Ải đầu biên giới phía bắc Trường Sa có Động Đình hồ thánh địa khai sinh Lĩnh Nam, Dương Tử giang được phân hai bờ, Nam hồ Động Đình thuộc về Lĩnh Nam, người đời gọi miền Bách Việt. Phía bắc Dương Tử giang thuộc về Lĩnh Bắc, người đời gọi Hán Di. Biên giới thứ hai là ngọn Việt Thanh lĩnh, về hướng Tây huyện Thanh Mai, giáp phía Nam thuộc tỉnh Nam Hải của Nam Việt. Đông giáp Phúc Kiến thuộc Hán Di.

Biên giới này thường xuyên có chiến tranh Việt Hán, quân Hán Di xâm nhập cướp của, giết người, bắt dân Nam Việt làm quân phu cho giặc Hán, Lạc dân lúc nào cũng phập phồng lo sợ không yên.

Lạc dân huyện Thanh Mai đã chịu quá nhiều khốn khó, cứ đến những mùa ngũ cốc thì tai vạ giặc Hán tràn vào cướp bóc, Lạc dân không thể tiếp tục chấp nhận được hơn nữa. Kùa lúa đông xuân này quân cướp Hán sẽ tràn qua như mọi khi, buộc lòng Lạc dân làm tờ tấu gửi lên Trường Sa Vương, tờ tấu kể rõ nguyện vọng của Lạc dân, tờ tấu còn cho biết qui luật định kỳ quân Hán vượt vào cương giới Nam Việt–Hán Di.

Trường Sa Vương tiếp nhận được nguyện ước của Lạc dân, triệu tập quan quân, anh hùng bàn thảo xuất quân đến huyện Thanh Mai, tảo diệt quân giặc cướp Hán.

Nhiều cuộc bàn thảo xuất binh, nay mới kết luận nhà Hán cố tình có thái độ khiêu chiến, Hán chọn huyện Thanh Mai làm nơi châm ngòi mở cuộc chiến tranh. Trường Sa dụng mưu lược để tránh cuộc chiến, nhưng phải cho quân Hán rơi vào tam thập lục kế, có như vậy Hán mới không lấy lý do mượn kế mở cuộc chiến, Trường Sa Vương quyết đánh một trận cho Hán di khiếp vía, chỉ cần một trận thắng trăm năm quân Hán không dám quây đầu hiếu chiếu, quân binh Trường Sa ngẩng đầu lên nhuệ khí khiêu hùng, Lạc dân cùng quân binh quyết chiến trận Thanh Mai, đóng lại cương giới không cho ý đồ bành trướng của quân Hán.

Trường Sa Vương chọn ngày đầu vụ mùa lúa Đông xuân, xuất chỉ lệnh cho Phi Đình Hầu tướng quân Chu Thông Được làm Soái tướng lãnh binh. Phiêu Kỵ tướng quân Tô Trang Khan được chỉ định lập trận phục binh. Thái úy Đinh Thành Châu lập chiến sách, Đạo sĩ Trần Mạnh Côn quân lương và tiếp viện, Quản lộc đại phu La Đức ở lại thủ phủ Trường Sa tuyển quân, Đạo sĩ Trần Hạnh Phước liên lạc chiến trường và hậu phương, Trường Sa Vương thảo văn tấu về triều Phiên Ngung.

Ngày thứ Trường Sa Vương Vũ Thư Minh cùng với tướng quân Lê Tư Bình đi tảo trừ những đảng cướp phi nghĩa, các thế lực tranh chấp kinh doanh, còn Phi Đình Hầu tướng quân Chu Thông Được khởi binh, mở chiến dịch Thanh Mai, vào đến nơi ông tập hợp quân binh, Lạc dân truyền lệnh.

― Lạc dân thanh niên tham gia vào quân dân công, Lạc dân già yếu, phụ nữ, trẻ thơ di chuyển vào phần đất an toàn, trong huyện Thanh Mai có bao nhiêu Lạc dân, thì thay vào bấy nhiêu binh sĩ giả làm Lạc dân.

Những ngày đầu binh sĩ cùng Lạc dân làm việc đồng áng, mục đích để quân sĩ quen cuộc sống mới, đồng thời làm việc thay cho Lạc dân khi vắng nhà, cũng là dịp để binh sĩ tìm hiểu kinh nghiệm chiến đấu trong lúc quân Hán tràn vào huyện, khám phá qui luật của quân Hán vào ra cương giới.

Địa thế Thanh Mai có bốn lộ, ba cửa hiểm yếu cách nhau hơn ba trượng, chỉ có một cửa thông lộ từ trại binh Hán đến huyện Thanh Mai. Phi Đình Hầu tướng quân Chu Thông Được truyền lệnh trước tam quân, tướng sĩ:

― Hởi tam quân tướng sĩ đồng Lạc, mỗ đã nắm được một phần địa thế của bốn cửa cương giới, theo binh pháp nắm được qui luật của quân Hán là thắng, nay mỗ chiếu theo tờ báo của Lạc dân làm qui luật mà điều động binh pháp, như quân binh Hán thường cướp ở ba cửa hiểm yếu, còn cửa thông lộ yên tĩnh, những khi quân Hán đi cướp thì kéo quân từ thông lộ đến ba cửa hiểm yếu, họ giả làm quân cướp. Phiêu kỵ tướng quân Tô Trang Khan hớn hở đưa ra binh kế sách:

― Như thế là đúng vào binh kế của quân Trường Sa rồi, thứ nhất lập trận binh hư cho Lạc dân luyện tập phòng thủ trên thông lộ, nhưng phải cách thật xa tầm mắt của quân Hán, buổi sáng luyện tập sau canh năm, buổi chiều từ thời Dậu. Quân Hán sẽ để ý Lạc dân luyện tập chuẩn bị ứng chiến. Lạc dân tập phòng thủ đương nhiên rất vụng về, người Hán sinh lòng xem thường Lạc dân, tính kiêu căng của quân Hán không đề phòng phục binh của quân Trường Sa.

Khi phục binh, thì ém vào những nơi hiểm yếu, mà từ xưa nay quân Hán không để ý đến, lập ba vòng phục binh bằng hố cá nhân, mỗi vòng bao vây địch phải theo lệnh hiệu tù và thứ nhất, tiếp theo các vòng cũng thế. Dụ địch thì dụng vào binh nữ, binh nam cải trang làm đồng áng, còn Lạc dân đi buôn vải, tơ, lụa v.v…

Khi quân Hán đến thì bỏ chạy như trước đây, chạy cầm chừng nhử địch, đến lúc quân Hán qua hết cửa cương giới thì phản công lại, binh phục đóng cửa cương giới thành ba vòng, không cho một quân Hán nào về cố quốc, khi trận chiến chấm dứt đợt nhất thì mở cửa vòng bao vây để quân địch Hán kéo đợt hai vào, quân binh trang bị hơn hai trăm cột rơm thật lớn, ở thật xa nơi chiến trận, quân ta đốt cột rơm lừa địch Hán tiến vào, như vậy lừa được địch Hán đi sâu vào nội địa của Trường Sa, thế là quân Hán đã vi phạm cương giới, trận này chỉ cần đánh thật nhanh trong ba ngày là chiến thắng, sẽ tạo ra một thế mạnh quân dân Trường Sa lên tinh thần không hao tổn quân binh là bao. Phi Đình Hầu tướng quân Chu Thông Được đắc ý :

― Thưa quí tướng sĩ, nay mỗ cho ngũ nhi nữ ra trận chiến để quân Hán biết mặt nữ hào kiệt Nam Việt quốc. Họ Chu sinh được ngũ nữ, ông không có con trai, ngũ nữ tính như cha thích võ nghiệp, cung, kiếm, quyền đã đến trình độ hành hiệp giang hồ, võ nghiệp ngũ nữ họ Chu được như ngày nay cũng nhờ quí thúc phụ bồi cố như Tô Trang Khan, Đinh Thành Châu và Trần Thượng Độ. Ngũ nữ hiệp Chu Thanh Thủy, Chu Ngọc Thủy, Chu Thượng Thủy, Chu Hoa Thủy, Chu Trang Thủy rất được lòng Lạc dân Trường Sa. Ngũ nữ hiệp được gia gia cho ra trận đánh đuổi giặc Hán thì lòng phơi phới, xung phong nhảy vào ngọn giáo dụ địch. Trận chiến được bày ra hơn mười lăm ngày, thời gian này luyện tập trận quân binh cũng đã hoàn chỉnh. Lạc dân theo hướng dẫn tập luyện mỗi ngày, đúng như dự kiến.

Vào buổi sáng ngày thứ mười bảy quân Hán kéo vào đất Nam Việt như chốn không người, số quân trên năm trăm đông hơn những lần trước, quả nhiên quân Hán đuổi theo những thanh niên nam nữ đi buôn bán vải, tơ, lụa trên đường làng, đánh rơi quai vải lụa xuống đất, cũng như thanh niên nam nữ đang làm đồng áng bỏ chạy vào làng .

Quân Hán thích thú mới xuất quân mà đã được chiến lợi phẩm, tiến đến đâu dân làng bỏ chạy thoát thân, quân Hán đuổi theo những quai vải, tơ, lụa phía trước, tiếp tục tiến sâu vào huyện, quân Hán vì xem thường Lạc dân đã sa vào phục binh của Trường Sa, tiến tù và thứ nhất được phát ra.

Từ lòng đất tướng sĩ, Lạc dân, vùng dậy bất ngờ tay cầm khí giới ngọn mác, giáo, gươm, đao sáng ngời khác nào một rừng gươm giáo, quân tướng Hán hoảng kinh không kịp trở tay để ứng chiến, đã muộn màn tổn hao phân nửa. Tù và thứ hai nổi lên đánh thúc vào quân tướng Hán, tù và thứ ba nổi lên năm trăm quân Hàn chỉ còn hơn bốn mươi binh mã, tướng Hán họ Hà tên Thông và phó tướng họ Lã tên Hậu Bình phải thủ trong thất vọng, ba vòng vây kẹp cứng. Lúc này Phi Đình Hầu tướng quân Chu Thông Được, Phiêu Kỵ tướng quân Tô Trang Khan và ngũ nữ hiệp họ Chu giả làm Lạc dân xuất hiện, tay cầm cung tên tám phương bắn vào đầu bốn mươi con ngựa cả thảy lăn ra chết, hai tướng Hán vội rời khỏi yên ngựa, Hà Thông tay kiếm, Lã Hậu Bình tay đao, kẻ Bắc người Đông đứng thủ chờ tử chiến. Phi Đình Hầu tướng quân dụ địch:

― Nhị vị tướng quân và binh sĩ hãy bỏ khí giới xuống đầu hàng thì được tha mạng sống, bằng không Lạc dân Thanh Mai không cho một ai ra khỏi vòng vây này. Binh sĩ Hán nhuệ khí cùng kiệt, sức chiến đấu cũng không còn, đột biến có hơn nửa quân Hán bỏ khí giới chạy ra vòng vây, Lạc dân bắt làm tù binh, còn lại mười bốn quân binh tướng Hán, ngũ nữ hiệp họ Chu, cùng binh sĩ xung phong vào trận, tiếng kiếm “keng keng” tiếng đao “bon bon” tiếng cổ xúy trống trận “thùng thùng” quân binh Trường Sa thúc trận:

 ― Quân binh Hán ơi, từ đây đã ra thân tàn mạt vận, binh khí, áo bào đã tả tơi, thì mới biết mặt Lạc dân huyện Thanh Mai hèn nhát.

Tiếng thúc quân vang một vùng, không đầy nửa giờ ngũ nữ hiệp đã làm sạch cỏ Hán, tướng Hán họ Hà tên Thông chết dưới kiếm của Chu Thanh Thủy, phó tướng Lã Hậu Bình chết dưới kiếm của Chu Hoa Thủy.

Một tiếng tù và phát hiệu, phi tang tất cả binh sĩ tử trận của Hán, đem chôn tập thể. Tịch thu chiến lợi phẩm, thu dọn chiến trường cho thật sạch càng nhanh càng tốt. Phi Đình Hầu tướng quân ra lệnh sử dụng chiến lợi phẩm của Hán đế phản công Hán, cùng lúc cho nổi lửa đốt hai trăm cột rơm thật lớn, lửa và khói bay mù mịt cả một gốc trời, tiếng thanh la, tiếng trống nổi lên làm trận hư chiến như thật. Quân Hán đang ở cửa Đông cương giới thấy Lạc dân quyết tử cầm chân năm trăm quân Hán, tướng Hán không phân thực hư cho xuất trận trên ngàn quân, vượt cương giới để tiếp viện.

Quân Hán tiến sâu vào đất huyện Thanh Mai không gặp trở ngại nào nên yên lòng thúc binh đến phía trước gần khói lửa có tiếng thanh la, tiếng trống. Quân Hán tự đưa mình vào tử địa của trũng đồng khô, hơn ngàn quân Hán dưới trướng của bốn tướng soái họ Tăng tên Khứ Hồng, Tây tướng họ Bành tên Đại, Đông tướng họ Mạc tên Phục Tứ, hậu tường họ Thẩm tên Nhị Trung.

Binh thiện chiến Trường Sa giữ mặt núi hiểm trở do Phi Đình Hầu tướng quân chỉ huy, còn mặt có thể rút lui thì do quân thiện chiến Phiêu Kỵ tướng quân chỉ huy, đang bao vây quân Hán, còn quân Thái úy Đinh Thành Châu tiếp viện trấn giữ cửa cương giới Nam Việt-Hán.

Tiếng thanh la, tiếng trống vừa dứt, từ lòng đất quân binh Trường Sa vùng dậy bất ngờ, với quân phục, khí giới Hán sáng ngời, quân tướng Hán không kịp ứng chiến, thì đã hoảng kinh trong quân Hán tự loạn đánh nhau, tiếng kiếm liên tục thét lên “keng keng”, tiếng đao ồn ào “bon bon”, tiếng quân Hán la gào như chết, tiếng quát của tướng Hán cho biết bị phục binh.

Trong trận vó ngựa quây quần bụi mịt mù, quân và tướng không còn phân biệt với nhau, xác quân Hán tử trận không biết bao nhiêu mà kể, rối loạn quân đánh tướng, tướng đánh lại quân, mỗi cá nhân đồng tử thủ, thần trí quân tướng như điên cuồng, bốn tướng đánh với nhau để lo tự chế điều binh, không còn chỉ huy được quân binh mã tướng, khí giới quân tướng Hán chồng chất ngổn ngang biến thành cánh đồng tử thi. Bốn tướng Hán đã tử trận hết hai, tổn thất nặng nề không biết đâu mà lường nguyên nhân ! Còn lại hai tướng Hán ngơ ngác vẫn phải tiếp tục đánh với quân Hán, cuối cùng bị tử trận bởi năm quân sĩ Hán. Phi Đình Hầu tướng quân Chu Thông Được ra lệnh.

― Quân binh sĩ nhà Hán bỏ khí giới xuống, đầu hàng thì sống, bằng không thì bị tiêu diệt tại nơi này. Năm binh sĩ diệt trừ được bốn tướng Hán vội bỏ kiếm xuống thì những binh sĩ khác cũng đồng tình bỏ khí giới theo, tất cả nghe theo lệnh đứng thành hàng dọc hơn bốn trăm quân. Năm binh sĩ diệt được tướng Hán chính là ngũ nữ hiệp họ Chu chỉ huy ba trăm quân sĩ, quân của Phiêu Kỵ tướng quân Tô Trang Khan lập kế “mượn binh phục binh”.

Hàng ngũ quân Hán còn lại hai trăm bảy mươi hai quân, chính thức bắt được một trăm bốn mươi tám quân. Nhờ thắng trận trước lấy được quân phục và binh khí Hán, cải trang thành ba trăm quân Hán làm nội loạn, đánh lại trên ngàn quân Hán.

Tổng kết hai trận bắt sống được một trăm bảy mươi quân Hán, không có một tên quân tướng Hán nào đem thịt hồn về cố quốc. Quân sĩ Trường Sa có năm mươi tử trận, bảy mươi bị thương, chiến lợi phẩm không biết bao nhiêu mà kể. Cuối cùng một trăm bảy mươi quân Hán bị bắt đem ra hành hình để bảo vệ chiến lược của Trường Sa và cũng để cảnh cáo “Hán vào đất Việt tiếp nhận đáo đầu xác hồn phanh thây” Bình định được huyện Thanh Mai, lòng Lạc dân hớn hở vui mừng khôn xiết.

Soái tướng truyền lệnh năm ngày sau khao quân. Quân tướng binh mã thắng trận về thành Nhạc Dương, chỉ để lại một phần quân binh tinh nhuệ đồn trú tại cương giới Thanh Mai, tin mừng thắng trận đã loan truyền về Trường Sa, cùng lúc tin cấp báo có quân sư Hoàng Hạc đến Động Đình hồ, niềm vui nào bằng gặp lại cố nhân.

Tất cả anh hùng chuẩn bị đi đoán quân sư, bỗng Hoàng Hạc với tiếng vó tuấn mã thần hồng đã đến nơi, tay vừa gò dây cương, phi thân rời khỏi yên ngựa, ông đã vào đến sảnh đường, Phi Đình Hầu Chu Thông Được bái kiến, Hoàng Hạc lên tiếng:

― Chào quí anh hùng cố tri, không hẹn trước thế mà tất cả anh hùng không vắng mặt một ai, nào là Phiêu Kỵ tướng quân Tô Trang Khan, Đạo sĩ Trần Mạnh Côn, Thái Úy Đinh Thành Châu, Đạo sĩ Trần Thượng Độ, Quản Lộc đại phu La Đức, Tây Tướng quân Nguyễn Hùng.

Hỏi ra mới hay, hôm nay anh hùng Trường Sa tề tựu tại tướng phủ Chu Thông Được chuẩn bị đi Động Đình hồ đón quân sư về thành Nhạc Dương nghỉ ngơi. Tất cả đồng ngạc nhiên trước cuộc tiếp đón hết sức vui mừng, không ngờ Hoàng Hạc đích thân nguyên soái tướng quân ngoại hiệu “Hạc-kiếm-cầm-tiêu” một thân một mã không người hầu cận đến đất Trường Sa thăm viếng cố tri.

Cũng như trước đây ông để lại trong lòng anh hùng đất Trường Sa hai cuộc chiến thắng đánh đuổi quân Hán ra khỏi Động Đình hồ, Tam Sơn và Việt Thành Lĩnh, ông được Nam Việt Vũ Đế tín nhiệm làm quân sư ngoại triều, ngoài ra ông còn chiếu cố tình sâu nghĩa trọng, thường đến trước một bước để tỏ tình tâm giao với cố tri, tinh thần anh hùng Trường Sa cũng hớn hở vì mấy khi được hội ngộ Hoàng Hạc tại đất Trường Sa (Hồ Nam) cũng mấy khi có dịp đàm đạo binh pháp, võ học, lập trận đồ, điều binh khiển tướng của Hoàng Hạc, hai cuộc chiến thắng lẫy lừng đủ để anh hùng ngưỡng mộ, ông tái lập cương giới cho đất Trường Sa nay được thanh bình.

Chu Thông Được mời đồng liêu và quân sư Hoàng Hạc về phủ mình như đã hẹn theo sự chuẩn bị trước của anh hùng Trường Sa:

― Đệ kính mời quí đại huynh và quân sư về tư dinh của đệ, cho được thỏa lòng thù tạc tình nhà, cho trọn vẹn lòng mong ước của quí huynh. Quản Lộc đại phu La Đức người nghĩa hiệp cao niên nhất, có biệt hiệu “hiền nhân” đương thời uy tín nhất ở đất Trường Sa cũng hớn hở lên tiếng:

― Kính mời quí huynh đệ lên đường gấp để tranh thủ thời gian, đến tư gia của Chu tướng quân tha hồ đàm đạo nhiều vấn đề, quí huynh đệ nhớ cho người đi mời Trường Sa Vương và Trường Sa tướng quân.

Tất cả đồng ra đi về hướng tư gia Chu Thông Được thì gặp Trường Sa Vương Vũ Thư Minh và Trường Sa tướng quân Lê Tư Bình cũng đang đi tìm Hoàng Hạc, không ngờ đất Trường Sa rộng lớn mà thu hẹp trong tình cảnh một nhà, ai cũng mong mỏi chiêu đãi Hoàng Hạc trong tinh thần Bách Việt, cuối cùng đồng thuận về tư gia họ Chu.

Tiệc tiếp Hoàng Hạc đã chuẩn bị trước một ngày cho nên rất chu đáo. Một binh mã từ ngoài chạy vào sảnh đường xin thông báo:

― Trường Sa phủ và phủ Tướng quân cho biết đi vắng. Chu Thông Được trình bày thiệp mời để Trường Sa Vương và Trường Sa tướng quân hiểu buổi tao ngộ này, tất cả đồng am tường, hiểu cuộc hội ngộ trong tinh thần cố tri và tính cách đặc biệt là sự có mặt của Hoàng Hạc, cho nên không để người ngoài chú ý. Phi Đình Hầu tướng quân mời:

― Kính mời quân sư, Trường Sa Vương, Trường Sa tướng quân, cùng quí huynh an tọa, theo mỹ ý của quí huynh đệ đã dự trù bảo mật, sau khi mời quân sư về đây thì đích thân ngu đệ cho người đến Vương phủ mời Trường Sa Vương và Trường Sa tướng quân cùng về đây tham dự tiệc chiến thắng, cũng là đoàn viên, đàm đạo tâm giao ý hợp cùng với quân sư. Trường Sa Vương cảm động phát biểu:

― Mỗ và Trường Sa tướng quân đi xa nhiều ngày, nay mới về, được hội ngộ như thế này là hay lắm rồi, mỗ và Trường Sa tướng quân rất cảm động sự chiếu cố của tình thâm, lòng ưu ái và có sự hiện diện của quân sư, quí huynh đệ, mỗ rất cảm động ! Trường Sa Vương phát biểu tiếp:

― Mấy hôm nay toàn dân Trường Sa được tin mừng, thắng trận biên giới huyện Thanh Mai trở lại thanh bình, ơn đức này mỗ thay mặt muôn dân đa tạ, lòng ngưỡng mộ điều binh xuất tướng, tại hạ kính phục quí anh hùng, hôm nay cũng là ngày hãn hữu hội ngộ oai danh của quân sư, mỗ xin quí huynh đệ tự nhiên đàm đạo không nên trịnh trọng, không khách sáo, nếu mình giữ theo lễ quan trường thì mất vui, chúng ta hãy lấy nghĩa thù tạc với nhau, ở đây chỉ ngoại trừ quân sư Hoàng Hạc là tuổi cao cả cho nên huynh đệ tôn kính người. Tất cả cao hứng vỗ tay đồng tình với Trường Sa Vương.

Thủ phủ Trường Sa ( Nhạc Dương) dân số tộc Mân Việt ít hơn tộc Lạc Việt, nhưng đời nào cũng vậy tộc Mân Việt được Nam Việt Vũ Đế (Triệu Đà) trao ấn kiếm Trường Sa Vương, còn Trường Sa tướng quân là người tộc Lạc Việt. Riêng ở đất Quế Lâm tộc Lạc Việt tám mươi phần trăm, bởi vậy ấn kiếm Quế Lâm Vương và Quế Lâm tướng quân cũng là tộc Lạc Việt, đặc biệt ở Nam Hải kinh đô của Nam Việt, tộc Mân Việt dân số bốn mươi phần trăm, Lạc Việt hai mươi, Âu Việt mười lăm, Điền Việt mười, Tây Việt tám, Việt Thường bảy, Ðông Việt năm, người Hán chỉ được một phần ngàn, nói cung Phiên Ngung là nơi qui tụ toàn thể anh hùng Bách Việt. Chu Thông Được tiếp lời của Trường Sa Vương:

― Thưa quân sư và quí huynh đệ, trước hết đa tạ hảo ý của Trường Sa Vương, mời quí huynh đệ hãy cùng vào tiệc, cùng đàm đạo cho phần tao ngộ hôm nay được hàn uyên thù tạc trong phong thổ Trường Sa.

Tất cả chủ và khách chúc mừng sức khỏe cho nhau, đồng nâng ly rượu nếp thang thổ sản cánh đồng Tương, tiếng cụng ly rượu chạm vào nhau “cạch cạch” một âm điệu nhịp hai của ly men thiên thanh có điểm những cánh hoa đào lung linh trước gió, chiết ly vang độ âm giai cao, thấp như võ tướng xuất quân hành, những tiếng “khà khà” âm hưởng của rượu tình đất nước, có những tiếng “khà” man mác khắc khoải Trường Sa hiện về thực tại, sau một tiếng “khà” Hoàng Hạc chúc tụng cuộc chiến thắng vừa rồi, để ca ngợi anh hùng Trường Sa qua bài. Động Đình Ca:

” Dưng Tử cảnh giới chia hai

Nam Việt, Bắc Hán không sai cõi bờ

Từ sơ khai đến bấy giờ

Bách Việt văn hiến dãy thơ một trời

Như đồng Tương lúa ngát phơi

Sử Động Đình soi rọi đời xuân thu

Chép rằng Ngũ lĩnh thiên phù

Nay là Nam Việt dự trù Đông-Tây “

Động Đình ca thay lời hồn thiên sông núi, thôi thúc cố tri đất Trường Sa dũng lực bạt sơn, trí tuệ thông thuộc mưu trí tìm phương giữ nước, từ Trường Sa Vương, tướng quốc đến đạo sĩ sau khi nghe Động Đình ca, như chấp cánh cho luồn khí hào hùng nung đúc vào người dũng sĩ. Trường Sa Vương người tuổi trẻ nhất, xúc động:

― Thưa quân sư, quí huynh đệ, mỗ vốn là người thừa kế Trường Sa Vương sau hai cuộc chiến Ðộng Đình hồ, Tam Sơn và Việt Thành Lĩnh, thấm thoắt đã ba mươi lăm năm, ngày ấy mỗ còn là trẻ thơ, chỉ biết nghe không được quyền can gián việc tiền nhân, mỗ cảm thấy đau khổ mỗi khi có dịp đứng trước gia gia chính là người đầu tộc Mân Việt, lại có ý tưởng sống dưới thể chế nào cũng vẫn được làm hầu quốc, gần như một suy tư vọng ngoại, âu cũng do cái tham vọng lệ cha truyền con nối mới sinh lòng nhỏ hẹp như thế, đó là chuyện của ngày xưa, còn chuyện của ngày nay cần thiết nhất là tiếp nhận tổng thể Bách Việt truyền hiền, như chủ trương “Hợp Việt Xuất Hán” của Nam Việt Vũ Đế, có như thế mới gọi là đất dụng võ, anh hùng xuất hiện nhiều, chính là ở điểm Bách Việt biết trọng dụng người dân, cho phép người dân có một không gian để đứng, người dân là trung gian giữa trời và đất, làm anh hùng cũng thế !

Người anh dũng xưa nay chỉ có đôi chữ chí khí và chính nghĩa, dù biết rằng vào sinh ra tử trong trận chiến, họ vẫn an tâm tuẫn quốc vì Bách Việt. Ai đã gây ra những trận chiến ba mươi lăm năm trước, có phải nguyên nhân thứ nhất “phù Hán xâm Việt” và thứ hai ắt lòng quí huynh chẳng quên Nam Việt Vũ Đế phải xuất ngân kim, châu báu dự trữ trong hai kho Phòng Cơ và Tôn Nhân Phủ để cung phụng Trường Sa Vương, Hải Nam Vương (Châu Nhai, Đam Nhỉ) Giao Chỉ Vương (Âu Lạc) ba lòng duy vật ấy đã làm suy yếu “Hợp Việt Xuất Hán” và sứ giả Hán tên Lục Giả cũng là cái đáy lòng tham châu báu.

Nam Việt Vũ Đế đành phải chấp nhận vì đổi lấy “Hợp Việt Xuất Hán” bằng châu báu. Nhưng không may hai kho dự trữ Phòng Cơ và Tôn Nhân Phủ cũng có giới hạn của nó, đã đến lúc cạn kiệt không cung phụng theo như ý họ, mới có trận chiến Trường Sa, cùng lúc những hủ lậu khác trong tộc Việt xem thường “Hợp Việt Xuất Hán” điển hình là Mân Việt một trong những nguyên nhân tạo ra oán khí đến trời xanh. Hôm nay mỗ còn nhớ hai mươi lăm năm trước mà lòng se lại, nghiêng mình kính bái vinh danh hiền nhân đã tuẫn quốc, cũng như kính trọng quí anh hùng hiện diện hôm nay vì đất nước, từng điều binh khiển tướng trong hai cuộc chiến tàn khốc của lịch sử Trường Sa, đuổi được giặc Hán ra khỏi biên giới Lĩnh Nam, đem lại thanh bình cho tộc Mân Việt, mỗ tin rằng lịch sử sẽ phán xét những vọng ngoại, dụng quyền nhũng lạm của công tư, đều là đồng phạm làm phản Bách Việt.

Hôm nay mỗ nhờ quân sư Hoàng Hạc chuyển tấu sớ này lên Nam Việt Vũ Đế, để Hoàng Đế điện hạ định liệu ngày phái quân kho Phòng Cơ đến Trường Sa thu lại những châu báu lúc trước Hoàng đế cung phụng cho gia gia của mỗ, ngoài ra mỗ xin dâng hiến hai phần ngân kim tài sản riêng của họ Vũ cho công cuộc “Hợp Việt Xuất Hán” và mười hai xe lương thảo phục vụ đại hội anh hùng Phiên Ngung, sẽ chuyển đến thành Phiên Ngung vào cuối tháng này, mỗ mong Hoàng Đế điện hạ phê chuẩn.

Nay mỗ tuy bất tài, tuổi trẻ mạo muội mong quí đại huynh chấp nhận lòng thành xin kết nghĩa tình huynh đệ, một lòng trung nghĩa, còn cái danh Trường Sa Vương nó chỉ để trang sức cho kẻ duy danh. Trường Sa tướng quân Lê Tư Bình vui mừng lên tiếng:

― Kính thưa quân sư, quí đại huynh, ngu đệ thấy sao nói vậy, trong thời gian mười năm được ở gần với Trường Sa Vương mới biết tình thâm giao chân thực, hiểu được tấc lòng của người, nay để hết tinh thần cổ xúy “Hợp Việt Xuất Hán” ngu đệ rất thán phục tâm tư, và hành động của Trường Sa Vương.

Một ví dụ nhỏ cách đây vài hôm, ngu đệ chuẩn bị quân mã đi diệt trừ giặc cỏ Phùng Điền bang, Cờ Hồ đảng, Mãnh Hùng bang, những thế lực cấu kết với quan trường, tranh dành thị trường kinh doanh tạo ra bất công.

Trường Sa Vương thấy tình thế lắm bon chen ông thở dài.

Tướng quân để cho mỗ xuất binh trừ diệt giặc cỏ tại Động Đình hồ, tướng quân tuổi đã cao, nay nhường cho mỗ một ít công nghiệp để dâng hiến cho đất nước. Ngu đệ xét thấy khí khái Trường Sa Vương, không khác nào dũng tướng, cho nên ngu đệ chấp thuận đề nghị, tuy vậy ngu đệ tự làm phó tướng nhằm bảo vệ Trường Sa Vương. Cái lạ của Trường Sa Vương điều binh khiển tướng xuất quân ít, lấy lanh lẹ làm sức mạnh, chính tổng phủ Ðộng Đình hồ là Cao Hổ Tiên và Lạc dân không hay biết, ém quân trước mặt địch thủ, thế mà họ nào có hay gì đâu trước sức mạnh đang bao vây họ, khi Trường Sa Vương nắm được tình hình, biết có quân sư đang tạm trú ở Phong Lưu lầu, lập tức đặc phái tổng phủ Cao Hổ Tiên bảo vệ quân sư, tướng quân chuyển một phần quân mã qua hướng bắc Động Đình hồ, bao vây luôn Mãnh Hùng bang ngoài lữ điếm Châu Lầu, không ngờ gặp nhị vị đại hiệp bắt sống hai mươi hai đồng đảng Mãnh Hùng, rồi chuyển đồng đảng ra khỏi huyện Bình Hòa, đi hơn hai mươi cây số đường bộ, cho tầu ngựa rẽ vào khu rừng, cho cột vào gốc cây cả ngựa lẫn người, rồi nhị vị đại hiệp trở lại Châu Lầu. Thám sát cho biết tôn danh tính của nhị vị đại hiệp đúng là Hoàng Cương và Hoàng Biên, tướng quân muốn xuất hiện để kết nghĩa nhưng không tiện, vì phải dẫn độ hai mươi hai đồng đảng Mãnh Hùng về nhà lao huyện Hành Dương, khi trở lại thì mất dấu hai đại hiệp họ Hoàng, riêng tại Phong Lưu lầu thì Phùng Điền giết sạch Cờ Hồ đảng của người Hán, họ có những cử chỉ diệt gian trừ bạo, họ không lấy của ai một hào nào, cho nên tướng quân đem lòng cảm kích, tha thứ cho họ, khi Trường Sa Vương vào Phong Lưu lầu thì biết quân sư đã đi rồi, nhưng lệnh điệt còn ở lại tửu lầu.

Trường Sa Vương phi mã nước đại về thủ phủ tìm quân sư, trên đường về Trường Sa Vương quyết định đi về hướng nam thành Nhạc Dương, sau đó sẽ trở lại Phong Lưu lầu, còn nhị vị đại hiệp là người nhà của quân sư, riêng Phùng Điền đổi tên là Hoàng Đức cũng có liên hệ với quân sư nhưng ở vào trường hợp đột ngột chưa biết bí ẩn phía trong, nếu đây là cuộc cải hóa đổi đời của Phùng Điền thì đất Trường Sa xuất hiện nhân tài ? Ngu đệ và Trường Sa Vương vội vã đến phủ Phi Đình Hầu tướng quân, không ngờ hội ngộ với quân sư ở đây !

Lần đầu tiên Trường Sa Vương xuất quân, tuy không đụng độ với địch, nhưng nắm được chủ động tình thế, người còn nhận xét rất tinh tế về trấn Động Đình hồ quả là có những phước tạp. Trường Sa tướng quân Lê Tư Bình vừa dứt lời, thì tất cả anh hùng đều “ồ” lên, Quản Lộc đại phu La Đức lên tiếng:

― Trường Sa Vương đương nhiên là huynh đệ của tất cả quí vị hiện diện hôm nay, tuy rằng không công bố tình kết nghĩa ra đây, nhưng nó đã mang tình thâm sâu đậm từ bao giờ rồi, thoáng qua nội tâm quí huynh đệ đồng tình trải rộng tri kỷ, xin Trường Sa Vương tự nhiên đừng suy nghĩ nhiều, quí huynh đệ để lòng ngưỡng mộ, cảm phục hành hiệp, tinh thần bồi đắp “Hợp Việt Xuất Hán” của Trường Sa Vương. Hoàng Hạc cũng có đôi lời với anh hùng Trường Sa:

― Thưa quí huynh đệ, trước nhất mỗ rất cảm kích chân tình của Trường Sa Vương, mỗ sẽ tâu lên Hoàng đế điện hạ về ngày hội ngộ hôm nay, mỗ thay mặt Hoàng đế điện hạ, đa tạ Trường Sa Vương.

Riêng ngày tiếp nhận quí vật dự trữ vào kho Phòng Cơ thì chờ chiếu chỉ của Hoàng đế điện hạ, còn mười hai xe lương thảo mỗ đề nghị đích thân Trường Sa Vương thay mặt Hoàng đế điện hạ ủy lạo cho binh sĩ, mỗ sẽ tấu điều này lên Hoàng đế điện hạ, xin Trường Sa Vương an tâm, mỗ lấy làm thán phục lắm, nhất là trí tuệ thông thái xét đoán việc như thần, tư chất uyên bác, phù hợp mục đích “Hợp Việt Xuất Hán”.

Thưa quí huynh đệ, tình ngay nói thực tự đáy lòng, từ khi được kết nghĩa cùng quí huynh đệ, mỗ lúc nào cũng để lòng cảm kích, nhưng không có dịp đàm đạo nhiều như hôm nay, hai nữa tính võ hiệp của huynh đệ thường ở chiến trường cho nên ít khi huynh đệ có dịp hội ngộ, nhất là đàm đạo việc nước. Nhân hôm nay mỗ có vài ý kiến xin đem ra để luận bàn:

Thứ nhất, huynh đệ có cùng một suy nghĩ, hỏi người Hán phương bắc chính là kẻ thù của Bách Việt chúng ta phải không ? tất cả đồng trả lời:

— Đúng thế người Hán phương bắc chính là kẻ thù không đội trời chung, bầu trời Bách Việt không thể có Hán Di! Hoàng Hạc nói:

― Mỗ cũng đồng ý như quí huynh đệ.

Thứ hai, huynh đệ đứng trước kẻ thù là người Hán thì đương nhiên phải đậu cật đánh đuổi người Hán ra khỏi biên giới Lĩnh Nam có đúng thế không ? tất cả đồng trả lời:

― Nhất định cùng sống chết, một lòng đánh đuổi kẻ thù Hán Di ra khỏi Lĩnh Nam.

― Mỗ cũng đồng ý như quí huynh đệ.

Thứ ba, chủ trương “Hợp Việt Xuất Hán” lại chính là người Hán, như vậy huynh đệ nghĩ thế nào ? có nên “Hợp Việt Truất Hán” không ?

Câu hỏi này rất tế nhị, tất cả đều im lặng không một ai trả lời, Trường Sa Vương người thông thái nhất cũng phải ngồi im lặng, xem như đứng trước tình trạng hiện tại khó giải quyết !

Hoàng Hạc chờ đã lâu mà không ai lên tiếng, không gian trong sảnh đường im lặng, như có một áp lực không khí đè nặng trong mỗi người, tuy ai cũng có nội công tuyệt quần thế mà không đỡ nổi một độc chiêu trị quốc, ai cũng toát mồ hôi hột, lúc này Hoàng Hạc mới trịnh trọng, nói:

― Thưa cùng quí huynh đệ, hai câu đầu là chiến trận, huynh đệ chúng ta dĩ nhiên phải thắng địch mới gọi là sĩ khí anh hùng, đến câu thứ ba là sĩ khí anh hùng của người trị quốc.

Trước khi đàm đạo việc cai trị đất nước hiện nay để huynh đệ chúng ta thấy rõ vấn đề, mỗ có một ví dụ Trương Sa Vương hiện là nhân vật cai trị dân bằng trí lự, mưu sĩ và đức độ, còn Trường Sa tướng quân cai trị dân bằng trí dũng, khí khái và mưu lược. Hai vị muốn trở thành người cai trị thì phải yêu dân, thực hiện Nhân chính.

Tầm quan trọng nhất là khả năng cai trị Nhân chính, biết tổ chức từ mỗi đơn vị Lạc dân đến tộc Lạc Việt, mỗi đơn vị Lạc dân đồng đẳng đời sống, san sẻ giá trị sống cho nhau, giáo dục theo tinh thần Bách Việt. Người làm đầu một Lạc phải tạo ra của cải, vật chất phân phối công bằng cho Lạc dân.

Hiện nay có sự yếu kém tổ chức xã hội là do người cai trị thiếu khả năng, cai trị một Lạc Mân, không thể nào đứng vào vị trí Trường Sa Vương được và việc cai trị cao hơn cũng thế.  Nói chung khả năng trị quốc cần phải có một minh chủ đầy đủ tư chất, nhân vật ấy phải là người có tham vọng tập hợp Bách Việt, không vì duy quyền vì cá nhân, đó là cơ nghiệp nhà Triệu ngày nay vậy.

Đặc biệt mục phiêu “Hợp Việt Xuất Hán” đứng đầu là người Hán, chính là Nam Việt Vũ Đế, người này phải có tư chất mạng thiên tử, đó là những yếu tố để tập hợp Bách Việt và lập quốc, điều này quí anh hùng đồng biết tất cả rồi ! Người đã có mạng Thiêu tử “Con Trời” như Vũ Đế, có bản năng phi thường, thông minh quán chúng không ai sánh bằng, như bản tướng đặc biệt của một Thiên tử, đức độ, trí dũng, khí khái, mưu sĩ bạt quần.

Lòng yêu dân của Thiên tử đưa đến đất nước an cư lạc nghiệp, lắng nghe nguyện vọng của dân, tạo ra tư tưởng “Hợp Việt” biết hy sinh cá nhân để xây dựng một đất nước tự chủ đó mới gọi là Thiên tử “Xuất Hán”. Muốn diệt Vũ Đế phải có chân mạng Thiên tử hơn Vũ Đế và phải có tư tưởng hành động hơn “Hợp Việt Xuất Hán” khi mỗ là một thanh niên ở đất Giang Tô, trở về đất nước cách đây hơn bốn mươi năm bởi vì tư tưởng hành động “Hợp Việt Xuất Hán” đó là lời nói của một Thiên tử khiến cho mỗ, quí anh hùng Bách Việt khắp nơi đồng tụ về trong đó có cả quí huynh đệ nữa, chính lời nói lớn “Hợp Việt Xuất Hán” tập hợp được toàn khối Bách Việt về một mối, lập thành đất nước Nam Việt ngày nay, đánh đuổi giặc Hán Di ra khỏi biên giới Lĩnh Nam. Cũng ở trong lời nói rõ ràng “Hợp Việt Xuất Hán” Nam Việt Vũ Đế xây dựng một tổng thể đất nước Bách Việt mới, như văn hiến đặc thù tôn tộc Bách Việt, lưu cổ canh tân, phổ biến vào lòng dân. Nay toàn diện xã hội được thông thương qui về một mối, tôn tộc Bách Việt trở thành quan hệ mật thiết, thành khối đoàn kết duy nhất. Mỗ hy vọng tương lai tôn tộc Bách Việt có nhiều Thiên tử như Nam Việt Vũ Đế ngày nay.

Theo mỗ biết, Nam Việt Vũ Đế xây dựng tinh thần đất nước Nam Việt hiện nay, thừa nhận lịch sử quốc tổ Văn Lang, mười tám đời Hùng Vương, lập cựu kinh đô văn hiến Phong Châu. Tiếp tục xây dựng xã hội độc đáo, đặc thù riêng thời Văn Lang đã có tại Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam.

Lưu truyền văn hoá đi khắp toàn cõi Lĩnh Nam, kể cả cộng đồng sinh cư tại Trung nguyên. Đời Hùng Vương thứ mười tám, bị Thục Phán gốc Lạc dân Âu Việt ở phương bắc Văn Lang, đem quân sang xâm lăng, Hùng Vương thứ mười tám thua, phải nhảy xuống sông tự tử. Nam Việt Vũ Đế xuất chỉ dụ lập Đền Hùng thờ mười tám đời tại Phong Châu.

Trước đây Thục Phán thừa thắng tự xưng đế, làm vua nước Văn Lang lấy hiệu là An Dương Vương, đổi quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê và cho xây dựng thành Cổ Loa, trị vì hơn mười sáu năm.

Triều đình Thục Phán cai trị có hàng quan lại riêng, bạc đãi hiền tài, công thần, đam mê thụ hưởng, ở địa phương cai trị bởi quan văn thì có Lạc hầu, quan võ có Lạc tướng, còn thái ấp thì có Lạc đầu, lúc bấy giờ Văn Lang, Âu Lạc, chưa qui thuận vào Bách Việt. Đến khi Nam Việt Vũ Đế hạ chỉ dụ lập đền thờ An Dương Vương tại Cổ Loa thành thuộc huyện Ðông Anh, thì Văn Lang, Âu Lạc mới chính thức hòa nhập vào Bách Việt.

Nam Việt Vũ Đế từ Nam Hải đánh xuống Âu Lạc để thống nhất Bách Việt. Trận chiến Loa thành lấy Trọng Thủy, Mỹ Châu làm thuật binh, An Dương Vương mắc mưu bỏ Loa thành chạy, rồi tự tử. Từ đó Triệu Ðà sát nhập Âu Lạc, Âu Việt, Mân Việt, Lạc Việt, Thái Việt vào Nam Hải. Triệu Đà lên ngôi vương xưng hiệu Triệu Vũ Đế, quốc hiệu là Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung, tiếp theo thu phục được Tượng quận tộc Điền Việt, Trường Sa tộc Mân Việt, Lạc Việt. Hải Nam tộc Đông Việt,  Tây Việt, ngoài ra Nam Việt Vũ Đế còn liên lạc cộng đồng tôn tộc Bách Việt ở Trung nguyên.

Có phải Nam Việt Vũ Đế là người đầu tiên tập hợp được toàn thể Bách Việt về một mối, người còn cổ xúy tinh thần Bách Việt, văn hiến Hùng Vương, ngày nay đất nước Nam Việt rộng ngàn vạn dặm từ Nam sông Dương Tử xuống Nhật Nam, phía Tây từ Ba Thục qua biển Đông Hải. Triệu Vũ Vương lên ngôi vua hiệu là Nam Việt Vũ Đế, cùng lúc Nam Việt Vũ Đế phát động tư tưởng “Hợp Việt Xuất Hán” trong đó có mấy điều được xem là tiêu chuẩn lập quốc táo bạo:

― Lấy Nhân chính cai trị, tuyển cử hiền tài, chọn kẻ sĩ tôn tộc Bách Việt lập triều đình cho đến địa phương, toàn cõi đất nước Nam Việt, quan trường không trọng dụng người Hán. Đây là giai đoạn quyết định thống nhất Bách Việt và từ bỏ chính sách trị dân “Người Việt Trị Người Việt”.

Về triều đình, Nam Việt Vũ Đế là một ngoại lệ, tất cả Vua và quan đời sau không một ai được mang dòng máu Hán.

Còn mục phiêu xuất Hán. Nam Việt Vũ Đế bãi bỏ quan lại Hán, cho về hưu hay trả về cố quốc và bãi binh Hán. Tuyển chọn hiền tài, lập binh pháp Bách Việt như thời Hùng Vương, tất cả huyện trên toàn quốc do tôn tộc Bách Việt tự trị như Trường Sa Vương tộc Mân Việt, Tượng Quận Vương tộc Điền Việt, Quế Lâm Vương tộc Lạc Việt, Nam Hải trung tâm Nam Việt có Vua Vũ Đế, Giao Chỉ Vương tộc Âu Lạc, Hải Nam Vương tộc Tây Việt và Đông Việt, Chủ đạo “Hợp Việt Xuất Hán” xem như hết đời Nam Việt Vũ Đế, Nam Việt trở thành đất nước có kỷ cương và lịch sử riêng biệt, Nam Việt Vũ Đế rất can đảm, hành việc minh bạch và cổ xúy truyền thống văn hiến Hùng Vương, cho đến nay hơn năm mươi năm ông chưa hề đi sai chủ đạo “Hợp Việt Xuất Hán”.

Về hải ngoại Nam Việt Vũ Đế truyền rằng. Nơi nào có tôn tộc Bách Việt sinh sống tức là lãnh thổ nhỏ của Bách Việt ở đó. Mỗ cho đây là một ý tưởng mới lạ, mỗ đã từng mạo muội tâu: – “Tâu Hoàng đế điện hạ, hiện nay tôn tộc Bách Việt còn sinh sống Giang Tô, Chiết Giang (U Việt) Hà Bắc, Thiểm Tây, Giang Tây, Hồ Bắc, An Huy, Tứ Xuyên, Trùng Khánh và Quế Châu thế thì khi náo điện hạ đem những nơi ấy cùng về một mối ? ” Nam Việt Vũ Đế không ngần ngại, trả lời:

― Từ ngày hôm nay Trẫm xuất chiếu bang giao. Quả thực Nam Việt Vũ Đế vào tứ bửu phòng thảo ngay một tờ chiếu giao hảo, rồi thúc dục ngự sử Trần Chí Bình truyền lệnh sứ, đem lễ vật cầu xin nhà Hán cho phép tôn tộc Bách Việt lập khu sinh cư tự trị trên đất Hán, cuối cùng nhà Hán chấp thuận quyền tự trị rộng rãi, được kinh doanh như người Hán, còn ban hành bộ luật Sinh-cư trên đất Hán, người tộc Bách Việt phạm pháp trừng phạt theo luật Nam Việt.

Từ đó cộng đồng tôn tộc Bách Việt sinh cư tại Trung nguyên được tự do lưu truyền văn hóa, sinh hoạt truyền thống lễ hội Hùng Vương, ngự sử Trần Chí Bình thay mặt triều đình Nam Việt trên đất Hán.

Về biên giới định rõ Nam Việt, từ Dưng Tử giang ở phía Nam có Động Đình hồ gọi là Lĩnh Nam của nước Nam Việt, từ đó Triệu Đà lên ngôi hoàng đế hiệu Nam Việt Vũ Đế. Biên giới phương Bắc từ Dương Tử giang có Bành Lãi hồ gọi là Lĩnh Bắc, thuộc Trung nguyên nhà Hán, Lưu Bang lên ngôi hoàng đế hiệu Hán Cao Đế, hai nước giao hảo cống lễ triều đồng đẳng, tuy vậy việc giao hảo với nhà Hán như con nước có lúc nhu lúc cương, nhà Hán thường trở mặt đem binh mã xâm lăng nước ta, nhưng không tài nào chiếm được một tấc đất của Nam Việt, Nam Việt Vũ Đế có công lập quốc, thủ đô Phiên Ngung và quốc hiệu Nam Việt. Tương lai Nam Việt còn tồn tại hay phải mất vào ngoại ban là do trách nhiệm của tôn tộc Bách Việt !

            Nói về Tôn Nhân Phủ : Triệu Hoàng thái hậu là Trình thị người thôn Đường Thâm, huyện Giao Chỉ tộc Âu Lạc, Trọng Thủy ít nhất có nửa phần dòng máu Việt, còn cháu ông là Triệu Hồ hoàn toàn dòng máu Việt, nay Triệu Hồ đã lập gia thất người huyện Linh lăng tộc Lạc Việt, như vậy “Hợp Việt Xuất Hán” của nhà Triệu chẳng những có công khai sáng Nam Việt mà ngày càng gắn bó bằng tâm hồn, bằng chan hòa dòng huyết thống tôn tộc Bách Việt !

Lấy lương tâm mà xét Nam Việt Vũ Đế đem hết tài trí để lập quốc cho tôn tộc Bách Việt, nay đã có một cương vực ngàn vạn dặm. Phần mỗ có một hồ nghi Nam Việt Vũ Đế có huyết thống Bách Việt, không phải là người Hán, nếu đem đối chiếu tư tưởng và hành động quốc hiệu Nam Việt Vũ Đế thì thấy rõ, nói cho cùng không ai biết gia phả Nam Việt Vũ Đế, trừ khi chính Người xác định thân thế của mình ! hôm nay mỗ phân tích để quí huynh đệ hiểu tinh thần xây dựng một Nam Việt hợp tộc hùng cường không thua gì phương Bắc.

Nhân đây mỗ than thở một điều, lấy làm xấu hổ vô cùng, bởi có vài phần tử tôn tộc Bách Việt đem đất nước, rừng biển của tổ quốc mình, dâng cho người Hán phương Bắc, nhằm mưu cầu cái sống nhục thể, vì nguyên nhân đó mà Nam Việt Vũ Đế mới lập ra đại hội anh hùng Phiên Ngung.

Thưa quí huynh đệ ngày chuẩn bị đi tham dự đại hội anh hùng Phiên Ngung thì nhớ bảo vệ đất nước của tôn tộc Bách Việt, đừng để bất cứ ai đem bán một tấc đất của tổ tiên Bách Việt cho Hán Di, cần nhất người trượng phu phải dũng, chí khí và trí tuệ xét đoán khôn ngoan thì loại được thành phần làm phản.

Tuy Nam Việt Vũ Đế chưa có một lời nào phiền trách tôn tộc Bách Việt ta, nhưng mỗ rất ái ngại vì những phần tử trong tôn tộc Bách Việt làm gian tế, với ý đồ đem đất nước của tổ quốc mình dâng cho Hán Di phương Bắc, bởi thế huynh đệ phải cảnh giác đừng để mất sĩ diện anh hùng tôn tộc Bách Việt, mỗ xin hết lời chỉ mong quí huynh đệ một lòng thành tâm vì Bách Việt .

Trường Sa Vương Đào Thư Minh, Trường Sa tướng quân Lê Tư Bình, Quản Lộc đại phu La Đức, Phi Đình Hầu tướng quân Chu Thông Được, Phiêu Kỵ tướng quân Tô Trang Khan, Đạo sĩ Trần Mạnh Côn, Thái úy Đinh Thành Châu và Đạo sĩ Trần Thượng Độ. Tất cả im lặng  nghe Hoàng Hạc trình bày mà trong lòng ai cũng kính phục, từ lời nói đến hành động của Hoàng Hạc điều chứng minh bằng vốn tính thực lòng, và lịch sử thực tế của đất nước người Bách Việt ngày nay, từ lâu huynh đệ đất Trường Sa cũng có nghe tiếng đồn rất mơ hồ về triều đại Nam Việt Vũ Đế, họ chưa nghe người chính cuộc trình bày, hôm nay nhờ Hoàng Hạc mà họ mới mở được tầm mắt thông suốt, cảm kích tinh thần Nam Việt Vũ Đế, Đạo sĩ Trần Thượng Độ ngưỡng mộ tinh thần của Hoàng Hạc, ông rất hài lòng:

― Thưa quí huynh đệ, nay mỗ đã hiểu được nguyện vọng đơn giản của Nam Việt Vũ Đế là tập hợp tôn tộc Bách Việt thành một mối và đem hết tâm huyết xây dựng đất nước Nam Việt, ông biết trọng dụng kẻ sĩ hiền tài, ông không phản bội công thần, ông trừng phạt công thần rất công minh. Tuy Nam Việt Vũ Đế là người Hán nhưng vốn có lòng đồng sinh, trí đức táo bạo vượt qua biên giới úy kỵ Việt-Hán, ngôi Thiên tử lập quốc Nam Việt trao cho tôn tộc Bách Việt một sơn hà Lĩnh Nam, bờ cõi phân ranh không sai một tấc đất. Chính nhà Hán đương thời cũng phải nghiêng mình kính phục thiên tài cai trị của Nam Việt Vũ Đế, như tập hợp tôn tộc Bách Việt bằng thuyết phục nhân tâm, ông thắng An Dương Vương bằng trí, rồi từ từng mãnh Việt ông xây dựng thành một khối Bách Việt, ông không xâm lăng đất Hán nhưng nơi nào có tôn tộc Bách Việt sinh cư, thì nơi đó được hưởng quyền Bách Việt.

Nhà Hán, Lưu Bang và Nam Việt Vũ Đế thấy không cần thiết phải chiến tranh, cho nên nhà Hán bang giao với Nam Việt, bằng giải pháp trùng tu nghĩa trang và lễ tự họ Triệu ở Chân Ðịnh, nhà Hán tuyển bổ con cháu họ Triệu ra làm quan, trong khi ấy Nam Việt Vũ Đế không đòi hỏi nhà Hán tuyển chức việc quan trường của con cháu họ Triệu, nếu chiếu theo luật rừng ở Trung nguyên một người làm phản là cả họ tru di tam tộc, tài sản tịch thu, mồ mả ông cha cả họ bị cày xới san bằng, đập phá hài cốt. Xét cho cùng nhà Hán cũng phải khiếp sợ mạng Thiên tử của Nam Việt Vũ Đế.

Mỗ cảm kích Nam Việt Vũ Đế về việc trồng vườn cây ăn trái, với giống hiếm hoi trên cõi đời này, hầu để lại cho hậu thế Bách Việt một gia tài vô giá, tất cả Lạc Việt biết quí trọng nó thì giữ gìn ngày sau có thụ hưỡng,  phải tiếp nhân vườn cây gốc, cùng lúc phân ra thành nhiều vườn cây khác, có như vậy thì con cháu đời sau mới tiếp tục hưởng được lộc, nếu kẻ nào chặt phá đốn đi thì mình phải trừng trị, quí huynh đệ có đồng ý với mỗ không ?

Tất cả vỗ tay đồng ý ca ngợi tinh thần chính đạo của Đạo sĩ Trần Thượng Độ đối với Bách Việt. Trường Sa Vương Đào Thư Minh vỗ tay, nói:

― Thưa quí huynh đệ, mấy khi hội ngô quân sư ở đây, hôm nay có nghe mới rõ Nhân chính đất nước, cũng như tình hình của tôn tộc Bách Việt, còn những người khác không gặp được quân sư thì khác nào như kẻ ngồi trong bóng tối mà tưởng tượng sự đời ngoài sáng, cách đây không bao lâu có huynh đệ cũng ngồi trong bóng tối, nhờ quân sư mới soi rọi ánh sáng vào lòng. Mỗ tuy tài đức không bằng quí huynh, nay có đôi lời hơi thô thiển, suy nghĩ chưa ra cội nguồn, hành động chưa vào luật thể pháp, chỉ có ít ngôn cuồng để thi thố vì Bách Việt, chỉ hy vọng một viẹc làm có kết quả tốt.

Hiện nay ở Trường Sa có kẻ trộm, quí huynh không trừ trước, chờ đến khi bị mất đồ quí huynh mới thủ thì đã muộn màn, đừng để mất rồi mới trừ, khi trừ đừng để kẻ trộm biến mất, ngay bây giờ phải lập ra thể pháp trừ khử kẻ trộm, mỗ đề nghị như thế này nếu thấy được thì quí huynh thực hiện:

            Hiện giờ có tất cả là chín đại huynh, đã nghe quân sư trình bày và lời hay lẽ đẹp của đạo sĩ Trần Thượng Độ, nay quí huynh cùng chung cộng khổ đi hành thuyết khách, thôi thúc lòng Lạc dân hướng về Bách Việt, cũng là dịp kêu gọi những kẻ làm phản hay có ý làm phản, qui thận về triều đình và tìm những người làm phản trong bóng tối, cũng như thành phần thái độ lừng khừng.

Quí huynh thuyết phục họ bằng tinh thần vô tư, trình bày cho họ nghe tư tưởng “Hợp Việt Xuất Hán” để họ giảm cường độ làm phản, còn nếu họ không nghe thì đích thân quí huynh phải dứt khoát tình nghĩa với họ, điều quan trọng là đừng để họ biết sự cộng sức việc làm của quí huynh.

Quí huynh thường xuyên có ý kiến trong thất nhựt, rồi lập danh sách theo mức độ làm phản. Tổ chức huấn luyện võ nghiệp cho binh sĩ, lập ra binh thám sát, cho thám sát vào sinh hoạt chung với tổ chức làm phản, khi quí huynh biết được một người làm phản thì tìm ra tổ chức nhỏ, rồi tiếp tục tìm đến tổ chức lớn, lúc bấy giờ bắt kẻ đầu làm phản, riêng tổ chức đã làm phản rồi thì quí huynh lập kế sách bắt cho bằng được.

Nói chung quí huynh chỉ cần bắt được đầu đảng, phó đảng là tổ chức đó tan rã ngay, đầu đảng làm phản là người có thế lực trong quan trường, rất khó bắt lắm, là vì họ chỉ thị cho nhân vật thứ hai hay thứ ba hành động. Hiện nay huynh đệ có quân sư và Nam Việt Vũ Đế thì không sợ kẻ làm phản, chỉ cần bắt đúng là thành công. Quí huynh có ý kiến gì nữa không ? đem ra hết để đàm đạo lời cuối cùng chín quí huynh là tổ chức bài trừ giặc cỏ. Tất cả vỗ tay đồng ý thể pháp hành động này. Tướng quân Tô Trang Khan lòng hớn hở nói:

― Thưa quân sư cùng quí huynh đệ, mỗ xin đề cử nhân sự và tên gọi tổ chức là Phượng Hoàng.

Đạo sĩ Trần Thượng Độ: Nhiệm vụ giám sát tổ chức.

Quản Lộc đại phu La Đức: Huấn luyện binh mã.

Đạo sĩ Trần Mạnh Côn: Huấn luyện giám binh.

Trường Sa Vương: Thảo thể pháp hành động .

Phi Đình Hầu tướng quân Chu Thông Được: Chỉ huy Phượng Hoàng.

Trường Sa tướng quân Lê Tư Bình: Chỉ huy phó.

Phiêu Kỵ tướng quân Tô Trang Khan: Chỉ huy phòng thủ, tiếp ứng.

Thái úy Đinh Thành Châu: Liên lạc và Thủ quĩ .

Tây tướng quân Nguyễn Hùng: Lương thảo .

Tất cả vỗ tay đồng ý nhân sự, lấy tên tổ chức Phượng Hoàng. Trường Sa Vương phát thảo hành động:

― Thưa quí huynh hành động ngay từ ngày mai cũng được, hiện đã có thể pháp trừ Cờ Hồng đảng, nhà Hán nuôi đảng này để cướp phá biên giới Trường Sa, họ lập lưới gian tế, trong Cờ Hồng đảng có nuôi một tổ chức làm phản lấy tên là “Hưng Việt”, lực lượng trên sáu trăm người, họ tuyển thanh niên biên giới và trong nội địa Trường Sa, ở các huyện biên giới Nam Hải, người cầm đầu chưa biết là ai, người phó tên là Trịnh Thư, cả họ ngoại nội quê quán Lãnh Thủy, cha mẹ, vợ và bốn con vẫn sinh sống ở đó, độ nửa tháng tên Trịnh Thư về thăm vợ con một lần, trại của Trịnh Thư tọa lạc bên đất Phúc Kiến của Hán, phía sau ngọn Việt Thành Lĩnh chạy từ Phúc Kiến, đến huyện Tuần Mai tỉnh Nam Hải. Theo mỗ biết người cầm đầu Hưng Việt đảng ở Trường Sa, y là người lấy lòng các phủ huyện, cũng là người có uy tín trên giang hồ, như vậy làm sao để biết tên đó ? Phiêu Kỵ tướng quân Tô Trang Khan phát biểu chân thành:

— Thưa quí huynh đệ, mỗ hứa mười lăm ngày nữa sẽ nạp tên đầu đảng đó, rồi sau đó bắt tên Trịnh Thư cùng sáu trăm mạng giặc cỏ. Tất cả vỗ tay tán dương Tô Trang Khan. Trường Sa Vương muốn lời hứa của Tô Trang Khan có kết cuộc tốt:

— Tô tướng quân, mỗ gia han một tháng không gấp lắm. Tất cả vỗ tay và cười trong tinh thần thoải mái, ông nói tiếp:

— Còn nữa sau khi hốt bọn Hưng Việt rồi thì quí huynh sẽ có thế pháp lùa bọn Cờ Hồng vào Trường Sa tiêu diệt chúng. Tướng quân Tô Trang Khan đưa tay lên hứa một lần nữa:

— Mỗ hứa mười lăm ngày là lâu lắm đó, bởi vì mỗ đã biết y là ai rồi nhưng lâu nay để đó, vì đang tìm đầu đảng bự mới bắt, mỗ biết Trường Sa Vương thích bắt hùm beo chứ không bắt thỏ nhỏ. Trường Sa Vương cười nói luôn:

— Thưa quí huynh đây là chiến dịch Phượng Hoàng lớn nhỏ gì cũng bắt ráo hết, quí huynh còn nhớ Cờ Hồng đảng và Cờ Hồ thường vào Động Đình hồ, trang trại của chúng ở bên Bắc hồ Bành Lãi.

Còn nữa tại Ðô Lung Lĩnh chạy dài từ Đạo huyện Trường Sa tới Gia huyện tỉnh Quế Lâm, có Mãnh Hùng bang hùng cứ ở đó.

Ở Minh Chử Lĩnh hiểm trở từ Lâm huyện tỉnh đến Liên huyện tỉnh Nam Hải, có Bình Châu bang cũng làm phản muôn thư hùng với Trường Sa.

Tại Kỳ Ðiền Lĩnh từ Toàn huyện tới Phủ huyện Quế Lâm có bọn Chu Đại hùng cứ làm giặc cướp của dân.

Ở Ðại Dữu Lĩnh từ huyện Ðại Dữu “Nam An” tỉnh Giang Tây đến huyện Nam Hùng tỉnh Nam Hải, có bọn Minh Phương hùng cứ đã hai đời thay đảng trưởng.

Hoàng Hạc thấy Trường Sa Vương trẻ tuổi mà hiểu biết tường tận, mưu lược khá vững, quả là cột trụ võ chiến của Trường Sa. Ông ôn nhã thầm khen trong lòng:

— Thưa quí huynh đệ Trường Sa, mỗ xin trình bày để am tường mọi việc, khi mỗ vừa đến, thì gặp lục hiệp tổng Phùng Điền cũng đến Trường Sa, mục đích của họ là thăm viếng trên ba mươi bang chúng tại trạm Động Đình hồ, họ chuyên hành nghề giao dịch hàng hóa, nhưng nếu có dịp thuận phong họ cũng hành như kẻ cướp.

Hôm ấy vô tình lục hiệp tính trẻ con thích quấy rầy mỗ, gặp phải Phi nhi của mỗ cũng thích chơi trò phóng “Mục bạch kim” để bõ ghét những kẻ tính kiêu ngạo. Rồi chuyện đến không đơn giản như huynh đệ tưởng đâu, từ đó nó biến thành cuộc đấu trí, chính mỗ cũng không thể nào nghĩ được phương thức để hóa giải lục hiệp Phùng Điền, nhưng cuộc đời này âu cũng nhờ có dịp may, mở ra từ thù thành bạn, Phi nhi vô tình cải hóa được lục Phùng Điền trở thành lương thiện hoàn toàn, từ ấy lục Phùng Điền tôn vinh Phi nhi làm sư phụ, và quyết định đổi tên là Hoàng Đức bang, mỗ cho đó là may rủi chứ không phải do Phi nhi nhờ tài cải hoá họ, mỗ được biết trong tổ chức Phùng Điền trên hai trăm bang chúng hoạt động khắp nơi dưới sự chỉ huy của lục huynh đệ, xét về võ nghiệp thì rất khá, xét về chiến lược cũng không khác nào những tướng quân tài ba, nếu được Trường Sa chiêu hiền đãi sĩ, kết nghĩa với lục Hoàng Đức này thì tạo ra một thế lực tình huynh đệ lớn, hiện nay lực lượng của Hoàng Đức chuyển qua kinh doanh thực sự, nếu quí huynh đệ không ngại mỗ xin đứng ra giới thiệu với quí huynh đệ, hiện nay lục Hoàng Đức đang hành hiệp ở Tây Giang. Lời của mỗ chân thực để tỏ bày cùng quí huynh đệ được rõ, cũng theo lời của Trường Sa Vương đã biết hiền Phi nhi của mỗ đang ở tại Phong Lưu lầu.

Tất cả đồng hoan hỷ, đã hiểu ra nguyên nhân cải hoá Phùng Điền như thế nào rồi, huynh đệ Trường Sa cũng cảm kích lòng cải háo của Hoàng Đức, cho nên lòng ai cũng muốn kết nghĩa với lục Hoàng Đức. Trường Sa Vương có ý mới vui mừng:

— Thưa quí huynh, tại sao mình không kết nghĩa trược tiếp với sư phụ của Hoàng Đức hiện đang có mặt tại Phong Lưu lầu ? tất cả đồng “ồ”, Đạo sĩ Trần Thượng Độ vui mừng:

— Thế thì hay lắm, thôi nhờ Trường Sa Vương thay mặt huynh đệ đến Phong Lưu lầu ra mắt người, đem hết sở trường của mình thuyết phục đệ ấy, khi chúng ta kết nghĩa được sư phụ của Hoàng Đức là được cả lục đại hiệp. Hoàng Hạc thấy huynh đệ Trường Sa trọng hậu tinh thần nghĩa hiệp, quá tin tưởng lời nói của mình, ông muốn mọi người tự đặt cho mình một lòng tin:

— Thưa, quí Huynh đệ, lòng mỗ rất băn khoăn, lý do là quí huynh đệ Trường Sa trọng hậu tình nghĩa, tin tưởng Phi nhi là hiền tài ư ? Theo mỗ nghĩ tuy Phi nhi là sư phụ của Hoàng Đức thực, nhưng mỗ rất ái nhại vô cùng, vì sợ quí huynh đệ tiếp xúc rồi sẽ thất vọng, bởi Phi nhi mới hơn mười tuổi, mà kết nghĩa với quí huynh đệ thì không tiện cho mỗ khi đàm đạo với nhau như thế này ! mỗ nghĩ rằng kết nghĩa với lục hiệp Hoàng Đức thì hơn ! Trường Sa Vương tình thực nói thẳng:

— Thưa quân sư, trong cuộc hợp mặt hôm nay già trẻ có, còn nói về quan trường thì ai cũng có một địa vị cao cả, còn nói về võ nghiệp thì ai cũng có sở trường, sở đoản riêng của mình, nhưng cả thảy phải thấy một điểm chung, đó là huynh đệ trọng sứ mạng tinh thấn Bách Việt. Tuy gọi nhau là huynh đệ, nhưng trong tâm của mỗi vị lúc nào cũng tôn trọng phẩm vị hiền tài đức trọng trên dưới của nhau. Ngu đệ xin mạng phép lạm bàn:

— Xét về tài đức ngu đệ không thể nào sánh bằng quân sư, Quản Lộc đại phu La Đức, Phi Đình Hầu tướng quân Chu Thông Được, Phiêu Kỵ tướng quân Tô Trang Khan, Đạo sĩ Trần Mạnh Côn, Thái Úy Đinh Thành Châu, Đạo sĩ Trần Thượng Độ, và Trường Sa tướng quân Lê Tư Bình, Tây tướng quân Nguyễn Hùng, tất cả đều là những đại trụ Trường Sa đương thời, đã kết nghĩa xem nhau như huynh đệ một nhà, ngu đệ là một đứa trẻ có tinh thần Bách Việt xin ngồi chung cùng quí đại phu để học điều hay lẽ phải, phương sách trị quốc và giữ quốc, nhưng vô tình quí huynh xem thường bỏ rơi ngu đệ, thì tự nó sẽ hóa thành một que niêm chuẩn bị tuột ra khỏi Trường Sa, hy vọng quí huynh thấy được, lấy búa đóng que niêm ấy vào để cho Trường Sa đứng vững, theo ngu đệ xét thấy khi lục hiệp Hoàng Đức phục mệnh lệnh của điệt quân sư, chính họ là người tinh tế không nhìn lầm sư phụ, xin quí huynh đệ xem đây là một que niêm của Trường Sa, mà ngu đệ cần phải kết nghĩa, dù ở tuổi nào thì mình cũng phải nuôi dưỡng để dùng ngày mai, chính lục Hoàng Đức đã tôn vinh lệnh điệt của quân sư thì Trường Sa Vương này cũng tôn vinh sư phụ Hoàng Phi vậy, việc này chỉ để riêng một mình ngu đệ lo liệu, không trở ngại gì đến quân sư, xin quí huynh đệ an tâm. Phiêu Kỵ tướng quân Tô Trang Khan cười hà hả:

— Thưa quí huynh đệ, theo mỹ ý của quân sư và Trường Sa Vương cả hai đều có lý cả, nhưng nhìn kỹ xem cái que diêm nhỏ đó là họ Hoàng thì không thể nào sợ tuột ra khỏi Trường Sa, lục hiệp Hoàng Đức va chạm thực tế rồi mới tinh tế nhận người làm sư phụ, trong khi ấy Trường Sa Vương ngồi nhà suy luận thì làm sao biết nhân tài ? Trường Sa Vương cười, rồi trả lời:

— Thưa tướng quân, suy luận thì phải nắm căn cơ, ngồi trong trận suy luận đúng thì ngoài mặt trận không hao binh tổn tướng, suy luận đúng hành động như thần, đó là biết kết nghĩa với người đồng tâm huyết. Hiện nay ở Trường Sa này đếm không hết những kẻ khoa mồm múa mép, ai cũng tự khoác áo nghĩa hiệp, thi nhân, thư sinh, hiền nhân, đạo đức, tu tiên đạo cốt, nhưng thực tế họ là bợm lừa đảo lòng tin của người lương thiện.

Ngu đệ không thể kết nghĩa với những kẻ ấy, xem họ là thù ! có suy luận mới xét được lòng nghĩa nhân, hiện nay quí huynh đệ làm quan đại trụ Trường Sa mà nghèo thì phải có lý do của nó, nhìn vào thực tế những kẻ quan trường khoa mồm đánh trống lại giàu to, như một ông quan huyện giàu hơn tướng quân, thử suy ra ông quan huyện ấy không khác nào tướng cướp, mà dân đang oán họ, ngu đệ kết nghĩa với quí huynh nhằm để trừ khử bọn quan mục nát đó, ngu đệ cai trị đất Trường Sa này đã ngoài mười năm, thân côi độc mã không biết nói cùng ai, để cùng mình diệt trừ kẻ cướp, hầu đem đến cho Lạc dân, Mân dân bình an trong cuộc sống hằng ngày, mỗ đã tìm nát dưới đáy Động Đình hồ, mới có người để kết nghĩa như hôm nay, mỗ hướng về tương lai sẽ kết nghĩa với Hoàng Phi, lục hiệp Hoàng Đức và ngũ nữ hiệp họ Chu V.V… Nói một cách tổng quát mỗ kết nghĩa không nhìn nhằm người.

Nhất là Trường Sơn ngày nay có một trọng trách rất lớn, phải trừ giặc cỏ trong nhà rồi kế đến dẹp yên giặc ngoài, đây là đất vinh nhục của Bách Việt, một Trường Sa Vương hạ mình làm một đồ đệ để mưu cầu hạnh phúc cho dân, không lấy việc nhỏ này làm hổ nhục, phải lấy đó làm cường chí, để mưu cầu lợi ích cho dân, không vì suy nghĩ tư lợi, mỗ kết luận, những việc làm nào trái với lương tâm đều cấm kỵ . Đạo sĩ Trần Mạnh Côn cười tỏ vẻ đắc ý, ôn tồn:

— Thưa quí huynh đệ, thực ra hơn mười năm trước, khi Trường Sa Vương Vũ Thư Minh xuất hiện thì trong huynh đệ ở đây cũng có ý lo âu, vì người đời đã nói “Cha nào con nấy”, nhưng rồi thời gian trôi qua thấy hiền đệ Vũ Thư Minh quả thực là hiền tài, mưu lược, liêm khiết, thành thực, thẳng thắng. Huynh đệ ở đây rất hài lòng đắc ý lắm, thường nói với nhau, người đời còn có câu “Cha mẹ sinh con trời sinh tính” từ ấy huynh đệ đồng ý trợ lực cho Trường Sa Vương trên trăm vụ lớn nhỏ vì lợi ích cho dân, những vụ tịch thu tài sản cách chức quan huyện, trừng phạt những khâm sai triều đình, nếu không có quân sư và huynh đệ ở đây thì anh hùng khó sống với bọn quan trường uy quyền triều đình. Cũng nhờ hiền đệ mà triều đình loại được một số quan trường hủ lậu, nhưng loại được nhóm hủ lậu này rồi thời gian sau lại có nhóm hủ lậu khác xuất hiện. Thái Úy Đinh Thành Châu vuốt râu, gập đầu, cung kính:

— Thưa, quí huynh đệ, ngu đệ thấy có sự hiện diện của quân sư ở đây tạo dịp soi rọi nhiều việc phải làm, từ nay huynh đệ phải đánh ván bài cuối cùng với bọn trong-ngoài Trường Sa không cho một con chuột nào vào hang ẩn trốn, ngày mai tiến hành như đã bàn thảo, cùng lúc chiêu hiền đãi sĩ, nuôi dưỡng hiền tài, hiền sĩ.

Nhân hôm nay ngày cũng đã tàn, quí huynh đệ chuẩn bị tiễn đưa quân sư về Phong Lưu lầu. Tất cả đồng ý tiễn Hoàng Hạc rời sảnh đường. Trường Sa Vương tiếp lời:

— Thưa quí huynh, cho phép ngu đệ cùng đi với quân sư đến Phong Lưu lầu. Tất cả huynh đệ Trương Sa đồng hoan hỷ theo ý của Trường Sa Vương, Hoàng Hạc cũng đồng ý, tất cả chào nhau tạm biệt hẹn tái ngộ tại thành Phiên Ngung, trên đường về Phong Lưu lầu, Hoàng Hạc kể cho Vũ Thư Minh nghe những gì trong ký ức Trường Sa:

— Trường Sa thuở nào cũng xuất hiện nhiều anh hùng kỳ tài, tình nghĩa đất Trường Sa rất đậm nét Bách Việt, trời sinh ra Trường Sa một kỳ quan lạ lùng như Động Đình hồ, quả là đất thần kinh Lạc Việt khai quốc, nước biếc bao la, buổi sáng tinh sương hơi nước bốc lên hóa hiện muôn vàn nàng tiên múa tên mặt hồ, những bóng hình ngư phủ hiện ra như quân tướng điều động chiến binh, những đêm bạch thố khi mờ mờ khi tỏ đẹp vô cùng, Động Đình hồ cũng là thủy lộ chiến lược trời khéo sinh tặng cho Bách Việt, riêng Tam Sơn cũng là một bình phong đất kiệt. Ngoài ra còn có hồ Bành Lãi nước sông Dương Tử dâng lên cao quá thì chảy vào Động Đình hồ bên tả, và hồ Bành Lãi bên hữu, khi nước sông hạ thì nước hồ chảy ra Dương Tử giang, nhờ vậy lưu vực Dương Tử giang không bị lũ lụt. Nơi đây là chiến lược quân cơ và kinh tế, Trường Sa đẹp nhất Lĩnh Nam phong cảnh thiên nhiên tô điểm quê cha đất tổ oai hùng. Ngoài ra còn có ngũ lĩnh, như ngọn Việt Thành Lĩnh đầu từ Phúc Kiến, kéo đến huyện Tuần Mai tỉnh Nam Hải, một biên giới thiên nhiên giữa Việt và Hán. Ngọn Ðô Lung Lĩnh đầu từ Ðạo huyện Trường Sa chạy đến Gia huyện tỉnh Quế Lâm cho chúng ta nhiều dược liệu quí hiếm. Ngọn Minh Chử Lĩnh đầu từ Lâm huyện tỉnh Trường Sa chạy đến Liên huyện tỉnh Nam Hải cho chúng ta những loài hoa phong lan rất giá trị và những loài sâm đa niên quí giá hơn ngọc ngà. Ngọn Kỳ Ðiền Lĩnh từ huyện Toàn tỉnh Trường Sa chạy tới huyện Quế Lâm cho những loại gỗ quí, và mây tre cho chúng ta vật liệu sản xuất dụng cụ gia đình, cũng như đồ dùng nhà nông. Ngọn Ðại Dữu Lĩnh từ huyện Ðại Dữu “Nam An” tỉnh Giang Tây chạy đến huyện Nam Hùng tỉnh Nam Hải cho chúng ta vạn vật thú rừng, nhất là sản phẩm mật ong Đại Dữu Lĩnh.

Anh hùng nào cũng để ngũ lĩnh vào lòng, phòng khi có chiến tranh lấy núi rừng làm thành trì thiên nhiên đối địch, quả là ngũ lĩnh cảnh nên thơ mây vẽ tiên rồng, bay khắp non cao, kẻ sĩ đến đây tuy xác phàm mà lòng người lại hóa tiên.

Nơi nào mỗ cũng đi qua bởi các trận chiến, Trường Sa là cửa sinh tồn Bách Việt ta không nên coi thường, Trường Sa vào tay Hán thì Bách Việt trước sau gì cũng bị đồng hóa, kẻ xâm lăng như người Hán có bao giờ họ thương người mình đâu !

Ngày nay thanh bình dân cư sinh hoạt rộn rịp, ghe thuyền tấp nập, muôn dân sống trong cảnh thanh bình hạnh phúc. Quả là đất nước quê hương của tiên gia ngàn vạn dặm đẹp vô ngần, nhưng chưa đủ đẹp cho nên chúng ta phải vận dụng đôi bàn tay nhằm tô điểm thêm cho đất nước càng lộng lẫy hơn.

            Hoàng Hạc kể chuyện đất nước quê hương cho Vũ Thư Minh nghe, bỗng tiếng hí của đôi song mã báo hiệu đã về đến Phong Lưu lầu, đồng lúc có tiếng vó ngựa của quân an-binh cấp báo tin quan trọng:

— Thưa Trường Sa Vương, Phiêu Kỵ tướng quân Tô Trang Khan bị chết dưới tay của một người bịt mặt áo quần nâu, hai giờ sau cũng có tin Trịnh Thư và cả thảy ngoại nội, cha mẹ, vợ con mười người sinh sống tại Lãnh Thủy, cũng bị chết bay đầu, không rõ hung thủ là ai ? Tin này được tổng trấn Ðộng Đình hồ là Cao Hổ Tiên xác nhận.

Hoàng Phi nghe được tin này biết nội vụ cùng một hung thủ, Hoàng Phi tự hứa với lòng, đây là vụ án thứ hai tại Trường Sa, ta phải tìm ra hung thủ rồi nhờ tổ phụ trừ khử ! Hoàng Hạc thương tiếc Phiêu Kỵ tướng quân Tô Trang Khan một vị anh hùng trong sáng, thế mà qua đời vội vã. Trường Sa Vương mi mắt vương lệ nhòa, như một người mù âm thầm, lẵng lẽ đi trong bóng đêm.

Ông khóc trong đáy lòng, lời âm ỷ gào thét không thành lời. Hởi đại huynh Tô Trang Khan ơi !!!  Đại huynh ơi lý do nào phải lìa đời ? ai là kẽ xác thủ ? Hiện tại chỉ có đại huynh là người xứng đáng để vinh danh anh hùng bất tử. Mỗ khó hiểu tại sao anh hùng không chết trong thời chiến, mà lại tử đột ngột trong thời bình, tại sao ?

Ân oán nào gây ra ? mỗ sẽ tìm kẽ thù đang ẩn trong bóng tối, đó là ai đã hãm hại Đại huynh Tô Trang Khan của mỗ !!! Hoàng Hạc lòng cũng bàn hoàn, thương tiết:

— Nội vụ này không phải nhỏ, vì nó có liên quan đến Trường Sa. Vậy xin Trường Sa Vương cẩn thận loại trừ nội thù.

— Đa tạ quân sư. Cả hai người phi thân rời khỏi tuấn mã đi vào Phong Lưu lầu.

Hồi 3

Đại Bàng Về Nam Tìm Bãi Đậu

Diễn Đàn Facebook
Advertisements

Huỳnh Tâm - Anh Hùng Nam Việt