Giao Chỉ cuối tháng chín còn ba ngày nữa là bước vào đầu tháng mười, nắng mau trưa, mưa mau tối, chiều xẩm gió thổi mạnh “vù vù” nước sông chảy xiết, ghe thuyền làng Xá trên sông Hồng ngưng mọi sinh hoạt. Hoàng Phi cưỡi hạc đi qua, thấy từ xa xa trên dòng sông kéo theo một người trôi nổi bồng bềnh, đầu hụp lên, hụp xuống, cứ thế mà trôi tít mãi, xem như đã kiệt sức không còn ép mình vào dòng nước để trôi vào bờ.

Hoàng Phi thấy cảnh tượng người này còn có thể cứu sống, vội chuyển bộ pháp rời khỏi lưng hạc phi thân đi trên mặt nước, cùng xuất chiêu “Thủy sơn kiển” gọi là Khảm hiểm trở, Cấn dưới nước trên có núi cao chặn đường tiến thủ, dưới chân vực sâu, phải dừng lại không thể tiến. Nhờ vậy cứu được người lên bờ, chàng búng vào nạn nhân một viên “Đơn bạch cúc” nạn nhân mới tỉnh lại được, tự dưng thấy một thiếu niên khác cũng đang nằm bên bờ sông thân thể tiều tụy, thuận tay búng luôn viên “Tiên đơn” thiếu niên tỉnh lại mở mắt ra, nói nhỏ:

― Tại hạ, xin đa tạ ân công cứu mạng.

Hoàng Phi suy nghĩ, muốn cứu sống thiếu niên từ dưới nước lên thì cần một viên “Thủy sa hầu” chàng búng liền vào trước ngực, từ trong bụng nạn nhân nước trào ra “ào ào”, chàng nhặt lên một viên sỏi, búng xuống tảng đá nặng hơn ba mươi cân ở dưới đôi chân, tảng đá tan rã hơn trăm mảnh vụn. Thiếu niên được thoát nạn quỳ xuống đất hai tay chấp lại xin một lạy, Hoàng Phi vội vã đỡ tay lên. Thiếu niên ngơ ngác:

― Tại hạ xin đa tạ ân công cứu mạng sống, ơn này trời đất chứng lòng, tại hạ nguyện kết cỏ ngậm vành. Một tiếng thở dài rồi nói tiếp: Tại hạ không biết có tội gì, đang ngủ trưa, bị sáu người bịt mặt ám hại trói mèo cả hai tay chân, dưới chân còn lại buộc thêm một tảng đá, rồi quăng xuống nước thử hỏi làm sao sống được. May thay còn trôi nổi được vài giờ, nhờ dây gai gặp nước nở ra, hai tay mới tuột khỏi chân, nhưng còn tảng đá dưới chân vô tình cứ kéo thân thể xuống, sức lực đã cạn kiệt, vẫn phải nương theo dòng nước hụp lên, hụp xuống cố ngấc đầu hy vọng còn sống trong hơi thở cuối cùng, nhưng không may nước lại chảy quá xiết, lúc này xem ra hoàn toàn thất vọng. Người thiếu niên khác nằm bên bờ sông, cũng kể về thân phận của mình:

― Tại hạ, sinh ra từ bao giờ, không cha mẹ, quê quán cũng không, sống bằng hành khất độ nhật từ khi nào cũng không biết, khi đi qua đây bị bệnh, phải nằm ở đây đã hai ngày.

Hoàng Phi xem mạch biết thiếu niên này không có bệnh, chỉ đói khát, chàng lấy bánh nướng cho ăn, cho uống, vài khắc sau tỉnh lại. Thiếu niên bị người hãm hại đứng nghiêm chỉnh, hai tay để trước ngực thi lễ một lần nữa:

― Thưa ân công, thân thế của tại hạ họ Đinh tên Anh Thi, mười một tuổi quê quán Phong Châu, nay xin theo hầu hạ ân công cho trọn kiếp sinh. Hoàng Phi từ chối:

― Tại hạ sống không nơi ổn định, cũng không muốn nhận ân nghĩa, hôm nay gặp các hạ ở đây cũng có ngày tái ngộ. Đinh Anh Thi khẳng khái:

― Thưa ân công, nếu không được nguyện lòng thì tại hạ quyết định thà chết tại đây, làm người mà không biết ân nghĩa thì nói chi chí khí nam nhi, sống như vậy có ích chi. Hoàng Phi thấy lòng người chân thực, cảm thông được hoàn cảnh, chàng ôn tồn:

― Thôi được, tại hạ chỉ nhận kết nghĩa với các hạ, như vậy được chứ? Đinh Anh Thi vui mừng:

― Tiểu đệ được kết nghĩa huynh đệ với ân công tuy rằng không hợp lễ, nhưng biết làm sao để cho trọn đạo tình ân công! Thôi đành tạm để lại lễ này, nhờ đại huynh chọn ngày lành tháng tốt định đạo nghĩa cho tiểu đệ. Hoàng Phi gật đầu tỏ lòng hoan hỷ tiếp nhận, chàng xưng danh tánh của mình:

― Tại hạ họ Hoàng tên Phi, đi qua đây gặp lúc cứu người hoạn nạn thì có gì đâu mà ân với nghĩa, nếu tại hạ không cứu thì cũng có người khác cứu, các hạ chưa phải là người vắn số, hôm nay huynh kết nghĩa với đệ cũng là khởi điểm thân thích sau này, hy vọng cùng nhau sống hết tình thủ túc, vậy huynh cùng đệ thi lễ nhá?

― Dạ. Thiếu niên nằm bên bờ sông nghe vậy cũng giới thiệu danh tánh.

― Thưa nhị vị huynh đài, tại hạ tuy không họ nhưng tên là Độ Thiếu, xin nhị huynh đài cho cùng kết nghĩa. Hoàng Phi đã hồ nghi không tin Độ Thiếu, thấy thân cốt có ít nhất hai năm luyện võ học, thân thể không phải là kẻ hành khất. Chàng thở dài, nói thầm tuy đã phân biệt cả hai người bạn trẻ này khác hoàn cảnh. Đinh Anh Thi là thực của vô tình, còn một Độ Thiếu là giả của cố ý. Chàng có ý riêng tiếp nhận bằng cử chỉ gật đầu, nhưng không bằng lời, cả hai thiếu niên chưa hề biết nhau đồng quỳ tạ ân Hoàng Phi.

― Thưa đại huynh tên Độ Thiếu nghĩa là thiếu ăn thiếu mặc, do người đời đặt cho. Hoàng Phi cười khen:

― Tuy không họ, nhưng tên rất có ý nghĩa của nó, hy vọng mai này đổi tên Độ Thiếu thành Độ Sinh. Đinh Anh Thi kể lại trong sự chết có sự sống của riêng mình:

― Thưa đại huynh, lúc mà tiểu đệ tuyệt vọng nhất, thân thể đã thực sự thả lỏng rồi, chỉ chờ chìm lỉm xuống nước chết theo dòng sông, thì bỗng đâu có một luồng khí linh thiêng kéo lên khỏi mặt nước, khi tỉnh lại mới biết đại huynh cứu sống, đó là sự thực nếu không có đại huynh thì không thể còn ai cứu sống được, mạng này còn ở cõi đời ngày nào thì ân này không hề thay lòng đổi dạ!

― Tại hạ xin quí đệ quên ơn nghĩa đi, có như thế tình người mới thấy thoải mái, đừng cột vào sự tính toán nghĩa ơn sẽ thêm khổ. Đinh Anh Thi nghe lời dẫn giải rất mới lạ, nghĩ thầm thời nay người đức hạnh hiếm có, còn kẻ độc ác thì nhiều ở đâu cũng thấy. À nay vốn mình vô thân thuộc, gia gia thì lưu lạc nơi nào không biết, còn mẫu thân bị hãm hiếp nhưng cự tuyệt thủ tiết để rồi tự vận, nay mẫu thân đã qua đời, chỉ còn mỗ thân cũng tránh không khỏi tử thần, may được cứu sống cũng bằng thừa thôi thì nhân mình tiếp tục lấy cái chết cũng không hại ai!

― Thưa đại huynh, tiểu đệ sống như thế này là nhờ người cứu, bây giờ người từ chối thì xem như không còn đất sống, bởi tiểu đệ sống vô gia cư cả năm nay, gia gia bị người ta bách hại không biết lưu lạc phương nào, còn mẫu thân bị người quyền thế hãm hiếp đã tự vận, gia sản bị người cướp sạch, nay tiểu đệ cũng bị người ta trói thả trôi sông, nếu không được theo hầu tiên sinh thì tiểu đệ mượn dòng sông Hồng này làm phương siêu thoát lần thứ hai. Hoàng Phi nghe lời nói rất chân thành, không biết phải từ chối bằng cách nào, chàng đành nhận ân nghĩa bên đường:

― Tại hạ năm nay tuổi thập ngũ, tiếp nhận kết nghĩa huynh đệ với Đinh Anh Thi và Độ Thiếu, Đinh Anh Thi vui mừng quỳ xuống đất bái hai bái, Hoàng Phi cũng cùng động tác, riêng Độ Thiếu ai làm sao thì bắt chước làm vậy. Tự xem như Đinh Anh Thi thưa cho cả hai.

― Thưa đại huynh, tiểu đệ gặp được đại huynh như Trời cao có mắt, chọn người chí dũng đễ kết nghĩa như thế này là phúc họ Đinh, tuy không cha không mẹ nhưng có đại huynh xem như thay mặt cho cha mẹ, tiểu đệ cùng Độ đệ xin một lòng trọn dạ giữ chữ hiếu hiền không thay hai lòng.

― Thôi được bây giờ ngu huynh đưa nhị hiền đệ về nơi tạm trú ở với người thân xem nhau như một gia đình. Đinh Anh Thi vui mừng ra nước mắt, không biết nói gì hơn bằng một lạy tạ ơn. Hoàng Phi thấy vậy để lòng thương mến:

― Từ đây về sau nhị hiền Đinh, Độ đệ đừng nói đến tạ ơn nữa, chỉ cần một lần là đủ rồi! Chàng ra lệnh ba con hạc bay về động Nam Khê Sơn, chàng cặp hai bên hông phải Đinh Anh Thi, trái Độ Thiếu rồi phi thân biến vào không gian, cả hai không dám mở mắt, gió thổi “vù…vù…” rát da mặt:

― Quí hiền đệ đã đến nơi rồi theo huynh đi về hướng Bắc, vào động Nam Khê Sơn gặp Trần Bình Thành, Đào Phụng Thương, Đào Phụng Hiệp, Đào Phụng Anh, Đào Phụng Châu, Đào Phụng Anh Tuấn, Đào Trần Mẫn Trâm. Hoàng Phi kể lại trên đường đi gặp hoàn cảnh hai của bạn rồi kết nghĩa, chàng giới thiệu nghĩa đệ Đinh Anh Thi và Độ Thiếu, cả nhà xúc động cùng nhau chia xẻ đời sống mới. Trần Bình Thành, thưa:

― Thưa sư phụ, mạo muội nghĩ rằng Đinh sư thúc, Độ sư thúc sẽ là thân nhân trong gia đình mình, còn điểm võ nghệ cho Đinh-Độ sư thúc thì không khó. Trần Bình Thành thấy hai thiếu niên này duyên may được sư phụ kết nghĩa cũng có thể là một tương lai không phải tầm thường, trông ra cũng tuấn tú lắm:

― Thưa sư phụ an tâm, mọi việc rồi sẽ tốt, nay Đinh-Độ sư thúc vận dụng hết khả năng luyện tập võ học, hy vọng tương lai quí sư thúc thành tài như lấy vật trong túi áo ra vậy, võ học ở trong động này do sư phụ truyền thụ thì tất cả xem như đồng môn.

Đinh Anh Thi tại lòng nói, thấy Trần Bình Thành lớn hơn đại huynh Hoàng Phi cả một giáp mấy, mà xưng hô một hai vẫn là sư phụ, sư thúc, trên thực tế võ học của mình có một miếng nào để đáng gọi sư thúc đâu! Mỗ quá ngại ngùng nhưng không biết phải nói lời nào,  mỗ chỉ đáng làm đệ tử của đại huynh! Đinh Anh Thi trình bày suy nghĩ của mình:

― Thưa Trần đại huynh, tại hạ không biết phải xưng hô như thế nào cho phải đạo lý, vì vốn võ nghiệp của tại hạ chưa đủ sức xin quét lá động này, vậy xin đại huynh cho tại hạ kết nghĩa quí Đào đệ cũng được! Trần Bình Thành vui cười, trả lời:

― Thưa Đinh sư thúc, quí Đào sư thúc cũng là người trên của đệ tử, ở đây chỉ có đệ tử vai vế nhỏ nhất. Đinh Anh Thi khó hiểu về giang hồ, thôi chi bằng ở lâu mới biết sự đời, không cần giải thích, hôm nay đành chấp nhận như thế!

― Thì ra cuộc đời trên giang hồ này có những chuyện bất ngờ không thể biết trước được. Hoàng Phi thấy Đinh Anh Thi vẫn còn ngơ ngác, chàng ôn tồn:

― Đinh, Độ đệ ở đây ăn ở không đến nổi phải thiếu thốn, chỉ cần quí hiền đệ luyện tập võ học mỗi ngày, khi ngu huynh trở lại sẽ có nhiều việc để hiền đệ hiểu đời sống ở đây. Hoàng Phi nói tiếp, Trần đệ tử chuẩn bị đón tiếp tất cả sư thúc sẽ về đây nay mai, Trần Bình Thành cuối đầu tỏ ý vâng lời sư phụ.

Hoàng Phi cáo biệt, lên hạc bay về động Lạc Việt, chàng đi thẳng xuống dưới động có dòng suối nước lạnh để lưu tồn mẫu thịt và máu trong chai, hầu giữ được lâu ngày, chàng chuẩn bị cho thời gian tìm hiểu chất độc. Năm ngày miệt mài ôn lại “Dược Giới Lĩnh Nam” chàng mới khám phá ra công thức chế biến.

Công thức chế biến loại độc dược này gồm có:

Chín con rết mun, sống trên năm năm, chỉ lấy vảy rết.

Mười hai cái lưỡi rắn rung chuông. Lưỡi rắn, vảy rết ướp với thủy ngân, chu bì con đỉa, hắc ngọc đoạn, mã tiền, chu dịch, rượu một phần tư lít nồng độ mạnh, chôn dưới đất có nước lạnh, trên một năm mới công hiệu.

Sau cùng lấy trái lười ươi cho hút chất độc rồi phơi khô, tay vo thành viên nhỏ bằng hạt bắp, bên ngoài bọc một lớp bột gạo, phẩm đỏ thế là thành phẩm gọi là “Thiên thu sa” khi dùng chỉ cần búng vào nạn nhân là lấy được mạng sống, nạn nhân chết như ngủ, lấy độc trị độc chỉ có “Hạc Chu Thảo” mới trị được, ngoài ra mỗi thứ dược liệu khác đều vô hiệu. Hoàng Phi tự hứa chính mình đi tìm thủ phạm, chàng ra lệnh cho hạc đi về hướng dãy núi Mao Gia Phong, cách hai mươi khắc thì đến thị trấn Chung Du thuộc Giao Chỉ để xem lại địa thế, chàng chuẩn bị sửa lại động. Trên đường về với năm đại hạc đi qua thị trấn Chung Du, gặp lúc trời sáng phải dừng trên những cây cổ thụ gần thị trấn. Hoàng Phi và hạc ngủ mãi đến chiều, khi thức giấc cho hạc dùng bữa, uống nước no nê chuẩn bị vài giờ sau là về động Lạc Việt, bỗng từ xa vọng lại tiếng đàn Cung, thương, giốc, chủy, vũ và âm từ Hò, xự, xang, xề, cống, liêu, rất trẻ đậm nét man mác quê hương thanh tú đang mở rộng cửa nhà Lĩnh Nam, trong ca từ có tiếng gọi về quê cha đất tổ, lời ca mênh mông âm pháp.

Hoàng Phi cảm động đến gần tìm hiểu mới biết chính đôi thiếu niên này là tác giả đang trình tấu nhạc, đôi bạn trai gái này xem ra rất tình tự, họ yêu nhau trong tâm tư cùng một hoài bão. Lần đầu tiên chàng chú ý nghe từng lời ca và âm sắc nhạc, chàng đứng tựa lưng vào gốc cây cổ thụ chiêm ngưỡng rồi tự lòng. Chính mình đã từng sử dụng âm pháp để thu hút tình người, quả nhiên âm nhạc có chất liệu của tạo hóa, bởi thế mới cảm hóa và thôi thúc được Thiếu Hiệp Quân. Mỗ phải kết nghĩa với tâm hồn trong sáng này, trong suy nghĩ với những câu hỏi liên miên chảy ra từ suối lòng. Đôi thiếu niên dừng lời ca, tiếng đàn, cắt đứt hẳn suy tư của Hoàng Phi. Chàng nhạc sĩ trẻ ngạc nhiên hỏi:

― Thưa đại huynh, lời và nhạc có khó nghe không ? Hoàng Phi hài lòng câu hỏi này:

― Tại hạ đến đây để chiêm nguỡng âm pháp, nhạc từ, có thể nói trong bản nhạc này ẩn hiện tình tự tôn tộc Bách Việt, chính âm hưởng này thôi thúc tại hạ đến với núi sông. Tại hạ mạo muội muốn kết thân cùng nhị vị có được không ?.

Người nhạc sĩ trẻ suy nghĩ, quả thực tiếng nhạc, lời ca, đi tìm tương đắc, đến với tư duy của mỗi con người lại càng rất khó, thế là lần đầu tiên mới thấy có một gã hiểu được mình với Lệ Thanh, đây có phải đồng tâm huyết đến với nhau chăng!:

― Thưa đại huynh, tại hạ kính tặng sơ giao một tác phẩm mới sáng tác hôm qua, xin đại huynh nghe tại hạ và muội Lệ Thanh cống hiến đại bài. Quê Hương Ta Đó (1)

Bầu trời quê ta nắng ấm sáng tươi

Tiếng hát líu lo chim gọi yêu cuộc đời

Cuộc tình hôm nay thêm vui tiếng cười

Và người yêu dấu cùng ta chung với người

Quê hương đó người tình đó

Và đất nước làng quê đây luỹ tre

Đây gió núi trăng bên suối

Ngồi vây quanh lửa ấm quê hương

Cười rộn ràng chung vai vang tiếng ca

Sánh bước bước đi quên là kiếp tha hương

Đời vì mai sau vươn lên với người

Dù đời vẫn khó lòng ta không bước lui

Nhịp đập hôm nay tim ta réo vang

Cất tiếng hát ca vang rộn xóm thôn làng

Kìa người phương xa chân bước ngút ngàn (2)

Về quê hương có mẹ cha vui với người.

            Đại huynh nghe thế nào ? Hoàng Phi vui cười đắc ý:

― Về nhạc thì tại hạ không hiểu nhạc phổ nhiều lắm, nhưng về lời chuyên chở ý để cho ca từ đậm âm sắc có thể thêm hay bớt chỉ một từ thôi cũng đủ trở thành bài ca lưu lại dân gian. Xuân Giao đắc ý đứng lên tay bắt mặt mừng:

― Chúng tại hạ xin kết nghĩa với đại huynh nhá? Hoàng Phi cảm thấy lòng rộn ràng tự hỏi, xưa nay mình thường kết nghĩa trong giới võ học, hôm nay quả là một thú vị, lấy thi ca kết nghĩa võ học cũng là một việc nên làm:

― Tốt lắm, âm nhạc cũng là một võ học nếu biết sử dụng nó sẽ cho chúng ta một kiến thức tuyệt kỳ, tại hạ họ Hoàng tên Phi mười sáu tuổi, người Lạc Việt, hiện sống Cửu Chân đồng ý kết nghĩa với huynh tỷ. Người nhạc sĩ trẻ cũng giới thiệu:

― Tại hạ họ Xuân tên Giao mười bốn tuổi, muội họ Lệ tên Thanh mười hai tuổi, ở cùng quê với đại huynh, hôm nay được kết nghĩa với đại huynh cũng là một vinh dự lớn. Hoàng Phi mời Xuân và Lệ về núi Nam Khê Sơn:

― Nhân dịp này ngu huynh muốn mời Xuân đệ, Lệ muội về Nam Khê Sơn cùng chung luận âm nhạc và võ học nhé ? Xuân Giao chấp thuận:

― Thưa đại huynh nơi nào có anh hùng trừ gian diệt bạo, cứu nhân độ khó thì nơi đó có đệ và Lệ muội. Hoàng Phi cười:

― Tốt lắm trong nhạc cũng có nhân khí anh hùng, nó chỉ hiện ra khi nào gặp người đồng tâm. Hoàng Phi nói tiếp, huynh mời đệ, muội đến cây cổ thụ ngoài kia rồi về Nam Khê Sơn.

Cả ba lên đường bằng hạc, Xuân Lệ lần đầu tiên được cưỡi hạc thấy trong lòng phơi phới, gió thổi vi vu. Hoàng Phi thể hiện nhân khí trong âm nhạc:

― Ngu huynh xin tặng Xuân đệ, Lệ muội bài Lĩnh Nam Ca, nhé ?

― Chúng đệ xin lãnh hội tư tưởng nhạc của đại huynh.       Lời ca vừa chấm dứt, hạc đã bay xuống động Nam Khê Sơn.

― Thưa hiền huynh đệ cùng muội rất thích bài ca này. Xuân, Lệ không ngờ ở rừng núi mà cũng có người bạn đường yêu âm nhạc, lòng cảm kích vô cùng:

Vào động tất cả thập lục tú đón chào, Hoàng Phi giới thiệu Xuân, Lệ cho huynh đệ trong động cùng nhau kết nghĩa. Hoàng Phi giới thiệu:

― Quí huynh, tỷ, đệ thân mến từ hôm nay trong động Nam Khê Sơn có thập bát tú nhân, tại hạ xin giới thiệu thứ tự huynh đệ muội như sau. Đại huynh Trịnh Đình Thông (con của Trịnh Đình Thao) tỷ tỷ Hoàng Lữ Thư, Hoàng Phi, Trịnh Trường, Lý Bình Trung, Chu Thông, Chu Thiện, Chu Hào, Xuân Giao, Lệ Thanh. Đào Phụng Thương, Đào Phụng Hiệp, Đào Phụng Anh, Đào Phụng Châu, Đinh Anh Thi, Độ Thiếu, riêng Đào Phụng Anh Tuấn, Đào Trần Mẫn Trâm gọi Hoàng Phi là nghĩa phụ.

Hoàng Phi nhờ đệ tử Trần Bình Thành đến Thương Nhân Bang trao thư cho tổ phụ Đào-Trần, nội dung. Kính gửi tổ phụ. Phi nhi xin sử dụng động Nam Khê Sơn làm nơi sinh sống cho thập bát tú thiếu hiệp, hy vọng tổ phụ đồng ý. Ký tên Hoàng Phi. Trần Bình Thành nhận thư đi Thương Nhân Bang. Đào-Trần phúc đáp:

― Phi nhi mến. Tổ phụ đã tiếp nhận thư vội hồi âm đến hiền nhi. Hôm nay tổ phụ quyết định tặng hiền nhi động Nam Khê Sơn. Kể từ đây và mãi mãi hiền nhi trọng quyền làm chủ, chúc sức khỏe quí thiếu hiệp. Ký tên Đào-Trần.

Ngày tháng trôi qua Tam Thanh Kiếm vẫn chưa rút ra khỏi vỏ để phát huy khả năng của nó. Một hôm Trịnh Trường, Lý Bình Trung, nhân tiện hỏi Hoàng Phi:

― Thưa đại huynh, đệ lo mãi việc ngoài đời quên lửng “Tam Thanh Kiếm” nay xin đại huynh cho phép “Tam Thanh Kiếm” xuất hiện? Hoàng Phi nhớ lại:

― Như thế Trịnh, Lý đệ chuẩn bị thế nào để làm lễ tái xuất “Tam Thanh Kiếm”? Trịnh Trường đề nghị:

― Mời đại huynh tiếp nhận “Ngọc danh kiếm” Hoàng Phi cười:

― Sao Trịnh, Lý đệ không lựa người khác để trao “Ngọc danh kiếm” Trịnh Trường xét thấy không ai đủ khả năng ngoài đại huynh:

― Thưa đại huynh, nay tuy đã có thập bát tú nhân, nhưng không ai có khả năng để trao “Ngọc danh kiếm”. Hoàng Phi ôn tồn:

― Thiếu gì trao ai cũng được “Ngọc danh kiếm” vào tay người nào thì ấy phải tự xét mình để thi hành, vã lại một khi đã kết nghĩa huynh đệ rồi thì đừng coi thường lẫn nhau, mình phải tôn trọng tất cả. Lý Bình Trung ái ngại:

― Thưa đại huynh, Trịnh huynh theo ngu đệ “Ngọc danh kiếm” nên trao cho tỷ tỷ Hoàng Lữ Thư là hay nhất. Trịnh Trường vẫn còn nghi ngại, vì tính tình của tỷ tỷ nghịch chứng lắm, lỡ đi ngược lại thì khác nào La Đức hiện hồn về chết cả đám. Lý Bình Trung hiểu được ý của Trịnh Trường:

― Theo ngu đệ thấy tỷ tỷ tính tình có nghịch ngợm nhưng trong cái nghịch đó chứa tình thương thực sự, cái nghịch của tỷ tỷ có lý trí nhân đạo, chứ không phải nghịch ác như La Đức, hiền huynh ở trong nhà mà không biết tính của tỷ tỷ như thế nào hay sao ? Trịnh Trường “ồ”.

― Ngu huynh bị che mắt, che tai cho nên không thấy, không nghe bây giờ mới hay nhờ hiền đệ giải thích tỏ tường, được rồi nhờ đại huynh tìm nơi kín đáo để làm lễ bái kiếm. Hoàng Phi nói đùa:

― Cuối cùng rồi cũng nhận bà la sát tiếp “Ngọc danh kiếm” quí hiền đệ không sợ bà ấy ư? Trịnh Trường, Lý Bình Trung cười:

― Kiếm đã chọn mặt gửi vào tay, thì chúng ngu đệ không còn sợ vì ngày trước không có ai trị La Đức, còn ngày nay có đại huynh trị thì mười bà la sát chúng đệ cũng há sợ. Hoàng Phi ôn tồn:

― Cuối cùng rồi cũng đem mỗ ra làm nhân chứng, thôi được hẹn ba ngày nữa quí vị theo mỗ lên động Mao Gia Phong để làm lễ bái kiếm, nhưng phải hỏi ý của tỷ tỷ trước rồi mới hành lễ. Còn về sinh hoạt ở động, tỷ tỷ cùng quí hiền đệ là người võ học cao nhất, bảo huynh đệ trong động luyện tập mỗi ngày, phải xuất hết năng lực đạt đến trăm thành nội ngoại công lực. Ba ngày nữa ngu huynh sẽ trở lại, thôi chào.

Chàng phi thân lên hạc bay thẳng về hướng Bắc.

Hoàng Phi về động Lạc Việt sống với bầy hạc, nghiên cứu bộ võ học trên ngũ giác đài, chàng trầm mặc với sơn động không đời quấy nhiễu, trong ba ngày tinh thần thoải mái, thời gian rảnh rang tập luyện tiếp “Bát-Quái Lĩnh Nam” chỉ trong một ngày là đã hoàn tất bộ võ học mới, bộ pháp của chàng nay đã tinh diệu.

Sáu mươi bốn chiêu vừa luyện tập, chàng ứng dụng nhẹ xoay chân xuất bộ pháp phi thân ra khỏi động, nhân tiện kiểm tra lại nội ngoại lực. Chân chàng vừa đáp xuống đất là xuất luôn:

Nhất chiêu “Thủy sơn kiển” chiêu thức này vị trí của Khảm hiểm trở trong Cấn dưới là nước và núi, tính của núi là đậu, núi cao chặn đường tiến thủ, dưới chân là vực sâu. Chàng nhận ra mọi vật dừng lại không thể tiến đến gần chàng.

Chàng xuất Nhị chiêu “Bát thuần cấn” chiêu Càn là đậu dừng lại, Cấn trên Cấn dưới, mỗi Cấn là dương đậu hai âm, dương là vật động tiến tới tột đỉnh thì dừng, âm là im lặng như cõi hồng hoang, với nội lực của chàng đứng trước động tĩnh của không gian, tùy ý phát huy theo hoàn cảnh.

Tam chiêu “Địa sơn khiêm” chiêu khiêm Tốn, Khôn là đất, Cấn núi trong đất có núi, chịu hạ mình ở với đất nhờ thế mọi sự hành thông vô bờ. Chiêu thức này tuôn ra như nước chảy, địch thủ sẽ bị chôn vùi thân xác dưới đất.

Tứ chiêu “Thiên địa bỉ” chiêu bế tắc lập Kiền, Khôn dưới ánh sáng, đất dưới trời cao, trời đất chia rẽ không liền nhau gọi là bĩ trái với thái, địch thủ trúng chiêu này thân thể tan tác.

Ngũ chiêu “Trạch địa tụy” chiêu kết kợp, hội tụ Đoài là đầm, hồ nước với Khôn là đất, đầm là nơi tụ của nước, tượng trương cho sự hợp. Địch thủ tiếp nhận chiêu thức này nội tạng phân rã nhiều đoạn.

Lục chiêu “Hỏa địa tấn” Ly-Khôn mặt trời càng sáng càng phát huy. Còn gọi là chiêu “Tiên bồ” Khi xuất chiêu đôi tay phát ra ánh sáng với sức nóng có nhiệt độ đốt chảy kim loại.

Thất chiêu “Thủy địa tỷ” chiêu gần gũi thân thiết Khảm-Khôn nước đất không thể cách ngăn, kết liên làm một. Chiêu thức hóa thành nước và đất tấn công địch thủ, kết quả địch thủ như tôm lăn bột.

Bát chiêu “Lôi địa dư” chiêu yên hòa, sấm động với đất, sấm xuất từ đất khí dương giao hòa khai phát. Chiêu thức xuất ra từ dưới đất đội lên, nổi sấm sét giận dữ địch thủ khó tránh, thể xác cháy như cây đuốc rơm.

Cửu chiêu “Sơn địa bắc” trên núi dưới đất, bích núi cao lấy đất làm điểm đứng, bám đỉnh cao để không suy rụng của đất. Chiêu xuất lấy lộc địch thủ.

Thập chiêu “Phong địa quan” xuất khí minh quan, xét quán tồn gió dưới đất đi vào khắp muôn sự muôn vật. Hai tay xuất chiêu gió lồng lộng từ đất đánh vào địch bay trên không trung.

Thập nhất chiêu “Bát thuần khôn” đất hợp lại che chở trung giới và trời, tạo ra mọi hiểm trở. Chiêu này địch thủ đứng trên pháp trướng chờ xử trảm.

Thập nhị chiêu “Địa lôi phục” sấm sét trở về đầm nước, thịnh đã đến chỗ cùng cực khí dương bắt đầu ló ra áng sáng, áng sáng trởi lại. Chỉ xuất một chiêu khiến địch thủ phải qui phục, vì chiêu số biến hóa khôn lường.

Thập tam chiêu “Sơn lôi di” nuôi sấm dưới chân núi tịnh động nương nhau mà sinh ra muôn pháp. Hai tay tạo ra sấm sét lấy không gian làm vũ khí, địch thủ sẽ bị gió giục mây vần chết trong lạnh lẽo.

Thập tứ chiêu “Thủy lôi truân” đẩy vật mới sinh vào khó sống, dò hiểm dưới nước, mưa và sấm đầy trời, qua cơn mọi vật bình thường. Chiêu thức này phá trận chiến thành bình địa .

Thập ngũ chiêu “Phong lôi ích” chiêu tăng trưởng trên dưới gió sấm càng lớn bổ túc cho nhau. Nội lực phi thường tạo ra sức mạnh của gió, dịch thủ trở thành con bông vụ.

Thập lục chiêu “Bất thuần chấn” dương âm phát động khôn lương, dương động mãnh liệt. Chiêu xuất âm dương, dịch thủ kinh sợ vì bị phế nội lực.

Thập thất chiêu “Hỏa lôi phệ hạp” hợp tinh khí thần hóa lửa, sánh sáng chớp đánh tan những sự ngăn cách căng thẳng của trời đất. Xuất chiêu này miệng bặm môi, răng cắn lại để ngăn cách hỏa trong thân thể, chỉ dùng hai tay hợp khí thiên nhiên, đánh vào địch thủ sẽ bị tan tành thể xác.

Thập bát chiêu “Trạch lôi thủy” sấm động trong đầm, chuyển theo ý động thủ. Chiêu xuất chấn động lục phủ ngũ tạng địch thủ phát điên chết từ từ.

Thập cửu chiêu “Thiên lôi vô võng” trên dưới phân thành lưới trời, chuyển động theo lẽ trời sáng tạo, tự nhiên không gì cản trở, phóng tâm không còn quấy phá, không tự dục, tư kỷ khí. Chiêu cõi giới thượng thừa, chưa xuất chiêu mà làm cho địch thủ phải bỏ chạy.

Nhị thập chiêu “Địa hỏa minh di” kết Tổn trời đất sáng, lửa rơi vào đất  sinh ra tối tăm, kẻ hôn mê khiến cho sáng. Chiêu thức cứu người.

Nhị thập nhất chiêu “Sơn hỏa bí” cửa nê hoàng cung chuyển khí dương, làm lửa sinh từ lòng đất huyền nhiệm, ánh sáng hỏa chiếu núi non trời đất. Chiêu này lửa sinh từ lòng đất, thân thể vận động hỏa cháy thiêu hủy mọi vật .

Nhị thập nhị chiêu “Thủy hỏa ký tế” mọi sự đã xong, từ hổn mang biến thành trật tự, mọi vật ở đúng chỗ và biến không nguy hiểm. Chiêu thức này rất lợi trong trận chiến, đả thương địch nhưng không làm địch tử thương, phương pháp cầu hòa.

Nhị thập tam chiêu “Phong hỏa gia nhân” Tốn tượng theo phong, phong từ hỏa sinh ra, hỏa mạnh thì phong sinh. Chiêu thức xuất phong hỏa đồng sinh, đốt cháy mọi vật thể.

Nhị thập tứ chiêu “Lôi hỏa phong” sự lớn nhỏ ánh sáng nhờ thịnh suy của lửa. Thu nhỏ nội lực hay xuất chiêu mạnh mẽ tuy nghi đối phó trước địch thủ.

Nhị thập ngũ chiêu “Bất thuần ly” hãm vào chỗ hiểm nạn và giải tỏa hay bám vào, thấy trống không mà nội lực phi phàm. Dẫn dụ địch thủ bám chặt không rời, xuất chiêu quần địch như một quả tròn rơi vào lỗ đánh đáo.

Nhị thập lục chiêu “Trạch hỏa cách” biến đổi từng thời gian một, lấy lửa nấu nước cạn, tạo ra nước lửa khắc chế và ngược lại. Chiêu thức khi xuất có khả năng đốt cháy thành tro bụi và thành cây nước đá lạnh dưới tam thập độ âm.

Nhị thập thất chiêu “Thiên hỏa đồng nhân” lửa người lửa trời bốc lên đồng nhau, tạo ra thể cân đối. Chiêu mựng lửa trời thiêu hủy địch.

Nhị thập bát chiêu “Địa trạch lâm” tiến sát tới, chứa chấp bao dung, trên đầm có đất, bờ giáp với nước, đầm trong rừng. Tạm dung địch thủ, dù có sát phụ chi thù.

Nhị thập cửu chiêu “Sơn trạch tổn” bớt những thiệt hại, núi cao thì đầm sâu, đầm ở dưới núi khí thông lên nhuần với cỏ cây vật. Nương chiêu không hại địch thủ.

Tam thập chiêu “Thủy trạch tiết” chừng mực, tiết độ hạn chế, khôn dò hiểm trở, tự mình biết chứa nước vào đầm. Vị tha không hại địch, dẩu cho đất thổ cũng chi hận.

Tam thập nhất chiêu “Phong trạch trung phu” báo tin trong long, phong đi trên đằm, sinh ra mọi biến hiện. Cảnh cáo địch thủ, nếu địch thủ cố chấp chiêu thức tự nhiên phản công như rồng hút nước dưới hồ, đấn lúc phải ân đoạn nghĩa tuyệt.

Tam thập nhị chiêu “Lôi trạch qui muội” sấm dậy đằm động, theo nhau như đôi âm dương. Chiêu xuất như thân chính không sợ bống nghiệng.

Tam thập tam chiêu “Hỏa trạch khuê” từ hồ nước lửa phun lên, chẻ ra hai vách nước, lửa nước hai thể lìa nhau. Nội lực thần võ đến cảnh giới cao nhất, Tam thập tứ chiêu “Bát thuần đoài” hồ nước đẹp, vạn vật gần nhau sinh cảnh trời đất thoán. Chiêu xuất cải tử hồi sinh cho người bị tai nạn.

Tam thập ngũ chiêu “Thiên trạch lý” chân đạp vào gió, trải qua con đường khó, đi tới cùng cực. Xuất chiêu phi thân ra ngoại cảnh sinh để lại hận càng sâu tình càng nặng.

Tam thập lục chiêu “Địa thiên thái” thông suốt, tính dung chứa khí trời, thân tạo đất hướng về trời cao, thả lỏng tứ chi để lục phủ ngũ tạng hạnh thông. Đứng trước địch thủ, động khẩu không động thủ.

Tam thập thất chiêu “Thiên sơn địa súc” ánh sáng trời đi qua khe núi, ý tưởng sự chứa lớn, tổng hợp và nuôi dưỡng. Chiêu xuất đại khai vô sát giới, không gian trở về thanh phong minh nguyệ.

Tam thập bát chiêu “Thủy thiên thu” chờ đợi hạ trung giới, mọi vật bốc khói thành mây bay lên trời. Chiêu xuất tìm cái thiện mỹ hướng dẫn tà qui chánh.

Tam thập cửu chiêu “Phong thiên tiểu súc” trời là trên mà ở dưới gió, chứa đựng sự cứng mạnh không gì bằng. Chiêu xuất tạo điền kiện người hiền ung dung sống, bảo táp không tha thứ kẻ hung ác.

Tứ thập chiêu “Lôi thiên đại tráng” lớn mạnh như trời cứng mạnh sấm động hai hiệu ứng biểu dương. Chiêu xuất định thiên lý hảo tâm hữu báo và thiên lý bất dung kẻ hung ác chỉ một con đường đi thăm cảnh giới địa phủ.

Tứ thập nhất chiêu “Hỏa thiên đại hữu” sỡ hữu lửa chiếu sáng khắp nơi, không vật nào không được soi thấy. Nội lực là ánh sáng của lửa có khả năng thắp sáng một vùng trời, nghe và thấy địch thủ ở khắp mọi nơi.

Tứ thập nhị chiêu “Trạch thên quải” cây cho nẩy mầm, thời gian căng thẳng để trổ hoa, như một dòng nước xuyên qua khe suối. Chiêu đả thông được kinh kỳ bát mạch cho người có thân cốt hơn thiên hạ.

Tứ thập tam chiêu “Bát thuấn kiền” sức mạnh khí dương âm, hường sức yếu bám được bích núi, biểu lộ sức mạnh theo ý vũ trụ. Trong lúc nguy hiểm là lúc an toàn nhất để xuất chiêu này.

Tứ thập tứ chiêu “Thiên phong cấn” muôn vật gặp gỡ gió trời, chấn động bốn phương hóa bình địa xơ xác. Chiêu xuất muôn vật chôn sống đúng như quyền cơ đã định.

Tứ thập ngũ chiêu “Trạch phong đại quá” đại thụ gặp nước lụt nẫy mầm non, dưỡng nuôi cây, bị gặp lụt. Dù ở hoàn cảnh nào cũng sống, chiêu này mật ngữ ghi chú “Chuyện đến đâu thì hay đến đó”.

Tứ thập ngũ chiêu “Hỏa phong đỉnh” Hạc có hai chân, một chân lửa, một chân nước, hai cánh là gió, gặp vào tình thể bỉ ngạn biến hóa mà sống. Mật ngữ nói “thi ân bất cầu báo”.

Tứ thập lục chiêu “Lôi phong hằng” sấm và gió biến hiện dung hợp lâu dài, hổ tương trường cửu. Chiêu thức như không gian im lặng như tờ, thế mà khí thế hừng hực, địch thủ khó tránh du a tỳ.

Tứ thập thất chiêu “Bát thuần tốn” nhường công lực về định thủ, tồn gió vào cây cổ thụ khiến rễ bắt mạnh, phá tan mọi hậu ý. Chiêu thức này chỉ lối cho người trần mắt thịt dám ngạo mạn với người đời, chỉ vận một phần công lực là tiển đưa kẻ ngạo mạn xuống a tỳ học cách sống người liền lương.

Tứ thập bát chiêu “Thủy phong tỉnh” gió tồn dưới giếng nước, cây cắm vào đất kéo nước lên. Chiêu thức này âm thầm vận công điều thức, không đánh mà thắng địch thủ.

Tứ thập cửu chiêu “Sơ phong cổ” giống bọ rừng, nuôi trong chậu cho ăn gió và nước, một thứ ám khí rất độc. Chiêu số này mục đích để kẻ địch hướng thiện và biết sợ, mật ngữ nghi “Cung kính không bằng tuân lịnh”

Ngũ thập chiêu “Địa phong thăng” phi than vật thể trên mặt đất, vật thể càng lớn phát uy càng mạnh. Đem đến bình địa không còn địch thủ trước mặt.

Ngũ thập nhất chiêu “Thiên thủy tụng” âm dương tranh hùng, nhập tinh khí thần làm một đất trời. Chiêu xuất nước dâng cao làm trôi địch thủ, thuận tiện trên chiến trường.

Ngũ thập nhị chiêu “Trạch thủy khốn” hãm khí vào thân thể để nội lực tự xuất. Chiêu xuất làm kẻ đối địch mỏi mê, bắc sống địch thủ.

Ngũ thập nhị chiêu “Hỏa thủy vị tế” biến đổi chiêu trước khi địch chưa đến, khi địch đến là hết, như việc chưa xong là chưa cùng, thực giả chiêu thức vô ảnh. Chiêu này đem kẻ chết lên bờ, cố ý cứu sống địch thủ.

Ngũ thập tam chiêu “Lôi thủy giải” cởi mở hư chiêu, sấm làm động hiểm, gặp ngoài chỗ hiểm, là thoát khỏi chỗ hiểm. Chiêu hư thực liên thinh không biết đâu mà lường, đi xa mà chiêu số vẫn còn bên tai địch thủ.

Ngũ thập tứ chiêu “Phong thủy hoán” hoán lìa tan, gió đi trên nước, nước gặp gió tan ra bọc, thành sương mù. Chiêu số này phế nội lực võ công địch thủ.

Ngũ thập ngũ chiêu “Bát thuần khảm” hố sâu hãm hổ rồng, trong hiểm có chứa hiểm. Chiêu thức này hãm địch thủ trong rừng sâu lâu ngày phải đầu hàng.

Ngũ thập ngũ chiêu “Sơn thủy mong” lập đồ trận dụ vật xuất hiện. Chiêu này ngày hóa đêm cảnh trời lờ mờ tối là chỗ hiểm, địch gặp hiểm thì nước suối từ chân núi đổ tuôn ra, địch thủ khó sống.

Ngũ thập lục chiêu “Đại thủy sư” thân lực khủng long từ dưới đất nước xuất hiện, dù vạn binh hùng tướng cũng xem như không có. Lập trận đồ cầu cảnh siên độ cho địch thủ trước khi bị đại hồng thủy.

Ngũ thập thất chiêu “Thiên sơn độn” chiêu thay đổi vị trí, dưới trời có núi, núi tuy cao như vật đậu. Lập trận đồ trong núi rừng địch thủ hết lương thực tự tìm sự sống.

Ngũ thập bát chiêu “Trạch sơn hàm” giao cảm chí người thật thà lòng ứng theo mạng sống. Điều thức công lực nội lực giải độc.

Ngũ thập cửu chiêu “Hỏa sơn lữ” lữ hành nước lửa trong đất trời, nước ở không dời, lửa đi mà không ở. Lập trận đồ lửa và nước không ai có thể sống được khi nước và lửa di động.

Lục thập chiêu “Lôi sơn tiểu quá” sấm ở trên cao gọi là nhỏ mà nhiều, khi xuống đất nhẹ mà mạnh. Chiêu thức khôn lường của sấm buộc địch phải đầu hàng.

Lục thập nhất chiêu “Phong sơn tiệm” dấn thân tự nhiên, như cây mọc trên núi tăng trưởng, rễ bám vào đất mỗi ngày chắc sâu bền vững. Năng lực kiên cường công phu võ học, người không phải chạy mà từ từ kết quả, chỉ có nhân thiện mới tiếp thu được bộ võ học hoàn mỹ.

Chàng rất vui mừng đã đạt được kết quả, chiêu số biến đổi khôn lường, còn theo ý của riêng mình để phát triển võ học, đúng là võ học trong “Bát Quái Lĩnh Nam” có thuật ngữ “Chuyện đến đâu thì hay đến đó” Chàng xem lại thì thấy cảnh vật tứ hướng như cây, cỏ, đất, đá ngổn ngang hóa thành bình địa.

Chàng về lại động trong lòng phơi phới, đôi chân thả bộ ra thảo dã động, trước mặt là một kết quả sau ba năm biến thành vườn cây ăn trái, trong động đã thay đổi màu sắc báo hiệu đầu mùa của vườn cây, cành đã quằn trái nào là màu xanh, lấm tấm có những trái chín hồng. Hạc vốn rất thích đào, mận, ổi, xoài voi xem ra bầy hạc hợp khẩu thực đơn của Hoàng Phi, chàng thích thú thành quả của mình.

Chàng trở lại động Nam Khê Sơn với sự ngạc nhiên, chỉ ba ngày thôi trong động đã trở nên ngăn nắp nhờ có đôi bàn tay của Hoàng Lữ Thư, Lệ Thanh. Hoàng Phi thăm hỏi huynh đệ trong động:

― Hiền tỷ, huynh, đệ, muội ở trong động ba ngày vừa qua sinh hoạt có vui không, nhất là ăn ngủ thế nào?. Xuân và Lệ chưa từng sống biệt lập nhưng lại thấy sinh hoạt ở đây thoải mái, nhờ tuổi trẻ có tinh thần tiếp nhận nhanh, tất cả thập thất tú hài lòng đồng trả lời:

― Thưa đại huynh, trong động này như là một xã hội lý tưởng, đời sống vui thích thú, sinh hoạt của quí huynh đệ sáng tập ca, tập nhạc, chiều luyện võ, nội ngoại công, tối độc sách, xem như mọi việc ở đây như có vô vi đã làm hết rồi, chúng huynh đệ chỉ thế mà hành không sai. Đào Trần Mẫn Trâm chạy đến thưa:

― Thưa gia gia, ở nhà hiền huynh Phụng Anh Tuấn, ỷ luyện tập được vài chiêu thức mới, rồi cứ thế mà đem nữ nhi ra thử nghiệm, quả là ỷ lớn ăn hiếp nhỏ “hu…hu…” Hoàng Phi bảo:

― Thôi nữ nhi nín khóc đi, để gia gia cho Đào Phụng Anh Tuấn một trận đoàn nhé ? Trần Mẫn Trâm nín khóc, gật đầu đồng ý:

― Thưa gia gia, hôm qua Đào gia gia có về đây bảo hài nhi phải vâng lời Hoàng gia gia và bảo thường thăm hỏi sức khoẻ của gia gia, nhưng mà hôm nay gia gia có khoẻ không? Hoàng Phi cười:

― Gia gia khoẻ lắm, à nữ nhi đi gọi hiền huynh đến đây cho gia gia bảo nhé. Đào Phụng Anh Tuấn vừa chạy đến khoanh tay cuối đầu:

― Thưa gia gia có khoẻ không, hài nhi nhớ gia gia lắm, ở nhà muội Trâm ăn hiếp hài nhi rồi chạy đi méc hết thúc bá này, đến thúc thúc khác miệng cứ nói rằng hài nhi ăn hiếp muội Trâm. Hoàng Phi cười, thầm nghĩ mới có hai đứa con nuôi mà đã ồn ào rồi, nếu có thêm vài đứa nữa thì nó làm cái động rối loạn lên!

― Gia gia hiểu trò chơi của các hài nhi rồi. Tuấn, Trâm nhi năm nay đã bốn tuổi rồi, từ hôm nay việc học văn không được xao lãng, nếu cả hai mà lơ là thì sẽ bị Hoàng cô mẫu, Lệ cô mẫu phạt đòn đấy nhé, thôi vào trong lấy giấy bút học bài đi, nhớ đi mời thúc bá Trịnh Đình Thông cùng học đấy nhé ? Cả hai đồng dạ, vâng lời không dám méc nữa. Hoàng Phi hỏi Trịnh Trường:

― Trịnh đệ công việc chuẩn bị lễ bái kiếm đến đâu rồi ?

― Thưa đại huynh, ngu đệ cùng Lý đệ năn nỉ đến hai ngày tỷ Lữ Thư mới chịu nhận, thưa đại huynh bao giờ thì hành lễ được?

― Tốt lắm, tối nay đến động Mao Gia Phong làm lễ bái kiếm, còn sáng mai làm lễ kết nghĩa thập bát tú, phân ngôi thứ trách nhiệm từng đệ một, sau đó kiểm tra võ học, chuẩn bị luyện tập những chiêu thức mới.

― Ngu đệ vâng lời đại huynh, sẽ truyền lệnh ngay từ bây giờ để quí huynh đệ chuẩn bị cho ngày mai. Ngoài trời đã chạng vạng tối, Hoàng Phi đưa tay ra chuyển bộ pháp búng cả ba Hoàng Lữ Thư, Trịnh Trường, Lý Bình Trung, phi thân vào không gian bốn luồng khói lam biến dần dần. Cả bốn đến động Mao Gia Phong, Hoàng Phi vào động trước, lần lượt ba người tiếp đi theo, Hoàng Phi hớn hở, hỏi:

― Tỷ tỷ, Trịnh, Lý đệ dùng động này để làm lễ bái kiếm thích hợp không ? Cả ba đồng gật đầu đắc ý, lần đầu tiên đến động này, xem ra cảnh tình ở đây u nhã lắm. Hoàng Lữ Thư, hỏi:

― Động này là nơi hiền đệ ở bấy lâu nay à?

― Thưa tỷ tỷ đúng vậy, chỉ có Tam thanh kiếm mới xuất hiện ở đây, dãy núi này đơn nhất chỉ có động này cao hiểm trở nhất, không ai lên được chỉ trừ phi thân tâm hậu, nội lực trác truyệt mới lên động được. Trong động trang trí đơn sơ, cả bốn đã vào đại sảnh, Hoàng Phi ngồi vào ghế thái sư, Tam thanh kiếm ngồi vào ba ghế đá hình tam giác, Hoàng Phi là người duy nhất chứng nhận lễ bái kiếm:

― Trước mặt quí vị, trên bàn đá cẩm thạch này có tam bảo kiếm, Ngọc kiếm do tỷ Lữ Thư làm chủ, Thượng kiếm do Trịnh đệ làm chủ, Thái kiếm do Lý đệ làm chủ, hôm nay là ngày chính thức “Tam Thanh Kiếm” xuất hiện giang hồ. Mỗi danh kiếm phải có trách nhiệm chung, hiền tỷ cùng nhị đệ đã hiểu hết ý nghĩa rồi, không cần nhắc lại, điều quan trọng nhất là sống chân thực, hết lòng thương nhau, bảo bệ sự sống còn của “Tam Thanh Kiếm” không ai tự ý làm đục mờ đen tối “Tam Thanh Kiếm” tuy tam mà nhất lòng, cùng nhau sáng như mặt trời, nay quí Tỷ, đệ có điều gì nói trước khi bái kiếm không ? Cả ba đứng lên xin thề:

― Chúng tôi là Hoàng Lữ Thư, Trịnh Trường, Lý Bình Trung, bái kiếm xin thề. Tỷ đệ tại hạ tuy không sinh cùng ngày năm tháng, nhưng được quyết thề sinh thu tử thu, không hề lòng dạ đổi thay. Hoàng Phi làm chứng thay cho lệnh trảm trước tấu sau, nếu một trong ba tỷ đệ tại hạ thay lòng đổi dạ. Cuộc bái kiếm diễn ra ba mươi hai khắc. Hoàng Phi vui mừng nói về Tam Thanh Kiếm:

― Tỷ tỷ, Trịnh, Lý đệ cần thiết nhất là phải hiểu năng dụng “Tam Thanh Kiếm” chiêu thức kiếm cao nhất của võ học là trở về tự nhiên, rồi dùng chiêu thức đơn giản nhất và trực tiếp nhất để ứng dụng đối phương, “Tam Thanh Kiếm” vận dụng tính năng của con người phát huy đến cực hạng. Nói cách khác khi người đánh một quyền thì mình dùng sức cánh tay tổng hợp toàn lực, sau khi hợp nội công thì thân thể phản ứng tự nhiên trả quyền trực tiếp, không còn do dự nào trong trí nữa, không cần suy nghĩ nhiều, trong võ học xuất chiêu mau chặm đó là sự tính thắng thua, khi chiêu thức mau chính là “Tam Thanh Kiếm” thượng đẳng, đánh đâu thắng đó không sai. Ngoài ra còn dụng được nội công dưỡng khí sống lão trẻ mãi không già. Lữ Thư, Trịnh Trường, Lý Bình Trung chấp tay:

― Đa tạ lời dẫn giải Đệ, Huynh. Cả bốn về lại động Nam Khê Sơn đúng giờ ngọ. Sáng hôm sau đại hội thập bát tú kể cả Đào Phụng Anh Tuấn, Đào Trần Mẫn Trâm. Hoàng Phi tuyên bố:

― Hôm nay ngày xuất hiện “Tam Thanh kiếm” cũng là ngày kết nghĩa “Thập bát tú Lĩnh Nam” Tam thanh kiếm chưởng quản thập bát tú, vị đứng đầu tỷ Hoàng Lữ Thư, đến Trịnh, Lý đệ, kế tiếp Chu Thông, Chu Thiện, Chu Hào, Đinh Anh Thi, Xuân Giao, Đào Phụng Thương, Đào Phụng Hiệp, Đào Phụng Anh, Đào Phụng Châu, Lệ Thanh, Độ Thiếu, Trịnh Đình Thông, Đào Phụng Anh Tuấn và Đào Trần Mẫn Trâm.

Hoàng Phi ở trong “Thập bát tú Nam Khê Sơn” nhưng lại đứng trên tất cả, đương nhiên là sư phụ của thập bát tú, Hoàng Phi nắm quyền tối cao quyết định nội bộ. Tôn chỉ mục đích “Thập bát tú Nam Khê Sơn” bảo vệ tôn tộc Bách Việt, phò nguy khốn khó, diệt bạo trừ hung tàn, phế bỏ tham ô, cửa quyền.

Nội qui bảo vệ sinh tồn “Thập bát tú Nam Khê Nam” bảo bọc tỷ, huynh, đệ muội, tình nghĩa như con một cha mẹ, sống thực, không gian dối, mọi hoạt động danh tánh của “Thập bát tu Nam Khê Nam ” không được tiết lộ ra ngoài, võ học mỗi người tùy thuộc tính năng và thân căn đã có, tất cả đồng do Hoàng Phi truyền thụ.

“Thập bát tú Nam Khê Nam” là một tập hợp thiếu niên đồng cảnh thống khổ và bất hạnh, lý tưởng chung sống cùng tôn tộc Bách Việt. Hiện hay thập bát tú biết Hoàng Phi, Hoàng Lữ Thư, Trịnh Đình Thông sống hòa mình với người cùng khó, nói chung Hoàng Phi sáng lập ra “Thập bát tú Nam Khê Nam” Tam Thanh kiếm là lãnh đạo cao nhất khi Hoàng Phi ủy nhiệm. Cuộc công bố, kết nghĩa trước bàn hương án, tất cả uống máu lời thề chung huyết thống.

Cùng ngày Hoàng Phi luyện tập cho thập ngũ “Bát-quái Lĩnh Nam” kéo theo năm ngày ròng rã mới tiếp nạp nhuần bộ võ học. Hoàng Phi phân tích:

― Bộ võ học “Bát Quái Lĩnh Nam” áp dụng cho tất cả khả năng, cá tính của mình để phát huy võ học và đi xa hơn nữa biết dùng võ học của mình khắc chế người khác, Hoàng Phi nói tiếp, hiện nay chỉ có Cần Lĩnh Nam có thể gọi là thiên hạ, nhưng đối với “Bát Quái Lĩnh Nam” thì không thấm vào đâu. Hoàng Lữ Thư ngạc nhiêu:

― Cần Lĩnh Nam là đệ tử của hiền đệ, nhưng sao chưa truyền thụ võ học “Bát Quái Lĩnh Nam” cho huynh đệ ấy, như vậy có thiên vị không?

― Thưa tỷ tỷ, quí đệ tử thời ấy đệ đã truyền bộ võ học Cần Lĩnh Nam, nhưng hôm nay hoàn cảnh lại khác, hai nữa “Bát Quái Lĩnh Nam” vừa mới tìm ra cho nên áp dụng ngay không phân biệt, nói chung duyên ai nấy hưởng. “Cần Lĩnh Nam” xưa nay lúc nào cũng xem Tỷ tỷ, Trịnh, Lý đệ và Chu tam đệ, nguyên là sư tỷ, sư thúc, đó cũng là phân biệt kẻ trên người dưới rối, tuy “Thập bát tú Nam Khê Nam” là những người trẻ mới xuất hiện, võ học cũng phải trẻ có như vậy mới tiến bộ chứ?

Nhân đây tại hạ trình bày sự thật “Thập bát tú Nam Khê Nam” là gia tài võ học của tại hạ, truyền thụ hết cho quí tỷ, huynh, đệ không để cho riêng mình một chiêu thức nào, nhưng quí tỷ, huynh, đệ tiếp thụ được hay không, đó là di duyên, căn nguyên mới đạt thành, cũng nên nhớ rằng võ học là biển cả, cây to tàng lớn, muốn trở thành một danh thủ phải niệm kiếm pháp năm chữ “xoá, đâm, che, áp, xuyên” kiếm thuật huyền ảo khôn lường nhờ biến hóa “đâm cao, xóa thấp, áp trong, che ngoài, xuyên trung tâm” ngược lại, nhờ Tỷ tỷ, Trịnh, Lý đệ, Chu tam đệ truyền thụ lại cho quí huynh, đệ, muội. Từ nay “Thập bát tú Nam Khê Nam” mỗi tháng kiểm tra sự thành đạt võ nghiệp, hy vọng ba tháng nữa mỗi vị tiếp thu võ học thần diệu như Ðao, kiếm, giáo là ba môn binh khí võ học, danh thủ phải niệm sáu chữ: lia, gạt, giật, băm, chặt, chém “Lia phải, gạt trái, giật trước, băm sau, chặt ngang, chém dọc” khi nội công của quí Tỷ đệ tuyệt đỉnh càng đấu biến ảo khôn lường! người đời có câu “Ðao như mãnh hổ, kiếm như phượng bay, giáo như rồng lượn” tại hạ hy vọng đặt niềm tin nơi quí Tỷ huynh, đệ, muội.

Tỷ tỷ nhớ thường kiểm tra văn hóa của Trịnh huynh, nghĩa tử Anh Tuấn, Mẫn Trâm. Nói đến đây có một con hạc nhỏ bay đến đưa tin cho Hoàng Phi, chiếu chỉ Nam Việt Vũ Đế triệu Hoàng Phi về triều gấp, Hoàng Phi rội ra hiệu một con đại hạc bay xuống, lấy hai viên thuốc “Hạc Chu Thảo” bảo nhị nghĩa tử họ Đào uống vào.

Đã bốn năm trôi qua, trị liệu công phu theo cơ thể phát triển cho nghĩa tử họ Đào, hiện thời thân thể đã hoàn toàn bình phục, nhưng vẫn phải uống thuốc cho chấm dứt độc, “Hạc chu thảo” hiệu nghiệm đối với người lớn, chỉ cần một viên là hết bệnh.

Hoàng Phi từ giả “Thập bát tú Nam Khê Nam” lên hạc vẫy tay chào. Năm con hạc bay về hướng đông, đến thành Phiên Ngung đúng vào lúc trời chiêu dương, Hoàng Phi đến Thư phòng Hoàng thượng làm hiệu. Nam Việt Vũ Đế biết Hoàng Phi đến:

― Điệt Phi vào đây, Trẫm rất mong lắm. Hoàng Phi vào cúi đầu:

― Muôn tâu Bệ hạ, “Vạn tuế van tuế” Điện hạ khang an. Hạ thần tuân chỉ, Vũ Đế bảo Hoàng Phi:

― Hoàng nhi, qua phòng bên trái mời Thái Tử Hồ đến hầu trẫm?

― Muôn tâu Bệ hạ tuân chỉ. Hoàng Phi vừa bước vào chưa kịp tâu, Thái Tử Hồ vui mừng, nói trước:

― Khanh về khi nào vậy, sao không cho Thái gia biết?

― Muôn tâu Thái tử, hạ thần tuân chỉ Hoàng thượng, triệu Thải tử qua thư phòng để Hoàng thượng truyền chỉ. Hạ thần mới về, cũng chưa biết chuyện gì rội đến đây. Thái Tử Hồ nghe qua rồi cùng đi với Hoàng Phi.

― Muôn tâu Hoàng thượng, hài nhi tuân chỉ.

― Muôn tâu Bệ hạ, hạ thần tuân chỉ. Vũ Đế ban chỉ:

― Muội tử Hồ, Hoàng nhi bình thân, Trẫm xuất chỉ triệu Hoàng Phi về đây gấp để hỏi về nghi án, ai là thủ phạm xuống độc dược để Quốc sư của trẫm qui tiên, khanh có tường không?

― Muôn tâu Bệ hạ, hạ thần không biết nội vụ của Tiên tổ qui tiên trong lý do nào? Vũ Đế nghiêm nghị:

― Trẫm đã nghĩ từ đầu, Quốc sư của Trẫm qui tiên không phải là sự tự nhiên, phải có kẻ gian hiểm ở gần Người. Trẫm âm thầm xuống chỉ cho Cơ Mật Viện đích thân Thái úy Lữ Gia truy tìm đầu mối thủ phạm, nay đã có chỗ nghi ngờ, bởi vậy triệu Hoàng nhi về đây để kết thúc vụ án này, thì Trẫm mới an lạc được.

― Muôn tâu Bệ hạ, thưa chỗ nghi ngờ đó là nhân vật nào, không biết Tiên tổ có thù oán với họ không? Thái tử Hồ thấy khó nói, vì còn nhiều nguyên nhân, nhưng Hoàng thượng đã xuống chỉ thì không thể nào cản trở lại được:

― Muôn tâu Hoàng thượng điện hạ, Hồ nhi cũng thấy Quân sư qui tiên bất thường, cho nên bí mật nhờ Phùng Nam tìm hung thủ ở Giao Chỉ đến nay cũng chỉ có một phần nghi án, nhưng không biết hung thủ. Vũ Đế nghe Thái Tử Hồ nói đến Phùng Nam, rội hỏi:

― Nội vụ án này ở bắc, thì muội Hồ lại tìm ở Nam như vậy làm sao mà ra thủ phạm!

― Muôn tâu Hoàng thượng. Hài nhi mạo muội tìm như vậy mới biết thủ phạm sau lưng là ai, đi xa hơn nữa là tìm nguyên nhân của án mới tránh được “Tru di tam tộc” Vũ Đế đắc ý khen thầm, thế mà trẫm nghĩ không ra. Hoàng Phi tâu:

― Muôn tâu Hoàng thượng, Thái tử, hạ thần đã tìm ra chất độc “Thiên thu sa” hại Tiên tổ, hạ thần còn tìm được chất độc lợi hại hơn tên gọi là “Thiên thu hồn sa” cùng lúc tìm ra thuốc trị liệu “Hạc Chu Thảo” riêng phần tìm thủ phạm sớm muộn gì rồi cũng phải lộ diện, chỉ cần khám phá vài nạn nhân cùng tình trạng qua đời như Tiên tổ là thủ phạm không thể nào chạy khỏi vòm trời này. Vũ Đế vui mừng:

― Trẫm vô cùng vui mừng, diệt Phi đã tìm được chất độc, tìm dược trị liệu có như vậy thì không còn sợ hung thủ nữa, nguyên nhân nào Hoàng nhi biết được chất độc trong thân thể của Quốc sư?

― Muôn tâu Hoàng thượng, Thái tử. Hạ thần xin kể lại diễn tiến trong những ngày Tiên tổ qui tiên, tìm được ám khí độc rất lợi hại, cùng lúc biết được thuốc trị liệu. Sau khi nghe Hoàng Phi kể đầu đuôi câu chuyện, Thái tử Hồ tiếp nối vào câu chuyện của Hoàng Phi:

― Trước đây Phùng Nam đích thân đánh vào tổ chức bí mật gian tế Hán, hoạt động tại Côn Minh có tên là Ðại Ðồng Công Dụng do Trần Trung Việt lãnh đạo. Phùng Nam cho biết tìm được một tài liệu chế biến ám khí độc, bên ngoài bọc lớp bột gạo nhỏ, màu hơi hồng bằng hạt bắp tên là “Thiên thu sa” người có nội công trác tuyệt mới sử dụng được ám khí này, chỉ cần búng vào nạn nhân là chết như ngủ, sau bảy ngày sẽ bị rã rữa thân xác, chất độc này không có thuốc trị liệu. Phùng Nam có ý hủy bỏ công thức biến chế chất độc “Thiên thu sa” nhưng lại tiếc rẻ đem về cất trong thư phòng phủ. Một hôm thấy trên bàn làm việc có những tờ sớ và chỉ dụ xếp không thứ tự, mới biết có kẻ gian vào thư phòng. Phùng Nam thấy vậy vội vàng muốn tìm công thức “Thiên thu sa” thì đã bị kẻ trộm cắp mất, từ đó tìm không ra kẻ cắp, lâu ngày không còn để ý đến nó nữa. Hồ muội xuất lệnh truy tìm hung thủ, lúc này Phùng Nam mới khẩn định trong phủ có gian tế, nhất là họ Phùng có liên hệ vào vụ án này, nhưng chưa tìm ra ai là thủ phạm. Vũ Đế cho biết:

― Trẫm muốn nối hai nghi án thành án lý, theo báo cáo của Cơ Mật Viện cho biết những tháng gần đây có nhiều giang hồ đất Trường Sa chết cũng như tình trạng Quốc sự và hôm qua anh hùng Lê Đạt trong Cần Lĩnh Nam Bắc Tông cũng hy sinh. Tuổi trẻ không bệnh mà chết, anh hùng không chết ngoài chiến trận mà lại chết trong thời bình, quả là thủ phạm ở trong nhà gây ra! Người bình thường cũng hiểu được nguyên nhân, nhưng rất tiếc lại là sự chết đột ngột đến với Lê Đạt, bởi vậy Trẫm xuất chỉ chuyển thi thể của Lê Đạt về Võ Miếu, ghi công như những anh hùng ngoài chiến trận “Vị quốc vong thân” Trẫm hy vọng Hoàng nhi sẽ tìm được hung thủ trong dịp này! Trẫm xuất chỉ mời tất cả anh hùng Nam Việt tham dự tang sự, Hoàng nhi đứng ra làm chủ lễ mục đích bắt chính xác hung thủ không biết Hoàng nhi nghĩ thế nào?

― Muôn tâu Bệ hạ, Thái tử, hạ thần đa tạ, đã hiểu được tường tận, hạ thần mạo muội nói lên lòng kính cẩn chân thực, xin Bệ hạ và Thái tử xét xử hạ thần dùng người bất trung, bất hiếu đã hại Tiên tổ, đệ tử Lê Đạt nhiều anh hùng khác, làm ngưng trợ công cuộc xây dựng nước, hôm nay Bệ hạ cũng đã biết người ấy là ai rồi nhưng không tiện cho hạ thần biết, vì đây là một vụ án có liên quan trong-ngoài Cần Lĩnh Nam, hạ thần có thể kết luận không sai thủ phạm chính là Phùng Hưng. Vũ Đế nghe Hoàng Phi nói đúng sự thực lòng vui mừng ít nhất cũng phải là “Con hơn cha nhà có phúc” Vũ Đế, hỏi tiếp:

― Trẫm muốn biết Hoàng nhi đối phó vụ án này như thế nào?

― Muôn tâu Bệ hạ cùng Thái tử, hạ thần dùng hậu sảnh Võ Miếu lập đồ trận “Tử mục trường” đồng cỏ dành cho súc vật ăn trước khi chết. Hạ thần thỉnh lệnh Bệ hạ và Thái tử tham dự lược án. Vũ Đế chưa biết đồ trận “Tử mục trường” kết quả thế nào, lòng lo âu, nếu không kết quả thì khác nào tạo ra nhiều thù hận:

― Trẫm lúc nào cũng sủng ái Hoàng nhi, nhưng Hoàng nhi lập đồ trận này có khác với đồ trận Việt Tú không?

― Muôn tâu Bệ hạ, mỗi đồ trận có tính riêng, tùy hoàn cảnh, tùy sự việc mà áp dụng cho thích hợp, đồ trận này chủ yếu lùa súc vật vào đồng cỏ khô rồi chết ở đó! Tất cả Cần Lĩnh Nam cùng những liên hệ như Tổ phụ Phùng Nam vào đồ trận này! Người tham dự sẽ sáng tỏ mọi việc làm của Phùng Hưng, chính Phùng Nam và Cô mẫu Hoàng Lữ Giao cũng không tha thứ Phùng Hưng, cuối cùng chính Phùng Hưng tự kết thúc đời mình.

Nói chung nếu ai cản trở xây dựng đất nước, thì tự kết liểu theo dấu chân của Phùng Hưng. Muôn tâu Bệ hạ, cũng may Phùng Hưng với Cô mẫu chung sống đã lâu mà chưa có hậu.

― Trẫm hài lòng lắm, Hoàng Phi xử lý như vậy rất hợp tình, vừa hòa khí, vừa răn bảo, vừa tình người, như thế hôm nay Hoàng nhi lập đồ trận, ngày mai Cầm Lĩnh Nam sẽ được tiếp tân trong đồ trận “Tử mục trường”.

Trên đỉnh đồ trận “Tử mục trường” Nam Việt Vũ Đế ngự vào ghế quốc pháp, Thái Tử Hồ ngự vào ghế chưởng tòa, Hoàng Phi ngự vào ghế chấp pháp. Hôm sau Anh hùng Cần Lĩnh Nam tam tông về tham dự tang sự Lê Đạt, có cả Trường Sa Vương, Tượng Quận, Quế Lâm, Nam Hải, Phùng Nam nguyên là Phó Nam Vương cai trị Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.

Thái Bảo Trần Tam Hiệp, tứ trụ triều đình Nam Việt, thay mặt gia quyến Lê Đạt cảm tạ phân ưu quí anh hùng, toàn thể vào hậu sảnh Võ Miếu tham dự thết đãi, Phó Nam Vương Phùng Nam được mời vào ghế thái sư, đến các vương, còn lại ba hàng ghế xếp thành chữ u phân thứ tự tam ban Cần Lĩnh Nam, theo lễ nghi cung đình, hậu sảnh trang trí rực rỡ như hoàng cung, buổi thết đãi qua tuần trà thân mật, quan Thái Bảo xướng danh:

― Thưa toàn thể anh hùng Nam Việt, lần đầu tiên sư phụ, sư bá của Hoàng Phi đến đây trước phân ưu với gia đình anh hùng Lê Đạt và nhân dịp thăm sức khỏe quí anh hùng, tất cả đồng đứng lên nghiêm trang nghinh đón, quả thực ai ai cũng muốn biết sư phụ, sư bá của Hoàng Phi là nhân vật nào? riêng về Hoàng Phi thì ai cũng biết nguyên là sư phụ của Cần Lĩnh Nam. Tiếng xướng danh vừa dứt có ba hình bóng bào phục trắng phi thân từ ngoài cửa Võ Miếu vào trung tâm sảnh đường như ba làn khói lam, vạt trước vạt sau bào phục phất phới bay trước gió, tốc độ phi thân của sư phụ, sư bá không khác nào xuất hiện thoảng qua Bát thức để mọi người tiếp nhận. Nhĩ thức có âm nhạc lời ca trầm bổng du dương. Mục thức thấy được làn khói lam nhưng không thấy hình dạng rõ ràng. Tri thức nhận được hai làn khói trầm hương kỳ ảo, êm dịu. Thực quản thức hương vị thơm ngát mùi hoa Quỳnh. Da thức nhận được sự tươi mát, tinh thần sảng khoái.

Bóng người phi thân phía sau thì ai cũng thấy chính là Hoàng Phi, dáng dấp kỳ ảo như sư phụ, sư bá mọi người ngạc nhiên vui mừng, âu cũng là dịp được biết sư phụ của Hoàng Phi.

Mỗi người ngồi vào vị trí đã phân thứ tự, riêng nghế thái sư do Phùng Nam ngự, vừa đúng lúc mọi trật tự đã ổn. Về ba chân dung kỳ diệu, hình bóng mờ ảo ngự vào ghế quốc pháp biểu tượng quyền uy phi thường đó chính là Nam Việt Vũ Đế, bóng thứ hai ngự ghế bên phải biểu tượng Chưởng tòa chính là Thái Tử Hồ, Hoàng Phi ngự váo ghế Chấp pháp biểu tượng quyến trảm trước tấu sau. Mọi người trong Võ miếu tự hiểu hai người chân dung mờ ảo chính là sự phụ và sư thúc của Hoàng Phi. Họ không thể ngờ rằng Vũ Đế và Thái tử Hồ đến để tham dự cuộc truy tìm hung thủ.

Cũng may trong sảnh đường không có cao nhân nhãn lực nào ? cho nên không thấy trận đồ đã bày ra, tất cả trong hậu sảnh Võ miếu khi thấy ba thầy trò Hoàng Phi vào là toàn thể đứng lên chào. Sư phụ (Vũ Đế) Hoàng Phi lên tiếng trước:

― Nhân dịp tại hạ cùng sư đệ qua đây gặp danh túc Hoàng Phi cho hay có một đệ tử Lê Đạt đang tuổi thanh xuân qui tiên đột ngột, tại hạ ghé vào mục đích phúng điếu rồi đi ngay, nhưng danh túc của tại hạ cứ cố mời ở lại để thăm quí anh hùng Nam Việt, nhân dịp tại hạ có đôi lời thân chào quí anh hùng và xin lỗi quí anh hùng hoan hỷ sự đường đột của tại hạ.

Tất cả người trong sảnh đường đồng cúi đầu bái phục, vì trong âm ngữ của sư phụ Hoàng Phi có mãnh lực ôn nhu tiên gia. Phùng Nam lần đầu tiên biết được sư phụ của Hoàng Phi, tức là sư tổ của Phùng Hưng trong lòng xúc động:

― Thưa sư Tổ, sư thúc, tại hạ họ Phùng tên Nam, thay mặt Hoàng thượng điện hạ và tất cả anh hùng Nam Việt chúc sức khoẻ sư Tổ, sư thúc cùng hiền điệt Hoàng Phi. Phùng Hưng cũng thay mặt Cần Lĩnh Nam tam tông chúc sức khoẻ sư Tổ, sư Bá. Chu Thông Được thay mặt các vương cũng chúc sức khoẻ, trong lòng mọi người tôn phục và ai cũng hy vọng được thực sự thấy mặt sư Tổ, tuy ai cũng biết người sư tổ này vô ảnh cũng như đời sống vô danh. Vũ Đế khởi đầu cuộc truy bi án:

― Tại hạ, đa tạ quí anh hùng dành cảm tình sủng ái thầy trò tại hạ. Nhận dịp này tại hạ có đôi lời muốn hỏi trắng đen, không biết có gì buồn lòng nhau không? Phùng Nam kính cẩn:

― Thưa sư tổ, hôm nay là ngày buồn vui lẫn lộn, trắng đen là sự bình thường, có điều gì không giải tỏa được thì xin sư tổ tự nhiên giáo huấn, chúng đệ tử tuân mạng, cả sảnh đường đồng một lời xướng:

― Chúng đệ tử tuân mạng.

― Tại hạ vốn là bạn thân với Quốc sư Nam Việt, đặc biệt tại hạ chỉ có một danh túc duy nhất là Hoàng Phi, ngày nay Hoàng Phi có rất nhiều đệ tử anh hùng danh môn chính phái, lập được nào là Cần Lĩnh Nam tam tông, có mặt khắp mọi nơi trên đất nước Nam Việt, tại hạ có nghe Hoàng Phi trình bày mục đích vì xã tắc, nhưng không tham dự vì vốn sống đã lâu vô ngã, nhân tiện Hoàng Phi có một danh túc họ Lê tên Đạt nguyên là một anh hùng Trường Sa mới qui vị, bởi vậy tại hạ xin ba nén hương cầu nguyện linh hồn Lê Đạt xiêu độ vào cảnh bồng lai, mỗ biết đệ tử đời thứ hai là Lê Đạt, qui vị do tay điên cuồng hảm hại, sử dụng ám khí “Thiên thu sa” vậy quí anh hùng có biết hung thủ ấy là ai không? Tại hạ chỉ có đôi lời sơ giao này!

Câu hỏi khiến tất cả người trong sảnh đường Võ miếu biến thành hai mùa, đông thời có kẻ lạnh, hạ thời có kẻ toát mồ hôi. Những người không liện hệ trong vụ án này cũng không thản nhiên được vì họ xem Hoàng Hạc là biểu tượng chính thống của Bách Việt, có người tay chân run rẩy như đang hấp hối, có người trong lòng lo âu, hồi hộp mong biết ai là hung thủ giết thân nhân mình.

Sảnh đường đông người như vậy, thế mà yên lặng như tờ, một không khí lạ thường chưa hề có, đối với quần hùng cao thủ võ lâm đương thời nhất Nam Việt, cũng phải khiếp sợ tiếng “vo ve” của muỗi mòng bay vào sảnh đường, đủ thấy tiếng náo động muỗi mòng phát ra âm ba rùng rợn, thay cho tiếng thét gào của người quá cố! Hoàng Lữ Giao, Hoàng Lữ Trinh khi nghe nói đến gia gia Hoàng Hạc qua đời, bởi ám khí “Thiên thu sa” trong lòng lửa thù hận bừng sôi, chỉ cần biết kẻ hung thủ là ra tay trừ khử dù đó là ai.

Phùng Nam trong lòng hối hận để mất phương thức biến chế “Thiên thu sa” về tay dã man, ông tự suy nghĩ, chính ta vô tình đồng lõa với hung thủ, nếu trước đây tiêu hủy phổ “Thiên thu sa” thì không hãm hại sư tổ Hoàng Hạc và điệt nhi Lê Đạt.

Phùng Hưng vốn tính toán chu đáo, hoàn hảo, trước khi kế hoạch chuẩn mực mới ra tay hành động, nhưng quên rằng dù người thông minh đến đâu cũng có lúc lòng ham che khuất trái tim mù quáng, đó là một trong những nguyên nhân sa thải anh hùng, hôm nay Phùng Hưng tự nhận sai lầm, âu cũng vì cái ta duy lợi, tội này không tha thứ được đối với gia đình hai họ và đất nước, ông thở dài tự trách, thảo nào người đời có câu “Sơ bất gián thân” người ngoài không thể ly gián được người thân thuộc.

Phùng Hưng thừa biết chỉ cần thú thực thủ phạm giết Hoàng Hạc là Hoàng Lữ Giao và Hoàng Lữ Trinh xuất kiếm tức khắc, không chờ đến Hoàng Phi và hậu duệ của Lê Đạt.

 Lúc này Vũ Đế, Thái Tử Hồ, Hoàng Phi đã biết nội vụ án là ai rồi, cho nên thản nhiên để chờ xem diễn biến tự nó kết thúc trong đồ trận “Tử mục trường”. Thời gian yên lặng gần một phần tư cây hương, dài như muôn ngàn thế kỷ. Phùng Nam chịu không nổi thời gian yên lặng đành phải bước xuống ghế quỳ xuống, đầu hướng lên thầy trò Hoàng Phi:

― Thưa sư tổ, đệ tử nay tự xem là kẻ có tội với sư tổ Hoàng Hạc, điệt nhi Lê Đạt, tuy chuyện “Thiên thu sa” đệ tử đã tấu lên Hoàng thượng điện hạ hơn sáu năm trước, được Điện hạ ân xá, nay “Thiên thu sa” tái xuất hiện thì tội này xem như người đồng lõa với kẻ dã man hãm hại điệt nhi Lê Đạt, nếu trước đây tiêu hủy “Thiên thu sa” thì không đến nỗi có ngày nay, tội này đáng “Tru di tam tộc” nếu xét ra cho đầy đủ thì có tất cả là bốn tội lớn, như hại sư Tổ, Cần Lĩnh Nam, anh hùng thiên hạ và cản trở chấn hưng đất nước! Tại hạ nhờ sư phụ Cần Lĩnh Nam tâu lên Hoàng thượng chuẩn phê. Hoàng Phi từ trên cao phóng xuống đất một thẻ bài lệnh trảm:

― Chuẩn phê theo lời Phùng Nam “Tru di tam tộc” Ẩn ý của Hoàng Phi muốn Phùng Hưng lộ diện, tự nhân bước vào đồ trận. Trong sảnh đường ai cũng biết Hoàng Phi trên tay có Ấn phù của Hoàng thượng, “Trảm trước tấu sau”. Hôm nay là lần đầu tiên, chính Vũ Đế, Thái Tử Hồ cũng ngạc nhiên, trong thiên hạ nhất là giới giang hồ biết danh Hoàng Phi thanh niên tuấn tú cũng là sư phụ của Cần Lĩnh Nam, nhưng chưa bao giờ thấy Hoàng Phi xuất hiện trước công chúng, người trên giang hồ khó ai mà biết được nơi ăn chốn ở của Hoàng Phi! Họ tìm chàng khắp nơi chỉ muốn tỷ đấu võ nghiệp nhưng chưa bao giờ gặp, đối với Hoàng Phi thì chưa có thù oán trên giang hồ, cũng chưa nghe người giang hồ nói đã gặp và tỷ đấu với Hoàng Phi.

Chính Cần Lĩnh Nam cũng như họ Hoàng không đo lường được khả năng võ học của chàng, nhưng thấy chàng chỉ phất tay nhẹ, lệnh bài gỗ rơi xuống đất tan nát như bộc cám, Phùng Nam trong lòng rung chuyển. Lúc này mọi người đồng thấy Phùng Hưng từ từ ra khỏi bàn Cần Lĩnh Nam Bắc Tông quỳ xuống đất:

― Thưa sư phụ, tội này do đệ tử gây ra hết, chứ không phải thân phụ! Phùng Hưng tự biết ông sư phụ trẻ này rất nghiêm minh, chính mình đã chứng kiến ngày hành quyết đại huynh Hoàng Cương, ngày xa xưa ấy còn trong ký ức. Nay làm sao tránh khỏi ông hành quyết cả họ Phùng “Tru di tam tộc”, kể cả cô mẫu Hoàng Lữ Giao cũng chung số phận, nếu mình thú thực những tội đó do mình thì may ra còn cứu được nương tử, riêng Phùng Hưng có chết cũng không ân hận. Hoàng Phi đã biết Phùng Hưng chính là thủ phạm nhưng vẫn phải nói như không biết:

― Có phải đệ tử muốn che chở tội cho gia gia không?

― Thưa sư phụ, sự thực không phải thế, sư phụ để đệ tử kể hết, chính đệ tử hảm hại Tiên Tổ bằng ám khí “Thiên thu sa” lời nói vừa dứt đến đây. Có hai bóng xanh nhạt, đồng phi thân như thần hóa hiện, ánh sáng hừng hực, chính là Hoàng Lữ Giao xuất liên chiêu ba mươi sáu thức trong “Hoàng long linh” và Hoàng Lữ Trinh cũng xuất mươi hai thức trong “Hoàng long đạo” trong sảnh đường không ai đề phòng trước, chỉ thấy kiếm pháp họ Hoàng là ai cũng phải khiếp đảm, trong sảnh đường rộng lớn thế mà khí kiếm rinh tất cả anh hùng bật ra khỏi ghế ngồi, thủ cấp của Phùng Hưng trong gang tấc. Hoàng Phi xuất chiêu “Đại lực vũ” trong “Công Quyền Lĩnh Nam” hai luồng khí trắng đánh rơi song kiếm xuống đất, chàng thưa:

― Thưa nhị vị cô mẫu, tha thứ cho hài nhi mạo muội thô lỗ trước quần hùng, Hoàng Phi phi thân xuống đất:

― Hài nhi giập đầu khấu bái, xin nhị cô mẫu về chỗ ngự và mời quí anh hùng trở lại an tọa. Hoàng Phi về ghế chấp pháp, vẫn còn thấy hai cô mẫu hậm hực nộ khí xung thiên muốn ăn thịt Phùng Hưng. Hoàng Lữ Giao từ ngày “Xuất giá tùng phu” một mực thờ chồng trọn nghĩa tào khang, sống vẹn toàn đối với cha mẹ chồng, đảm đang việc nhà, việc nước. Hôm nay nàng nộ khí là vì bao lâu nay nhận lầm kẻ thù làm chồng, nàng thấy tâm can tổn thương bị Phùng Hưng lừa gạt. Hoàng Phi, nói tiếp:

― Nhị vị cô mẫu ngồi yên tại chỗ để nghe Phùng Hưng tường thuật việc làm bí mật mấy năm nay, quí cô mẫu chú ý, nếu còn dụng kiếm lệnh phù xuốt chỉ không tha thứ. Sư phụ của Hoàng Phi, hỏi:

― Khởi đầu, động cơ nào xúi giục Phùng Hưng hành động ?

― Thưa sư tổ, đệ tử có giao tiệp với Trần Trung Hạnh tại Động Đình hồ, người này nguyên là nhà kinh doanh gia súc, y hảo hiệp bảo trợ rộng rãi Cần Lĩnh Nam Bắc Tông, từ ấy đệ tử giao du với y, lâu ngày giao trách nhiệm cho y chưởng quản khu vực Động Đình hồ. Y cho biết gia gia của đệ tử có phương thức chế ám khí “Thiên thu sa” chỉ cần trên tay có được ám khí này thì làm chủ võ lâm, khống chế được thuộc hạ, và cả sư phụ, nhất là kẻ thù không sống được một canh giờ. Từ ấy đệ tử âm thầm về phủ gia gia, ngày ẩn, đêm hiện tìm kiếm trong thư phòng ba ngày mới lấy được phương thức biến chế ám khí “Thiên thu sa”.

Lần đầu tiên đệ tử ra tay hạ thủ nhạc phụ Hoàng Hạc. Nguyên nhân ngày trước nhạc phụ trên đường xuôi Nam ngoài biển vịnh Hổ Môn. Nhạc phụ có bắt được một đoàn thuyền ba mươi chiếc của Trần Trung Hạnh, đang di chuyển về hướng Trung nguyên, thuyền chở toàn ngà voi, gia trăn, riêng hổ cốt trên hai ngàn bộ và châu báu khác, tài sản này nhạc phụ tịch thu được, đem sung công vào kho Nam Việt.

Trần Trung Hạnh nhờ đệ tử thủ tiêu nhạc phụ, đệ tử từ chối, cuối cùng phải chấp nhận vì áp lực của Trần Trung Hạnh, chính y là người em út của Trần Trung Việt hoạt động tại Trường Sa có tên là “Ðại Ðồng Công Dụng” do y lãnh đạo. Còn những anh hùng trên giang hồ gần đây nhất, do đệ tử giết, hiền đệ Lê Đạt cũng chết vì ám khí “Thiên thu sa”. Hoàng Phi điềm tĩnh:

― Lý do nào giết đệ tử Lê Đạt của mỗ ?

― Thưa sư phụ, nguyên nhân hiền đệ Lê Đạt biết quá nhiều bí ẩn của đệ tử vì vậy mới thủ tiêu, đệ tử khống chế không được hiền đệ Lê Đạt cho nên mới sử dụng đến sách “Thiên thu sa”  Hoàng Phi dằn vặt trong lòng:

― Như vậy là đệ tử đã khống chế được toàn bộ “Cần Lĩnh Nam Bắc Tông” nhằm để phục vụ cho người họ Trần tên Trung Hạnh ấy à ?

― Thưa, sự phụ đúng vậy.

― Hiện nay Trần Trung Hạnh còn ở Trường Sa không?

― Thưa sư phụ, hiện nay y đã về Trung nguyên rồi, cũng có thể đang có mặt tại trại Động Đình hồ.

― Đã là đệ tử của mỗ mà còn nói chuyện không thực lòng. Hiện nay còn những ai đại diện cho Trần Trung Hạnh không?

― Thưa sư phụ, thế lực Trần Trung Hạnh như tầm ăn lên bám sâu vào Cần Lĩnh Nam Bắc Tông.

― Mi có thể cung cấp cho mỗ một danh sách những kẻ đã làm con tằm được không?

― Thưa danh sách đệ tử lúc nào cũng mang theo trong người.

― Tốt lắm, đưa danh sách đó cho gia gia mi. Phùng Nam cầm lấy danh sách dâng lên cho Hoàng Phi. Hoàng Phi hỏi tiếp:

― Lâu nay mi nghĩ rằng trên tay có “Thiên thu sa” thì làm chủ được thiên hạ ư, mi đã có dự định gì cho tương lai không?

― Thưa sư phụ, đúng vậy hiện nay đệ tử công phu nội công thượng thừa sử dụng được “Thiên thu sa” để làm phương tiện khống chế kể nào không đi cùng thuyền, mục tiêu cuối cùng là xưng đế.

― Như vậy mi có đem theo “Thiên thu sa”  không?

― Thưa sư phụ có ạ!

― Mi có khả năng sử dụng một lúc giết chết tất cả mọi người trong sảnh đường này được không?

― Thưa sư phụ được ạ!

― Như vậy mi ra tay thử xem, nhớ không chừa một ai kể cả gia gia của mi nhé?. Chừng ấy người trong sảnh đường Võ miếu tự nhiên trở trời khí hậu lạnh buốt mà toát mồ hôi. Những người không liện hệ trong vụ án này cũng bị vạ lây dính vào “Thiên thu sa”. Họ đã thấy những thi thể chết bởi “Thiên thu sa” như thế nào thì nay chính họ lại bị chết một cách khủng khiếp không vẹn toàn thân.

Mọi người tinh thần đảo loạn, xáo trộn thăng bằng, tim đập dồn dập, sinh ra hoảng sợ bối rối. Mọi người thở dài thang thầm, thế là hôm nay anh hùng Nam Viết chết hết dưới tay của Phùng Hưng. Ai cũng nghe lời nói của Hoàng Phi không phải là để đùa, cũng không phải để hù dọa! vì vậy mới có sự lo sợ, chính ngày nay thân thể của trăm họ đang treo trên sợi chỉ. Hoàng Phi, hỏi:

― À “Thiên thu sa” một khi xuất ra là lấy mạng người, nhưng không có thuốc nào để cứu mạng phải không?:

― Thưa sư phụ đúng vậy!

― Tốt lắm, mi hành động đi? Hoàng Phi đã âm thầm phóng ra một luồng khí màu xám nhạt “Sinh giải linh” trong “Huyệt pháp Lĩnh Nam” nhãn lực tuyệt kỹ cũng khó thấy được. Hoàng Phi âm thầm phong tỏa “Thiên thu sa” và nội công Phùng Hưng.

Phùng Hưng thi triển khai khả năng hai tay xuất quyền “Lục thập hào” trong “Đăng thiên Lạc Việt” mục đích để nạn nhân chấn thương chết hai lần của quyền “Lục thập hào” và “Thiên thu sa” Phùng Hưng nghĩ rằng không một ai còn sống sót, chiêu số vũ bảo, nội công dũng mãnh mái ngói sảnh đường cũng phải than rắc vắc, có vài miếng ngói rơi xuống sảnh đường “bốp bốp”. Trên tay Phùng Hưng đã xuất “Thiên thu sa” tất cả người trong hậu sảnh đường Võ Miếu lăn ra ngủ như chết, chỉ còn Phùng Hưng đứng tại chỗ vui mừng, cười “ha hà”:

― Hoàng Phi ơi đừng xem thường mỗ nhé “Thiên thu sa” vô địch thiên hạ, hôm nay anh hùng Nam Việt đem xác đến thử “Thiên chu sa” cũng là dịp tốt để mỗ vào Hoàng cung lên ngôi Hoàng đế đổi quốc hiệu Nam Việt Phùng Đế “ha hà”.

Trên một măm người tuy lăn ra như chết, nhưng vẫn nghe được tiếng nói và mắt nhận diện được hành động của Phùng Hưng, riêng long thể của Nam Việt Vũ Đế, Thái Tử Hồ và Hoàng Phi vẫn bình thường, nhưng Phùng Hưng cứ tưởng đã chết rồi. Hoàng Phi búng ra một luồng không khí xanh “Sinh dục linh” trong “Huyệt pháp Lĩnh Nam” toàn thể đứng dậy đồng hướng trên cao thi lễ:

― Chúng đệ tử kỉnh bái sư tổ và sư phụ, đã cứu mạng cho! Phùng Hưng vẫn đứng tại trung tâm sảnh đường đôi mắt ngơ ngác, như con nai vàng trước cánh đồng cỏ khô. Phùng Hưng không thể nào biết nguyên nhân mọi người đã chết bởi “Thiên thu sa” bỗng dưng đứng lên sống lại?.

Để kết thúc vụ án, Hoàng Phi vận chuyển đồ trận “Tử mục trường” phủ bốn hướng giam Phùng Hưng vào đồ thân, trong đồ trận Phùng Hưng nhìn ra thấy cảnh tượng bao la, xa lạ khác với thế giới loài người, thế giới sống mà Phùng Hưng đang thấy là một xã hội màu trắng mỏng manh, lởn vởn, lu mờ, lúc hiện ra, lúc biến mất. Hoàng Phi dùng nhĩ ngữ truyền âm:

― Thưa toàn thể quí anh hùng, giờ này quí anh hùng tự do hỏi Phùng Hưng những gì cần biết, y sẽ nói hết và mời Tổ phụ Phùng Nam ngự vào ghế thái sư để điều hành chấp sự. Phùng Nam hỏi trước:

― Tiểu tử Phùng Hưng, mi bất trung với vua, bất hiếu sư Tổ, phản bội sư phụ, phản huynh đệ Cần Lĩnh Nam, bất nghĩa tình phu thê và bất hiếu họ Phùng, nối giáo cho Hán, làm phản Bách Việt, mi dối trá trước lòng tin của Hoàng thượng, vậy mi tự xử lấy để làm gương cho người khác. Phùng Hưng đứng trong đồ trận “Tử mục trường” nghe lời nói âm vang của Phùng Nam phát ra mười phương bốn hướng, như thể có hồn ma kêu án, đòi xác, Phùng Hưng lòng rời rã tơi bời. Phùng Hưng lại nghe tiếp, có tiếng đằng hắng của Hoàng Lữ Giao, trong lòng càng sợ hơn trăm lần, lục phủ ngũ tạng muốn văng hết ra ngoài. Hoàng Lữ Giao vặn từng tiếng một:

― Bổn cô nhận lầm kẻ thù làm chồng. Một câu nói mới mở đầu như xuất một chiêu “Xa hồn kiếm” đâm thẳng nát bấy tim Phùng Hưng. Bổn cô không cần thiết phải  động kiếm ở lúc này, cho nên bổn cô giết mi bằng một cách khác, bà nói tiếp:

― Bao lâu nay bổn cô sống trong hạnh phúc ảo, tưởng mi là anh hùng trong thiên hạ, thì ra mi là kẻ hèn mạt lừa gạt bổn cô và tất cả mọi người. Hai lá gan của Phùng Hưng như bị ổ kiến đang đục khoét trong bọng cây, cảm nhận hai lá gan đang đau. Bà dừng lại một khắc, nó tiếp:

― Chí khí đê mạt của mi không đáng một bải phân bò, nay đã lộ ra thanh thiên bạch nhật, đúng là kẻ xảo trá đầu đường xó chợ Cầu Ông Lãnh. Lá lách Phùng Hưng như bị phồng cương lên, bởi ngôn ngữ thần quyền đánh vào nát bầy nhầy. Bà nói tiếp:

― Danh dự của bổn cô nay tổn thương, nhưng rất may mi chưa có hậu sinh. Phùng Hưng nghe đến đây thân hình như bị bóp ngạt cuống phổi, quả là muốn tắt thở, chết từ từ, cả thân người muốn chết gấp cũng không được. Hoàng Lữ Giao vốn khẩu khí lợi hại, lời nói tức là xuất chiêu. Bà nói tiếp:

― Này kẻ bất nghĩa có vay thì phải có trả, nhưng tiếc thay mi chỉ vay một mà phải trả mười! Mi không cần phải sám hối nữa, hãy lấy “Thiên thu sa” tự giải quyết lập tức đừng để thế gian vướng mắc. Phùng Hưng vừa nghe lời nói này, như bị kiếm pháp họ Hoàng đâm trúng tinh sào. Phùng Hưng sợ quá nước tiểu chảy ra ngoài màu máu!.

Phùng Hưng nhận rõ gia gia không tha thứ và nương tử cũng đã ra tay không thương tiếc! Phùng Hưng từ xưa nay chưa hề gặp phải cây lớn cành to, hôm nay mới thấy rõ mình chưa đủ lông cánh để bay. Toàn thể tham dự trong sảnh đường đồng làm nhân chứng để xử tội Phùng Hưng. Hồi kết thúc của pháp án. Hoàng Phi nét mặt rắn rỏi:

― Phùng Hưng lấy ám khí “Thiên thu sa” ra đi? rồi tự mình thực hiện như đã gieo rắc tang thương cho những người thân thích của mình, đó cũng là cách tạ lỗi người khuất mặt! Phùng Hưng chần chừ không quyết định vì còn ham sống. Hoàng Phi thừa biết lác này Phùng Hưng đã là tính thú, cho nên hết tính người, chàng nghiêm nghị hỏi:

― Sư phụ của mi họ tên gì vậy, sao không học cá tính của sư phụ và của gia gia mi?

― Sư phụ của đệ tử họ Hoàng tên Phi, gia gia là Phùng Nam.

      ―Đúng vậy, mi còn nhớ đến họ tên của tại hạ và gia gia mi à? Nhưng tại hạ lại không có loại đệ tử phản sư, phản tổ quốc. Hôm nay tại hạ xem lời thề năm xưa của mi không còn giá trị nữa! hãy tự kết thúc càng sớm càng tốt, đừng để tại hạ thấy Cần Lĩnh Nam Bắc Tông có một thành viên hèn mạt như mi, giờ này mi đừng ham sống nữa, Phùng Hưng ngày nay là kẻ nhược trí thân hèn, hãy thực hiện nhanh lên:

― Thưa sư phụ, đệ tử không còn ám khi “Thiên thu sa”. Thực tế Phùng Hưng còn ham sống mới có ý định khác thường, ước gì lúc hiểm nguy là lúc sống chỉ cần một viên “Thiên chu sa” cũng đủ khắc chế được Hoàng Phi, có thế mới là ý trời đã định mạng, tiển đưa mi.

― Mi an tâm, ở dưới chân của mi còn một viên “Thiên thu sa” nào mời ra tay đi? Phùng Hưng vừa cúi xuống nhặt “Thiên chu sa” thuận tay xuất quyền phản công nhanh, phóng “Thiên thu sa” thẳng vào Hoàng Phi nhưng không thấy “Thiên chu sa” bay ra, cả sảnh đường ai cũng thấy rõ đệ tử phản sư phụ, đồng nghĩ thầm hôm nay không may cho Hoàng Phi rồi. Hoàng Phi cười lạt:

― Đệ tử hại sư phụ bằng ám khí “Thiên thu sa” à? Tốt lắm mi mở mắt thật to để xem “Thiên thu hồn sa” mà mi đã cầm trên tay, đó là ân huệ tiển chân mi đi vào địa ngục để yết kiến Diêm vương. Phùng Hưng nào có biết “Thiên thu hồn sa” là loại ám khí cao nhất trong học phổ ám khí.

Không ngờ Phùng Hưng vừa nhặt viên ám khí “Thiên thu hốn sa” lên, tự dưng lăn xuống đất sức kiệt mắt hoa, chưa đầy tam khắc, gân cốt tê buốt co lại, trên trán toát mồ hôi, ngũ quan từ từ co rúm, người rút nhỏ dần, cổ họng có tiếng kêu “ăn ắc” dần dần biến thành núm tro tàn màu xám đen.

Phùng Hương ra đi không để lại trong lòng người sống một tiếc thương nào! Trái lại y gây nên thảm họa cho anh hùng Nam Việt phải gánh vác. Việc khởi đầu trừ khử ô hợp trong tổ chức “Cần Lĩnh Nam Bắc Tông” bị khống chế bởi “Ðại Ðồng Công Dụng” do anh em Trần Trung Việt nguyên là giám binh nhà Hán. “Cần Lĩnh Nam Bắc Tông” từ một tổ chức bản lãnh võ học, với sức sống tình tự anh hùng Nam Việt. Nay biến thành tổ chức đầu Việt đuôi cáo Hán. Hoàng Phi hội ý cùng “Cần Lĩnh Nam Bắc Tông” Hoàng Lữ Trinh, phát biểu:

― Thưa sư Tổ, sứ bá, hiền điệt và quí anh hùng Cần Lĩnh Nam tam tông, tất cả đệ tử hiện diện hôm nay gồm có Mạc Thu Tá, Nguyễn Tào Đang, Võ Thu Hồ, đều bị khống chế bởi “Thiên thu sa” cô mẫu Hoàng Lữ Trinh cũng bị nhưng không trầm trọng lắm, chỉ có cô mẫu Hoàng Lữ Giao là chưa bị. Hoàng Phi trầm tĩnh:

― Hiện nay tất cả anh hùng “Cần Lĩnh Nam Bắc Tông” và nhị cô mẫu đã bị “Thiên thu sa” khống chế, mời quí vị đứng lên để tiếp nhận thuốc giải. Hoàng Phi búng ra năm viên “Hạc chu thảo” tất cả trở lại bình thường, tim không còn rối loạn như trước. Chàng búng tiếp lần thứ hai năm viên “Hoàng tiên đơn” thân thể tăng nội lực, chỉ cần vận nội công nơi “đốc mạch” là lưu thông, lúc trước tinh thần suy nhược nay cũng biến mất, thân thể thoải mái lòng phơi phới nhẹ bổng như bay vào mây. Hoàng Phi búng tiếp lần thứ ba năm viên “Hoàng tiên đơn” tạo ra nội lực mới.

Thực tế nhị cô mẫu bị “Thiên thu sa” khống chế nặng nhất, nhưng chống trả được là nhờ Hoàng Phi âm thầm chỉ điểm nội công. Nhân dịp này đề cử Hoàng Lữ Giao lãnh đạo “Cần Lĩnh Nam Bắc Tông”. Hoàng Lữ Giao tuyên bố:

― Mười ngày sau, “Cần Lĩnh Nam Bắc Tông” rủa sạch bóng thù “Ðại Ðồng Công Dụng” Hoàng Phi, phi thân xuống trung tâm sảnh đường hường về ghế thái sư Phùng Nam hành lễ:

― Điệt Phi kỉnh bái tổ phụ, tha lỗi tội ra tay phế Phùng cô trượng, xin tổ phụ tùy tâm xét phạt, còn lệnh “Tru di tam tộc” của Tổ phụ, đó chỉ là kế sách tìm thủ phạm “Thiên thu sa” bây giờ án đã thành, điệt Phi hủy lệnh, xin Tổ phụ an tâm, từ đây về sau điệt Phi không dám phạm thượng đến tổ phụ.

Chính tai Phùng Nam nghe rất rõ những lời vấn an của Hoàng Phi, lòng ông vui mừng nửa mơ nửa tỉnh vì lệnh “Tru di tam tộc” đã chính thức hủy bỏ, ông nghĩ bụng, từ khi nghe Hoàng Phi ra lệnh “Tru di tam tộc” tâm thần lúc nào cũng không yên, ngồi ghế thái sư mà mơ màng nhìn thấy ba họ nội ngoại, con cháu đem ra pháp trường từ từ rơi đầu, trong lòng đã kêu thấu trời, trời không chịu can gián. Được Hoàng Phi ân xá, quả là phúc họa đã qua khỏi. Ông vội hỏi lại cho rõ, cũng là gỡ cổi vướng lòng:

― Điệt Phi hãy lập lại một lần nữa cho Tổ phụ nghe có phải lệnh “Tru di tam tộc” được ân xá không?

― Thưa tổ phụ, điệt nhi đã công bố hủy bỏ lệnh “Tru di tam tộc” xin tổ phụ bình thân. Điệt nhi đã xét sử công minh, cá nhân phạm tội thì chỉ trừng trị một, chứ không “Tru di tam tộc” Phùng Nam khen thầm, quả là Hoàng Phi công minh quán chúng xứng đáng anh hùng văn võ song toàn.

Ông tự lòng an ủi, ít nhất Nam Việt còn người minh mẫn, không bị ngủ mê, người Hán không thể nào xem thường Nam Việt, nay có một Hoàng Phi cũng đủ làm sống đậy tinh thần Bách Việt. Mỗ đã già yếu tận lực sức còn lại để cùng Hoàng Phi xoay cơ chuyển thế, ông nói tiếp:

― Nếu Phi nhi không chê già, thì già này nguyện đem hết tài trí còn lại, không ngại khó, dụng quyền phó vương xoay cơ chuyển thế để Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam trở thành miềng đất tốt cho Bách Việt sau này. Hoang Phi vui mừng:

― Thưa tổ phụ, điệt nhi sẽ cộng lực cùng Phó Vương hành hiệp tận diệt bọn cậy mạnh thắng yếu, dẹp bọn ma đầu làm dân khổ, họ thường viện cớ “Lệnh vua thua lệ làng” họ lạm dụng duy quyền làm khổ dân hại nước, họ nào biết những suy nghĩ xưa đã lỗi thời đại, họ đừng mơ “Khôn thế gian làm quan địa ngục”.

Tổ phụ an tâm tháng sau đích thân điệt nhi trợ khổ phò nguy, dẹp cường hào ác bá hiện còn nhởn nhơ tại Giao Chỉ, có như thế lòng dân mới được sống bình an. Hiện nay điệt nhi đã có danh sách họ tên của bọn này, hẹn tháng sau điệt nhi mời Tổ phụ lược trận. Cả hội trường vỗ tay. Hoàng Phi nói tiếp:

― Ngày mai tại hạ cùng đi với “Cần Lĩnh Nam Bắc Tông” về Trường Sa, xin hứa loạn “Ðại Ðồng Công Dụng” không còn một tên trong danh sách này được sống sót. Một lần nữa cả hội trường vỗ tay tán đồng việc làm của Hoàng Phi. Sư phụ của Hoàng Phi, nói:

― Tại hại xin phép quí anh hùng, nội vụ cuộc án đã thành, vậy tại hạ có một ý riêng mong điệt nữ Hoàng Lữ Giao tha thứ cho Phùng Hưng, tiếp nhận nắm tro này đem về chôn cất, dù sao cũng tình nghĩa vợ chồng bấy lâu, Giao nhi không nên bỏ mặc như “Người ăn ốc, kẻ khác đổ vỏ” có như thế mới gọi là ái nữ Hoàng Hạc. Hoàng Lữ Giao vâng lời:

― Đệ tử xin kính cẩn cuối đầu vâng lời sư Tổ dạy bảo.

― Thế mới gọi là Giao nhi của sư Tổ. Đến đây tại hạ xin tam biệt, chúc quí anh hùng thực hiện những lòng thành như ý. “Hẹn duyên nghìn dặm hóa gần, Vô duyên trước mặt cũng thành xa xôi”. Ba thầy trò phi thân ra cửa, Hoàng Phi xoay đầu lại nói:

― Tại hạ tiễn sư phụ, sư bá một chập nữa sẽ trở lại. Anh hùng Nam Việt đồng nhìn theo chưa đầy nháy mắt thấy cả ba biến dạng vào không gian, nghe tiếng đi qua “rít vù vù” gió xoáy đủ biết thần lực, nội công phi thường. Lúc này toàn thể anh hùng mới tự do thăm viếng lẫn nhau, tất cả anh hùng để ý nhất về võ học sư phụ Hoàng Phi, đến giờ này ai ai cũng chưa thấy tận tường và biết danh tánh người sư phụ ấy là ai, tuy nghe được tiếng nói, nhưng âm ngữ là người của ngoài trần thế, họ ước gì gặp lại lần thứ hai cho toại nguyện. Anh hùng Nam Việt hỏi thăm những thân nhân như Hoàng Lữ Giao, Hoàng Lữ Trinh, Vũ Thư Minh, Chu Thượng Thủy, Chu Hoa Thủy, Chu Trang Thủy về võ học của Hoàng Phi, không ai hiểu nhiều hơn. “Đúng là người tài không lộ tướng, lộ tướng chẳng phải tài”.

Chính hôm nay tổ phụ Hoàng Trung Nhất hiện diện cũng không biết võ học của Hoàng Phi do danh môn nào truyền thụ, dù mọi người yêu thương chàng trai tuấn kiệt, cố tìm hiểu rồi cũng vô ích, vì võ học của Hoàng Phi rất ít tiết lộ ra ngoài, giống như “Thiên cơ bất khả lậu”

Hoàng Phi trở lại, đi trước là Hoàng thượng, Thái tử Hồ vào sảnh đường anh hùng đồng tâu: Muôn tâu, Hoàng thượng, thái tử điện hạ vạn tuế, vạn tuế.

― Quí khanh bình thân, trẫm và triều đình đã quyết định tang sự, thi thể của anh hùng Lê Đạt mãn phục, vinh danh anh hùng từ giờ này, thân nhân của anh hùng Lê Đạt được triều đình bảo dưỡng, phân phát ruộng đất, riêng hạt giống cung cấp ba năm. Còn mọi sự đã qua do hiền thần Hoàng Phi xử lý, quí khanh đã biết rồi, cứ thế mà thực hiện, Trẫm khen quí khanh sáng suốt yêu dân, chứng tỏ anh hùng Nam Việt hơn người Hán trăm lần. Mời quí khanh tiễn đưa anh hùng Lê Đạt lần cuối.

            Cuộc mãn phục anh hùng Lê Đạt kết thúc, mọi người chia nhau về mỗi hướng, tay vẫy chào hẹn ngày sau tái ngộ, Hoàng Phi cùng Cần Lĩnh Nam Bắc Tông đi về hướng Bắc, không khí rộn rịp dần dần tan biến bóng anh hùng, chỉ còn lại Võ-miếu với bóng tùng bách và hai hàng hoa sứ trắng đứng ngó theo.

            Buổi sáng trời ngoài năm canh chưa mở mắt, Động Đình hồ do nữ tướng Hoàng Lữ Giao, Hoàng Lữ Trinh, tam nam tướng Mạc Thu Tá, Nguyễn Tào Đang, Võ Thu Hồ. Ngoài ra còn có Vũ Thư Minh trong Cần Lĩnh Nam Trung Tông cùng tham dự cuộc nghinh chiến, chuẩn bị vây trận đánh “Ðại Ðồng Công Dụng” bỗng từ xa trên mặt hồ có tiếng ngâm nga:

Nam Việt đất rộng anh hào,

Xuất chiêu đao kiếm phục bào gió chen

Sao ta trôi nổi thân hèn,

Phải chăng chí mọn như đèn chưa soi.

            Vũ Thư Minh nghe tiếng ngâm nga gần nhất, phi thân đến tìm xem người có chí khí ấy là ai. Chân vừa đáp xuống đầu thuyền thì thấy một trung niên, tay cầm chèo thuyền nhẹ lướt qua, như không thấy, không cần biết ai đến, trên mặt nước lăn tăn vài gợn sóng dồ. Vũ Thư Minh để lòng bốn câu thơ, ông xin ra mắt:

― Tại hạ họ Vũ tên Thư Minh xin ra mắt các hạ. Có lẽ các hạ sinh sống trên Động Đình hồ này ?:

― Thưa cùng các hạ, tiểu khả họ Đoàn, tên Quán Hậu, nghe đâu sáng nay có trận chiến, trừ gian tế Hán, cho nên tiểu khả mướn thuyền ra giữa hồ để lược trận chiến, cũng là dịp để học hỏi võ học anh hùng Nam Việt. Tiểu khả hy vọng gian tế Hán tử trận càng nhiều càng tốt.

Vũ Thư Minh khen thầm người này dĩ nhiên là hào kiệt có bản lãnh võ học, nhưng không biết tin trận này từ đâu mà họ Đoàn biết, nếu là địch thì lộ hết rồi chăng? vội hỏi:

― Thưa huynh đài, nguyên do nào biết được trận chiến chuẩn bị diễn ra?

― Thưa huynh đài, chiều vừa rồi cũng vô tình thôi, lúc tiểu khả nằm ngủ trên mái chòi tranh, nghe ở dưới bàn luận diệt trừ gian tế Hán tại Động Đình hồ, tiểu khả tò mò ra đây xem trận chiến, cao hứng ngâm nga bốn câu thơ xin tham dự, không ngờ duyên đến lại gặp Trường Sa Vương họ Vũ có mặt ở đây, xem ra xa cách mấy năm mà người vẫn khoẻ, thân pháp cường thịnh như rồng, tại hạ gặp đại huynh lần đầu để lòng chiêm ngưỡng võ học. Quả là một chuyến đi xa gặp nhiều may mắn, được bạn hiền giang hồ thù tạc một tháng, gặp lại ân công năm xưa cho ngủ, cho ăn rồi cho tự do ra về. Vũ Thư Minh nhớ ra:

― À, thì ra Đoàn Quán Hậu là huynh đây, tại hạ nhớ rồi xin độc lại nguyên văn lời nói của hiền huynh “Mỗ ăn trộm của những ông quan tham ô để nuôi dưỡng những người khèo khó, nay mỗ đã bị bắt thì cứ nạp cho quan, riêng số vật ngân kim này chia theo danh sách mà mỗ muốn tặng cho Lạc dân  Trung Thanh”.

―Đúng thế, tiểu khả cũng còn nhớ lời của ân công đáp lại “Bắt nhầm mong đại huynh niệm tình, đại huynh tự do ra đi và hành động theo ý mình, tại hạ không làm khó đại huynh, duyên may có ngày gặp lại” Vũ Thư Minh vui cười:

― Đúng vậy, duyên may huynh đệ gặp gỡ ở đây, nhưng thời gian còn dài, đại huynh theo đệ về chỗ phục binh, đã đến giờ khởi chiến rồi. Hai bóng phi thân về đến điểm phục binh, thì thấy một bóng lạ, Đoàn Quán Hậu cũng ngạc nhiên biết chính là đại huynh Trịnh Bảo, Vũ Thư Minh vội hỏi:

― Ai ? Đoàn Quán Hậu trả lời:

― Thưa, đây là đại huynh của tại hạ, họ Trịnh tên Bảo. Vũ Thư Minh vui mừng:

― Thì ra đây là đại huynh, gia gia của điệt nam Trịnh Trường, tại hạ ngưỡng mộ đại huynh mà chưa có dịp gặp nhau, hôm nay nhờ có Đoàn huynh mới được gặp, rất vui mừng sau trận này tạc thù một ngày nhé ? Đoàn Quán Hậu:

― Tại sao đại huynh lại có mặt ở đây ?

― Hiện thời ở Động Đình hồ này có nhiều anh hùng mất tích lắm, cho nên huynh phải đi theo sau hiền đệ, nếu có việc gì thì tiếp ứng được, khi nào hiền đệ về đến Quê Lâm thì huynh mới an tâm. Đoàn Quán Hậu lòng xúc động:

― Đại huynh, làm như đệ còn nhỏ xíu lắm vậy, hiện thời chỉ một mình hay là có bao nhiều cao thủ cùng đi với đại huynh. À đây là đại huynh Vũ Thư Minh ân công của tiểu đệ, hôm nay gặp lại lần thứ hai. Trịnh Bảo cũng nở rộ tính giang hồ:

― Anh hùng gặp nhau trong cơn khó mới nhớ thương nhau nhiều, tại hạ cũng ngưỡng mộ Vũ huynh lắm. À có hai mươi cao thủ cùng đi theo. Vũ Thư Minh đón tiếp:

― Tại hạ vui mừng cùng lúc kết giao được nhị huynh. Có tiếng Tu hú của Hoàng Phi ra hiệu, “Cần Lĩnh Nam” đột nhập vào trang trại, bao vây bốn mươi hai căn nhà rộng lớn tại bờ Động Đình hồ.

Cánh quân của Vũ Thư Minh từ yếu trở thành lực lượng mạnh nhất đã đóng chốt, khép chặt cửa, có hai mươi hai cao thủ trợ lực theo sự bố trận của Vũ Thư Minh và trao cho mỗi người một viên “Hạc Chu Thảo” dặn dò khi nào trong người khó thở bởi “Thiên thu sa” mới dùng đến. Ông nói tiếp quí huynh đài chú ý khi thấy địch thủ xuất hiện là phóng ám khi này cho thật trúng đích, mục đích lấy yếu cự mạnh, hai bên không tổn thương nhân mạng và giữ được Động Đình hồ không rối loạn.

Đại hạc xuất hiện bay vào trung tâm cột cờ “Cần Lĩnh Nam Bắc Tông” Hoàng Phi từ lưng hạc phi thân xuống đất, nói lớn:

― Mỗ là Hoàng Phi chưởng quản “Cần Lĩnh Nam” có dịp đi qua đây mời toàn thể anh hùng ra trung tâm cột cờ để tiếp nhận huấn lệnh. Có người đã từng gặp Hoàng Phi và cũng có người chỉ nghe danh không biết mặt, nhưng khi nghe truyền lệnh của Hoàng Phi thì ai cũng phải vâng lời, nhất là những anh hùng đang phụ trách Động Đình hồ, trên hai trăm người ra trung tâm cột cờ đứng theo thứ tự.

Một bất ngờ ập đến làm cho gian tế Hán “Ðại Ðồng Công Dụng” huynh náo trở tay không kịp. Toàn chúng Cần Lĩnh Nam lâu ngày không gặp Hoàng Phi, họ xúc động tự động reo mừng. Hoan hô đại thủ lãnh “Cần Lĩnh Nam”. Hoàng Phi chấp hai tay chào toàn chúng. Hoàng Phi biết còn hơn một trăm người không hiện diện. Chàng hỏi tiếp:

            ― Thưa quí huynh đệ, lâu lắm tại hạ mới có dịp qua đây, tại hạ nhớ quí huynh đệ lắm, tuy nay đến thăm viếng nhưng không được ở đây lâu, xin quí huynh đệ niệm tình hải hà cảm thông, hứa dịp sau sẽ chén tạc chén thù tình huynh đệ. Chàng nói tiếp thưa quí huynh đệ nào bị “Ðại Ðồng Công Dụng” khống chế đứng qua bên phải để tại hạ trị cho, toàn thể nghe rất vui mừng, họ rất tin chỉ có Hoàng Phi mới cứu được họ, lâu nay họ muốn chống lại nhưng không được vì bị bọn “Ðại Ðồng Công Dụng” khống chế và sai khiến ngoài ý muốn, sự làm nào cũng trái ngược mục đích “Cần Lĩnh Nam Bắc Tông”

Tiện tay Hoàng Phi xuất một chiêu “Sơn giải huyệt cốt” vào không trung, trên hai trăm viên “Hạc Chu Thảo” rơi xuống “Nê hoàng cung” của mỗi người, thân thể hòa khí đẩy hết chất lạnh ra ngoài, mọi người cảm thấy trở lại bình thường. Hoàng Phi xuất một chiêu nữa ban cho mỗi người một viên “Hoàng linh đơn” công hiệu tức khắc, mạch lục phủ ngũ tạng điều hòa còn tăng nội lực.

Lâu nay Cần Lĩnh binh nghĩ rằng chỉ chờ chết, không tin ngày nay còn có đường sống, từ cái chết nay sống lại, Cần Lĩnh binh reo mừng: Hoan hô đại thủ lãnh “Cần Lĩnh Nam” muôn năm. Hoàng Phi, hỏi:

― Quí huynh đệ thấy cơ thể thế nào ? Họ đồng hô đã chết nay sống lại. Hoan hô đại thủ lãnh “Cần Lĩnh Nam” muôn năm. Hoàng Phi ra lệnh:

― Quí huynh đệ ra tay bao vây toàn trại bắt sống những người còn ẩn mình trong trại, ai đầu hàng thì tha, ai chống lại thì trị, đặc biệt bắt sống tay chân “Ðại Ðồng Công Dụng”.

Lúc này Hoàng Phi điều động bao vây tứ hướng mười phương không để một tên Hán hay những tên thừa đục ăn có nào vượt khỏi trại, trong trại có bốn mươi hai căn nhà rộng lớn không còn khả năng liên lạc với nhau.

Hơn hai trăm người Cân Lĩnh binh được chia cho năm cao thủ Hoàng Lữ Giao, Hoàng Lữ Trinh, Mạc Thu Tá, Nguyễn Tào Đang, Võ Thu Hồ.

Riêng Vũ Thư Minh cùng hai người bạn trấn thủ ba cửa chính ra vào. Hoàng Lữ  Giao cho biết Trần Trung Việt và Trần Trung Hạnh cũng đang có mặt trong trang trại, đúng là chúng tự dưng đem đầu đến nộp mạng. Hoàng Lữ Giao, bảo Hoàng Phi:

― Hài nhi vào sảnh đường trước để lấy xác hai thằng Trần Trung Việt và Trần Trung Hạnh rồi tiến vào các căn nhà khác.

― Dạ. Hoàng Phi xuất liền hai thức một chiêu “Đăng thiên hầu” trong “Đăng Thiên Lĩnh Nam” vào sảnh đường “bùng bùng” tiếng phát ra “tạch tạch” liên hồi, bóc hết nóc nhà của sảnh đường, thấy có hai người thân thể tung lên ôm cây kèo nhà không rời tay. Thì ra hai người này núp trên nóc nhà chờ địch thủ vào hạ thủ, không ngờ “Đăng thiên hầu” bốc cả nóc nhà lẫn người tung lên không trung, cây kèo nhà chưa rơi xuống đất Hoàng Phi sử dụng nhẹ một quyền “Chấp quyền công” trong “Công Quyền Lĩnh Nam” đẩy cây kèo dài tròn “xẹt xẹt” cả hai người lại tung cao sáu mươi thước, hai đầu kèo nặng nhẹ không cân bằng cả hai mất bình tĩnh, đè lên nhau bốn tay tuột ra khỏi cây kèo rơi xuống đất.

Hoàng phi chọn một trong hai người cho sống để tra xét, chàng xuất luôn một chiêu vào huyệt “Đại thủy” trong “Huyệt Pháp Lĩnh Nam” thế là địch thủ nằm lăn ra thoi thóp, mới biết y tên Trần Trung Hạnh, còn Trần Trung Việt rơi xuống đất thân xác như bãi phân bò.

Hoàng Phi gọi ba lần không thấy đồng đảng của “Đại Đồng Công Dụng” ra đầu thú. Chàng phi thân lên nóc nhà thấy còn mười người ẩn mình nơi kín đáo để thủ. Hoàng Phi xuất một chiêu đánh sập hai cánh cửa bật gãy thành nhiều mảnh, gọi tiếp:

― Tại hạ đã mở cửa rồi, xin mời quí anh hùng ra trước sân sảnh đường để tại hạ yết kiến, nếu không ra thì đừng trách! mười cao thủ vẫn quyết định không ra. Hoàng Phi xuất chiêu “Tháp quyền công” trong “Công Quyền Lĩnh Nam” đánh bạt bốn vách tường “ầm ầm” cát bụi tung bay rơi “rào rào” mười người lộ nguyên hình không còn nơi nào kín đáo để thủ, xuất luôn một chiêu năm huyệt phân phát cho mười người vào huyệt “Trung đỉnh” ở phía dưới “Đơn trung” huyệt “Khuyết bồn” “Thiên khu” ở bụng dưới và huyệt “Vân đài” hơi nách dưới, tất cả lăn ra như mười đống thịt sống. Các căn nhà khác anh hùng “Cần Lĩnh Nam Bắc Tông” cũng đã làm sạch chiến trường chiếm lĩnh toàn bộ trang trại, có hai mươi tên trung kiên dưới sự kiềm chế của Phùng Hưng cố chấp phải bị tử thương, thành phần còn lại chịu hối cải, được Hoàng Phi giải độc, xem lại mười tên ở trong sảnh đường chính là gian tế người Hán, riêng Trần Trung Hạnh thì ai cũng biết hành vi của y. Cần Lĩnh Nam đau khổ quá nhiều do bọn “Ðại Ðồng Công Dụng” gây ra, không còn tha thứ được nữa nên cuối cùng lấy quyết định cho mười một tên Hán gian đưa đi mò tôm Dương Tử giang, tịch thu toàn bộ đoàn thuyền của Trần Trung Hạnh, lấy lương thực trên thuyền phân phát cho dân.

            Khí phách anh hùng gặp nhau, tâm giao ý hợp tự nhiên thành. Trong mắt Trịnh Bảo thấy trước sảnh đường, có một thanh niên khí cốt phi thường như quen từ lâu, đã gặp rồi, vào lúc nào không biết, ở đâu, cũng thân pháp này trong giới giang hồ không biết có mấy người, đã thấy qua rồi biến mất! Trịnh Bảo hỏi Đoàn Quán Hậu:

― Hiền đệ có quen người thanh niên này không?

― Hình như có gặp một lần, đã lâu lắm tại doanh trại của đại huynh Vũ Thư Minh thì phải, khi ấy ngu đệ cũng nghĩ thầm đây là một thiếu niên khí khái có nội gia tuyệt học hơn người, hôm nay chính là thanh niên này không sai, nhưng võ nghiệp chiêu số ngu đệ chưa hề thấy qua bao giờ, trong trận này hình như người thanh niên này chỉ huy, còn bao anh hùng khác tấn công vào những căn nhà trong trại, bỗng Đoàn Quán Hậu la lớn:

― Các hạ là ai dám ra cửa này? người lạ mặt không nói xuất kiếm đánh tới hơn năm mươi chiêu không phân thắng bại, vừa lúc Trịnh Bảo và Vũ Thư Minh bao vây ba mặt cửa, người lạ mặt thấy không hạ thủ được đối phương đành liều mạng, xuất chiêu một còn hai mất, Đoàn Quán Hậu bị trọng thương, Vũ Thư Minh phi thân vào xuất bảy mươi hai chiêu số “Tuyệt Cao Kỳ Kiếm” và nội công tuyệt kỷ lấy được thủ cấp người lạ mặt, hỏi ra mới biết cao thủ người Hán họ Tăng tên Hạ, chính là tên chủ Phụng Cát Lầu. Đoàn Quán Hậu bị trọng thương choáng váng mất nhiều máu, từ xa Hoàng Phi búng đến một viên thuốc “Hoàng linh đơn” Đoàn Quán Hậu tỉnh lại, Hoàng Phi cứu người không cần hỏi họ tên:

― Thưa thúc thúc ngồi xuống đất xếp bằng tròn theo quy nguyên thổ nạo tọa công tam khắc, Hoàng Phi búng “Hoàng đơn hổ” thân thể trở lại bình thường, vết thương khô máu trở lại. Trang trại “Cần Lĩnh Nam Bắc Tông” sinh hoạt trở lại ngôi chủ cũ .

             “Cần Lĩnh Nam Bắc Tông” kết nạp Đoàn Quán Hậu, ông từ chối, cuối cùng huynh đệ giải thích tinh thần nghĩa hiệp, trong lúc này là dịp để thử thách hiệp khách nhập thế, ông thấy tình đời hữu lý chấp nhận, ông nhận trách nhiệm làm trại chủ. Kết nghĩa huynh đệ với Vũ Thư Minh.

Bây giờ Trịnh Bảo mới nhớ ra Hoàng Phi vừa là đại huynh, vừa là sư phụ của Trịnh Trường, Lý Bình Trung, ông xúc động nước mắt chảy như mưa, ông quỳ xuống bái. Hoàng Phi trở bộ pháp đứng sau lưng, ông không nghĩ Hoàng Phi với bộ pháp phi thường, tránh né được một cách tài tình như vậy, ông tự nhủ thế thì ta bái trời đất chứng lòng Trịnh Trường, Lý Bình Trung có một đại huynh khả kính, ông vui mừng:

― Tại hạ thay mặt cho Trịnh Trường, Lý Bình Trung đa tạ người anh hùng khả kính, đã đào tạo cho hai trẻ của tại hạ nên người hữu dụng có công với thế nhân, dù mai này tại hạ có mai một cũng thấy đời hạnh phúc. Hoàng Phi rất ngạc nhiên thưa rằng:

― Thưa thúc thúc, đứng dậy đi đừng làm như vậy Phi nhi có tội với bề trên, tất cả đều là bà con, đều là huynh đệ, đều là dân một nước gặp nhau thời khó mọi người đồng có nhiệm vụ trợ nhau, đã làm người lấy tình thương sống thực đó là cái ơn lớn nhất đối với tôn tộc Bách Việt, mà Phi nhi, Trịnh Trường, Lý Bình Trung hằng đeo đuổi. Trịnh Bảo khi nghe những lời của tuổi trẻ trong ấy có con mình thì lòng ông vui sống:

― Quả là tại hạ hạnh phúc hơn người, không ai sánh bằng, nghe thiếu hiệp nói lên những lời cao quí này, thì nhớ đến thời đại của tại hạ từng mơ ước nhưng không thực hiện được, tuổi trẻ ngày nay có khác hơn người đi trước trăm lần lý tưởng. Quả là mai hậu tôn tộc Bách Việt tồn vong là do thế hệ hôm nay kế thừa, tại hạ hãnh diện vô cùng.

Cuộc chiến nội bộ Cần Lĩnh Nam Bắc Tông kết thúc như ý, đến lúc anh hùng giang hồ phải tạm biệt chia tay, chúc nhau mãi mãi tình sâu. Con hạc đem tin cho Hoàng Phi, chàng thoáng thấy đã biết chiếu chỉ của Vũ Đế triệu về núi Việt Tú. Hoàng Phi chào toàn thể anh hùng hẹn tái ngộ, chàng phi thân lên lưng hạc bay về hướng Nam.

            ― Muôn tâu Hoàng thượng bệ hạ, hạ thần thần tuân chỉ.

― Trẫm ban ân, khanh bình thân, này diệt Phi năm nay đã lớn không nhiều rồi, thân hình tuấn tú lắm, điệt Phi trôi nổi như Tổ phụ đã nhiều rồi! vậy nay điệt Phi đã có nghĩ gì về gia thất chưa?

― Muôn tâu Bệ hạ, nếu sau này thần nhi sống cho đời riêng tư thì sẽ không còn thời gian để báo hiếu gia gia, mẫu thân, thần nhi không muốn dành đời mình cho riêng một người, cuộc đời của thần nhi chỉ chia xẻ cho tất cả tình nghĩa huynh đệ, thầy trò, tha nhân, nhất là phụng sự Nam Việt, cũng như tôn tộc Bách Việt nói chung.

Thần nhi biết Bệ hạ lo tương lai cho thần nhi, đây là một ân sủng mà Bệ hạ trọng hậu cho thần nhi. Vũ Đế thấy cũng lạ làm người thì phải có gia thất, khi ấy việc công việc tư đồng hành đâu có gì trở ngại, thế tại sao Hoàng Phi không chú ý lập gia đình. Vũ Đế hỏi:

― Trẫm chưa hiểu ý lòng của điệ Phi.

― Muôn tâu Bệ hạ, thần nhi có được võ học ngày nay là nhờ sư phụ vô minh truyền thụ, khi đã hiểu được lý sống vì tha nhân thì mới thấy được hạnh phúc, nhất là võ học phải biết khẩn định phụng sự cho ai, như vậy không còn tha thiết cho cái riêng của mình. Tự tại thần nhi thụ hưởng hạnh phúc vô tận. Sư phụ vô minh của thần nhi cũng không lập gia thất, nhưng người lại có một sức sống hạnh phúc vô lượng, đó là người dâng hiến cho Nam Việt một kho tàng võ học, binh pháp, ngũ kim.

Thực ra ý của Vũ Đế muốn gả công chúa Hương Trí Túc cho Hoàng Phi, công chúa này nguyên là con út của Thái tử Hồ hiếu thảo, rất thông minh, cốt chất bản lĩnh. Vũ Đế nghe Hoàng Phi trình bày lòng ông cũng hoan hỷ. Nói về võ học của công chúa Hương Trí Túc, do Lữ Gia truyền thụ, chỉ năm tháng kiếm pháp, nội ngoại công có thể nói chín mười với Lữ Gia, có hôm công chúa Hương Tri Túc hỏi về sư phụ của Lữ Gia:

― Thưa tướng quân, võ học của ngài như thế này thì ắt võ học của sư tổ cao thâm, vậy thần nhi muốn gặp người để bái sư được không ? Lữ Gia không biết phải trả lời làm sao, đành phải thưa thật là hơn:

― Thưa công chúa, lẽ dĩ nhiêu sư phụ của thần võ học hơn thần, võ học của người không một đệ tử nào học hết được, còn đi tìm sư phụ thì rất khó, sư phụ không ở một nơi nhất định, hai nữa sư phụ không một ai gặp được, vốn tíng Người hiền hòa, lịch thiệp, hoạt bát, nhân đức, vui tính không biết buồn là gì, chưa hề từ chối lời yêu cầu của người gặp khó khăn, Người không màng cao quí trong xã hội, nhất là vốn tính quang minh chính đại, còn về bản lĩnh thì không biết đâu mà đo lường.

― Sư phụ của ngài không một ai gặp được tức là Người khó tính rồi ?

― Người không phải khó tính, ngay đến giới giang hồ đi tìm Người cũng không biết ở đâu và không biết người là ai nữa, tìm khó là ở chỗ đó.

― Hồi nãy tướng quân nói sư phụ có bản lĩnh, thì tại sao lại không xuất hiện với đời, hay là sư phụ trẻ ấy có một thân thể không giống ai. Lữ Gia không hài lòng câu nói cuối của công chúa, ông nói:

― Người thường xuất hiện vì xã tắc, chứ không xuất hiện để ngao du hay thách đố võ học với mọi người. Công chúa nói rất đúng thân thể sư phụ không được tốt lắm. Hương Trí Túc không có ý chê bai Hoàng Phi vì ít nhất đã nghe Hoàng Tổ (Vũ Đế) tả dung mạo rồi, nhưng muốn khích động Lữ Gia, để ông trả lời sự thật về Hoàng Phi.

― Phải có nguyên nhân chứ và lý do nào đó mới tìm không được, sư phụ là phàm tục mà sao tìm không được ?

― Thưa công chúa đúng vậy, sư phụ là phàm tục, tìm không được là vì sư phụ dụng phi thân để di chuyển, lấy đêm làm ngày lấy ngày làm đêm, người đời tưởng rằng sư phụ là người tóc bạc như tiên nhân, nhưng trái lại sư phụ chỉ mới tuổi thành niên, cơ cốt tuấn tú có đến chín tướng tốt khó ai sánh bằng. Theo thần biết sư phụ thường về triều yết kiến Hoàng thượng và Thái tử, hình như sư phụ đang yết kiến với Hoàng thượng.

― Đa tạ ngài, bổn cô sẽ đi tìm sư phụ của ngài để xem thế nào, đa tạ một lần nữa nhé ?

Hương Trí Túc tìm cả Hoàng cung không thấy, hỏi ra Hoàng Phi chỉ gặp Hoàng Thượng cùng gia gia (Thái tử Hồ) Hoàng thượng cho biết sư phụ của Lữ Gia trên núi Việt Tú. Hương Trí Túc, thưa:

― Thưa gia gia, sư phụ của Lữ Gia là người như thế nào ? Thái tử Hồ cho biết Hoàng Thượng muốn gả công chúa cho Hoàng Phi, nhưng Hoàng Phi là người thông minh từ chối rất có tình lý, cũng có thể lời nói của Hoàng Phi là sự thực! Thái tử Hồ thở dài:

― Túc nhi, hỏi để làm gì vậy?

― Thưa gia gia, Túc nhi nữ chỉ muốn võ học hơn người mới tìm sư phụ của Lữ Gia, ngoài ra không có ý gì khác cả. Ông nghe con gái út mình nói như vậy, ý đó cũng hay:

― Túc nhi, muốn đi tìm ông sư phụ này không phải muốn mà được, tuy rằng Túc nhi có y tốt, nhưng gặp người phải do duyên mới được, vì theo gia gia biết tất cả đệ tử gặp người thường ở vào trường hợp khổ đau, hoạn nạn cơ cực, bần cùng trong đời sống, gia đình ly tán đơn độc, nếu Túc nhi ở trong cuộc đời ấy không tìm cũng gặp, còn ngoài ra thì không hy vọng gặp được, vậy Túc nhi chỉ cần tướng quân Lữ Gia truyền cho Túc nhi hết võ học là tự xem đệ tử của sư tổ rồi. Hương Trí Túc không hài lòng lối giải thích này:

― Thưa gia gia, nếu hài nhi lên núi Việt Tú có gặp được không? gia gia chỉ hài nhi đi cách nào cho nhanh nhất.

― Túc nhi không nên đi, muốn đến đó phải có chiếu chỉ của Hoàng Thượng, hai nữa ở đó là Hành cung. Hương Trí Túc nghĩ thầm lần đâu tiên mới nghe gia gia nói Hành cung trên núi Việt Tú, nàng tưởng nơi này là biệt điện đẹp lắm, hỏi:

― Thưa gia gia, Hành cung cũng là một biệt điện có lẽ đẹp lắm phải không gia gia ?

― Hành cung là nơi nghỉ dưỡng trí, nơi đó chỉ có một mái nhà tranh vách đất, đơn sơ giống như một nhà Lạc Việt, không có người hầu người hạ, tuy núi Việt Tú nhỏ nhưng Túc nhi không tìm được Hoàng Thượng, như vậy Túc nhi đi vô ích, thôi khi nào có dịp Túc nhi xin đi thăm Hành cung, có lẽ Hoàng Thượng không từ chối đâu.

Nói về Vũ Đế và Hoàng Phi trên núi Việt Tú, Vũ Đế hỏi:

― Từ ngày Quốc sư qua đời, Trẫm buồn nhiều hơn vui, nay muốn đi thăm sư phụ của điệt nhi, nhân thay mặt Tổ phụ đa tạ sư phụ vậy ý của điệt nhi thế nào? Một câu hỏi Hoàng Phi khó trả lời, tự thầm, thôi thì mình sống thực không có gì gọi là dối cả, mình cũng đã từng tạo ra buổi đầu Tổ phụ sống trong động Lạc Việt thì nay Hoàng Thương cũng thế thôi:

― Muôn tâu Bệ hạ, ắt Hoàng Thượng đã từng nghe Tổ phụ nói về lai lịch của sư phụ.

― Trẫm đã nghe qua, rất khó gặp được người, nhưng đến nơi trẫm thi lễ tạ ơn cũng đủ lòng thành, đó là gặp người rồi vậy, điệ nhi an tâm, trước khi trẫm lên ngôi Cửu Trùng cũng xuất xứ từ Lạc dân kia mà. Hoàng phi cúi đầu vâng lời:

― Muôn tâu Bệ hạ, lúc nào Bệ hạ muốn thì khởi hành ?

― Trẫm cùng điệt nhi về Hoàng cung gặp Muội Hồ rồi đi liền. Vũ Đế về đến Hoàng cùng trao đổi nội ngoại triều với Thái tử Hồ, rồi phi thân lên lưng đại hạc cùng Hoàng Phi bay vào mây biến mất. Công chúa Hương Trí Túc thấy Hoàng Thượng như ông tiên, mới hiện rồi biết mất, còn sư phụ của Lữ Gia không thấy đâu cả chỉ thấy trên trời có bóng người. Hương Trí Túc, hỏi:

― Thưa gia gia, Hoàng Tổ đi đâu vậy? Sao lâu nay hài nhi không thấy Hoàng Tổ cưỡi hạc bỗng nay lại thấy và người cùng đi với Hoàng Tổ là ai vậy?

― Hoàng Tổ của Túc nhi đi thăm một người bạn, cưỡi hạc thì thỉnh thoảng thôi, khi nào sư phụ của Lữ Gia đến mới có dịp cưỡi hạc, chính gia gia cũng đã được hai lần bay trên mây, người sư phụ này rất trẻ chỉ hơn Túc nhi bốn tuổi thôi. Hương Trí Túc ngạc nhiên, hỏi:

― Thưa gia gia, sư phụ của Lữ Gia trẻ như vậy à? hài nhi không tin đâu!

― Bởi vậy, Túc nhi làm sao mà tin được, nhưng gia gia đã chứng kiến võ học của thiếu hiệp họ Hoàng rồi, hành động của thiếu hiệp rất trong sáng, đất nước Nam Việt được thịnh vượng như ngày nay cũng có bàn tay thiếu hiệp cộng lực vào, nói chung thiếu hiệp là một thiên tài văn võ song toàn. Hương Trí Túc thắc mắc hỏi tiếp:

― Thưa gia gia, vậy người thiếu hiệp có những điểm gì đặc biệt và có tham vọng gì không?

― Túc nhi hỏi như vậy cũng phải, thiếu hiệp này căn cốt phi thường, tính hòa nhã, vui vẻ, độ lượng, cứu nhơn độ đời. Không tham vọng gì cả, chỉ duy đức mà thôi, người thiếu hiệp thông minh xuất chúng, không kiêu căng, không khoe khoang tài năng, ít ai biết thiếu hiệp có võ học quán chúng, bởi tính rất nhún nhường. Nhưng kẻ nào phản bội Nam Việt có chứng án phân minh tứ thì kẻ đó bị trảm, dù kẻ đó là ai cũng trảm không tha thứ. Từ lúc gia gia biết thiếu hiệp đã chứng kiến ba lần xử án, lần thứ nhất trừ bọn mãi quốc Lê Vĩnh. Lần thứ nhì xử án thúc phụ Hoàng Cương trưởng tộc họ Hoàng, người này chính gia gia kết nghĩa huynh đệ. Lần thứ ba gần đây là Phùng Hưng danh túc của thiếu hiệp, nguyên là đệ nhất anh hùng Cần Lĩnh Nam, trên giang hồ nghe tiếng Phùng Hưng là phải kính trọng. Nói chung những tội nhân vừa rồi không tha thứ được, án lý xử họ rất minh bạch về tội mãi quốc cầu danh, rước voi về giày mả tổ. Hương Trí Túc đôi lời dí dỏm:

― Thưa gia gia, như vậy người thiếu hiệp này sẽ có ngày đem phu nhân ra pháp trường, hài nhi rất ái mộ ông sư phụ trẻ này, hài nhi sẽ tìm được rồi kết nghĩa huynh muội.

― Túc nhi, đừng hy vọng, cũng đừng đi tìm, nếu hài nhi đi tìm sẽ thất vọng rồi vô tình kết oán với Hoàng Phi, gia gia đã nói Hoàng Phi rất đa tình và lãng mạn đời sống vì tha nhân chứ không phải vì một cá nhân nhi nữ. Ông nghĩ thầm, đúng là “Nữ thập tam, nam thập lục” mù không sợ kiếm.

― Thưa gia gia, cho phép hài nhi đi tìm Hoàng Phi trong một năm, nếu gặp tại hoàng cung càng tốt, bằng gặp ở đâu cũng được mục đích thỏa chí sự muốn biết của nữ nhi, tìm người mà giang hồ khó gặp mới là lý thú, nữ nhi hành động có thế nào cũng không ân hận, xin gia gia an tâm, nữ nhi cũng không trách ai, tạm biệt gia gia nữ nhi đi luyện võ.

Hương Trí Túc biết rất rõ Lữ Gia và Hoàng Quốc Kỳ là đệ tử của Hoàng Phi, đây cũng là tâm chí giúp nàng quyết định luyện tập võ học, bộ pháp, quyền pháp, kiếm pháp họ Hoàng, nàng thụ hưởng hết tinh túy võ học tự xem là đệ tử của Hoàng Phi, đặc biệt trong kiếm pháp họ Hoàng còn dạy cho nàng tâm bình khí hòa, nàng tỷ đấu ngang tay, tuy nhiên nội ngoại công còn kém hơn Lữ Gia và Hoàng Quốc Kỳ, nhưng đối với giới giang hồ không phải là người hèn kém.

Nàng rất thông minh sử dụng bẽm miệng bẽm mép lấy lòng được Lữ Gia, Hoàng Quốc Kỳ, mục đích nàng tìm tung tích và qui luật sống của Hoàng Phi. Lữ Gia và Hoàng Quốc Kỳ thừa hiểu cô công chúa thông minh này.

Nàng thông thạo qui luật gia đình của Hoàng Phi, “Cần Lĩnh Nam Tam Tông” cả đất tổ của Hoàng Phi ở Quế Lâm cũng như một số huynh đệ kết nghĩa với Hoàng Phi, nàng nghĩ rằng ở trong Hoàng thành này một năm cũng tìm được Hoàng Phi với cái vốn võ học đã có.

Về Vũ Đế lần đầu tiên thấy núi La Phù có tất cả bốn trăm ba mươi hai ngọn rất hùng vĩ, tuy chưa đến động Lạc Việt nhưng trong lòng ông đã xôn xao vui mừng. Vũ Đế hỏi:

― Điệt nhi xem thử trẫm có thể chọn một ngọn núi nào ở La Phù làm Hành cung được không?

― Muôn tâu Bệ hạ dãy La Phù chỉ dụng cho trận chiến, nếu Phiên Ngung thành thất thủ rút binh mã về đây cố thủ sau đó mới hồi thành. Còn tại núi Việt Tú tuy nhỏ nhưng là địa thế rồng đến ngự rồi đi, an toàn về mặt long thể, chỉ cần bỏ túc đồ trận “Nhất nhị tam phân thác địa” thay vào đó “Cửu hoàng tỉ tổ” đồ trận này muôn thu không ai khám phá ra được, ở đó thích hợp nhất để Hoàng Thượng lập Hành cung.

― Hay lắm, ở đó cũng là nơi để điệt nhi đến yết kiến trẫm, quả là ở đó vốn yên tĩnh. Hạc bay gần đến động Lạc Việt, Hoàng Phi ra hiệu hạc đáp xuống đất, chàng tâu:

― Muôn tâu Bệ hạ, kính mời bệ hạ xuống hạc, năm con hạc bay vào không gian, Vũ Đế và Hoàng Phi đứng trong rừng vắng vẻ. Hoàng Phi, tâu:

― Muôn tâu Bệ hạ cưỡi trên lưng thần nhi, Vũ Đế làm theo, Hoàng Phi búng thân phi thân vào mây. Vũ Đế nghĩ thầm, trên lưng Phi nhi với một sức nặng như vầy mà vẫn phóng lên cao phơi phới với tốc độ gió “vù vù” vào không trung quả là một kỳ tài, đây không phải phi thân cho nên Vũ Đế cảm thấy lo, tay ôm thật chắc vào thân Hoàng Phi, chính mắt thấy bích núi đứng thẳng ngất trời cao vút, bốn phương mây xám bao phủ, hơi nước trong núi toả ra tạo thành nhiều lớp sương mù như ban đêm sa xuống đất, bích đá sương đọng thành tuyết, gió thổi từng chuỗi đập vào đá lâu ngày trắng như muối, hai bên tai của Vũ Đế với gió thổi lạnh hơn cưỡi hạc, tiếng gió cứ mãi hú vang sau đôi chân, nếu không nhằm đây là pháo thăng thiên bay đến độ nào rồi phải nổ rơi xác hồng xuống đất, cũng đủ chứng thực võ học thượng thừa của Hoàng Phi.

Vũ Đế còn nhớ cách đây mấy năm đã chứng kiến Hoàng Phi cõng quân thần phi thân lên đỉnh Điện Thái Hòa cao mấy chục thước là đã thấy phi phàm rồi, lần này được chứng thực cao thâm ngàn lần trước, tiếng gió càng “vù vù” càng bay lên mạnh. Vũ Đế võ học cũng không phải tầm thường mà nghe tiếng gió cũng phải để lòng lo sợ, Vũ Đế phi thân cũng không phải là tệ, ngay cả Quốc sư Hoàng Hạc cũng phải kém đến nhị thức, nếu bảo Vũ Đế này tự phi thân lên núi đá đứng thẳng thì làm sao được! Đối với Hoàng Phi đây là trò chơi mỗi ngày.

Một lây mình nhẹ đã đáp xuống vào cửa Đông động, lần này Vũ Đế mới thấy Hoàng Phi không khác nào người đại Hạc, vào đến cửa động, Vũ Đế mới thật an tâm, trên da mặt trở lại hồng hào. Lần đầu tiên Nam Việt Vũ Đế xuống Giang Nam mà không ai biết, chính Thái Tử Hồ chỉ biết đi với Hoàng Phi trong Nam Hải nào ngờ xa như vậy. Vào động trời đã tối, Hoàng Phi tâu:

― Muôn tâu, long thể của Bệ hạ nếu có thay đổi cho thần nhi biết, tại sảnh đường này là ngự phòng, đời sống cực khổ xin Bệ hạ tha thứ thần nhi. Tam khắc thần nhi trở lại.

― Tốt lắm long thể của trẫm bình thường, à điệt nhi cứ từ từ còn sớm mà. Hoàng Phi vào kho tàng đem ra những vật dụng trải trên phản gỗ lim thay thế Long sàng, có cả long bào, long cổn, vương miện, long hài, nhiều vật dụng để Vũ Đế dùng qua đêm. Hoàng Phi không biết thứ gì Vua dùng được, cứ thấy đẹp là ôm xuống sảnh đường:

― Muôn tâu Bệ hạ, những thứ này chỉ dùng qua đêm nay rồi sáng mai thần nhi tìm những thứ như ý bệ hạ. Vũ Đế thấy những vật này đã như nằm mơ trong mộng, vì tấm vải trải trên phản gỗ lim rất đặc biệt làm bằng tơ mướt mịn mười hai lớp màu vàng, khi trải thẳng thớm nó tự phồng lên, có cả gối đầu.

Long cổn mỏng nhẹ màu vàng, thêu nổi tứ quí như long, lân, qui, phụng màu vàng đậm rất là lộng lẫy, có đính kim cương ngọc bích vào bốn chéo Long cổn, còn long bào bằng tơ nhẹ thêu rồng màu vàng, xanh, đỏ, trắng đính kim cương ngọc phỉ, vương niệm vàng đính kim cương ngọc thiên thanh hình rồng, long hài cũng màu vàng đính kim ngọc thúy. Vũ Đế mới thấy vài thứ này thôi như một kho tàng hiện ra trước mặt, chưa bao giờ thấy qua.

Vũ Đế vào mộng sống phúc lạc ở cõi tiên, nơi này có vạn loài hoa, người nào cũng ăn mặc áo quần tươm lắm, Vũ Đế còn hưởng được đào tiên. Đến sáng Vũ Đế mới thức dậy, không khí trong lành, ra sảnh đường thấy một bồn nước bằng thúy ngọc, kệ khăn lau long nhan bằng vàng, trên bàn hướng phải đã có một bộ kỷ trà chung thanh ngọc, bình trà đang bốc khói từ xa mà đã phảng phất mùi thơm rất dịu, một khay khác cũng bằng thanh ngọc rất mỏng tanh, chén bằng thúy ngọc, trên khay áng chừng mươi bánh bao thịt và bánh bao chỉ nóng hổi, đũa bằng bạch ngọc, bát đĩa mỏng như vỏ trứng gà, buổi điểm tâm hôm nay thịnh soạn như vầy quả là hơn cả Hoàng đế Trung nguyên cũng chưa bằng.

Hoàng Phi ngồi bàn bên này rèm hạt châu, cũng ăn bánh bao, nhưng vật dụng chén bát bình thường như Lạc dân, Hoàng Phi vừa ăn lại nhớ ngày trước tiếp Tiên Tổ cũng trong hình ảnh này, tự nhiên nước mắt rơi lệ. Vũ Đế, tình chờ nhìn qua bàn thấy:

― Điệt nhi, có tâm sự gì mà phải rơi lệ vậy?

― Muôn tâu Bệ hạ, Phi nhi nhớ Tiên tổ, là ngày đầu tiên Tiên tổ vào động này cũng ngỡ ngàng như Bệ hạ vậy, chính hình ảnh này làm điệt nhi nhớ thưởng về chân dung Tiên tổ.

― Thì ra là thế, thôi trẫm làm Tiên tổ của điệt nhi đừng khóc nữa. Hoàng Phi hết khóc trong lòng vui cười nụ:

― Muôn tâu Bệ hạ, Hoàng thượng với Tiên tổ nhị mệnh khác nhau, nhưng gặp nhau trên một điểm vương đạo, làm tôi thần điệt Phi nguôi được lòng nhớ thương Tiên tổ. Vũ Đế nghĩ thầm, Hoàng Phi này ngoài võ học còn thông thái kinh thư, như vậy trẫm mượn việc tìm hiểu cai trị U Việt của Hoàng đế Câu Tiễn đối với cai trị Nam Việt ngày nay:

― Điệt nhi, quả nhân muốn biết kiến thức của điệt nhi luận về trị quốc vào thời U Việt thế nào?

― Muôn tâu Bệ hạ, điệt nhi khi còn ở Giang Tô có độc qua bộ kinh thư “Tâm Thông Trí Đức Dũng” của Hoàng đế Câu Tiễn.

― Tốt lắm, quả nhân nói về tổ tiên Bách Việt, Hoàng nhi nhớ rằng nước U Việt trong tôn tộc Bách Việt ở xứ Triết Giang ngày nay, do Hoàng đế Câu Tiễn cai trị, Người đã có chính sách làm rạng rỡ nước U Việt, đó là nguyên nhân ngày nay cần phải học hỏi kinh nghiệm của người xưa, như “Cửu Sách Câu Tiễn”.

Thứ nhất tôn thờ Trời như Cha, Đất như Mẹ, trước kính thần linh như anh hùng Bách Việt, sau vinh danh anh hùng U Việt, xem đây là văn hiến của tôn tộc Bách Việt, nung nấu cái tâm tất thắng, chỉ đạo ý chí tập hợp Bách Việt.

Thứ hai dùng vàng bạc, vật chất trân bảo cống tặng nhà Ngô, mục đích cho nhà Ngô quen thói xa xỉ, nhằm để quên việc đề phòng nước U Việt.

Thứ ba U Việt đi qua nước Ngô vay lương thực, để cho nhà Ngô thấy U Việt nghèo và khổ sở. Giao ước trả lương thực bằng lúa giống tốt, đến ngày trả đem lúa giống nấu gần chín. Ngô vương thấy lúa tốt nên phát cho dân làm giống, khi gieo trồng lúa chỉ nảy mầm khiến dân Ngô bị đói mấy năm liền.

Thứ tư đem hai mỹ nữ, Tây Thi và Trịnh Đán dâng lên cho Ngô Phù Sai, vua nhà Ngô vốn luyến ái nữ sắc, không còn thời gian lo việc nước và triều chính.

Thứ năm cống những người khéo tay khắc, chạm, nhằm khiến cho Ngô vương thích thú vào việc xây cất cung điện, lâu đài thế là kho tàng trống rỗng.

Thứ sáu hối lộ cho bọn gian thần, ô lại quân quan tham lam tay chân của Ngô vương để họ làm bại hoại triều chính.

Thứ bảy tìm mọi phương thức ly gián Ngô Phù Sai với các trung thần, nhắm đến Ngô Phù Sai ép Ngũ Tử Tư tự sát.

Thứ tám tích sản súc vật, lương thảo, ngũ kim làm cho dân giàu nước mạnh, lập kho đụn cứu tế.

Thứ chín rèn đúc võ khí, huấn luyện binh sĩ tốt, chờ cơ hội đánh nước Ngô.

Nam Việt Vũ Đế ngồi yên lặng một lúc, rồi nói tiếp. Đó là Cửu Sách ngày xưa của Hoàng đế Câu Tiễn đã thực hiện được, còn việc ngày nay điệt Phi thấy thế nào?

― Muôn tâu Bệ hạ, lịch sử ngày xưa và ngày nay khác nhau nhiều lắm, Hoàng đế Câu Tiễn vừa bị mất nước, vừa bị tù đày với đôi bàn tay trắng. Người chấp nhận chịu khổ nhục để sống chờ ngày phục quốc, đó là ý chí lớn của người phi thường, hai nữa người còn có một nghĩa đệ Phạm Lãi nguyên quán nước Sở. Người này văn võ song toàn, trí lự kiên cường, chính là động lực thúc đẩy tinh thần chấp cánh cho Hoàng Đế Câu Tiễn. sau khi huynh đệ Hoàng đế Câu Tiễu và Phạm Lãi về được U Việt, lập tức viết bộ kinh thư “Tâm Thông Trí Đức Dũng” trong bộ kinh có hồi “Cửu Sách” nhằm tóm thu nước Ngô, người đời còn gọi là “Cửu Sách Câu Tiễn”

Còn ngày nay một Nam Việt bao la rộng lớn, thời thế ưu đãi hơn với một triều đại hùng mạnh qui nguyên tôn tộc Bách Việt về một mối, đời sống thanh bình. Quan thần, tướng sĩ, Lạc dân trên dưới một lòng xây dựng đất nước đã thực sự giàu mạnh, nhờ thực hiện Bát sách “Cải thiện dân chủ nhân sinh” nếu nói hơn “Cửu Sách Câu Tiễn” ngày xưa của Hoàng đế Câu Tiễn thì không đúng, mà phải nói rằng ngày nay kém xa tiền nhân mới đúng.

Phi nhi rất tiếc là Hoàng thượng điện hạ đã thế kỹ nhị hạc, nếu còn trẻ bốn mươi năm nữa thì “Cải thiện dân chủ nhân sinh” được lưu truyền muôn đời. Vũ Đế vẫn yên lặng để tìm hiểu suy nghĩ của Hoàng Phi như chính lòng Lạc dân.

Hoàng Phi suy nghĩ một hồi rồi nói tiếp. Muôn tâu Bệ hạ “Cải thiện dân chủ nhân sinh” mới thực hiện được một phần trăm mà đất nước đã khởi sắc như vậy, bây giờ nếu có một nhân vật uy danh chí dũng thay thế vào việc làm của Tiên tổ thì Hoàng thượng điện hạ tóm thu được phương Bắc, Vũ Đế trong lòng cũng nao nao và hiểu được đời người không qua khỏi số trời đã định, ông thấy được suy nghĩ của Hoàng Phi:

― Quả nhân lấy lòng vui có được một khí khái như điệt nhi, những suy nghĩ của điệt nhi phải lắm, nhưng đất nước này tuy có vạn anh hùng nhưng không có ai đủ khả năng gánh vác Bát sách “Cải thiện dân chủ nhân sinh” này được hay sao? Hoàng Phi, tâu:

― Muôn tâu Bệ hạ, việc này chỉ có Bệ hạ mới thực hiện được, còn ngoài ra không ai có khả năng. Vũ Đế ngạc nhiên:

― Điệt nhi tại sao vậy?

― Muôn tâu Bệ hạ “Cửu Sách Câu Tiễn” cấu tạo bởi đau khổ, trí tuệ, sức người, mồ hôi, kết thành phẩm trong huyết thống, ấy là gia tài Bách Việt chính thống, còn “Cải thiện dân chủ nhân sinh” là gia tài tự nhiên trên trời rơi xuống, không biết sử dụng thì nó chảy ra như nước thấm xuống đất, bởi vậy kho tàng này chỉ có Hoàng đế điện hạ mới thực hiện được mà thôi, hai nữa Bệ hạ đã am tường “Cải thiện dân chủ nhân sinh” đã biết trân quí nó như một phép lạ. Nếu nay giao cho một người không biết trân quí nó, khác nào cha mẹ buôn thúng bán mẹt, tảo tần hà tiện có một gia tài lớn sau khi thác, người con dùng vào tứ đổ tường, tài sản cao như núi cũng phải hết, kết quả người con thành kẻ trắng tay! Vũ Đế vui mừng thầm, Hoàng Phi khá lắm biết tin người để trao kho tàng và biết giá trị tài sản nhằm sử dụng đúng việc hữu ích cho Bách Việt.

― Quả nhân khen điệt nhi, bây giờ quả nhân muốn yết kiến sư phụ của điệt nhi được không ? Hoàng Phi thấy cả buổi sáng nay ở trong sảnh đường bàn luận đã lâu, muốn đưa Hoàng Đế ra thung lũng để đổi không khí:

― Muôn tâu Bệ hạ, nhân đây kính cẩn mời Bệ hạ ngự lãm vườn cây ăn trái, Vũ Đế vốn đã để lòng cũng muốn tìm hiểu nơi ăn ở của Hoàng Phi, Vũ Đế vui lòng:

― Phải lắm, quả nhân cũng cần ra ngoài để hưởng không gian tiên cảnh ở đây.

― Muôn tâu Bệ hạ, đi theo điệt nhi. Rời khỏi sảnh đường đi qua hai bích đá là ra thung lũng. Vũ Đế và Hoàng Phi cùng thấy một bóng trắng từ trên cây đào chín hồng, phi thân xuyên qua và biến vào bên suối Nam.

Nhãn lực Hoàng Phi thấy rất rõ đây là một con hầu màu trắng, không lấy gì làm lạ, chàng tự hứa hẹn mỗ sẽ tìm hầu làm bạn. Nhưng đối với nhãn lực của Vũ Đế thì rất lạ và bí ẩn, bởi thấy một hình bóng không chân dung phi thân, kéo thành một vệt xẹt qua trước mặt màu trắng. Vũ Đế nghĩ thầm mình ra đây bất ngờ quá cho nên sư phụ của Hoàng Phi không tiện tiếp, thôi thì tự lòng xin lỗi với người, rồi để lòng không hỏi Hoàng Phi, xem qua cảnh sống u nhã ở đây đúng là cảnh tiên có khác, không khí thoải mái hơn trần thế, ở đây cây ăn trái có hương vị đặc biệt mà ông chưa hề thưởng thức qua, riêng về cỏ cũng cho mùi thơm rất dịu của đất, muôn màu huyền quang tạo cảnh thiên nhiên đẹp, nói chung vạn vật ở đây khác ngoài đời, trong lòng ông tự hiện sống trong cảnh tiên giới đêm hôm qua, bây giờ mới trở lại chính thực tại, ông nghĩ thầm, trong hư đêm qua chính là thực hôm nay, ông đến gốc đào, tay hái một trái ăn thử, mùi vị cũng như tối hôm qua, chỉ một góc trong thung lũng có vườn cây ăn trái, đang nặng trĩu trái quằn như mãng cầu, soài, mít, mận, cam, bưởi, chanh, dừa, đu đủ, thanh long v.v…

Vũ Đế đến bờ suối Tây, ngồi trên tảng đá ăn trái thanh long chín đỏ, ngọt lịm hợp khẩu, dưới suối có nhiều loại cá xem rất vui thú. Ở ngoài vườn đến trưa. Hoàng Phi tâu:

― Muôn tâu Bệ hạ, đã trưa mời Bệ hạ vào sảnh đường ngự thiện. Vũ Đế mải mê ngoài thung lũng quên cả ăn cơm trưa, vì ông đã ăn vài trái đào, thanh long, thêm một trái đu đủ chín cây xem ra cũng no nê, ông nhớ lại ngày còn thơ ấu tự tay bổ cắt những thứ trái cây ra ăn không có kẻ hầu người hạ, sống như thế này thì hay hơn nhiều. Ông suy nghĩ, an lạc cần phải giữ mãi không thể để nó trôi qua. Hoàng Phi, tâu một lần thứ hai:

― Muôn tâu Bệ hạ, đã trưa mời Bệ hạ vào sảnh đường ngự thiện. Sau khi nghe Hoàng Phi tâu, tâm thần Vũ Để rời xa cảnh tiên giới về lại với chính mình:

― Quả nhân vào đây. Vũ Đế thấy trên bàn ngự thiện thực đơn sơn khê mười hai món, đựng trong đĩa nhỏ bằng ngọc thái, chỉ ba gắp là hết, một chung hà thơm dịu đúng là quỳnh tương, đôi đũa ngọc bạch lý, một chén ngọc thúy. Hoàng Phi ngồi ăn riêng một bàn kế bên cũng những thực đơn sơn khê ấy nhưng chén, đũa, đĩa dùng bình thường như Lạc dân. Vũ Đế sống ở đây đúng ba ngày tận hưởng đời an lạc, còn được xem đời sống thiên nhiên của bầy hạc trong thung lũng, có những con hạc biết Vũ Đế, chúng hồn nhiên tung tăng chạy đến xòe đôi cánh như chào hỏi, nó còn biết hái đào dâng cho Vũ Đế.

            Vũ Đế tự nghĩ lòng, thảo nào sư phụ của Hoàng Phi vô hình vô ảnh, chỉ một thoáng qua thay lời chào hỏi, âu cũng vì hai thế giới thực hư không giao tiếp được, như thế cũng đã mãn nguyện lắm rồi !

― Quả nhân muốn hôm nay làm lễ cáo Trời đất và đa tạ sư phụ của điệt nhi, nhằm thay mặt Quốc sư Hoàng Hạc nhận lãnh trách nhiệm “Cải thiện dân chủ nhân sinh” được không?

― Muôn tâu Bệ hạ, việc này điệt nhi nghĩ không cần thiết lắm. Hoàng Phi tâu tiếp, ngày trước Tiên tổ đã trình tấu lên Bệ hạ, về nghi lễ cáo Trời đất và đa tạ sư phụ ở đây, hôm nay Bệ hạ là con trời chỉ cần để lòng thực hiện Bát sách “Cải thiện dân chủ nhân sinh” tốt, đem lại phúc lạc cho muôn dân. Vũ Đế vui mừng lòng khôn tả:

― Quả nhân hứa, bao giờ thực hiện được?

― Muôn tâu Bệ hạ, ngày mai về Hoàng cung là thực hiện được.

― Quả nhân thực vui mừng khôn xiết, chỉ một chuyến đi xa, đã đem về cho dân thịnh vượng, quả nhân sẽ đích thân hành sự cuối đời này, chỉ mong mỏi Nam Việt hơn Trung nguyên, người Hán không còn xem thường người Bách Việt, đó là ước nguyện từ lâu của quả nhân. Nhân dịp này Hoàng Phi tâu lên Vũ Đế:

― Muôn tâu Bệ hạ, thần nhi bạo phổi táo gan, muốn biết gia cảnh thời niên thiếu của Bệ hạ.

― À, đời riêng tư của quả nhân ở vào thuở ấu thơ, phần gia thế chỉ nghe Mẫu thân nói không chính mắt thấy sự việc, vì lúc ấy còn nhỏ quá, Mẫu thân của quả nhân họ Lý tên Ánh Hoa, trước khi qui tiên nói rất nhiều về thân thế của quả nhân, nhờ vậy mới biết gia phả đời trước, di ngôn của Mẫu thân như thế này:

― “Hài nhi nhớ ngày sau về Lĩnh Nam lập nghiệp, hài nhi chính thống Bách Việt, tổ tiên nước U Việt, lúc hài nhi chào đời gia thế họ Tiêu tên Đà, cháu của đại thần Tiêu Ưng, con của nhị phẩm Tiêu Nam. Nước U Việt bị Sở thôn tính, gia gia hài nhi cầm binh đánh sở rồi tử trận, cả họ ly tán, khi ấy hài nhi mới được chín ngày, con sinh ra đúng thời loạn ly chiến tranh, mẫu thân buộc lòng phải bồng bế hài nhi chạy theo dòng nước vong quốc, xuôi về hướng Nam, không ngờ vào cương giới Sở Hán lại cũng gặp chiến tranh, ở nơi này kẻ chết người sống không còn phân biệt Việt, Hán, Sở địch hay thù, mẫu thân không còn ai để gọi hai tiếng thân nhân, mẫu thân lưu lạc đó đây trên đất Hán hơn hai tháng mà vẫn chưa về Nam, lại bị mang bệnh nằm bên lề đường, lúc này bầu sữa nuôi hài nhi cũng cạn dần và những gì có trước khi ra đi cũng đã hết sạch, khi ấy mẫu thân chỉ còn lại nụ cười bình an của hài nhi, chính nụ cười này là niềm hy vọng để sống, hài nhi là hạt châu cuối cũng của nhà họ Tiêu!

Vài ngày sau có người buôn tơ lụa họ Triệu ở đất Chân Định đem về nuôi, từ đó hài nhi mang họ Triệu tên Đà. À, hài nhi có lưu họ Tiêu trên vai Tả, còn trên vai hữu thì lưu U Việt, nay vẫn còn đó hài nhi ạ”.

Ngày tháng trôi qua đưa đẩy đến đất Lĩnh Nam làm tướng quân, không ngờ quả nhân nhớ lại di ngôn của Mẫu thân như khắc cốt ghi xương bao đời, thế là gặp được Lạc Việt, trong ấy có cả người U Việt. Lúc quả nhân vào đến thành Phiên Ngung đã có ý định tìm mọi cách qui nguyên Bách Việt.

Mỗi khi quả nhân có ý định qui nguyên BáchViệt thí có tiếng văng vẳng lời dặn dò của Mẫu thân thôi thúc trong lòng, quả nhân tìm câu trả lời bằng ý chí lập quốc Nam Việt. Sau khi thành công quả nhân phong tước hiệu Hoàng Thái Hậu Lý Ánh Hoa Cơ thờ phụng Người như một đấng thiêng liêng. Bài vị của Tiên Tổ tước hiệu Thần Tổ U Tiêu Ưng, còn Tiên Gia tước hiệu Tiên Đế Việt Tiêu Nam.

Quả nhân trị vì Nam Việt đã bảy mươi năm nhưng không dám cho một ai biết huyết thống Lạc Việt, vì muốn bảo vệ an ninh Nam Việt. Từ bao lâu nay người Hán muốn biết huyết thống của quả nhân, đến nay họ vẫn kết luận là người Hán.

Cũng may Nam Việt thanh bình là do người Hán không phát hiện gia phả của quả nhân, một ngày kia quả nhân qua qui tiên, đem theo đôi lời di ngôn của Mẫu thân, xem như gia tài riêng của quả nhân, nguyện vọng của quả nhân chỉ đem theo tình tự Lạc dân, còn những thứ khác quả nhân để lại cho đời phán quyết !.

Từ ấy chất liệu sống đó chỉ để trong lòng, nếu có nói ra thì chỉ để cho quả nhân nghe mà thôi! Hôm nay điệt nhi hỏi về thân thế thì dĩ nhiêu đắc lòng “Được lời như cởi tấc son” quản nhân gửi sự sâu kính của một đời người nơi điệt nhi đó! Nhân tiện Vũ Đế cho Hoàng Phi xem chữ Tiêu và chữ Đà.

Nhận xét của Hoàng Phi đúng là Tiêu Đà không sai, chữ xăm bằng mực Hắc-dương, tuy nay chữ hơi nhòa theo tháng năm trưởng thành và sau khi thể xác già nua, chữ vẫn còn nằm dưới lớp da nhăn nheo.

― Ngày nay thân thế của quả nhân chỉ có điệt nhi mới biết trọn vẹn, ngoài ra không có người thứ tư, cho nên quả nhân biết chắc chắn họ Triệu không phải là huyết thống của quả nhân.

Hoàng Phi vốn thông minh, giàu tình cảm, là một hiệp khách cứu nguy xã tắc. Khi nghe Vũ Đế trút hết bí sử đời mình, chàng lấy làm cảm thông về quá khứ của một Hoàng Đế. Hoàng Phi nước mắt chảy trên đôi má da mịn hồng, trong cổ họng nấc thành tiếng “ắc ắc” như tự xem đồng cảnh. Vũ Đế thấy vậy ôn tồn, nói:

― Quả nhân làm cho diệt nhi khóc phải không?

― Muôn tâu Bệ hạ, mỗi đời người có riêng cảnh sống, nhưng cảm xúc được là nhờ tình người biết chia xẻ quá khứ, biết rung động trong mọi khổ đau để tìm đến hạnh phúc, cũng như Bệ hạ tìm hạnh phúc cho muôn dân, là nhờ trải qua một cảnh sống không ai hiểu thấu, Bệ hạ thực hiện lời dặn dò đơn sơ mộc mạc của thánh kinh để rồi trui luyện trở thành một Hoàng Đế Nam Việt ngày nay. Điệt nhi xúc động vì hãnh diện có được một Hoàng đế ngự trị trong lòng của muôn dân.

Vũ Đế khen thầm Hoàng Phi, cũng có ý tiếc không còn thời gian để chiêm ngưỡng một thiếu niên họ Hoàng.

Sáng hôm sau Vũ Đế và Hoàng Phi về Phiên Ngung thành, với năm đại hạc chở theo ngũ kim. Hoàng Phi vào núi Việt Tú phế bỏ đồ trận “Nhất nhị tam phân thác địa” thay vào đó đồ trận “Cửu hoàng tỉ tổ” từ đó Hoàng Phi liên lạc với Vũ Đế bằng một con hạc nhỏ, Hoàng Phi cung cấp ngũ kim do đại hạc chở đến.

Biệt điện Hành Cung do Hoàng Phi thiết lập, nghe qua tưởng là uy nga, đồ sộ, xán lạn, rực rỡ mới gọi là biệt điện, không ngờ chỉ là căn nhà ba gian chữ nhất lợp tranh, thực u nhã như một mái ấm gia đình Lạc Việt, tọa lạc ở núi Việt Tú, về vật dụng sinh hoạt của mỗi ngày cũng như trang trí đồng do Hoàng Phi lo tất. Vũ Đế rất hài lòng, nhờ vậy từ xa Vũ Đế điều động Triều đình, ban chỉ dụ đến từng Lạc dân thi đua xây dựng đất nước, chỉ hai tháng sau thấy rõ từng ngày trên cả nước Nam Việt hùng mạnh.

Nội triều đình văn võ không ai biết kế sách thi đua xây dựng Nam Việt xuất phát từ nơi nào. Đôi khi họ hỏi nhau ai là Quốc sư việc này, chỉ biết mỗi ngày đất nước thịnh vượng mười lần hơn thời Quốc sư Hoàng Hạc, riêng Thái tử Hồ chính thức điều động thân tín triều đình nắm chủ lực Bát sách “Cải thiện dân chủ nhân sinh” Đến nay Bát sách đã phát triển khắp cả Nam Việt. Lúc này Vũ Đế và Thái tử Hồ nhớ Hoàng Phi, muốn gặp để chia xẻ thành đạt, nhưng không bao giờ gặp được, chỉ thấy đại hạc chở ngũ kim đến, rồi bay về hướng Nam.

Hồi 13

Khai Môn Kiếm Nam Khê Sơn

(1) Tựa bản nhạc. Bước Đường.

(2) Kìa người du ca chân bước ngỡ ngàng.

Huỳnh Tâm - Anh Hùng Nam Việt