Hạc chuyển tin của Lý Bình Trung, từ huyện Ni Lộc về Nam Khê Sơn. Hoàng Phi độc tin vui mừng, chàng đắc ý, thì ra cái thắt gút đầu dây tại Ni Lộc, hy vọng tay lưới này bắt bọn gian tế Hán, cùng những quan lại tham ô ở Giang Nam chắc chắn không khó. Chàng hớn hở lấy giản biên hồi âm cho Cần Lĩnh Nam Nam Tông:

— Thúc bá kính. Phi nhi hiện đang ở động Nam Khê Sơn, vừa tiếp nhân được tin của đệ Lý Bình Trung gửi về, Phi nhi rất vui mừng thúc bá thu phục nhân tâm thành công, dùng người thích hợp hoàn cảnh, thành lập thêm một phân bộ rất hợp lý. Hiện giờ thúc bá cực khổ trăm ngàn giềng mối lo trong lo ngoài Cần Lĩnh Nam Nam Tông, Phi nhi hy vọng sau ngày trừ được bọn làm khổ lương dân, Phi nhi sẽ xuôi Nam vấn an thúc bá cùng dịp về thăm gia gia, mẫu thân.

            Phi nhi gửi thúc bá một tin thắng trân đầu, đã bắt được bảy đầu đảng gian tế Hán từ Phúc Kiến qua Nam Hải, cùng lúc bắt năm đồng phạm gồm một thái phó, bốn tên quan quân Nam Việt. Hiện giờ tên gian tế La Tử Hiếu đang trên đường đi về phía Nam thành Phiên Ngung, y đi đến đâu là có lưới bủa vây đến đó. Trước đây Phi nhi sợ những huyện phủ phía Nam cấu kết dấy binh đánh xuống Nam, không ngờ họ có ý đánh lên phía bắc, xem như mưu đồ của người Hán đã không thành. Phi nhi nhờ thúc bá lập kế sách cho tam phân bộ hành động, phá đường dây quan lại tham ô để họ bất tín lẫn nhau, khi họ nghi ngờ thì sự cấu kết không còn tác dụng. Kính, chúc thúc bá thúc mẫu, quí huynh tỷ bình an. Ký tên HP.

Hoàng Phi gửi giản biên chung cho Lý Bình Trung, Chu Thông, Đinh Anh Thi, Xuân Giao, Lệ Thanh:

— Nam Khê Sơn gửi quí hiền đệ muội. Huynh đã tiếp nhận được tất cả tin báo. Từ khi quí đệ muội rời Nam Khê Sơn, huynh lúc nào cũng tưởng mọi việc phía Nam sẽ khó lường trước được, cho nên mới dốc hơn nửa lực lượng xuống Nam. Bây giờ xem ra Cần Lĩnh Nam đứng thế thượng phong, còn thu phục được nhân tâm, chiếm sơn trại của dư đảng Mã Hầu Lưu không đổ một hạt máu, đó mới là kỳ tài, hy vọng lần này bắt trọn vẹn bọn ăn bám. Một lần nữa quí hiền đệ vận dụng khả năng, trợ lực cho Đỗ Trọng Chí đánh chiếm các sào huyệt dư đảng tại núi Trùng Sơn, gồm có dư đảng Trùng Sơn, Hà Điền, Long Thái, sào huyệt của Lê Chí tại núi Ba Sao, riêng sào huyệt Trà Bích Sơn đã ly khai Mã Hầu Lưu, nay thuộc về Cần Lĩnh Nam, quí đệ muội dùng lực lượng này đánh các huyện lân cận. Hoàng Phi viết luôn một giản biên gửi Đỗ Trọng Chí.

— Đỗ huynh cùng toàn thể huynh đệ tam phân bộ Cần Lĩnh Nam Nam Tông kính. Tại hạ tiếp nhận được tin vui mừng, cảm kích quí huynh đệ cùng mục phiêu diệt bạo từ gian, hầu hạ lương dân cơm no áo ấm, sơn hà đời sống an ninh. Tại hạ ước mong dẹp hết loạn huyện phủ tham ô, đến ngày ấy không xa quí huynh đệ cùng tại hạ diện kiến, vui say thù tạc tình nghĩa.

            Hiện nay tại hạ trông chờ quí huynh đệ tam phân bộ Cần Lĩnh Nam, quí đệ Lý Bình Trung, Chu Thông, Đinh Anh Thi, Xuân Giao, Lệ Thanh, cùng đại huynh Hoàng Hạ hợp lực hội ý đưa ra một hành động chung nhằm dụng binh trên thế mạnh nhưng phải hoàn toàn bảo mật, đánh nhanh rút khẩn chiến trường không náo động, có như vậy mọi việc mới thành công. Thư này thay lời giao hảo, chúc sức khoẻ, hẹn ngày trùng phùng, diện kiến tình huynh đệ. Ký tên Hoàng Phi.

Hoàng Phi tiếp nhận giản biên của Bạch Khẹc, khẩn:

— Hiền đệ, sáng nay La Tử Hiếu đã đến Nam Hải, tại nhà gian tế Mao Tùng Khố trong thành Phiên Ngung, bên Hán có tám người, bên Việt có sáu người, nguyên chức quân quan trong triều đình, người đứng đầu họ Giang tên Hồng Tư phó chỉ huy Tử Cấm Thành.

            Dự trù của họ bàn thảo hai ngày, vậy hiền đệ phải lên đường gấp. Sau khi độc giản biên chàng tự hỏi. Tại sao lại khẩn? Chàng không chần chừ xuất hiệu hai mươi sáu đại hạc chuẩn bị lên đường. Chàng phi thân lên hạc bay về hướng Bắc mất hút.

Đêm trăng mờ bốn bề vắng lặng, mưa sương đẩm ước núi rừng, gió thổi “vi vu” những cành cổ thụ gác rít vào nhau phát ra âm thanh “kèn kẹt” nghe qua rùng rợn, như tiếng mật mã của núi rừng đang trao đổi tin tức trong đêm khuya khoát, cổ thụ lắc lư như thể bóng người đi tới, đi lui, đi qua, đi lại, thỉnh thoảng có tiếng voi rống, cọp gầm chen lẫn với tiếng thú rừng khác, lẩn vào từng hồi tiếng hú của Bạch Khẹc gọi Hoàng Phi. Xa xa chàng đã nghe được dấu hiệu liên lạc, chàng vui mừng lấy con tu hú dây đáp lại. Đệ đã đến, chàng cho bầy đại hạc đáp xuống bên cánh trái rừng.

Bạch Khẹc vừa gặp Hoàng Phi chưa kịp vui mừng, Bạch Khẹc vào đề liền:

— Huynh báo tin khẩn vì có nhiều lý do. Thứ nhất huynh không có cách nào khác hơn là liên lạc trực tiếp hiền đệ, nếu liên lạc bình thường thì hiền đệ sẽ nhờ Khải huynh, Thư tỷ Túc tỷ lo việc này. Thứ hai việc này không phải dễ ăn như lần trước bắt được bọn thái thú Phúc Kiến. Bạch Khẹc nói tiếp, bọn gian tế Mao Tùng Khố sống trong thành Phiên Ngung hơn bốn mươi năm, y nắm tình hình ban đêm như ban ngày, hôm nay y đã lộ diện cùng tám người Hán kia là ai chưa hiểu rõ, có nghĩa là việc không phải nhỏ, còn phó chỉ huy Tử Cấm Thành họ Giang tên Hồng Tư, cùng sáu người quân quan trong triều đình, quả thực đây là một tổ chức bí mật có tầm cở chuyển đổi thế nước! Vậy hiền đệ tính làm sao cho tiện. Hoàng Phi nghiêm nghị chưa suy nghĩ ra hành động. Bạch Khẹc dục:

— Hiền đệ sao đứng như tùng bách vậy, sự thông minh của hiền đệ hóa ra hôm nay bị kẹt giỏ hả, phải mở so dừa ra nhanh lên! Tinh thần mỗ đã rối rắm lắm rồi, nhanh lên. Hoàng Phi nghe Bạch Khẹc hối hả, lòng cũng băn khoăn, hay tay gãi đầu, rồi lấy một mẫu bánh nướng đưa cho Bạch Khẹc ăn. Chàng nói khẻ:

— Đệ biết trong bụng hiền huynh đang trống rỗng, nên ăn bánh nướng này đi rồi mới tính được việc. Bạch Khẹc lấy bánh ăn ngon lành không cần cảm ơn. Khen:

— Ngon lắm, mười ngày nay tại hạ không có thứ gì bỏ vào bụng, hôm nay có bánh bụng no, thấy hiền đệ được thêm một nụ cười, chắc hẳn hiền đệ sẽ cho ra đời việc ý hay, tại hạ ăn no rồi, đệ nói cho tại hạ nghe đi! Hoàng Phi tuy lòng bối rối, nhưng vẫn ôn tồn:

— Huynh cùng đệ vào thành, rồi đi thẳng đến nhà của bọn gian tế Mao Tùng Khố, lúc đó mới rõ tình thế, mình nắm được qui luật của họ mới hành động, còn ở đây không thấy việc, không thấy người rất khó mà hành động, thôi thì theo tùy cơ ứng biến, huynh cùng đệ lên đường.

Cả hai phi thân vào thành, biến mất, đêm khuya thanh vắng vào lúc canh hai, khắc sau Bạch Khẹc, Hoàng Phi búng mình qua tường bích như hai bóng đen kỳ quái, từ từ đứng trên nóc nhà, thì thầm:

— Hiền đệ à, đúng nơi đây rồi, đằng khia là sảnh đường của Mao Tùng Khố, còn ở đây là hậu sảnh đường của y, đặc biệt song song Tây-đông lan có một con hẻm nhỏ, tường bích xây cao bố trí như một lối đi bí mật vào đường hầm, không biết dụng ý gì trong ấy. Hoàng Phi nói rất nhỏ:

— Hiền huynh vào đường hầm ấy để tìm xem nguyên ủy của nó, hẹn gặp lại ở sảnh đường nhé. Bạch Khẹc gật đầu phi thân xuống đường hầm hun hút. Hoàng Phi cũng phi thân đi về hướng điểm hẹn, hiện giờ tại sảnh đường còn chong một cây hồng sáp, ánh sáng leo lét chỉ đủ trang giành một khoảng lờ mờ trong đêm khuya. Chàng len lỏi vào được sảnh đường, một chân móc trên xà nhà treo lũng lẳng như con dơi, nhãn lực của chàng quan sát toàn cảnh, thấy vắng lặng, chàng tự hỏi, như vậy họ ở đâu, cũng có thể họ đi ngủ rồi chăng, hay họ đã đi trước mình một bước, thế là việc của mình không thành ư? Trong lòng còn suy nghĩ mênh mang. Có tiếng của Bạch Khẹc gọi:

— Hiền đệ hãy theo huynh mau lên. Chàng nhanh như gió phi thân ra khỏi sảnh đường đi theo Bạch Khẹc vào con hẻm nhỏ, đến hầm mới biết lối đi chỉ đủ cho một người, thấy tình thế không an toàn nếu gặp một người từ trong hầm đi ra, chàng vội nhảy lên trần hầm đi bằng đôi chân và đôi tay. Bạch Khẹc thấy chàng đi để lòng cười thầm. À đây là lối đi của tại hạ, quả là hiền đệ của mình thông minh thật, nếu mà không đi như vầy thì khó tránh chướng ngại, dĩ nhiên không thể nào phát hiện được ở trên đầu địch nhân có hiền đệ của mình. Đi rất nhanh, chàng cùng Bạch Khẹc đã vào đến trung tâm hầm, chàng ẩn mình trên phù điêu chạm trổ rất công phu, treo trên hai cây cột lớn tựa như cánh gà sân khấu, phần trước có chiếc ghế gia chủ, hầm này kiên cố xây cách lòng đất hai trượng, trên mặt đất là một vườn hoa có những cây cảnh trồng hơn sáu trăm năm, mỗi cây cảnh hình thù long, lân, qui, phụng, ngoài ra còn có những con thú vật bằng đá nặng trên ngàn cân, chính những con thú vật này nguy trang làm lổ thông không khí vào hầm, chàng còn khám phá được một hẻm nhỏ khác ăn thông với sảnh đường trên. Mắt chàng quan sát, tai nghe tiếng nói từng người một, đặc biệt chàng phát hiện có ba hơi thở nội lực đã đến chỗ tận cùng, gồm một nam hai nữ, chàng để ý từng hơi thở một, biết họ đang ở trung tâm trên mái xà nhà nghìn qua ba lỗ nhỏ của ngói ống, chàng làm dấu hiệu cho Bạch Khẹc biết để đề phòng ba người trên mái nhà, chàng ra ngoài để tìm hiểu địch hay bạn, chàng xuất chiêu phi thân một luồng “Thần kinh vô ảnh” không tiếng động, chân chàng chưa đáp xuống mái ngói, hai tay đã thộp cả ba người, chàng xuất luôn một chiêu “Khí hương thủ” tỏa như khói mỏng, phi thân lên không trung ra khỏi thành đi thẳng vào cánh rừng, khi chân đáp xuống đất chàng nhìn kỷ mời biết là đại huynh Hoàng Khải, tỷ tỷ Lữ Thư và công chúa Hương Trí Túc, chàng cười huề vốn:

— Thưa đại huynh, tỷ tỷ và công chúa trong đêm tối, địch hay bạn chưa biết vì vậy tiểu đệ vô tình phạm lỗi xin thứ tha. Hoàng Phi thi lễ nói tiếp, tiểu đệ không ngờ đại huynh, tỷ và công chúa cách xa chỉ hơn tháng mà nội lực như đã đến tận cùng, tiểu đệ kính phục tam đại Khủng-long nằm dưới đáy biển, chưa gặp biến để vùng vẫy trước sóng gió. Hoàng Khải thấy tiểu đệ nay đã thành nhơn chi mỹ, khôi ngô tuấn tú võ học hơn người, để lòng với một nụ cười thương yêu. Chàng nói:

— Chúng ta vào thành, trở lại tư thất Mao Tùng Khố theo dõi hành động của chúng, đừng để họ sẩy tay, chúng ta sẽ mất một cơ hội, Hoàng Phi nghiêm trang:

— Thưa đại huynh, nội vụ hôm nay tiểu đệ sẽ trình bày sau, cũng như đừng hỏi tại sao tiểu đệ có mặt ở đây, tốt nhất là vâng lới đại huynh trở lại tư thất Mao Tùng Khố, khi đến đó đại huynh chỉ đứng ở ngoài xem tiểu đệ hành động. Hoàng Khải hiểu ý của Hoàng Phi vừa cười, vừa nói:

— Được rồi ông tiểu, huynh đã hiểu ý của đệ, vậy đệ tự do hành động, thôi chúng ta lên đường khẩn cấp. Cả bốn cùng phi thân đến tư thất Mao Tùng Khố, bỏ lại sau lưng một không gian đen ngòm, Hoàng Khải, Lữ Thư, Hương Trí Túc đến chỗ cũ để quan sát, riêng Hoàng Phi biến mất trong bóng tối không ai hiểu Hoàng Phi đang làm việc gì và ở đâu.

Trong lòng của Hoàng Khải lúc nào cũng tin tưởng về tư chất thông minh của hiền đệ mình, đêm nay có sự hiện diện Hoàng Phi ở đây có nghĩa là việc bí mật này có người sau lưng đưa đường chỉ lối, nhưng không biết nhân vật ấy là ai? Dĩ nhiên bênh trong rất quan trọng cho nên hiền đệ căn dặn mình như vậy, riêng về võ học chàng nhận xét trình độ phi thân của Hoàng Phi qua hai chiêu thức “Thần kinh vô ảnh” và “Khí hương thủ” quả là tuyệt học bí truyền xuất hiện, nhưng không hiểu nguyên nhân nào hiền đệ của mình lại có đến lục đại sư ban ân hưởng cùng một lúc tuyệt học bí truyền này, vì nó đã mất hơn ngàn năm. Suy cho cùng dù hiền đệ có căn cơ tuyệt thế cũng không thể nào một thời gian ngắn ngủi chỉ chín năm mà tiếp nhận cùng lúc lục bí truyền khó hiểu thật.

Hoàng Lữ Thư đôi mắt theo dõi phía trong sảnh đường, trong lòng suy nghĩ mênh mang về hiền đệ Hoàng Phi, chính mình thay mặt gia gia, mẫu thân ở gần gủi chăm lo sức khoẻ cho hiền đệ, cũng là dịp để hiền đệ truyền thụ võ học cho mình, quả thực hiền đệ đã trút hết võ học cho mình, nhưng hôm nay chính mình chứng kiến hiền đệ phi thân như biến hóa, thế thì võ học của hiền đệ đã vào cõi phi thường ư, lòng mừng vui nhưng còn nhiều ngạc nhiên khác, mà nàng không thể hiểu nổi về hiền đệ, chính vừa rồi đại huynh cũng phi thân như hiền đệ tuy có chặm một ít, lạ lùng thật sao mình không biết những chiêu thức võ học ấy! Chăng nhẽ huynh đệ của mình cùng học một sư phụ, thôi suy nghĩ nhiều cho đau đầu, có dịp mình tra khảo huynh đệ thì rõ ràng hơn. Hoàng Lữ Thư tiếp tục đôi mắt ngó xuống sảnh đường.

Hương Trí Túc trong lòng ngoài thân ấm áp vô cùng, nàng xem tình yêu như một bảo vật thiêng liêng, bất chấp trong đêm khuya sương xa giá lạnh dù ước cả đôi vai dày đặc sương gió, nàng mượn thời gian này để cho thân thể bay bổng vào hồn mộng, ngồi cạnh chàng cùng nàng đôi tay đan lại như buộc gút vào nhau, nàng không còn cảm nghĩ gì khác hơn là hôn vào đôi tay của chàng thật nhẹ để đếm thời gian hạnh phúc, đêm nay nàng được chàng đích thân ôm bên hông trái, phi thân như đôi tiên bay vào cung quảng, tuy rằng yêu nhau đã khá lâu nhưng chưa một lần ôm nhau như đêm này, trước đây nàng đã từng ước mơ nhưng không ngờ đêm nay là sự thật, như thể đã được bố cáo ra cho cả thế gian hay, dù rằng trong đêm tối ngòm cũng ít nhất lòng trời đã thấy và biết đôi tình nhân này, có cả Lữ Thư, Hoàng Phi chứng thực. Trong lúc đầy ấp tình si, ngây ngất, mê mẩn, bổng nghe dưới sảnh đường có mười sáu tiếng “bịch bịch” nặng nề như bao gạo từ trên vai người phu dịch quăng xuống đất. Tâm thần Hương Trí Túc trở về thực tại, nàng tự hỏi:

— Có phải Mao Tùng Khố chính là chủ hàng Kim Đường, còn Chung Phỉ Tùng nghề kinh doanh cầm đồ, à Cù Ma nổi tiếng may vá áo quần trong nội thành, Lưu Kính Khâm kinh doanh ngũ cốc, Lỗ Khương chủ Giao Hà tửu lầu, còn lại bốn người Hán lạ mặt. Nàng tự hỏi thầm, tại sao lại có quan quân triều đình ở đây như Giang Hồng Tư nguyên là phó chỉ huy Tử Cấm Thành, Hà Châu Tứ quân quản thị vệ thành, Nguyễn Chi Phổ đạo giám binh Ngự Lâm Quân, La Thu vệ sĩ Cơ Mật Viện, Đỗ Trường Canh trưởng giám binh của Hộ Thành, Trịnh Thành Công thủ bút phủ Quốc Công, Bạch Chung Hy phụ tá phủ Thừa Tướng, nàng tận tường từng mặt làm phản đang nằm la liệt trong sảng đường. Nàng ngạc nhiên thấy một cột khói tỏa ra đen mù mịt phủ cả sảnh đường, hai khắc sau dưới sảnh đường người biến mất, chính nhãn lực của Hoàng Khải mà còn không thấy mười sáu người bị thương do chiêu thức gì của Hoàng Phi. Ca ba phi thân vào sảnh đường tìm kiếm khắp nơi không thấy vết tích để lại, Hoàng Khải biết hiền đệ của mình hạ thủ mười sáu gian tế rồi đem đi, nhưng không biết đưa họ đi ra lối nào. Hoàng Khải mừng thầm:

— Thôi chúng ta đi ra khỏi đây để về Hoàng cung sẽ tính kế sau. Cả ba phi thân thẳng về Hoàng cung, thấy trên không trung có một giản biên bay lão đảo từ từ rơi xuống như một con chim bị trúng tên. Hoàng Khải phi thân đến lấy giản biên đọc lớn cho Lữ Thư và Hương Trí Túc cùng nghe:

— Thưa đại huynh, hiền tỷ và công chúa. Trước và sau khi nhập vào tư thất của Mao Tùng Khố, đệ vào cũng như ra bằng đường hầm bí mật của tên gian tế Hán. Nội vụ mười sáu tên gian tế và làm phản rất phức tạp, đây là một đảng của người Hán họ hoạt động đã ba mươi năm trước, tổ chức của họ lấy hội quán của người Hán làm nơi liên giao. Đêm nay đệ bắt được những thủ lãnh của chín tổ chức đang hoạt động từ trung tâm thành Phiên Ngung lan rộng ca Nam Hải, còn bảy quan quân triều đình vừa nội ứng vừa phản công trong nội thành, chúng là đầu não khuynh đảo triều đình, họ đã thảo ra kế sách hành động làm phản, bất lợi cho Nam Việt, họ đã tiếp nhận rất nhiếu châu báu vô giá của người Hán, nói chung đây là mười sáu cái vòi của con bạch tuộc Hán, chỉ còn vài cái vòi nữa là đầu con bạch tuộc phải ngưng hoạt động trên đất Nam Việt, La Tử Hiếu cũng chỉ là một cái vòi con bạch tuộc đang bò đến Quế Lâm. Đệ kèm theo trong giản biên một danh sách đảng tịch của chúng, đại huynh, hiền tỷ và công chúa trình tấu lên Hoàng thượng điện hạ.  Đệ nhờ đại huynh khử trừ bọn quan lại trong nội thành, còn các hội quán của người Hàn thì do Cần Lĩnh Nam Trung Tông phụ trách. Kính thư HP. Trên đường hồi động Nam Khê Sơn, Bạch Khẹc hỏi Hoàng Phi:

— Hiền đệ đã chứng kiến bọn làm phản thảo chiến sách ngoài đánh vào, trong đánh ra, như vậy cương giới Lĩnh Nam từ Động Đình hồ sẽ bị người Hán ngậm nhấm dần dần, vậy hiền đệ phải đối phó thế nào?

— Tình hình hiện nay, mỗi người phải có trách nhiệm đối với đất nước, riêng triều đình phải vận dụng nội lực của toàn thể Lạc dân, muốn đối phó với địch Hán cần thiết là trên dưới một lòng ngày đêm đúc thép mài kiếm, luyện võ học, tay đao kiếm theo tiếng gọi hồn người xưa. Đệ nghĩ làm trai nợ nuớc khắc sâu trong lòng, nghi nhớ cương giới Lĩnh Nam từ Động Đình hồ, Dương Tử giang, còn gọi là ải Nam Quan. Một tất đất không được mất về tay quân cuồn khấu Hán .

Tại hạ làm trai đất Việt từ đây quyết nhuộm máu trên đầu kiếm thép, tay kiếm này làm vật cản trở lối đi của quân thù, kiếm linh này rửa hận cho đất tổ, kiếp sinh này không thẹn nghìn thu. Tại hạ có thác cũng không thẹn với trăng sao, mặt trời. Tại hạ là trượng phu không thể đứng nhìn cuộc thế, dù phải chết cũng để đất Việt thầm nhớ thương, kiếm này tại hạ mài dưới ánh sáng mặt trời, cả dưới bóng trăng sao, tại hạ đứng thẳng tại bờ ải nam quan Động Đình hồ chỉ đường đất Lĩnh Bắc cho người Hán thấy.

Tại hạ thề nguyền, đôi vai cùng thanh kiếm này là dòng máu hào hùng đất Việt, nuôi hy vọng sống và chết cho muôn dân, kể từ đây một tay kiếm diệt kẻ tham sống nối giáo cho giặc, một tay đao diệt loài chó sói Hán gian.

Nếu mai này tại hạ có làm ma cũng không nhục kiếp sinh, khi thác đôi mắt này làm cho kẻ thù phải khiếp vía, vì đó là mắt hận người Hán muôn đời. Là dân Bách Việt không hề khuất phục cuồn khấu Hán tham tàn, tay kiếm tại hạ chỉ về hướng Nam để nuôi hy vọng mai sau có anh hùng mài kiếm báo phục, hỏi tội người Hán.

Bạch Khẹc nghe chưa hết lời đã suy nghĩ thầm. Từ ngày mỗ chính thức xuất hiện kết tình huynh đệ với Hoàng Phi, tuy đã biết tư chất văn võ song toàn, đức hạnh hơn người, thông minh tuấn kiệt, nhưng đến hôm nay mới nghe từ đáy lòng cương trực phi thường, lòng người như nước thủy triều bạc sóng cuộn dân lên từng lớp, đuổi theo tiếng vó ngựa lướt dặm băng ngàn, không há sợ sa trường thiên binh vạn mã, đó là ý chí và hành động đi đôi của một Hoàng Phi, mỗ chọn kết nghĩa một hiền đệ không lầm, như đã trao một phần kho tàn U Việt không tiếc.

Hoàng Phi suy nghĩ, mình tuy đọc trăm thiên sách, nhưng không sống lâu năm bằng Bạch Khẹc, một bước đường của Bạch Khẹc là một pho kinh sử tự nhiên, tuy là loài vật nhưng không phải lấy đó làm khinh khi vật, sách có câu “Cứu nhân nhân oán, Cứu vật vật ơn” thế mới biết con vật có cái tình nghĩa sau sắc, đối với Bạch Khẹc thì mình đã thấy rõ cái túi thông minh kỳ lạ, nhân đây mình luận bàn thử về Triệu Vũ Đế may ra học hỏi được phần nào kiến thức chăng. Chàng hỏi:

— Thưa hiền huynh, chúng ta đang hành hiệp vì mục đích xây dựng cơ nghiệp cho nhà Triệu hay cho Bách Việt, hiện nay đệ chưa rõ nguyên nhân, vì vốn đệ hàng động theo gương ông cha, chứ chưa tự mình làm chủ hành động theo suy tư. Bạch Khẹc vo tư không cần suy nghĩ:

— Câu hỏi của hiền đệ rất hay lắm. Ngày mỗ chào đời trái đất này còn nhiều hoang vu, mỗ cũng không biết cha mẹ là ai! Sinh ra đã sống tại U Việt, vào lúc Việt Đế Câu Tiễn ở đày tại xứ Ngô, thì mỗ được Người cho đi theo, sau này Người lên ngôi Việt Đế, đến năm mươi năm sau có trận chiến nhà Sở, nước U Việt bị mất.

Bạch Khẹc xúc động lời ngập ngừng, nói tiếp. Đến ba trăm năm sau thì nhà Triệu tập hợp được đại Bách Việt lập ra nước Nam Việt, xưng Vũ Đế đối phẩm với nhà Hán Đế, những lúc ngoại giao Triệu Vũ Đế xưng với Hán Đế là “Lão phu” Đúng là Triệu Vũ Đế anh hùng mở đầu cơ nghiệp cho nước Nam Việt, công ấy to lớn lắm. Người làm vua nước Nam Việt sau này có làm được như Vũ Đế không! Nhất là giữ vững bờ cõi, giữ quốc thổ bền vững, giao thiệp với lân ban hòa hảo, cai trị bằng hòa chính và nhân đức, có như vậy thì người Phương Bắc dẩu có trăm phương ngàn kế cũng không tài nào ngấp nghé được Phương Nam. Thế mới biết sức mạnh Bách Việt do Triệu Vũ Đế vận dụng trí tuệ tạo một cõi trời thái bình có giềng mối độc lập cho tộc Bách Việt. Hoàng Phi ngắt lời của Bạch Khẹc:

— Tại sao Triệu Vũ Đế không tiết lộ nguồn gốc xuất thân U Việt của mình, có như vậy thì người dân Nam Việt mới nhìn nhận Triệu Vũ Đế là vua Việt chính thống! Huynh phải hiểu người Bách Việt coi trọng nguồn gốc quê cha đất tổ. Thử hỏi Triệu Vũ Đế là một Hoàng Đế hoàn toàn bản chất Bách Việt lại để người Hán đánh lận con đem là dân Hán, mai sau nhà Triệu sẽ khó mà ước định được sự nhìn nhận của Bách Việt!

—  Điều này hiền đệ nói rất đứng, nhưng chỉ biết một mà không thấy hai, sỡ dĩ Triệu Vũ Đế không nói sự thuật về gia phả bảy đời dân U Việt, chỉ vì lý tưởng yêu dân, tập hợp Bách Việt, lập ra mẫu quốc an cư lạc nghiệp, thanh bình, thịnh vượng, khi đất nước bền vững như ngọn núi Thái sơn thì Người nói cũng không muộn màn. Triệu Vũ Đế biết trước khi đã nói ra thì nhà Hán có kế để xua binh kéo mã giày xeo Nam Việt, làm cho dân khổ sở đủ điều, chỉ có những người thông minh mới thấy được hành động từ cội nguồn Bách Việt ở trong thân thể của Triệu Vũ Đế mà thôi, chúng ta không nên trách Người mà phải thương mới đúng, vì Triệu Vũ Đế nhận trách nhiệm hy sinh để đổi lấy cái mai sau cho Bách Việt. Chúng ta biết đó người Hán đã đồng hóa các dân tộc khác, chỉ còn Bách Việt là chưa bị đồng hóa mà thôi, cũng vì lý do đơn sơ là người Hán chưa tìm ra gia phả của Triệu Vũ Đế. Hoàng Phi hỏi tiếp:

— Thưa hiền huynh, hiện nay người Hán và người Bách Việt đều cùng một suy nghĩ rằng, Triệu Vũ Đế là người Hán, vì vốn là tướng nhà Tần, quê lại ở Chân Định, mộ bia ông cha táng ở đó.

— Họ có quyền suy nghĩ luận bàn tốt xấu, hư thật, nhưng cái quan trọng là nội tâm của Triệu Vũ Đế chính là máu đào dân U Việt, đệ nhớ rằng sự tình trong nội tâm mới là kho tàng bí mật, theo huynh nghĩ Triệu Vũ Đế chỉ mưu cầu Bách Việt bền vững, không bị người Hán đồng hóa là đạt mục đích để sống, còn miệng đời nói Người là Hán hay Việt không cần thiết phải để lòng, vì thế có mấy ai hiểu nổi nội tâm Triệu Vũ Đế. Trên thực tế như thế này, buổi sáng U Việt về tay nước Sở, tức thì buổi chiều Sở-Hán chiến tranh, dân U Việt tán loạn mượn đường cương giới để chạy qua nước Sở, rồi qua Hán, cuối cùng về Động Đình hồ là đất tổ Lĩnh Nam để sống, khi ấy mẫu thân bị kẹt ở biên giới Hán-Sở, lúc này Triệu Vũ Đế mới chào đời đứng vào thời ly loạn, thì gặp được ân công họ Triệu quê Chân Định đất Hán đem về nuôi, mẫu thân của Triệu Vũ Đế chỉ có một ước nguyện nuôi con khôn lớn nên người phải chấp nhận tá túc tại đây. Hoàng Phi tuy đã nghe Vũ Đế tường thuật đời mình nhưng không bắng sự xác định của trung gian hơn ba thế kỹ, chàng tận tường lý giải của Bạch Khẹc, chàng đưa ra một vấn đề khác:

— Nếu luận về Triệu Vũ Đế thì phải luận đến An Dương Vương, thử hỏi An Dương Vương từ đâu đến, có phải ai ai cũng công nhận người đến từ nước Thục không?

— Đúng vậy, chính Thục Phán xua quân xâm lược nước Văn Lang tiêu diệt Hùng Vương đời thứ mười tám, sau mười sáu năm trị vì, An Dương Vương trông cậy vào thế lực Thục để trị nước, sinh hoạt toàn dân không phát triển, chỉ xây được một Loa thành, cũng may nhà họ An Dương Vương mang dòng máu Âu Việt, nói chung tại đất Thục có gốc Việt hải ngoại, vì thế An Dương Vưng ảnh hưởng đất Tây Thục cho nên suy nghĩ đóng khung, khép kín, trái lại Triệu Vũ Đế ảnh hưởng U Việt-Hán cho nên suy nghĩ thông thênh, ông vận dụng lý thuyết “Bài Hán Phục Việt”, để mở rộng và độc lập Phương Nam.

Đặc biệt văn hiến thời đại Hùng Vương tồn tại trong dân gian không khác nào bề dày của đất, ngày nay cũng như thời An Dương Vương cùng tiếp nhận nền văn hiến Hùng Vương để trị quốc.

            Hoàng Phi, Bạch Khẹc nói chưa hết suy nghĩ đã về đến cửa động Nam Khê Sơn, Hoàng Phi tiếc trong lòng vì câu chuyện còn dài, chàng công nhận Bạch Khẹc hiểu nhiều về thời cuộc xưa và nay, hẹn dịp khác bàn luận thêm. Đại hạc bay ngày đêm về đến động, thảy những tên gian tế xuống đất, Hoàng Phi lấy “Vân mẫu đơn” búng vào hai mươi đại hạc để hồi sức, chàng lấy tu hú dây ra lệnh, đại hạc về động Lạc Việt, chàng nhờ Bạch Khẹc về động gọi mười con đại hạc đến Nam Khê Sơn. Bạch Khẹc cùng hạc bay hút vào mây xanh.

            Chàng xuất ba chiêu “Công Quyền Lĩnh Nam” đẩy tất cả những tên gian tế Hán-Việt lên động trên. Lúc này chàng phân loại mười sáu gian tế Hán giam tại hai khu khí giới, còn mười hai tên nghịch phản triều đình giam tại khu lẫm, Chàng ngồi tính sổ tổng cộng hai mươi tám người Hán lẫn Việt. Công việc giam tù nhân đã hoàn tất, chàng xuống động dưới liền hạ bút viết biểu chương tấu về triều:

            — Muôn tâu, Hoàng thượng điện hạ, hạ thần Hoàng Phi khấu bái trình tấu. Nội vụ gian tế trong thành nội vứa qua, Hạ thần đích thân xuất hiện bắt toàn bộ làm phản cùng những gian tế Hán tổng cộng mười sáu người, nay giam tại nơi hạ thần cư ngụ, Tổng cộng trước sau hai lần bắt đồng đảng, mười sáu gian tế Hán, mười hai tên nghịch làm phản. Hạ thần chuẩn bị tìm hiểu hành động của đồng đảng để trình tấu Hoàng Thượng. Sau khi được đầy đủ chứng cớ, hạ thần sẽ cho gian Hán trở thành vô dụng rồi cho họ về nguyên quán, riêng những đồng đảng làm phản đưa về triều đình, trao trách nhiệm làm chỉ điểm để bắt hết tàn dư, sau đó tùy nghi Hoàng Thượng trừng phạt để răn dạy quần thần.

            Tâu Bệ hạ, hạ thần ước gì đích thân cung thỉnh xa giá Hoàng Thượng đến nơi xem tận tường những gian tế Hán cũng như đồng đảng làm phản trước khi quyết định trảm. Hạ thần ký tên Hoàng Phi.

Anh Tuấn, Mẫn Trâm, khi thấy gia gia về động trong lòng vui mừng, nhưng không dám khua động lớn tiếng, vì cảm thấy gia gia làm việc khẩn cấp, sợ gia gia phân trí, cho nên tất cả việc gì cũng làm nhẹ nhàn hơn ngày thường, chân tay còn làm dấu hiệu thay cho lời nói. Hoàng Phi thấy hai hài nhi cũng hiểu được ý, chàng cười nói:

— Việc khẩn cấp gia gia đã thực hiện tốt, còn việc nhà các hài nhi thế nào? Mẫn Trâm lúc nào cũng dành phần nói trước:

— Thưa gia gia, chúng hài nhi thấy gia gia đi rội, cũng như về lúc nào công việc cũng khẩn trương cho nên không dám làm bận tâm gia gia. Thưa gia gia, hiện giờ hài nhi có nấu một nồi cháo kê hợp khẩu vị, kính mời gia gia dùng. Hoàng Phi hài lòng tất cả cùng ngồi vào bàn ăn cháo, chàng thấy một bóng trắng bay vào gốc cây cổ thụ, tâm tư nghĩ rằng Bạch Khẹc đến, chưa kịp nói thì thấy Anh Tuấn, Mẫn Trâm, đồng lăn xuống đất, còn chàng đầu óc hơi xây xẩm, chàng biết đây là độc dược của bóng trắng vừa xuất hiện, tay trái chàng giả bộ ôm ngực, tay phải chàng búng một chiêu thức “Đăng Thiên Lĩnh Nam” vào gốc cây cổ thụ hơn trăm năm, biến thành ngàn mảnh như chẻ củi, chàng phi thân đến thấy thân thể nhân vật này đã bấy nát, lục phủ ngũ nạn xem ra không còn đơn tiên nào cứu nổi, dù chàng muốn cứu sống cũng vô phương, chàng đướng ngẫn người một lúc mới lật thi thể lên để xem, mới biết nội công võ học của người này không phải thầm thường, đở được “Đăng Thiên Lĩnh Nam” mà còn hơi thở thì cõi đời này hiếm có, tuy rằng kẻ này chỉ còn chờ trút hơi thở cuối cùng đi vào thế giới âm ty, chàng nhìn kỷ không ai xa lạ chính là ngài tổng trấn Cao Hổ Tiên tại Ðộng Đình hồ, chàng vừa nói đến tên Cao Hổ Tiên thì tai chàng không còn nghe hơi thở của y. Chàng trở lại bàn ăn xuất chiêu búng ra hai viên “Hạc Chu Sa” để giải độc, bồi luôn bốn viên “Thanh Long Đơn” trợ lực cơ thể bình phục như thường, còn chàng chỉ cần vận khí nội lực là đẩy sạch chất độc trong người ra ngoài, tuy vậy chàng vận công lại một lần nữa kiểm soát thân thể, không thấy còn chất độc mới an tâm. Chàng tự hiểu ở Trường Sa sẽ là chiến trường nay mai, sau lưng Cao Hổ Tiên là ai, nguyên ngân nào Cao Hổ Tiên biết đường vào động Nam Khê Sơn, mấy người biết đường vào động này, ai làm phản Cần Lĩnh Nam Bắc Tông? Cháng nói với Anh Tuấn, Mẫn Trâm:

— Các hài nhi bình phục chưa, vừa rồi có biết ai vào động của mình không? Đào Phụng Anh Tuấn, thưa:

— Thưa gia gia mấy hôm nay không có huynh đệ nào về đây cả, trong động rất yên tỉnh không thấy một bóng hình nào khả nghi. Chàng bảo:

— Các hài nhi theo gia gia ra gốc cây cổ thụ xem cho tận tường có một người vào động, may mà gia gia phát hiện được, nếu không thì ba cha con mình nguy lớn rồi. Cả ba ra gốc cây thấy xác của Cao Hổ Tiên, chàng thấy Anh Tuấn, Mẫn Trâm kinh ngạc, hoàn toàn không hiểu sự việc gì đã sẩy ra vào khi nào!.

Thực ra trong khi ăn cháo kê cả hai bị ngộ độc mạnh ngả lăng xuống đất, cả hai cũng không biết nhân vật này là ai, vào động lúc nào, cả hai lại càng ngơ ngáo ngó nhau khó hiểu, khó nhất là phải trả lời nếu gia gia hỏi. Chàng ôn tồn, nói:

— Các hài nhi an tâm, gia gia không hài tội đâu, trước mắt là táng tên gian này đi, rồi vào xem xét trong và ngoài nếu khả nghi thì cho gia gia biết. Chàng phi thân lên động trên quan sát trận đồ, rồi đến hai hầm giam thấy bình thường, đếm lại đầy đủ từng ấy người, lòng an tâm. Chàng xuống động dưới được Anh Tuấn, Mẫn Trâm cho biết:

— Thưa gia gia, chỉ có hai dấu chân lạ chính là người bị chết tại gốc cổ thụ.

— Các hài nhi nói rất đúng, dấu chân này mới xuất hiện là ra chiêu “Phi bộ mã” cho nên nhãn lực của hài nhi không thấy, y bỏ thuốc độc vào chén cháo cũng tài tình, gia gia ỷ lại không ai ra vào động được, chỉ người trong động mới biết mà trôi, nhưng mà nhờ cái ỷ lại do sơ hở của mình, mới khám phá định luật bí ẩn ngày mai phải làm gì. À trong mấy ngày trôi qua các con làm những việc gì nào? Mẫn Trâm:

— Thưa gia gia, tin tức của hạc đem về  rất nhiều, chúng hài nhi làm theo thứ tự như gia gia đã làm, ngày giờ người gửi không sai một ly nào. Chàng bảo Anh Tuấn:

— Hài nhi để những thư ấy ở đâu, sao không thấy tại sảnh đường?

— Dạ thưa, hài nhi để ở dưới gối đầu của phòng hài nhi.

— Tốt lấm, hài nhi đem ra cho gia gia xem.

— Dạ. Chàng bảo Mẫn Trâm:

— Hài nhi đi làm cơm ăn chiều, tối nay cha con mình còn phải luyện tập võ công nữa. Đào Phụng Anh Tuấn đem hồm thư ra trao cho gia gia. Nhân dịp này chàng thử lòng cùng tìm suy nghĩ của Anh Tuấn, Mẫn Trâm:

— Lý do nào hài nhi cất hồm giản biên trong phòng riêng?

— Thưa gia gia, chúng hài nhi ở nhà phụng sự cho gia gia, khi gia gia ra khỏi động là phải đề phòng mọi bất trắc, nhất là giản biên khắp nơi gửi về, phải xếp đặt cất dấu cẩn mật, có như vậy khi gia gia về mới làm việc nhanh chóng. Chàng vui cười hài lòng:

— Thì ra là thế, cẩn thận như vậy tốt lắm, chàng hỏi tiếp, nếu có một cao thủ vào đây như khi nãy, họ buộc hài nhi phải trao hồm giản biên này thì hài nhi đối phó với họ thế nào?

— Thưa gia gia, hài nhi và muội Mẫn Trâm cũng đã luận bàn việc này rồi, thà chết chứ không đưa hồm giản biên cho kẻ khác, bất luận là người trong động cũng vậy. Chàng để lòng ken hào khí anh dũng của Anh Tuấn, Mẫn Trâm, chàng hỏi tiếp:

— Nếu Cô mẫu Lữ Thư, hay nhị vị thúc bá Lý Bình Trung, Trịnh Trường hỏi đến hồm giản biên này thì phải đưa chứ? Anh Tuấn nghiêm nghị:

— Thưa gia gia, việc này chúng hài nhi cũng có luận bàn rồi, đã quyết định chung dù Cô mẫu hay nhị thúc bá có hỏi cũng không trao, vì người chủ của hồm giản biên này là gia gia, vả lại hiện nay mỗi người có trách nhiệm riêng, Cô mẫu ở thành Phiên Ngung, Lý thúc bá ở Nam Giao Chỉ, Trịnh thúc bá ở Ba Ba, nếu một trong ba muốn lấy hồm giản biên là chỉ có kẻ phản mới có ý đồ như vậy. Lúc này Mẫn Trâm vừa vào sảnh đường nghe gia gia hỏi:

— Nếu các hài nhi không trao hồm giản biên cho kẻ sấu ấy, thì các hài nhi sẽ bị tan thây nát thịt cũng có thể bị chết không chừng? Mẫn Trâm ứng khẩu:

— Thưa gia gia, dù chúng hài nhi có chết cũng hóa Phù-dung làm đẹp cho đời, mỗi ngày thay màu đổi sắc ba lần trắng, vàng, đỏ. Còn hơn trao hồm giản biên cho người khác, cuối cùng để thế gian chê cười hài nhi của gia gia sao?

— Tốt lắm, hôm nay các hài nhi chưa đụng phải bích núi nói sao cũng phải, mai này chỉ đụng vào phên tre thì lòng người biến thành miến đậu hủ, lúc ấy gia gia cũng chỉ biết cười ra nước mắt thôi. Mẫn Trâm đến trước mặt gia gia quỳ xuống, Anh Tuấn cũng quỳ theo:

— Thưa gia gia, tuy chúng hài nhi chưa lịch lãm ngoài đời, võ học cũng chưa thành thạo, nhưng khí phách phải can trường như gia gia, đó mới là máu sống trong lòng hài nhi, từ khi còn bào nhi cho đến ngày chào đời, rồi nay thành nhân hiểu được cõi sống, tiếp nhận giá trị làm người hữu ích, đó là một thứ tình thiêng liêng của gia gia tạo ra mới có chúng hài nhi hiện hữu. Còn việc bích núi hay phên tre đó chỉ là vật cản trở, gia gia tin tưởng chúng hài nhi sẽ vượt khỏi mọi vật cản trở trong những ngày mai sau. Cháng cười.

— Tốt lắm gia gia an lòng các hài nhi đi làm việc riêng, còn gia gia xem lại nhưng tin tức trong giản biên. Chàng rất hài lòng đối đáp cũng như hành động của Anh Tuấn, Mẫn Trâm, nhưng còn thời gian để chứng thực khả năng của trẻ.

Chàng mở từng giản biên một ra xem. Giản biên của Lữ Thư cho biết trên đường đến huyện Ni Lộc thăm sào huyệt Trà Bích Sơn.

Lý Bình Trung báo cáo, Nam Việt Vương xuất lệnh binh triều tham chiến, hiện nay đang chuyển lương thực tăng cường cho sào huyệt Trà Bích Sơn.

Trịnh Trường mỗi ngày khám phá nhiều quy luật sinh hoạt của bọn quan ác bá cường hào của các huyện cương giới Giao Chỉ, Tượng Quận, Quế Lâm.

Giản biên của đại huynh Hoàng Khải viết. Sau khi hiền đệ đi khỏi nội thành, Thái tử điện hạ đã nhận được tịch đảng làm phản của đệ cung cấp, lập tức kiểm tra trong ngày khám phá được nhiều tổ chức cùng âm mưu, Thái tử hành động rất khéo léo buộc tội tham ô, cấu kết ác bá, cường hào, đưa chúng qua Hải Nam đông giam lỏng và tịch thu tài sản, còn lại những quan quân đại thần chờ hiền đệ mật tấu về triều.

Giản biên Tổng lý Cần Lĩnh Nam Bắc Tông ký tên Hoàng Lữ Giao, Hoàng Lữ Trinh. Nhị Cô mẫu, thư khẩn. Tại Trường Sa người dân an hưởng thanh bình, sinh hoạt như thường ngày nhưng thực tế thì không phải như vậy, nhất là Cần Lĩnh Nam không thể nào nhìn thấy sự yên tỉnh khiếp sợ, lý do từ khi Trịnh Đình Thông cùng Chu Hào về đây có một xáo trộn nhỏ Cô mẫu không để ý. Đến nay đã hiểu được một phần nhưng không biết cao thủ nào âm thầm ám hại người của Cần Lĩnh Nam Bắc Tông. Việc tiếp theo Chu Hào mất tích hai ngày, Cô mẫu cùng Chu Thông Được đi tìm kiếm thì gặp Chu Hào bị bất tĩnh, tay chân trói nằm trên thuyền câu bên hữu bờ Động Đình hồ, khi tỉnh lại Chu Hào kể hết mọi việc cho Cô mẫu nghe cũng không biết rõ kẻ bịt mặt là ai. Chu Hào còn cho biết thẻ bài về động đã bị mất, khi hỏi Chu Thông Được thật kỷ mới biết tình cha con lâu ngày gặp nhau tâm sự về đời sống trong động Nam Khê Sơn, sơ ý để cho người ngoài biết được, đó là một việc làm do cha con Chu Thông Được phải bị kỹ luật. Mấy ngày sau tự nhiên liên tiếp tám huynh đệ Cần Lĩnh Nam bị chết, tổng cộng trước sau hai mươi người, trong số đó có Mạc Thu Tá, Lê Đạt, Võ Thu Hồ.

Đọc đến đây nước mắt của Hoàng Phi đổ lệ xuống giản biên, lòng xót xa khóc thành lời tự hỏi, tại sao võ học của tam đệ tử không phải là tầm thường mà để người hảm hại, không bảo vệ được chính mình! Chàng đọc tiếp, người mất tích hôm nay là tổng trấn Cao Hổ Tiên, Ðộng Đình hồ thiếu một cánh tay hào kiệt, Động Đình hồ sẽ bị đe dọa mất an ninh. Cô mẫu khẩn thiết hài nhi trợ lực và cho ý kiến để trừ cái họa vừa rồi. Tổng và phó lý CLNBT.

Hoàng Phi ngồi tại Nam Khê Sơn đã biết bên ngoài là nhờ biết kế lập trận, cũng như suy nghĩ các vấn đề khó khăn đi trước thời gian, chàng lấy giản biên hồi âm:

— Thưa nhị Cô mẫu, Trường Sa sẽ là chiến trường nay mai, trong nội bộ Cần Lĩnh Nam Bắc Tông phải bình tỉnh đối phó với địch, người bịt mặt chính là Cao Hổ Tiên, nhưng sau lưng y là ai thì chưa khám phá! hai mươi Cần Lĩnh Nam Bắc Tông, trong số đó có Mạc Thu Tá, Lê Đạt, Võ Thu Hồ bị ám hại chính là Cao Hổ Tiên ra tay, y là người lấy thẻ bài của Chu Hào, rồi tự ý đến động Nam Khê Sơn nạp mạng, hài nhi đã giết chết y trả thù được cho hai mươi huynh đệ, nhất là hương hồn của Mạc Thu Tá, Lê Đạt, Võ Thu Hồ được an lòng siêu thăng.

Hiện nay hài nhi có hai câu hỏi khá nghiêm trọng. Nguyên nhân nào thúc đẩy Cao Hổ Tiên làm phản. Ai là người chủ mưu?

            Nhị Cô mẫu khẩn cấp cho hồi đại huynh Trịnh Đình Thông cùng Chu Hào về Nam Khê Sơn, còn thúc bá Chu Thông Được, Cô mẫu cho miễn kỹ luật, hiền đệ Trịnh, Lý, Đào và Trần Bình Thành sẽ đến Trường Sa. Nhị Cô mẫu xuất ngân trang bị kiếm, đao, thương luyện tập ngày đêm. Hài nhi chúc nhị Cô mẫu bình an. Ký tên hài nhi HP.

            Chàng viết tiếp bốn giản biên triệu hồi Lữ Thư, Trịnh, Lý, Đào về động khẩn, tất cả di chuyển bắng hạc, cùng lúc viết một giản biên gọi Trần Bình Thành về động  khẩn.

Chàng độc tiếp giản biên của Tổng lý Vũ Thư Minh, Cần Lĩnh Nam Trung Tông, nội dung viết. Hài nhi thân yêu, thúc bá đã bắt hết toàn bộ gian tế vừa Hán-Việt ba mươi người, thúc bá thực hiện đúng kế hoạch của hài nhi, hiện giờ tên Hán gian tế La Tử Hiếu đang trên đường về Giao Chỉ. Chàng hồi âm:

— Thưa thúc Bá, hài nhi chúc mừng thành công, nhờ thúc bá giam cho thật nghiêm mật không cho cá nhảy ra ngoài, cùng lúc báo tin cho Tổ phụ Lạc Việt Vương (Hoàng Trung Nhất) đến thẩm tra lấy thêm chi tiết đảng tịch của chúng. Thưa thúc bá, những ngày tới rất phức tạp, nhờ thúc bà huy động toàn lực Cần Lĩnh Nam Trung Tông tập luyện ngày đêm và xuấn ngân trang bị kiếm, đao, thương, nhằm phòng khi có biến động toàn quốc, Thúc bá thay đổi nhân sự mới tại cương giới Ly Bộ Sơn, tu bổ thành trì, lập nhiều trại canh phòng. Ký tên hài nhi HP.

Chàng gọi hạc chuyển giản biên, hạc bay thẳng vào mây đã xa ngoài tầm nhãn lực, chàng vào sảnh đường viết tiếp một giản biên gửi Thúc bá Hoàng Biên:

— Thưa thúc bá, tên Hán gian tế La Tử Hiếu đang trên đường về Giao Chỉ, thúc Bá lập kế hoạch hành động thật khéo léo nhằm bắt trọn gói mà không giao động đến các huyện phủ, sau đó thúc Bá nhờ đến Nam Việt Vương cho cả nhà La Tử Hiếu đi an trí bí mật một nơi xa. Ký tên hài nhi HP.

Anh Tuấn, Mẫn Trâm, vào sảnh đường mời chàng dùng cơm chiều:

— Thưa gia gia vào hậu sảnh đường dùng cơm ạ. Chàng đi theo sau để ý tướng mạo hai đứa con nuôi, chàng mừng thầm nay chúng đã lớn, gân cốt rất tốt hy vọng sau này hơn cả Đào huynh, chàng suy nghĩ thầm, phải chăng Trần tỷ còn tại thế gian thì tốt quá, chàng ngồi vào bàn kiểm tra lại thực đơn:

— Các hài nhi dùng cơm đi Anh Tuấn, Mẫn Trâm đồng nói:

— Đạ, mời gia gia, chàng vừa ăn vài miếng cơm, rồi hỏi:

— Hai tháng nay Đào gia gia có đến thăm các hài nhi không?

— Dạ, thưa đã đến ba lần. Chàng hỏi tiếp:

— Các hài nhi có thường dâng hương cho Trần mẫu không?

— Dạ, ngày nào chúng hài nhi cũng ra mộ dâng hương, buổi sáng thì Tuấn huynh, còn buổi chiều do nữ nhi.

— Tốt lắm, làm con phải thế, như ta đây ngày nào cũng nói chuyện với phụ mẫu thân. Mẫn Trâm hỏi:

— Sao nữ nhi không thấy gia gia nói chuyện với tổ phụ, tổ mẫu?

— Sau này các hài nhi có dịp sẽ nghe và thấy, bây giờ các hài nhi phải luyện văn võ để dụng vào việc ích cho đời. Ba cha con dùng cơm buổi chiều đạm bạc với những loại ẩn hoa và trái cây, sau buổi cơm chàng ra sân động ngắm cảnh hoàng hôn, tay cầm chén trà xanh trong lòng rất bình thản vô thường. Ai không biết tưởng chàng suy tư việc ngoài đời, vì lúc nào chàng cũng rất bận rộn tìm cách giải quyết những khó khăn cho đạt kết quả tốt đẹp, như hiện thời nạn gian tế, quân quan làm phản.

Anh Tuấn lo việc hậu sảnh đường, Mẫn Trâm lo việc nhà trù đã vào đâu đấy, huynh muôi rủ nhau ra sân chơi với gia gia. Anh Tuấn, Mẫn Trâm cũng cầm chén trà xanh ra sân động, chàng để ý có ba chén trà cũng hay hay:

— Các hài nhi uống hết trà đi, rồi gia gia sẽ có nhiều thứ để chơi.

— Dạ, chúng hài nhi uống hết rồi.

— Tốt lắm, bây giờ cha con mình ném chén trà lên không trung thử xem ai cao hơn, Anh Tuấn khoanh tay cuối đầu:

— Thưa gia gia, dĩ nhiên là gia gia ném cao hơn là chắc hẳn rồi, vì gia gia đứng cao hơn chúng hài nhi đến cả thước, còn võ học lại vô bờ bến. Chàng cười:

— Thế thì gia gia nằm xuống đất một tay kẹp dưới hông, một tay ném được không? Đào Trần Mẫn Trâm cười:

— Đúng rồi gia gia làm như vậy cũng gọi là chấp thắng trước, nhất định chúng hài nhi sẽ thắng, như vậy nữ nhi ném trước, đến Tuấn huynh rồi đến gia gia. Mẫn Trâm vận nội công ném chén trà, bay lên cao “vèo vèo”. Anh Tuấn vận nội công ném tiếp theo chén trà, bay cao hơn. Mẫn Trâm nhắc nhở:

— Gia gia ném chén trà lên đi. Chàng không ném chỉ vận nội công xuất chiêu “Đăng Bạch Long” trong “Đăng Thiên Lĩnh Nam” đẩy chén trà lên ngón tay cái, chén trà tự xoay bông vụ, phát âm thanh tiếng nhạc bay lên nhập vào hai chén trà của Đào Phụng Anh Tuấn, Đào Trần Mẫn Trâm, nội lực trong chén trà của chàng đẩy hai chén trà bay cao chỉ còn thấy một điểm đen mờ mờ trên không trung, chàng dụng nội lực kéo ba chén trà xuống thấp, chuyển một vòng tròn lớn, từ từ hóa thành vòng tròn nhỏ, ba chén trà tách ra bay cách nhau một trượng, không khác nào những ngôi sao di chuyển trên thái dương hệ, chàng đưa ngóng cái thu lại ba chén trà. Anh Tuấn, Mẫn Trâm, ngạc nhiên, tầm trồ tự hỏi đây có phải là phép màu nhiệm hay không? Đào Trần Mẫn Trâm, bạo miệng hỏi:

— Thưa gia gia làm thế nào mà ba chung trà bay đẹp như vậy, còn phát ra âm nhạc rất hay, chúng hài nhi có học được không gia gia?

— Được chứ, nhân đêm nay các hài nhi luyện tập chỉ một chiêu “Đăng Bạch Long” là đủ sức giết chết tên Cao Hổ Tiên, nhưng trước hết các hài nhi phải được thông bác mạch, khi ấy mới luyện tập được chiêu này, vây các hài nhi ngồi bình thường trên tảng đá bằng phẳng để gia gia chuyển nội lực thông bách mạch. Các hài nhi nghe gia gia đọc rất chậm, thực hành thật đúng không được sai, bây giờ gia gia  đọc rất chậm hãy tiếp thu, khởi đầu.

Không suy nghĩ cảnh vật trong ngoài thân thể, từ từ thả long, tâm hồn trong sạch cứ thế mà hành năm khắc. Chàng đọc tiếp. Mở cửa Hộ Pháp, thu dưỡng khí vào, đưa dưỡng khí đến Cửu Trùng Thiên, tiếp theo dẫn dưỡng khí lên Bác Quái Thiên, hạ xuống Đơn điền, đẫy dưỡng khí xuống cùng trụ Đường Thiên, hồi dưỡng khí xuất ra cửa Hộ Pháp, trở về vị trí thân thể bình thường. Chàng hỏi tiếp:

— Các hài nhi thấy thân thể thế nào? Anh Tuấn, Mẫn Trâm đồng đáp:

— Thân thể của hài nhi trong lúc ấy như bay bổng, có hấp lực ấm áp lạ thường, dương khí đi đến đâu các cơ thần kinh động đến đó. Chàng vui mừng:

— Tốt lắm, cứ thế các hài nhi luyện tập ba giờ, nhớ không được xuất ra vì thời điểm này khá quan trọng cho tương lai của các hài nhi, thôi khởi luyện đi nhé. Anh Tuấn, Mẫn Trâm đã có căn bản luyện phi thân trên suối cũng như luyện tập khí dương âm cho nên ngồi điều khí không lấy gì là khó khăn, còn may mắng được uống các loại thuốc dưỡng sinh và giải độc của Hoàng Phi, vừa rồi còn được ân hưởng bốn viên “Thanh Long Đơn”

Hoàng Phi ngồi trầm ngâm, mỗ thừa biết “Thanh Long Đơn” rất quý còn hơn cả “Đơn thập tử nhất sinh”, đơn này chỉ trong động Lạc Việt mới có tinh chất đuôi con khủng long, loài bò sát khổng lồ đã tuyệt chủng vào thời đệ nhị kỷ. Chàng học được trên Ngũ bích “Dược Giới Lĩnh Nam” và phương pháp bào chế “Thanh Long Đơn” tại kho thuốc. Chàng tự chế được một trăm tám viên, nay còn một trăm bốn viên. Quả thực hai đứa trẻ này đã có kiếp sinh từ đầu gặp mình thì bốn viên thuốc “Thanh Long Đơn” cũng đáng để chúng được hưởng sự tự nhiên vô cầu.

Trong ba giờ trôi qua, chàng thấy hai trẻ thành ý tốt, trên cửa Hộ Pháp đã mở ra khí dương âm thông suốt. Hai tay chàng vận nội công chuyển “Huyệt Pháp Lĩnh Nam” vào Anh Tuấn, Mẫn Trâm, ba khắc sau tất cả bát mạch được thông, gồm mạch âm “tim, phế, tỳ, can, thận” với tâm bảo có sáu bộ phận thuộc dương “đại trường, tiểu trường, đởm, bàng quang, tam tiêu” xem là Bát mạch “âm kiểu, dương kiểu” phối hợp đã thành công. Chàng bảo:

— Các hài nhi hồi thân thể trở về binh thường, từ đây các hài nhi đã có huyệt mạch khởi hóa pháp thần kỳ, cũng như ngũ tạng đã thông hai yếu huyệt “Vân môn” và “Trung phủ” đó là các huyệt nhỏ ở hai cánh tay, khi xuất chiêu thành mười đầu ngón tay thép, có khả năng tự chữa được các chất độc, không cần nhờ đến người khác, chỉ cần vận khí là thân thể được bình thường, cũng có khả năng bế các huyệt mạch khi bị trúng thương, nhờ có âm dương bảo vệ thân thể. Anh Tuấn, Mẫn Trâm, nghe gia gia nói vậy cũng ngạc nghiên:

— Thưa gia gia trước mắt chúng hài nhi sai khiến được chén trà bay theo ý mình được không ạ?.

— Các hài nhi làm thử đi rồi sẽ biết, nhưng việc gì cũng phải luyện từ từ mới thành tựu, nó cũng phải lớn lên như ngày khởi đầu chào đời của các hài nhi vậy, mới biết bò mà đòi chay đua với lực sĩ thì không thể nào thắng được người. Anh Tuấn, Mẫn Trâm, hiểu được ý của chàng. Cả hai vận nội công, quả thực thân thể lúc này thay đổi khác thường, với nội lực cuốn cuộn trong người không biết để đâu, Hoàng Phi bảo:

— Các hài nhi chuyển bốn bàn tay vào bích núi sẽ lấy lại thăng bằng. Anh Tuấn, Mẫn Trâm vân lời, vừa chuyển tay vào bích núi nổ lên bốn tiếng “ầm ầm” bụi mịt mù tỏa khắp một góc động, từ bích núi rơi xuống thành đống đá vụn, như của người đập đá để xây nhà. Trong lòng của Anh Tuấn, Mẫn Trâm vui mừng, cả hai quỳ gối xuống đất:

— Chúng hài nhi bái lạy gia gia, nguyện đem thân này dâng hiến gia gia tùy ý sử dụng nơi nào cũng được.

— Tốt lắm các hài nhi ngoan ngoãn, đêm đã về khuya rồi, thôi cha con mình vào động nghỉ ngơi, sáng mai làm việc tiếp.

Hồi 18

Hán Gian Hết Đất Tung Hoành

Diễn Đàn Facebook

Huỳnh Tâm - Anh Hùng Nam Việt