế. Tuy đã có một kho tàng trên tay nhưng sử dụng thế nào cho hợp lý, không bị phá sản một cách phi mã. Lần đầu tiên quốc sư Hoàng Hạc đem kho tàng vào việc mua trên ba ngàn con chiến mã tặng mỗi tướng sĩ tham dự trận chiến cương giới, mục đích khích lệ quân binh sĩ, đồng lúc tạo ra phương tiện cho quân cơ phòng thủ .

Hoàng Hạc thành lập khắp nơi đội chuyên môn chiến mã, nào là đi qua Hán mua chiến mã khoẻ giống tốt, trại chăn nuôi, phương thức gầy giống. Đặc biệt Vũ Đế ban chỉ dụ lập danh bộ phân phối chiến mã, ghi tên chiến mã sinh và tử. Mỗi binh sĩ được làm chủ chiến mã nhưng không được bán, chiến mã bị bệnh thì đem đến trại chăn nuôi để chữa trị, chiến mã bị chết thì được cung cấp lần thứ hai, cho phép gầy giống kinh doanh tự do.

Đời sống tinh thần của toàn Lạc dân hưng khởi nhiều hơn trước, lý do là Nam Việt Vũ Đế dẹp được loạn hoạn quan, tham ô, nhu nhược, hoàng thân quốc thích không còn quyền thế như trước, bọn mãi quốc cầu vinh bị trừ diệt, nay Nam Việt trải rộng quyền cai trị mới, lập tướng quân Phùng Nam làm Phó Nam Việt Vương kinh đô Nam ở Đại La, cai trị từ Long Biên đến Nhật Nam. Nam Việt Vũ Đế hỏi Hoàng Hạc:

― Quả nhân thấy khanh tặng hơn ba ngàn con tuấn mã tạo phương tiện phòng thủ, công việc lập trại chăn nuôi, trị liệu, lưu giống đó là một sáng kiến rất hay, giá phòng trước đây mà có chiến mã như thế này thì binh mã Nam Việt hùng mạnh biết mấy! Quả nhân hỏi khanh chi phí ấy lớn lắm, chính kho dự trữ kim ngân của triều đình xuất hết cũng không mua được từng ấy chiến mã, nay tạo được binh hùng tướng mạnh như vậy quả là khanh đã hy sinh nhiều lắm, hai nữa chiến trận vừa qua giá không có khanh thì khó mà chiến thắng được, điều này ai cũng biết tài chước lược của khanh đúng là háo tình tráng khí, tầm lòng lân tài an dân.

Nay tự đáy lòng quả nhân tha thiết muốn khanh tiếp nhận quyền trị quốc, quả nhân trao ấn kiếm cho khanh, ý khanh thế nào?

― Muôn tâu Bệ hạ, hạ thần nay đã quá bách niên rồi còn ham muốn gì mà ấn kiếm với ngai vàng, trời sinh ra người nào việc đó, xin Điện hạ nghĩ xem, làm vua rất khó và do số mạng trời đã định, không một ai muốn mà được, giá như có kẻ muốn đoạt ngôi, soán đế danh cũng không thành, nếu có thành thì lịch sử cũng không để yên, hạ thần và cả gia quyến chỉ xin làm tôi trung hiếu Bách Việt là đã mãn nguyện lắm rồi, Điện hạ có thương yêu hạ thần thì bỏ qua suy nghĩ chuyển ngôi, vả lại ngày nay Nam Việt đã có kỷ cương mới, Thủ đô Phiên Ngung có Điện Hạ, Nam Việt Vũ Đế ở đất Phong Châu có địa danh Đại La, phó Vương Nam Việt Phùng Nam là tướng quân, đó là sức mạnh của Nam Việt. Nam Việt Vũ Đế vẫn còn âu lo:

― Quản nhân nghĩ rằng sơn hà xã tắc trông cậy vào thời sinh này, nhưng quả nhân không làm được việc gì hữu ích cho lắm, cũng không để lại cho mai sau một giang sơn gấm vóc hùng vĩ thì đáng tiếc lắm vậy!

Hoàng Hạc nghe Nam Việt Vũ Đế than thân trách mệnh cửu trùng, rồi nghĩ thầm nhân dịp này mình đưa ra những phương thức tích tụ tại phú, thi hành hoàn chánh thì may ra Nam Việt Vũ Đế hạ chỉ để cho mình tự do thực hiện nguyện vọng của điệt Phi. Ông trình tấu:

― Muôn tâu bệ hạ, tiểu thần xin trình tấu kế sách ( Dân di bản, phú tắc cường ) hạ thần khao khát thực hiện kế sách đúng với thần dân Nam Việt đang cần.

Hầu thể hiện trung hiếu vua tôi, thì lòng hạ thần này mới an tâm. Ông trình tấu tiếp, muôn tâu bện hạ, nên xuất chỉ dụ về Bát sách, nhắm khuyến khích quyền Lạc dân, khai khẩn thổ canh, giao thương.

Về triều đình qui định luật nước, cung cấp phương tiện giáo dục, sản xuất, phân phối của cải, Lạc dân toàn quyền làm chủ điền trang, điền thổ, trạm dịch, sản xuất, kinh doanh có như vậy thì thực hiện được “Dân di bản cũng cố an ninh, dân phú tắc đắc cường”. Muôn tâu, Bát sách “Cải thiện dân chủ nhân sinh” gồm có:

― Nhất Nông Xuất, Giao Thương: Khai khẩn ruộng trồng lúa, nương tơ tầm, vườn trồng cây trái, hoa quả, rẫy bái khoai củ. Chiếu theo qui định điền sản, điền thổ phân phối hạt giống ngũ cốc, cây trồng.

Chăn Nuôi. Chiếu theo quy định: Lạc dân mười tám tuổi được phân phát mười con gà, mười con vịt, một con heo. Tam Lạc dân được phân phát một con bò một con trâu, cứ thế nhân lên. Lương thực nuôi gia súc cung cấp miễn phí ba năm. Tất cả gia súc được triều đình mua lại với giá cao.

Lâm. Triều đình lập điền thổ Hoàng triều, khai thác tược nuôi trồng cây đa niên, trồng cây sản xuất binh khí, bảo vệ thiên nhiên, cây và thú rừng.

Ngư Nghiệp: Chiếu theo qui định cung cấp phương tiện ngư nghiệp, như tơ đan lưới, gỗ làm ghe thuyền. Lạc dân trên mười tám tuổi được cung cấp toàn bộ phương tiện ngư nghiệp, đóng thuyền to nhỏ tùy theo kết hợp Lạc dân, cá được bán trong nội địa và các lân bang.

― Nhị Dẫn Thủy Nhập Điền: Cung cấp nước cho nông nghiệp, ngư nghiệp, chăn nuôi. Vận động Lạc dân sản xuất thủ công nghiệp phân phối lương thực cho cả nước và giao thương lân bang.

― Tam Vũ Binh, tuyển hiền tài: Lập trường võ, sở đúc, sản xuất binh khí, đào tạo Lạc dân thông thạo việc binh, tập luyện quân binh trong cũng như ngoài chiến trường. Đóng thuyền chiến, nuôi và mua chiến mã.

― Tứ Quân Kho: Dự trữ ngũ kim vàng, bạc, thép, đồng, chì, thau, kẽm mua từ Trung nguyên chở về nước. Mỗi Vuơng phủ lập kho dự trữ riêng, như dự trữ quân dụng, binh khí, lương thảo, chiến mã.

― Lục Giáo Dục. Thi cử hiền tài trí sĩ, đào tạo văn nhân, võ bị bổ dụng làm quan, lập cơ sở kinh doanh, giao dịch, khuyến khích Lạc dân hướng về quyền công dân.

―Ngũ Nội Trị: Hoàn chánh cho dân, thưởng phạt, bổng lộc minh chính, bổ túc thay cũ đổi mới quan trường, lập nhị đô Bắc có Phiên Ngung và Nam có Giao Chỉ. Trùng tu thành trì cũ mặt Bắc, xây dựng thành mới mặt Nam, riêng Phiên Ngung xây dựng vòng thành thứ ba. Nghĩa vụ Lạc dân bảo vệ đất tổ và muôn dân đối với Nam Việt một nhà chung.

― Thất Giao Hảo Lân Bang: Triều cống phẩm vật lẫn nhau, thỏa hiệp an ninh cương giới, trao đổi văn hóa, giao dịch hàng hóa, binh khí.

Dùng ngũ kim, danh lợi để sai khiến quan trường Trung nguyên, tặng giới giang hồ kiếm, đao, thương để kết giao.

Trọng hiền đãi trí sĩ lân bang, nhất là nhà Hán để không còn ai màn đến chính sự.

― Bát “Hợp Việt Xuất Hán”: Bổ túc vào chất liệu nhân xã, đất nước ngày nay cần có những ý chí giải nhắm vào tương lai Bách Việt xóa bỏ những hận thù và hiềm khích của quá khứ, rồi đến hợp Lạc dân tìm cố gắng xây dượng tương lai chung. Trên căn bản giải có nghĩa là không còn những dị biệt suy nghĩ, bất đồng hành động và cả quyền cai trị nước phải lệ thuộc vào Lạc dân, có như thế mới gọi là hợp để thực hiện theo ý của Lạc dân, triều đình chia sẽ ưu tư của Lạc dân nhưng không xâm phạm thi hành ý nguyện riêng của Lạc dân.

Đã là Việt cần chữ giải để chung sống một nhà Bách Việt, bầu trời này đã có chữ hợp từ khi mới mở nước Lĩnh Nam, cõi Lĩnh Nam là đất nước Bách Việt không một ai từ chối đất tổ văn hiến Hùng vương.

Đất nước cần bước giải đi trước, khi đã giải thì mới có hợp, không giải được thì hợp bất hòa. Từ ấy Bách Việt là một khối không còn phân biệt hay chia cắt, tránh được tranh chấp trong tương lai, tránh được mọi tổn hại sau này, có như vậy lòng yêu đất nước không bị suy giảm, đất nước Nam Việt mới được cảm nhận như một tình yêu Việt, nói chung đất nước Nam Việt phát minh lòng yêu nước thương dân. Lạc dân làm chủ những biến cố lớn nhỏ và chấp nhận mọi thử thách, nhất là tạo nghiệp trong Lạc dân, mỗi Lạc dân yêu nước theo cách nhìn của mình.

Ý của Hoàng Hạc đưa ra Bát sách cải thiện nhân sinh và cai trị mới, mục đích làm cho dân giàu nước mạnh mà không hết kho tàng, mỗi việc điều nằm trong thuật xếp đặt của người mưu trí.

Nam Việt Vũ Đế lắng nghe Hoàng Hạc trình bày Bát sách, như trong lòng từng vọng cầu phép lạ từ lâu. Vũ Đế ngồi suy nghĩ, hai tay bưng chén rượu phỉ thúy nhâm nhi, rượu vào thì sầu tràng tuôn ra, vì ông thừa biết Bát sách khó thành công, tuy vậy cũng là dịp tâm ý tương thông, hiểu được kiến văn uyên bác của Hoàng Hạc đương nhiên là người tâm đắc!. Vũ Đế buông một tiếng thở dài:

― Quả nhân đồng ý Bát sách “Cải thiện dân chủ nhân sinh” của hiền khanh, đó là phép lạ dân giàu nước mạnh, như quản nhân từng nuôi trong tư tưởng “Nông phát xuất, tắc ban kỳ thực, công xuất tắc kỳ sự”.

Nhưng khổ nỗi kho dự trữ kim ngân của Nam Việt không còn là bao, quả nhân đã trình bày rồi! Nhân đây nói thực để hiền khanh hiểu, quả nhân đã xuất chỉ dụ không cho Hoàng Triều tự xuất tài sản đó, muốn xuất kim ngân vì mục đích Nam Việt phải được cả triều đình phê chuẩn, hiện nay trong kho có nhiều kim ngân, vật quý cũng nhờ thu nạp được tám mươi bốn tên mãi quốc cầu danh và trên hai ngàn gia sản quan lại tham ô, quyền thế chia phe lập đảng phản quốc, một số tài sản người trong Tôn Nhân Phủ cũng được sung công vào Quốc khố, nếu nay xuất hết cũng không làm được một việc nông nghiệp. Hiện thời quả nhân cùng Tôn Nhân Phủ sống giản dị. Hoàng Hạc xúc động trình tấu:

― Muôn tâu Bệ hạ, quả là bệ hạ nhạy cảm tuyệt xúc giác và tâm nhãn, chính là vị Đế vương xuất tam bảo kỳ tuyệt, về bát việc mà hạ thần đã tấu.

Nay hạ thần xin nhận trách nhiệm làm được Lục sách, chỉ còn Nhị sách Bệ hạ làm được. Nam Việt Vũ Đế ngạc nhiên:

― Hiền khanh nói sao, quả nhân làm được nhị sách gì, dù có khó muôn lần quả nhân cũng không xá chi kiếp sinh này. Còn hiền khanh nhận làm đến Lục sách ắt hẳn khác nào “đội đá vá trời” tại sao không tìm người để chia việc cùng hiền khanh ?  Hoàng Hạc vui mừng xem như Vũ Để đã chuẩn, ông tâu:

― Muôn tâu Bệ hạ, Bệ hạ làm được nhị sách. Bang giao lân bang, Nội trị bát phẩm triều đình, bổng lộc theo quy định mới. Lục sách còn lại hạ thần nhận thực hiện, không cần phải xuất kho kim ngân Nam Việt, triều đình cũng không cần phê chuẩn, còn phần chia việc làm cho ai thì hạ thần sẽ trình bày sau. Nam Việt Vũ Đế lại càng ngạc nhiên hơn:

― Quả nhân làm việc Giao hảo lân bang, Nội trị thì không khó gì cả, quả nhân tiếp nhận nhị sách này, còn Lục sách kia đụng vào là kim ngân tuôn ra như nước, vậy của ấy ở đâu mà hiền khanh lấy ra mà trang trải được? Hoàng Hạc thuyết phục được Vũ Đế cũng không phải là dễ, vì mỗi lời nói trước mặt nhà vua phải cuốn lưỡi mười hai lần, nếu lỡ lời không khác nào thủ cấp đang trên lưng bò gỗ, ông tâu:

― Muôn tâu Bệ hạ, kinh phí trang trải cho Lục sách do sư phụ của Hoàng Phi cung cấp, điều kiện sử dụng xây dựng Nam Việt không được sử dụng riêng tư. Sư phụ của Hoàng Phi dạy họ Hoàng không được xưng vương, tranh vua, đoạt chúa, hạ thần phải tuyên thệ “Tại hạ họ Hoàng tên Hạc, con dân Bách Việt họ Lạc Việt hứa với liệt tổ, liệt tôn thiêng liêng chứng giám lòng chung thủy bảo mật kho tàng cho Bách Việt, sử dụng kiến thiết sơn hà xã tắc, không sử dụng riêng tư một hạt bụi nào của kho tàng, nếu có hai lòng thì trời đất trên dưới chứng giám soi xét đọa đày cả họ Hoàng nhà tại hạ đời đời kiếp kiếp không có một hạt ngũ cốc nào để ăn” Sư phụ của Hoàng Phi có dạy tiếp rằng “Khi sử dụng kho tàng này chỉ tiết lộ cho Nam Việt Vũ Đế biết mà thôi” để Người hạ chỉ dụ thực hiện xây dựng Nam Việt, ngoài những thừa hành khác không được biết Người là ai và kinh phí đó từ đâu đến. Nam Việt Vũ Đế nghe lời thề quá độc, lòng ông ái ngại hỏi:

― Như vậy hiền khanh đã sử dụng kinh phí đó vào việc củng cố binh phòng thủ, đương nhiên khanh đã gặp được Người, nhân đây quả nhân cũng muốn đích thân thăm viếng để đa tạ Người, có thế mới gọi là “Tre vàng lột vỏ”.

― Muôn tâu Bệ hạ, đúng vậy, hạ thần đã sử dụng một số kim ngân của sư phụ Hoàng Phi vào việc củng cố binh phòng thủ, hạ thần chỉ thăm Người được một lần, nhưng chỉ thấy chân dung trong lờ mờ, chính Hoàng Phi là đệ tử của Người cũng chỉ thấy Người như hạ thần vậy, Người nói chuyện qua trung gian Hoàng Phi, nếu Bệ hạ muốn đến thăm Người thì chỉ có Hoàng Phi mới đưa Bệ hạ đi được mà thôi. Nam Việt Vũ Đế cũng muốn biết thân thế sư phụ của Hoàng Phi là ai, sao người lại sống trong bí mật:

― Quả nhân an tâm, ngày mai quả nhân ban Lục chỉ dụ để hiền khanh thực hiện xây dựng Nam Việt, nhưng muốn cho công việc được hoàn bích thì quả nhân bổ nhiệm hiền khanh phẩm vị Quốc sư Nam Việt, trên tay có Thượng Phương Bảo Kiếm, toàn quyền trảm trước tấu sau, hiền khanh tùy ý chọn người thừa hành. Hoàng Hạc xin tâu:

― Muôn tâu Bệ hạ, hạ thần mạo muội cung kính Bệ hạ dùng quyền duyệt thẩm Lục sách của hạ thần, có như vậy thì triều thần mới tránh khỏi chểnh mảng thi hành, toàn thể Lạc dân cũng cảm khái được tình Vua-tôi, thần dân vì thế trên dưới một lòng xây dựng Nam Việt, khi vua tôi một lòng thì tránh được tham ô, quyền thế. Nam Việt Vũ Đế rất vui mừng.

― Quả nhân đồng ý với khanh, nên chọn nhân sự từ quan quân liêm khiết, tâm huyết vì dân, quả nhân thấy những quan quân ấy phần đông đã từng tham dự cuộc chiến cương giới, họ sẽ thi hành chỉ dụ như ý của hiền khanh, ý quả nhân việc cần thiết cho hiện nay là xây dựng phía nam, nhất là Phong Châu. Hoàng Hạc cẩn tâu:

― Muôn tâu Bệ hạ, ý của Bệ hạ như vậy là hợp lòng thần dân lắm, Nam Việt từ đây có đời sống mới. Tâu Bệ hạ hai ngày nữa hạ thần xuất thương thuyền đi Trung nguyên mua tơ tầm giống, ngũ cốc, gia súc khởi đầu hành trình cho việc nông, ngư, lâm nghiệp chỉ cần hai tháng là hoàn hảo. Nam Việt Vũ Đế và Hoàng Hạc từ giã chúc nhau, từ đây Nam Việt một cõi thịnh vượng, vĩnh phúc.

Trong tâm ý của Hoàng Hạc cũng có những đề phòng việc thực hiện xây dựng đất nuớc, nếu không may bị bất trắc vì kho tàng gặp phải kẻ gian, nên ông cẩn thận tấu trình với Nam Việt Vũ Đế, công việc xuất kim ngân ở kho tàng cũng rất bí mật, để cho việc làm khởi đầu được thành công, ông tiếp chỉ triều đình, mời Cần Lĩnh Nam ba nơi Bắc, Trung, Nam thân tín, cùng ba thế lực triều đình Ngự Lâm Quân, Hộ Thành, Cơ Mật Viện.

Sau khi Nam Việt Vũ Đế nghe Hoàng Hạc cẩn tấu Bát sách trong lòng vui như có một bầu trời mới trên đầu. Vũ Đế liền hạ chỉ du. Hoàng Hạc vui mừng về Cửu Chân gặp lại Hoàng Phi, ông cho Hoàng Phi biết Nam Việt Vũ Đế đã xuất chỉ dụ thuận xây dựng đất nước theo ý của Hoàng Phi. Trong lòng Hoàng Hạc hớn hở:

― Điệt Phi đưa ông đi xem cảnh Phong Châu. Hoàng Phi hiểu ý ông:

― Dạ. điệt Phi mời Tổ phụ lên hạc, bốn con hạc đưa hai ông cháu về động Lạc Việt để xuất kim ngân, ông hỏi Hoàng Phi về bảo mật kho tàng:

― Phi nhi xem lại kho tàng này có được an toàn không ?

― Thưa Tổ phụ, Phi nhi đã bế hết những cửa ra vào động, một cửa dưới đáy động, một cửa lên đỉnh núi, ba trạm phục binh của Hạc vậy khó ai mà vào được kho tàng. Hoàng Hạc vẫn chưa an tâm hỏi tiếp:

― Cửa trên vách đỉnh đá nếu điệt Phi vào được thì cũng có người vào được, điệt Phi nghĩ thế nào?

― Thưa Tổ phụ, đúng như Tổ phụ dạy bảo, bởi vậy điệt Phi đã lập đồ trận thì khó ai mà vào được.

― Điệt Phi cẩn thận lắm có như vậy mới phải chứ, nhưng mà cửa lên đỉnh núi điệt Phi phải tấn thêm một tảng đá thật lớn, còn bốn tảng đá trên đỉnh điệt Phi phải chuyển mặt có chữ vào trong và dùng bốn tảng đá lớn tấn phía ngoài.

― Thưa Tổ phụ, về đến động rồi điệt Phi sẽ làm theo ý Tổ phụ dạy bảo. Chiều hôm sau ông cháu về đến động, bốn con hạc vào động trước để báo chủ động đã về, trong động an ninh bầy hạc vui mừng, lúc này Hoàng Phi hướng dẫn thuật ngữ riêng cho hạc nhằm để Tổ phụ biết sử dụng hạc, cho nên bầy hạc xem Hoàng Hạc như người chủ động thứ hai. Trên không trung Hoàng Phi rời lưng hạc ôm lấy thân Tổ phụ phi thân lên vách đá đứng cheo leo vào cửa động Đông, lần này Hoàng Hạc không còn sợ như trước, trái lại ông cảm thấy thoải mái, chân Hoàng Phi vừa chấm xuống phiến đá một tấc trước cửa động là phải phi thân liền để vào cửa phía trong, Hoàng Phi dụng thủ pháp phi thân thần tốc đưa Tổ phụ vào động, như một đại bàng hạ cánh vồ lấy con gà mái dầu. Hoàng Hạc khen thầm, quả là cháu út của mỗ phi thường, tối hôm đó ông cháu lên đỉnh núi vào kho tàng xuất kim ngân, đem xuống sảnh đường phân thành sáu bao nhỏ để cho sáu con hạc chuyển về Cửu Chân.

Hoàng Hạc về đến Cửu Chân rồi xuống thương thuyền đi Trung nguyên cùng ngày. Sáu con hạc về lại động, có mang theo một phong thư Hoàng Hạc nhắc nhở:

― Điệt Phi ở lại động hai tháng, Tổ phụ sẽ cho hạc đưa tin, khi ấy điệt Phi mới về Cửu Chân. Hoàng Phi ở lại động hai tháng đã làm hết những việc của Tổ phụ dạy bảo, đến nay còn nhiều thời gian mỗi buổi sáng chàng chăm sóc bầy hạc, tưới nước vườn cây ăn trái, trồng cây thuốc cho hạc tự trị liệu, đi bắt thú rừng về làm lương khô dự trữ cho hạc, hướng dẫn hạc nói chuyện theo mật khẩu không cần dùng thư đưa tin như trước và hướng dẫn thêm về thám thính. Thời trưa luyện võ học trên đỉnh núi, chiều vào kho tàng độc lại mấy bộ sách, kinh thư, binh pháp, tối luyện nội công. Chàng đắc ý nhất là kho tàng, ngũ kính võ học và bầy hạc.

Thời gian trôi qua mau, hạc đưa tin Tổ phụ đã về Cửu Chân, nhân dịp này chàng chuyển về cho Tổ phụ năm bao kim ngân để Tổ phụ sử dụng việc cần thiết.

Năm mươi lăm thương thuyền của Quốc sư Hoàng Hạc trở về Bách Việt, bốn mươi thuyền cập bến Hổ Môn, mười lăm thuyền cập bến Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, phân phối đợt đầu đến tận tay người dân, toàn Lạc dân Nam Việt hoan hô, reo hò vui mừng, tung hô Nam Việt trường cửu thanh bình, Vũ Đế “Vạn tuế, Vạn tuế”. Hoàng Hạc nhận được năm bao kim ngân của Hoàng Phi vừa chuyển về, ba hôm sau ông cho thương thuyền xuất bến đi Trung nguyên mua tiếp ngũ cốc, gia súc, kim loại.

Một tháng vừa qua ngoài dự liệu, nhờ vào xây dựng phát triển Nam Việt, nay Hoàng triều mới khám phá lần đầu tiên tôn tộc Bách Việt có tổng số Tịch Bách Việt:

– Lạc Việt. Chín trăm năm mươi ngàn.

– Âu Việt.  Bảy trăm năm mươi lăm ngàn.

– Điền Việt. Một trăm ba mươi lăm ngàn.

– Dương Việt. Một trăm ngàn.

– Mân Việt. Chín mươi tám ngàn.

– Đông Việt. Tám mươi ngàn.

– Ngô Việt. Hai trăm năm mươi bốn ngàn.

– Môn-Khmer. Năm mươi bốn ngàn.

– Mườn-Việt. Bảy mươi ba ngàn.

– Thai Việt. Năm mươi ngàn.

– Mèo-Dao. Bảy mươi ngàn.

– U Việt. Bốn trăm năm mươi ngàn.

– Âu-Lạc. Bảy trăm ngàn.

– Miêu tộc. Chín mươi ngàn.

– Miêu-Yao. Tám muơi ngàn.

– Hẹ. Hai trăm ngàn.

– Đa đảo. Một trăm ngàn.

Ngoài ra triều đình còn trợ cấp Lạc dân đang sinh sống tại các tỉnh Trung nguyên, như Lạc Việt (Giang Tô, Sơn Đông) Mân Việt (Phúc Kiến) U Việt (Chiết Giang) Âu Việt, Thái Việt (Hà Giang) Ngô Việt, U Việt, Mân Việt (Tứ Xuyên, Trùng Khanh, Thiên Tân) Điền Việt, Môn-Khmer (Hồ Bắc) Dương Việt (Giang Tây) Ngô Việt (Thiểm Tây) Mườn-Việt, Mèo-Dao (Triết Giang, Hà Nam) U Việt, Âu-Lạc, Miêu Việt (Bành Lãi hồ) Yao, Hẹ Việt (Trùng Khánh, Tứ Xuyên, Quế Châu)

Hoàng Hạc đi Trung nguyên lần thứ hai, ủy nhiệm Hoàng Chỉnh thay mặt ông triệu tập huynh tỷ, con cháu để bàn kết quả kế sách cải thiện nhân sinh trong hai năm qua. Hoàng Chỉnh, Hoàng Bình, Hoàng Vũ, Hoàng Biên, Hoàng Lữ Giao, Hoàng Lữ Trinh.

Tổng cộng có bảy mươi ba người con cháu họ Hoàng đồng tham dự. Hoàng Chỉnh tuyên bố:

― Những việc làm lâu nay của gia gia (Hoàng Hạc) của quí thúc bá, cô mẫu đều hướng về tinh thần Bách Việt, cả họ nhà ta đồng ý cộng lực vào việc xây dựng Nam Việt cường thịnh. Đến nay việc làm phó bản hai bộ Thư pháp, Binh pháp đã được trên hai mươi bộ, đã chuyển đi phân phối các nơi, riêng hai bộ phó bản “Tuyệt Cao Kỳ Kiếm” và “Phong Tâm Kiếm” họ Hoàng nhà ta vừa tiếp nhận được do Cần Lĩnh Nam Bắc Tông gửi tặng, họ cho biết làm được sáu mươi bộ phó bản. Nguyên hai bộ “Tuyệt Cao Kỳ Kiếm” và “Phong Tâm Kiếm” có phần bổ túc chỉ được lưu truyền trong họ nhà ta mà thôi. Lý do hai bộ này đích thân Hoàng Phi tìm ra, sau đó được bổ túc thêm trọn phần võ học của họ Hoàng. Hoàng Phi còn cho biết huynh đệ Cần Lĩnh Nam cũng được truyền thụ phần bổ túc võ học họ Hoàng. Phần quan trọng nữa là bốn pho võ học của sư phụ Hoàng Phi chưa truyền toàn bộ cho các đệ tử, lý do chưa khám phá nhân kiệt nào có khả năng tiếp thu được bốn pho bích Lĩnh Nam, Hoàng Phi dự trù hướng dẫn cho quí thúc phụ, quí cô mẫu, quí huynh đệ con cháu họ Hoàng nếu có đủ tư chất.

Nói chung con cháu nào cũng được truyền thụ, từ đây về sau sáu tháng họ Hoàng có tổ chức tỷ đấu để phân cấp võ nghiệp. Về binh khí do Hoàng Phi đem về nhà để đúc lại theo mẫu, đến nay đã làm được trên hai ngàn binh khí các loại khác nhau, phương pháp đúc võ khí nay đã phân phối khắp nơi, để họ tự lập lò đúc, rèn lấy binh khí, tạo ra phong trào tự phát triển, trao đổi kinh nghiệm kiến thức binh khí.

Những binh khí nguyên mẫu như Đại hổ đao, Phương trường thương, Mảnh trầm kiếm, Như thu trượng, Hùng cửu côn, Phán quan bút, Phi tiêu, Chùy, dụng cụ phóng ám khí, Thanh long đao, Bạch cương mâu, Long thái kiếm, tất cả mười tám loại binh khí bảo vật có kèm theo phổ từng binh khí, đã thực hiện đúc theo mẫu binh khí. Sau khi hoàn tất thì Hoàng Phi đưa những binh khí ấy về trao lại cho sư phụ, tuy vậy trong họ Hoàng ai là người sử dụng được những binh khí bảo vật này thì Hoàng Phi xin sư phụ ban ân, nhưng phải một lòng thề nguyền bảo vật chỉ vì Bách Việt, riêng Hoàng Phi hiện đang sử dụng “Long Thái Kiếm” quí thúc phụ vẫn sử dụng kiếm gia bảo họ Hoàng, thúc phụ Hoàng Bình, Hoàng Vũ, Hoàng Khảo, Hoàng Biên, cô mẫu Hoàng Lữ Giao, Hoàng Lữ Trinh. Từ nay về sau tất tất dưới sự điều động công việc chỉ bảo của Gia gia, Tổ phụ Hoàng Hạc.

Còn Hoàng Phi là chủ quản Cần Lĩnh Nam không phải lo việc nội ngoại họ Hoàng, tuy nhiên việc gì họ Hoàng cần là phải tham gia, những con cháu hiện diện hôm nay tùy theo sở nguyện tham gia vào những sinh hoạt của họ Hoàng hay tham gia vào Cần Lĩnh Nam tùy ý.

Đại hội Cần Lĩnh Nam tại thành Phiên Ngung, quy tụ anh hùng hào kiệt tham gia, cũng là nhân dịp lễ tưởng niệm anh hùng Cần Lĩnh Nam đã hy sinh trong trận chiến cương giới Việt-Hán.

Tổng lý đệ nhất Phùng Hưng tổng kết nhân lực, trình bày hoạt động năm vừa qua. Nói về nhân sự gồm có Nhất cấp thập bát anh hùng, Nhị cấp có nhị thập cửu, Tam cấp có bách thập nhị, Tứ cấp có tứ bách tứ thập tam, Lục cấp có nhị thiên ngũ bách tứ thập, chúng Cần Lĩnh Nam có trên tam thiên.

Giới thiệu Cần Lĩnh Nam Nam Tông do đệ nhất Tổng lý Hoàng Biên hiệu là “Thiên long âm” Nhất cấp có thất anh hùng, Nhị cấp có nhị thập nhị, Tam cấp có tứ thật tam, Tứ cấp bách tứ thập nhị, Ngũ cấp có tứ bách lục thập, Lục cấp có bách tam thập bát, chúng Cần Lĩnh Nam có nhị thiên.

Giới thiệu Cần Lĩnh Nam Trung Tông đệ nhất Tổng lý Vũ Thư Minh, tam nữ hiệp họ Chu, Hoàng Anh Tuấn, Lê Chí Nam. Nhất cấp có bát anh hùng, Nhị cấp có bát thập tứ, Tam cấp có thập tam, Tứ cấp có cửu thập lục, Ngũ cấp có thiên cửu, Lục cấp có thiên nhất bách, và chúng Cần Lĩnh Nam trên nhị thiên. Tài sản Cần Lĩnh Nam tự lập, liên lạc tam Cần Lĩnh Nam trên bộ rất nhanh nhờ có bốn thiên tuấn mã do Cần Lĩnh Nam mua từ Trung nguyên.

Hoàng Phi thấu hiểu sinh hoạt của mỗi Tông khác nhau và tự trị, điều hành nội bộ tùy thuộc vào trình độ kiến thức mưu sĩ, hiểu biết tinh thần của Lạc dân, tổ chức đồng nhất trên căn bản Cần Lĩnh Nam, võ nghiệp cao thấp khác nhau là do hoàn cảnh sống, tư chất tạo thành, chàng nói:

― Hiện nay Cần Lĩnh Nam hoạt động trên ba khu vực tự trị ở phía Bắc có Cô trượng Phùng Hưng, Trung có thúc thúc Vũ Thư Minh, Nam có thúc bá Hoàng Biên, trên mặt tổ chức tự trị nội bộ, điều hành, phát triển theo nhu cầu từng vùng, nhưng phải thủ tín, thường liên lạc với nhau, hội ý về tinh thần võ học, trao đổi kinh nghiệm giao dịch, đời sống Cần Lĩnh Nam như tình thủ túc.

Nhất là hôm nay Nam Việt Vũ Đế công nhận Cần Lĩnh Nam là lực lượng Hộ thành thứ hai, ngoài ra còn có khả năng bảo vệ Nam Việt cho nên tất cả Cần Lĩnh Nam phải luyện tập binh mã có trách nhiệm trước sự tồn vong của Nam Việt.

Theo tại hạ thấy, tổng kết hiện nay phía Cần Lĩnh Nam Nam Tông rất yếu, đối với tình hình chủ lực xây dựng Nam Việt cần phải phát động chiêu hiền đãi sĩ để có một lực lượng tương đồng Cần Lĩnh Nam Bác Tông.

Hoàng Phi dừng lại suy nghĩ về kho tàng. Cần xuất kho tàng để cung cấp phương tiện cho Nam Tông không ? Chàng nói tiếp:

― Về phương tiện hoạt động của Cần Lĩnh Nam Tam Tông, tại hạ thấy duy có Nam Tông còn yếu mọi mặt, điều này tại hạ nhận trách nhiệm cung cấp phương tiện vật chất, còn về đào tạo nhân lực các cấp thì Cần Lĩnh Nam Nam Tông tự phát triển, ở buổi đầu này có nhiều vất vả, nhưng trong tương lai phải là một lực lượng bảo vệ mặt Nam của Nam Việt. Tại hạ xin mời quí thúc bá, thúc thúc, cô trượng, huynh đệ có ý kiến gì không? Phùng Hưng phát biểu:

― Thưa chủ soái Cần Lĩnh Nam (Hoàng Phi) trong thời gian này thập bác anh hùng phía Bắc chia làm hai, bổ túc cho Nam Tông. Hoàng Phi suy nghĩ một hồi, mới đáp:

― Như vậy cũng hay, nhưng Nam Tông còn thời gian xây dựng lực lượng, chưa cần thiết Bắc Tông phải bổ túc vào Nam Tông vì làm như vậy sẽ bị đình trệ một phần tổ chức. Hiện nay Quốc sư (Hoàng Hạc) ở Trung nguyên đang trên đường về nước, hy vọng sẽ có cuộc  hội ý khác để phát triển Nam Tông.

Nay tại hạ có điều quan trọng muốn nhắc nhở. Ngày tháng như mắc cửi, hàng hàng, lớp lớp người đời thấm thoát trôi qua, tìm được người nhân tánh xuất chúng khó lắm! Từ đây Cần Lĩnh Nam chú ý khai trừ và không kết nạp người nhân tánh tham lam, trong tâm của họ chứa tứ độc tính, như Tiền, tình, quyền, danh những kẽ này thắng làm vua, thua làm giặc. Tại hạ xem thường tứ thứ người ấy, anh hùng thời nay ngoài văn võ song toàn còn phải định nghĩa kiếp sống làm người hữu ích cho xã tắc. Tiếng vỗ tay vang cả sảnh đường. Hoàng Phi nói tiếp:

― Tại hạ xin tạm biệt quí thúc bá, thúc thúc, cô trượng cùng toàn thể quí huynh đệ Cần Lĩnh Nam, chúc sức khỏe, bình an chúc đại hội Cần Lĩnh Nam viên thành như ý.

Tiếng vỗ tay vang cả sảnh đường huynh đệ Cần Lĩnh Nam tiển Hoàng Phi ra về.

Không bao lâu Cần Lĩnh Nam Nam Tông phát triển hoạt động mạnh, có những đột phá mới, anh hùng phía Nam xin gia nhập rất đông, nhờ có con cháu ngũ họ, như Lê Đằng đầu họ, Đào Tứ Cường, Tô Thành, Bàng Lân, Trần Tam Điệp đồng tích cực gia nhập.

Thành lập được Nhất cấp anh hùng gồm có Hoàng Biên, Hoàng Chỉnh, Lê Đằng, Đào Tứ Cường, Tô Thành, Bàng Lân, Trần Tam Điệp, Lê Cù, Đào Tứ Bảo, Tô Không, Bàng Chí, nữ hiệp Trần Thủy Hoa.

Nhị cấp có đến nhị thập tứ, Tam cấp có tứ thập lục, Ngũ cấp có bách thiên, Lục cấp có thập thiên nhị. Hoạt động trên bộ có hai trăm ba mươi trang trại, dưới thủy rải khắp sông ngòi có trăm chín mươi bốn trang trại và mặt biển Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam có bảy mươi trại.

Hoàng Phi xuất kho tàng lập trang trại, lớn nhỏ trên bộ, dưới thủy xem đây là thành lũy sống còn phía Nam Nam Việt cũng là nơi tổ chức tập hợp Cần Lĩnh Nam sau này. Địa lý rất quan trọng, núi rừng, sông ngòi mượn sông Kỳ Cùng (nước chảy ngược) làm thủy lộ trong nội địa, hợp lưu sông Ba Thín bắt nguốn từ vùng núi cao thuộc Quế Lâm đổ vào bờ phải sông Kỳ Cùng thành hợp lưu với sông Tây-giang, sông Bằng-giang chảy qua Tượng Quận đến Quế Lâm. Sông Lô chảy ra vịnh Nhật Lệ thuộc Giao Chỉ, địa danh này đặt bốn trại Cần Lĩnh Nam. Sông Lam chảy vào hợp lưu sông Gianh đồng chảy ra cửa vịnh Giang, địa danh này đặt bảy trại Cần Lĩnh Nam. Sông Lương đặt năm trại, sông Mã đặt mười hai trại, sông Lô đặt mười chín trại, sông Nồng Hồ đặt bảy trại, sông Chảy tại đây đặt mười ba trại, sông Lũ đặt sáu trại, sông Bạch Đằng thành một hợp lưu ra cửa Biển Đông tại đây đặt hai mươi trại.

Đặc biệt địa thế sông ngòi của (Lục đầu giang) gồm có sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Thầy, sông Luộc chảy ra vịnh Nam Giao Chỉ, tại nơi này Cần Lĩnh Nam đặt trên bốn mươi trại, sông Kinh Môn chảy ra biển cửa Cấm đặt mười trại, sông Văn Út ra cửa biển Lạch Trai đặt chín trại, sông Rạng chảy ra cửa biển Văn Úc đặt tám trại, sông Đá Bạch (Bạch Đằng giang) hợp lưu với sông Kinh Môn nguyên là cửa sông vùng lầy rộng lớn gọi là cửa biển Nam Triệu đặt mười một trại, Ngoài ra còn các sông nhánh khác như sông Lai Vu đặt ba trại, sông Thủy Nguyên đặt tám trại, sông Đa Độ, sông Tam Bạc đặt sáu trại. Đoạn đầu nguồn Lễ Xã Giang từ dãy Ngụy Sơn vào hợp lưu sông Nguyên Giang đến từ Lào vào hợp lưu sông Thao (sông Hồng) chảy ra cửa biển Ba Lạt nơi này đặt mười sáu trại.

Từ biên giới tỉnh Tượng Quận, Quế Lâm có các con sông như sông Đà, Nậm Na, Lô, Nho Quế, Mễ  Phúc, Nam Khê chảy vào Giao Chỉ cũng được đặt trên bốn mươi trại. Ngoài ra còn có những phụ lưu khác như sông Đà, Lô nối vào phụ lưu sông Gầm, sông Hồng chia ra hai nguồn phía tả ngạn là sông Đuống, sông Luộc nối vào Lạch Giang, sông Phủ Lý. Sông Na Pa (Chi Lăng) chảy trong máng trũng hồ Mai Sao cũng đặt sáu mươi trại.

Vùng cửa biển miền Giao Chỉ phong phú như cửa biển Nam Hải, Long Biên, Ba Lạt, Nam Triệu, Văn Úc, Cửa Cấm, Biển Đông, Nhật Lệ, Cửu Chân, Nhật Nam, Cửa Tùng được xem là huyết mạch phát triển Cần Lĩnh Nam Nam Tông.

Hoàng Phi trong tay đã có kho tàng cộng vào trí lự thiên phú, nay chàng thiếu niên rộng tay tận dụng hết thiên nhiên sông núi biển cả, mở ra mạch máu lưu thông chân trời Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam như một thân thể miền Nam Nam Việt đầy đủ tứ chi vận động khoẻ mạnh. Bảo vệ được mạch máu chảy cuộn khúc vào bầu nhiệt huyết đất cùng người ở phía Nam.

Chàng thiếu niên háo hức quyết định táo bạo không chờ thời cơ hứa hẹn, anh chị em Hoàng Phi nhất là Hoàng Lữ Thư trở thành nữ hiệp kiệt tài thủy chiến. Người ngoài không am tường Cần Lĩnh Nam Nam Tông xem đây là một phép lạ bước vào hoạt động khắp miền Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Thực ra mạnh nhờ Hoàng Phi xuất kho tàng, cộng với bầu nhiệt huyết của anh hùng Nam Tông, những gì thành công được thường nhờ vào tuổi thanh xuân tự nó bộc phát trong suy nghĩ, hành động mới, mà người ta gọi là thời cơ.

Với một phong trào Lạc dân vì dân của phía Nam đã thực sự lớn mạnh, tổng cộng ghe thuyền trên sông có sáu trăm, trên biển có tám mươi ba thuyền bầu, tất cả thiết kế theo mẫu hai đáy.

Từ khi Hoàng Hạc có kho tàng trong tay thực hiện được mười sáu chuyến đi Trung nguyên, mỗi chuyến đi năm mươi sáu thuyền bầu cập bến khắp cửa biển Trung nguyên, chuyến đi nào cũng kết thúc thành công, việc làm của ông dâng hiến cho đất nước rất lớn, ông xây dựng nhân giống, trồng, nuôi thế hệ trẻ, hướng về tương lai cho đất nước tôn tộc Bách Việt phồn thịnh. Những sản phẩm ông chuyển về nước được phân phối công bình, đến tận tay người dân từ Bắc xuống Nam, nhờ hệ thống tổ chức của Cần Lĩnh Nam tiếp tay. Chính Nam Việt Vũ Đế cũng phải khen “Không còn bát phẩm nào để ban ân, sủng ái cho tôn tộc Bách Việt! Lạc dân hết lòng vì dân lo cho dân mà thành. Một quân vương đại thắng chiến trận, nếu vô đức hạnh thì không thể nào lấy được lòng dân”.

Ngày nay toàn Lạc dân phấn chấn đứng trước thành Phiêu Ngung, với tiếng hò reo “Nam Việt Vũ Đế vạn tuế, vạn tuế” “Tôn tộc Bách Việt muôn năm”. Cùng ngày Giao Chỉ tại phủ Phó Nam Việt Vương Phùng Nam dân vui mừng, reo hò, tung hô “Bách Việt thanh bình trường cửu” “Nam Việt muôn nam” “Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế” “Nam Việt Vương muôn nam”. Đây là ngày hội kết quả thời đại huy hoàng nhất của tôn tộc Bách Việt. Người Hán cũng phải ghen ghét thầm và tự hỏi phép lạ nào để hổ rồng vùng dậy một Nam Việt phồn thịnh.

Vì ghen ghét thầm ấy mà Hoàng đế nhà Hán Lữ Trí (Hoàng hậu Lưu Bang, Hán Cao Hậu) xuất chỉ cấm toàn dân Hán bán súc vật giống cái cho Nam Việt. Lữ Trí xuất chỉ sau một năm thì đã muộn màng. Có lần Hoàng Hạc nói “Lữ Trí thực danh là Hậu Trí”.

Hoàng Hạc đã biết trước cho nên mua tất cả súc vật giống cái khoẻ, còn giống đực thì chọn lọc giống tốt nhưng mua rất ít. Hán Cao Hậu Lữ Trí vội vã xuất chỉ lần thứ hai cấm toàn dân Hán bán ngũ kim như vàng, bạc, thép, đồng, chì, thau, kẽm cho Nam Việt. Những chiếu chỉ của Lữ Trí không còn giá trị nữa bởi thép, đồng, chì, thau, kẽm mà Nam Việt đã mua từ lâu nay đang lưu trữ bí mật khắp nước từ Bắc xuống Nam. Lúc này ngũ kim tứ phương, mười hướng các nước lân bang tự nó phải vào Nam Việt. Cánh cửa mở rộng phồn thịnh Nam Việt chính là sức hút của ngũ kim. Có lần Vũ Đế nói “Phồn thịnh nhờ phép màu của trí tuệ”.

Thành quả Bát sách, cải thiện nhân sinh tạo cho toàn Lạc dân Nam Việt có một đời sống khởi đầu bằng chiến dịch nông, lâm, ngư nghiệp đem đến thịnh vượng thực sự. Toàn Lạc dân nay dư ăn dư để, không còn chạy vạy lo sáng ăn chiều, chạy chiều thiếu hụt tối. Ngày no ba buổi không còn lo âu đời sống thiếu thốn, toàn dân nơi nào cũng lập kỳ hội mùa để tạ ơn thần Nông, cha trời, mẹ đất, đa tạ Nam Việt Vũ Đế. Ba năm liên tiếp trúng mùa nhờ gieo, trồng, nuôi giống đúng thời vụ, khí hậu cây nào mùa ấy, kho lẫm dự trữ lương thực nơi nào cũng cao to đụng mái nhà, sản phẩm ngư nghiệp, chăn nuôi, chế biến phơi khô làm mắm, trăm ngàn sản phẩm mới cũng được bày bán trao đổi khắp nơi.

Hoàng triều Nam Việt hạ chỉ quân quan các vùng đi mua tất cả sản phẩm của dân với giá cao. Cần Lĩnh Nam tham gia vào công việc thu mua sản phẩm, phụ trách đặc biệt chính Nam Việt Vũ Đế xuất chỉ cho Ngự Lâm Quân, Hộ thành giả dân buôn thu mua sản phẩm, chuyển đến cho Cần Lĩnh Nam. Cơ Mật Viện giám sát quan lại địa phương. Tất cả sản phẩm được vận chuyển qua đường sông, lấy cửa biển làm điểm hẹn của kho chứa, xuất cảng sản phẩm, sinh hoạt tại các trại giao dịch lưu chuyển ở cửa biển tấp nập ngày cũng như đêm.

Những đoàn thương thuyền của Phiên Ngung, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Kiêm Biên, Nam Hải thi nhau buôn bán sản phẩm ngũ cốc, gia súc, quí kim với các nước lân bang.

Lúc này thương truyền lân bang đến Nam Việt bán những sản phẩm như thép, gỗ, châu báu, kim ngân, có cả tuấn mã từ phía Bắc Trung nguyên. Lạc dân bán ra những sản phẩm lương thực, gia súc, mua vào những vật quý kim, châu báu, vật dụng gia đình v.v… Cung cầu của dân lên cao, quả là một khởi sắc mới tạo thành một thịnh vượng hy hữu cho nền kinh tế Nam Việt thời nay.

Những năm sau này ở Trung nguyên có đại dịch đồng khô cỏ cháy, mùa màng mất trắng liên tiếp hai năm, cảnh vật điêu tàn thê lương, nhiều tỉnh thành nhà vắng vô chủ, người vật biến mất để lại một không gian hoang sơ, nói cho cùng người Hán chết đói vô số kể, tạo ra nhiều đảng cướp, trái lại cũng có thiểu số không hề biết sự lầm than của dân còn tệ hại hơn chính nhà Hán tại Trường An cổ xúy những quân đoàn quan trường tham ô. Càng tham ô thì kiện tụng càng nhiều, đó là trường sinh sát của quan kiện tụng, như kiến thấy mỡ.

Nhà Hán Cao Hậu Lữ Trí hạ chỉ sai sứ thần đến Nam Việt cầu kiến xin Vũ Đế cấp cứu lương thực. Nam Việt Vũ Đế chấp thuận tặng người Hán lần thứ nhất trên ba mươi vạn đấu ngũ cốc (mỗi đấu nghìn hộc lúa) lần thứ nhì trên hai mươi vạn đấu ngũ cốc. Hán Cao Hậu Lữ Trí một lần nữa sai sứ thần đến Nam Việt xin trợ cấp hạt giống ngũ cốc. Nam Việt Vũ Đế chấp thuận tặng trên mươi vạn đấu ngũ cốc và ba muôn giống gia súc.

Bách Việt thịnh vượng tệ đoan xã hội cũng giảm dần, những việc làm nào cũng thành công, giải quyết được tất cả mà ngày xưa cho là khó. Việc nông, lâm, ngư nghiệp là chìa khóa mở ra Nam Việt ngày nay, việc làm nào cũng tổ chức phân minh, thành công rồi kéo theo những việc khác cũng đi tới, như Lập sở đóng ghe thuyền ở các cửa biển. Lập nhà đạo đức đường, nhà võ tướng đường đào tại binh sĩ, lập lò đúc sản xuất binh khí, vật dụng gia đình. Lần đầu tiên Nam Việt lập nhà luyện tập bắng cung tên, thiết lập các loại bẩy, chế tạo các loại ám khí như người phương Bắc thường dùng.

Tập Lạc dân phương thức trao đổi vần công, mua bán hàng hóa, lập kho lẫm dự trữ lương thảo, giao dịch trong nước bằng đường thủy, đường bộ từ Tượng Quận, Trường Sa, Quế Lâm, Nam Hải, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Ham đến Hải Nam.

Thủ công nghiệp cũng phát triển khắp mọi nơi, xây dưng nhiều thành trì mới như Tượng Quận, Quế Lâm, Trường Sa, Nam Hải, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hải Nam, tu bổ thành Phiên Ngung, tu bổ thành trì Phong Châu, Cửu Chân, Nhật Nam, cùng lúc xây lũy đắp thành mới bảo vệ đất nước Nam Việt, phía Nam trên những trục lộ quan trọng, yếu huyệt như phụ lưu sông Kỳ Cùng, Ba Thín, lũy Dao, lũy Tây Giang, lũy Cổ Lâu, lũy Hoa Việt, lũy Ty Phù, lũy Kim Lặc, lũy Cổ Sậm, lũy Liễu Cát, lũy La Phù, thành Vĩnh An, thành Yên Quảng. Ước mơ của Nam Việt Vũ Đế cũng được như ý, xây thành thứ ba, hào sâu, kiên cố bao quanh thành Phiên Ngung.

Giao hảo các nước lân bang, như nhà Hán cùng các nước phía Nam, nhất là lập lại triều cống lân bang, theo lệ làm hòa. Lúc này quan quân cao thấp hưởng bổng lộc triều đình nhiều hơn trước.

Thủ đô Phiên Ngung là trung tâm kinh tế, văn hóa của Nam Việt, thành Phiên Ngung vốn đã đẹp nhờ địa lý thiên nhiên, nay cộng sự phồn thịnh trở thành quê hương của những loài hoa, cảnh vật nên thơ bốn mùa rực rỡ.

Phiên Ngung thành được mệnh danh là đất sống thần kinh, cửa biển Hổ Môn là trung tâm thương mại lớn nhất Nam Việt. Từ Hổ Môn khách bộ hành chỉ mất hai giờ là đến thành Phiên Ngung, lý thú nhất cảnh đẹp thiên nhiên hai bên lề đường, là cánh đồng hoa trải rộng như thảm chiếu hoa muôn màu, bốn mùa hoa trải dài từ biên giới tỉnh Quế Lâm đến Nam Hải. Hoa thơm dịu phơ phới, đưa khách si tình lạc lối mê mẩn vào cõi thiên thai, không một ai dám từ chối các loài hoa thành Phiên Ngung vì nó là một tác phẩm bất hủ của tác giả thiên nhiên. Khách si đắm đuối theo hoa thưởng thức hết kỳ ảo bốn mùa đã tròn tuổi đời trôi qua mà vẫn còn luyến tiếc.

Giao Chỉ trên bước đường phục hồi cố đô Phong Châu, cố đô Loa Thành, văn hiến Hùng Vương trở thành nền tảng đạo học Nam Việt. Địa danh Giao Chỉ là bầu trời của Cửu Chân và Nhật Nam trù phú, trung tâm thứ hai về kinh tế, thương mại của Nam Việt, toàn Lạc dân còn tặng mỹ danh thành đô Giang Nam. Giang Bắc thì có thành Phiên Ngung thuộc tỉnh Nam Hải, chung một bầu trời năm tỉnh gồm có Quế Lâm, Tượng Quận, Trường Sa, Hải Nam .

Nhị Giang Nam-Bắc thi đua phát triển mọi mặt, chỉ năm năm sau Nam Việt trù phú như có phép lạ do người hiện hữu biến hóa. Giang Nam là vùng đất mới phát triển, tuy đã có Phong Châu, Loa Thành nhưng dân cư còn lưa thưa không bằng Tượng Quận, Trường Sa, Quế Lâm, Hải Nam, Nam Hải.

Ngày nay Nam Việt thịnh vượng người dân đi tìm đất sống mới, nhất là ở Giang Nam đất rộng người thưa, khí hậu ôn hòa, thuận mùa sản xuất, sông ngoài nhiều, bờ biển rộng thuận cho ngư nghiệp, cửa vịnh là thủy mạch của thương thuyền. Lạc dân Giang Bắc thi nhau dời cư xuống Giang Nam lập nghiệp, bỗng nhiên tập hợp trăm họ tôn tộc Bách Việt, sản sinh trí sĩ, anh hùng hào kiệt Giang Nam.

Tập hợp lần thứ hai không ai suy nghĩ đến, tự nó có đại hội anh hùng Bách Việt tại thành Phiên Ngung, như một tạo hóa thiên nhiên đã định ngày hẹn trở về tộc Bách Việt, từ Trung nguyên xuôi Nam hướng về quê hương xứ sở, họ mang theo những suy tư tinh hoa, kỹ thuật thuộc da, kinh doanh, thương mại, giao dịch lưu hành ngân kim. Họ là nhân tố bồi đắp vào đời sống văn hóa Giang Nam. Họ là những quyết định vận hưng thịnh cho Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam.

Họ trở về trong lòng Bách Việt như một khối kết tinh tình tự dân tộc, quê hương xứ sở giàu mạnh không cần “Dụ ngôn nguồn cội”. Đất nước này có sự hiện hữu của họ là một động lực thi thố tinh thần tập hợp Bách Việt, cũng nhằm chuẩn bị đối đầu với người Hán trong tương lai. Các nước lân bang thường gọi “Thời đại Bách Việt Phương Nam”.

Nhân tài thi nhau xuất hiện, văn nhân sĩ trí trẻ, võ hùng mã cường, nhị Giang Bắc Nam cho phép họ được quyền quyết định vận mệnh đất nước, đời sống cá nhân là chủ của “Tính chất cuộc sống tự nhiên con người”. Chính Cần Lĩnh Nam cũng hoạt động trên mục phiêu này. Bách Việt thực hiện được mục chứng tinh thần tôn tộc Bách Việt “Dân vì Dân” với một lý trí mới, sống mà không hề biết sợ người Hán. Công việc xây dựng đất nước thành công đã được bảy phần mười.

Toàn quốc nay tin Hoàng Hạc qui tiên qua một đêm mệt mỏi, ông vĩnh viễn ra đi hưởng thọ chín mươi chín, linh cữu quàn tại tư gia họ Hoàng thuộc tỉnh Cửu Chân, sau tam nhật chuyển về thành Phiên Ngung, Nam Việt Vũ Đế đứng ra làm chủ lễ an táng đại anh hùng Bách Việt. Mộ bia vinh danh, “Thánh sư chí minh Hoàng triều Nam Việt thất thập niên, hiền thần quốc hiếu, Hoàng Hạc vương thần lưu danh chi mộ”.

Nam Việt Vũ Đế xuống chỉ thành Phiên Ngung và thành Giao Chỉ treo cờ rũ, triều đình cử hành tang lễ thất nhật. Quân quan từ Cửu phẩm đến thập nhị phẩm phải chầu lễ cho đến khi an vị lễ mới thành.

Hoàng Vũ được tín nhiệm đứng đầu họ Hoàng tại Giao Chỉ. Cả họ cùng một lời thề trước mộ chí Hoàng Hạc “Họ Hoàng nay tiếp nối hành trình tiên phụ để lại, một lòng vì sơn hà xã tắc Nam Việt. Quyết chí cả lập đức, lập công bồi đắp thanh bình hưng Nam Việt, phù trợ đất nước sinh tồn, nuôi dưỡng sinh lực nhằm phá tan những cản trở phát triển, bài trừ quan lại tham ô, hoạn quan suy nhược, triệt tiêu những cửa quan cậy quyền, áp chế Lạc dân, chấp nhận đứng trên mọi thử thách”.

Từ ngày đất nước hết chiến tranh, Nam Việt thanh bình, hưng thịnh hơn năm năm, toàn dân lúc nào cũng vinh danh Vũ Đế “Vạn tuế, vạn tuế” còn quốc sư Hoàng Hạc người dân vinh danh “Anh hùng Bách Việt” Lạc dân thương tiếc cùng lúc suy nghĩ về tương lai, tự hỏi. Ai là đệ nhị Hoàng Hạc? Hoàng thượng Vũ Đế sẽ bổ nhiệm ai lo cho dân ấm no?

Trong những ngày tang lễ tại tư gia, Hoàng Phi là đứa cháu khóc tổ phụ Hoàng Hạc nhiều nhất, khóc nhưng vẫn để ý thi thể tổ phụ có vấn đề khả nghi. Hoàng Phi tự hỏi. Người khoẻ mạnh khi chết da mặt phải tái, óp lại đôi chút ít, nhưng hiện thời tổ phụ như người đang ngủ, thân thể cũng như da mặt vẫn đầy đặn, hồng hào. Nếu người có nhãn lực thâm hậu như Hoàng Phi mới khám phá trong thi thế có biến chứng không bình thường.

Người họ Hoàng cho đây là sự ra đi của tổ phụ Hoàng Hạc trong tư thế bình an! Trái lại Hoàng Phi nhìn tổ phụ qui tiên với một gốc độ khác! Chàng giỏi về mạch lý, y dược. Hoàng Phi đoán không sai, có kẻ ám hại tổ phụ, bây giờ muốn cứu tổ phụ cũng đã muộn màn.

Chàng tự nhủ, giải pháp hay nhất là âm thầm tìm địch thủ đó là ai. Chàng lại tự hỏi tiếp. Địch thủ ở đâu, dùng thủ pháp nào để hạ độc tổ phụ, những dược liệu gì ở trong thi thể tổ phụ, có thể thủ phạm không phải là người xa lạ! Dĩ nhiên đây là cao thủ không phải kẻ tầm thường!.

Hoàng Phi quyết định lấy một mẩu thịt trên vai tổ phụ ngâm vào rượu nồng độ mạnh, rồi theo liên đài về thành Phiên Ngung. Ngày cũng như đêm Hoàng Phi nằm dưới liên đài theo tục lệ báo hiếu, nhờ vậy Hoàng Phi khám phá trong liên đài có nước vàng thấm qua khe liên đài gỗ Cẩm-lai, chàng kết luận chính người trong nhà sát hại tổ phụ.

Mỗi đêm khuya trong phòng chỉ còn một mình chàng, Ngự lâm quân thì ở ngoài phòng, nhân tiện chàng tìm mọi cách để lấy mẫu nước vàng trong liên đài. Hoàng Phi vận hai thành công lực xuất chiêu thức “Cân vũ thành” liên đài bật nắp không vang tiếng động. Chàng thấy thi thể của tổ phụ teo lại chỉ còn da bọc xương, thi thể đã bị rã rữa từ từ, nước màu vàng đã thấm hết vào vải bọc thi thể, chỉ rỉ ra ngoài phần nhỏ cho nên khó ai phát hiện. Chàng nói thầm, chỉ mới mấy ngày thôi mà thân thể tổ phụ đã biến hóa nhanh như vậy rồi! Nước mắt của chàng tủa ra như suối, chàng cẩn thận đậy nắp liên đài trở lại. Chàng cảm thấy bần thần, vội uống vào một viên “Hạc Chu Thảo” rồi định thần, khi mở mắt ra mới biết chất độc trong liên đài cực mạnh, chàng tự hiểu đây là một chất độc chế biến tinh vi. Đến ngày tang sự viên mãn mọi người trở về sinh hoạt trong không gian đất nước thanh bình, chẳng ai suy nghĩ về một nhân vật kỳ tài bị chết bí ẩn.

Tin Hoàng Hạc qui tiên, Hán Cao Hậu Lữ Trí gửi sứ thần qua Nam Việt để phân ưu, đất nước Nam Việt buồn vì mất một kỳ tài, trái lại nhà Hán xem đây là một tin vui nhất, lý do đơn giản người Trung nguyên thời nào cũng muốn áp phục tôn tộc Bách Việt, như nhà Tần nhị quốc Tây-Đông cũng bao lần áp chế, mục đích của họ là tiêu diệt tôn tộc Bách Việt, ý đồ ấy họ không đạt được vì Bách Việt thời nào cũng sản sinh trí sĩ, anh hùng. Trong khi ấy người Hán đã đồng hóa được các dân tộc khác ở  hướng Tây, Bắc, Đông Trung nguyên. Bách Việt may mắn vượt ra khỏi tầm tay tham vọng của Trung nguyên, Bách Việt có một sức mạnh đặc biệt mới được trường tồn, người Hán cho rằng chỉ có họ là văn minh, còn tất cả những dân tộc khác trong vùng Châu-á đều là man rợ.

Nhà Hán tự xem tôn tộc Bách Việt cũng không ra khỏi tầm mắt của họ, họ thấy Nam Việt là vựa ngũ cốc trù phú, cho nên lòng khao khát thèm muốn dâng cao, lúc nào người Hán cũng chuẩn bị đem hết binh lực để xâm chiếm Nam Việt cho bằng được, người Hán vừa đói vừa khao khát phồn vinh Nam Việt, họ thường chờ dịp là cướp bóc tất cả tài sản của Phương Nam, họ đã chuẩn bị bồ lẫm trong tinh thần lòng tham khốn cùng vô tận.

Tôn tộc Bách Việt hiểu thấu người Hán không phải là một dân tộc thông minh, nhưng họ lại giỏi gió tanh máu lạnh, lòng tham không bờ bến, họ là loài động tính chuyên nghiệp chỉ biết đi thôn tính những nước lân bang, người Hán là con trăn ngủ dưới lớp lá khô chờ quốc gia nào suy vong là thừa cơ nhảy vào đồng hóa, vì lý lẽ tồn vong Nam Việt phải vũ trang binh hùng tướng mạnh, không thể hiếu hòa trước một con hổ đói.

Sứ thần nhà Hán lần này đến Nam Việt thăm dò người kế tập Hoàng Hạc, phân ưu chỉ là một cái cớ, trong đôi mắt nhà Hán đang thử lùng tìm miến mồi Nam Việt, cuối cùng sứ thần nhà Hán Bàng Từ Khổng đi về tay không.

Hồi 12

Ấn Vàng Một Quả Kiếm Hùng Tam Thanh

Diễn Đàn Facebook
Advertisements

Huỳnh Tâm - Anh Hùng Nam Việt