Mặt trời đã lên bảy sào, có tin Hoàng Chỉnh, Hiệp Khách Lan, cùng ba người lạ mặt đến trại Trà Bích Sơn. Hoàng Biên vội để chung xuống kỷ trà, ông xuất lệnh mời vào gấp.

— Hà muội, đi cùng huynh ra trước sảnh đường đón bào đệ. Lữ Thư ở hậu đường nghe thúc bá nói chuyện không rõ, nàng chỉ nghe loáng thoáng bào đệ, nàng chạy ra hỏi:

— Thưa thúc bá, ai đến mà khẩn trương vậy cho nữ nhi biết được không? Ông chưa kịp trả lời. Lữ Thư tự thầm, trong lúc đang gặp khó khăn giải quyết bọn cẩu quan, tập phường hại dân bán nước, bỗng dưng thúc bá lại vui mừng. Nàng cũng hiểu được tâm trạng của thúc bá, chăng nhẻ gia gia, mẫu thân đến đây ư! Thảo nào thúc bá làm sao mà không vui mừng được chứ, nếu có gia gia, mẫu thân viếng thăm khác nào cỗ vũ cho tướng soái binh hùng mã cường.

 Ông gọi Cần binh vào trong bảo người thay trà.

— Dạ. Ông gọi luôn Lữ Thư:

— Nữ nhi ra sân đón gia gia, mẫu thân nhé? Từ xa nàng đã thấy gia gia, mẫu thân tiến về hướng sảnh đường.

 — Thưa thúc bá nhân tiện nữ nhi rủ Đỗ huynh cùng đi được không?

— Nữ nhi đón gia gia, mẫu thân đó là đạo làm con, còn Đỗ đệ có liên quan gì đến chuyện gia đình nhà mình đâu.

— Nữ nhi đừng làm thúc bá phân trí đón tình riêng, lâu lắm mới gặp được bào đệ, thúc bá muốn tình nhà trong một bến riêng, đừng để người ngoài chi phối, nữ nhi ngoan ngoãn nhé?

— Dạ, nữ nhi tuân lệnh. Hoàng Chỉnh, Hiệp Khách Lan vào đến sân đã thấy Hoàng Biên, Hà Thanh Phụng, còn Lữ Thư đứng sau thúc bá. Huynh đệ tỷ muội gặp nhau vui mừng, riêng Hiệp Khách chạy đến Lữ Thư hôn trên má nàng và ôm vào lòng thật lâu, bà nói:

— Lâu lắm mẫu thân không gặp nữ nhi, vậy mi có khỏe không vì sao mi lại có mặt ở đây. Có phải hiền đệ của mi đày ải đến đây không, nếu đúng vậy ta sẽ đét vào mông của nó.

— Thưa mẫu thân, không phải như thế đâu, nữ nhi tự nguyện đến đây mà.

— Thực thế không, nếu như vậy thì ta tha thứ hiền đệ của mi. Huynh đệ họ Hoàng vào sảnh đường, Hoàng Chỉnh ngạc nhiên cũng từng ấy anh hùng đã gặp lần trước cách đây một năm, nhưng lần này có khác vì ông thấy nhiều người trẻ mà không biết từ đâu đến, đứng nghiêm chỉnh trong sảng đường. Trái lại họ xem Hoàng Chỉnh, Hiệp Khách Lan như thân phụ thân mẫu, những người trẻ tự động thưa:

— Chúng hài nhi bái kiến thân phụ, mẫu thân. Ông phản ứng tự nhiên.

— Tại hạ không biết vì cớ gì, gọi là thân phụ, mẫu thân thôi đứng lên, ông nói tiếp, quý các hạ là ai mà gọi mỗ bằng thân phụ, thân mẫu? Đinh Anh Thi thưa:

— Chúng hài nhi là huynh đệ kết nghĩa với Phi đại huynh, cũng như Thư đại tỷ cùng sống mấy năm ở động Nam Khê Sơn, có mặt ở đây do lệnh của đại huynh. Hoàng Chỉnh vui mừng:

— Thì ra là thế, bao lâu nay mỗ tưởng Hoàng Phi chỉ có kết nghĩa vài huynh đệ, chứ đâu ngờ nhiều thế này, thôi được quí hài nhi bình tâm. Ông nói tiếp, thưa đại huynh cùng tỷ tỷ, đệ cùng muội Hiệp Khác Lan đến đây có ba việc.

Thứ nhất lấy phận hèn trợ lực cùng huynh đệ Cần Lĩnh Nam Nam Tông và đại huynh làm việc nước. Thứ nhì chúng đệ viếng thăm tình nhà. Thứ ba đệ muốn tìm một người trẻ họ Đỗ tên Trọng Chí.

Đỗ Trọng Chí thấy ba người ngồi gần Hoàng Chỉnh chàng đã nhận diện, chính là gia gia, thân mẫu cùng em trai, gia gia thân mẫu thể chất nay đã phong trần nhiều, trên mặt làn da trổ đồi mồi sậm, mái tóc cũng điểm muối tiêu, nét nhăn sợi chỉ điểm trên tráng, tuy vậy tướng mạo không thay đổi là bao, còn em trai nay cao ráo khôi ngô, thân thể đổi thay nhiều, nét mặt vẫn hao hao mình.

Chàng xúc động muốn khóc thành lời, nhưng không dám lên tiếng, khi chàng nghe Hoàng Chỉnh nói đến họ tên của chàng, nỗi mừng vui hiện ra biết gia đình mình hôm nay chính thức đoàn tụ, chàng tự hỏi nguyên do nào lại biết mình ở đây mà tìm đến? tìm mãi trong trí tưởng để có câu trả lời cũng không ra, đành phải chờ gia gia, mẫu thân giải thích, trong thời gian chàng đi vắng những việc gì làm cho gia đình trôi nổi đến đây! Hoàng Biên thở nhẹ chậm rãi:

— Việc trừ gian bạo ác, huynh đã chuẩn bị chu đáo, còn chờ lệnh là tảo thanh bọn chúng, huynh đệ ngồi nhà lược trận không cần phải ra chiến trường. Hoàng Chỉnh cười.

— Đúng là đại huynh cao kiến, ngồi nhà bày trận có khác nào ra chiến trường, đệ học sách bày trận nhiều mà cũng không hơn đại huynh, ước ngày nào đó phải hơn đại huynh mới được, tất cả người trong sảnh đường đồng cười Hoàng Biên cũng vui theo.

— Thưa quí anh hùng, hiền đệ của mỗ thích bày trận lắm, nhân đây mỗ xin trình bày vài thiển trí của phép bày trận để cùng bàn bạc. Người bày trận không khó, dùng người thủ trận mới khó.

Hiện nay Cần Lĩnh Nam Nam Tông bày trận có xuất không hồi, tiến không lui. Ngồi trong trận coi hổ tranh nhau vì một cái bánh vẽ, tức là “Hổ tranh nhau mồi giả” tuy vậy đừng xem thường võ học bọn quân quan tham ác, chúng cũng có xảo thuật mưu gian mẹo vặt rất kinh xuất, không nên xem thường, về Cần Lĩnh Nam Nam Tông nhất là binh mã không được thương vong, phải biết địch, biết ta, những ưu khuyết điểm mạnh yếu, lúc nào cũng đề phòng cẩn thận, dù ta mạnh địch yếu vẫn phải thủ đường di động binh, phải hiểu thế đất chiến trường, thế đánh mạnh như chẻ tre, dụng mưu trí linh động, dụng lòng dân hướng về chính nghĩa, khi thắng trận Cần Lĩnh Nam Nam Tông phải nhớ “Đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại” vì tất cả là dân Bách Việt. Tiếng vỗ tay vang cả sảnh đường, tán đồng mục phiêu bày trận.

Binh tướng dưới trướng của Hoàng Biên đồng kính phục tài ba vượt lên trên mọi người, trong ý chí của ông đã có, họ khen thầm ông chính là điểm sống còn của Cần Lĩnh Nam Nam Tông, ông là người thực tài về nhiều mặt như kinh doanh, thông đường thủy, giỏi đường bộ, giá trị của cuộc đời ông xem thường vật chất sống vì tình người, kinh luân hành động, thao lược võ, trí tuệ là sở học của biện luận, tính của ông việc nước nghiêm minh kín đáo, việc nhà cởi mở hồn nhiên, lời nói của ông xưa nay vẫn thế “Hành động nhất thể một lời”. Ông còn có tài thu phục nhân tâm, vì ông quan niện về con người “Nhất đa tương dung bất đồng môn”, nhờ vậy thuộc hạ chưa bao giờ nghe ông kể công nuôi ai khôn lớn, họ biết bào đệ của ông cũng là nhân kiệt có cùng một cảm niệm như nhau, nhưng tính tình thông thoáng hơn. Huynh đệ họ Hoàng hội ngộ đủ chứng thực cuộc chiến này hệ trọng. Hoàng Biên nói cùng bào đệ:

— Này hiền đệ, việc thứ nhất binh mã tạm yên, chiều nay hội ý anh hùng lấy quyết định chung kết, việc thứ hai tình nhà an ổn, việc thứ ba hiền đệ đề cập đến Đỗ Trọng Chí có liên hệ gì không?

— Thưa đại huynh, trước hết đệ xin giới thiệu đây là hiền huynh Đỗ Trọng Mỹ, hiền tỷ La Chung Hương, còn cậu thanh niên này là Đỗ Trọng Kha gia đình Đỗ huynh trải qua cuộc đời nghiêu khê, tứ cố vô thân, việc này sẽ thuật lại cho huynh tỷ nghe sau. Đỗ huynh ở gần nhà đệ, thường hay qua lại thăm nhau, lâu ngày mới biết ý chí, văn võ hơn người. Đỗ huynh biết đệ cùng nương tử thường chu du đó đây. Cả gia đình Đỗ huynh xin đi theo nhiều lần, đệ từ chối vì đường xa, nguy hiểm. Lần này đệ đi thăm huynh tỷ, Đỗ huynh biết được xin đi theo đệ đồng ý, đệ hỏi nguyện vọng của Đỗ huynh hay vì nguyên nhân nào thúc đẩy xin đi theo đệ, một ngày nọ Đỗ huynh mới nói thực, có một đứa con rất hiếu thảo đi lên thành Phiên Ngung để ứng thí, bị mất tích đã hơn mười năm, cả nhà đi tìm mãi mà không gặp, tuy vậy vẫn quyết định đi tìm không nguôi, lần này Đỗ huynh hy vọng mãnh liệt chuyến đi này sẽ tìm được con. Đỗ Trọng Chí đứng khóc thương gia gia, mẫu thân cùng em đã khổ vì mình, muốn chạy đếm ôm cả gia đình mà chưa dám vì còn phải chờ lệnh. Hoàng Biên xúc động:

— Mời tổng binh Đỗ Trọng Chí ra bái tạ gia gia, mẫu thân, đoàn tụ gia đình, tại hạ chúc mừng Đỗ huynh gặp được điệt nhi, quả là tìm mãi cũng có ngày “Nước chảy ngược lên nguồn”; Hoàng Chỉnh cũng vui lây, thấy Đỗ Trọng Chí thân cốt hơn người, ông khen thầm, chàng thanh niên này đúng là kỳ tài dị sĩ, ông nói:

— Chuyện đời không ai ngờ trước, phải chính mình tạo ra mới được hưởng “Người tốt về lụa, lúa tốt về phân”. Cả gia đình họ Đỗ quỳ xuống tạ ơn Hoàng Biên, Hoàng Chỉnh. Hoàng Biên tiếp nhận bằng một quyền nhẹ dưới sàn sảnh đường, cả bốn người hiểu ý vội đứng lên xá cảm tạ toàn thể anh hùng.

Lữ Thư xúc động thấy Đỗ Trọng Chí khóc nàng cũng khóc theo. Hà Thanh Phụng, Hiệp Khác Lan biết chúng đã có hậu ý tình cảm hay yêu gì đó rồi. Hà Thanh Phụng nói thì thầm với Hiệp Khách Lan:

— Muội có thấy nữ nhi không? hình như bọn trẻ bây giờ yêu thương nhanh quá, thời của chúng mình đính hôn từ khi mới sinh ra đời, thế mà mười tám năm sau mới được nói tiếng yêu anh, yêu em. Hiệp Khách Lan cười:

— Muội thấy trong nước mắt của nữ nhi cũng có niềm vui nữa, nếu không phải yêu nhau thì đời nào có điệu bộ tương tự như tỷ tỷ ngày xưa yêu đại huynh Biên vậy. Hà Thanh Phụng “hứ”:

— Làm gì có cái chuyện yêu để người thứ ba biết như bọn trẻ ngày nay. Hiệp Khách Lan cười:

— Chính Tổ mẫu là người thứ ba biết trước mới đứng ra kết hợp huynh tỷ đấy chứ. Hà Thanh Phụng lại cười tiếp:

— Đúng là phái nữ của chúng mình nhạy về tình cảm hơn mấy ông tướng, theo muội suy nghĩ thế nào về họ Đỗ?

— Muội ở xa mới đến không biết Đỗ Trọng Chí, nếu tỷ tỷ thấy chúng nó thực sự tương lai tốt đẹp, muốn lập gia thất thì nhờ tỷ tỷ quyết định, nữ nhi xưa nay xem tỷ tỷ như mẫn thân. Hà Thanh Phụng tỏ ý hài lòng:

— Tỷ và muội tuy biết hậu ý chúng nó, nhưng phải cản trở chúng ít nhất phải một năm, không thể cho chúng nó vượt qua khỏi gia pháp họ Hoàng.

— Dạ, muội hiểu, nhưng nữ nhi bướng bỉnh lắm.

— Được rồi, để tỷ tỷ sẽ lo liệu, muội an tâm. Nhà họ Đỗ đoàn viên, kể cho nhau nghe chuyện gia đình, chuyện cá nhân, nước mắt lẫn trong tiếng cười, Đỗ Trọng Chí cũng cho cả gia đình biết, chàng nói:

— Ý trung nhân của hài nhi là nữ hiệp Lữ Thư con của sư thúc Hoàng Chỉnh, thúc bá là sư phụ Hoàng Biên. Đỗ Trong Mỹ thở dài:

— Nợ này chưa trả xong, thì nợ khác lại chồng chất lên. Hài nhi có biết không cả gia đình mình không chết là nhờ hiền huynh Hoàng Chỉnh, Hiệp Khách Lan cứu mạng đó, sống được đến ngày nay cũng nhờ Hiệp Khách Lan giúp vốn làm ăn, Đỗ Trọng Kha biết văn võ cũng là nhờ Hoàng Chỉnh, hài nhi sống được cũng nhờ Hoàng Biên cứu mạng, nói chung gia đình mình vẫn thấp kém hơn người vạn vạn lần, nếu không gặp tai ương nạn chướng cũng thấp kém hơn người xa lắm, hài nhi phải trả những thứ nợ này rồi mới tính chuyện tương lai, gia gia không cản trở nhưng thấy lòng ngại ngùng lắm, đây toàn là những cái ơn sinh tử khó trả.

— Thưa gia gia, hài nhi vâng lời, nhưng sau cuộc chiến này sẽ định liệu, thời gian còn dài, hài nhi hiểu ơn đền nghĩa trả gia gia không phụ lòng người!

            Sau buổi cơm trưa hai nhà Hoàng Đỗ chuyện trò thâm giao, họ Đỗ lấy lại sung mãn tươi cười như thể được hồng cơ. Đỗ Trọng Mỹ đứng lên trịnh trọng, Hoàng Biên hiểu ý nhanh tay kéo họ Đỗ ngồi xuống ghế.

— Đỗ huynh đừng có khách sáo, hãy xem nhau là huynh đệ, có gì ngồi rồi hãy nói. Đỗ Trọng Mỹ cung kính.

— Thưa quí huynh đài, cả gia đình tại hạ đoàn tụ tại đây, vui mừng và hạnh phúc nhất là ngày hôm nay, cũng nhờ nhị vị đại hiệp, tại hạ không có vật gì để báo đáp xin nguyện “Kết cỏ ngậm vành mãi đến đời sau”. Hoàng Biên cũng thấy trong lòng an thân:

— Tất cả đồng huynh đệ không có đặt ơn nghĩa lên trên bàn này, cõi đời này là bể khổ mênh mông, biến đổi bất thường rồi cũng đến lúc bình an. Đỗ huynh xem huynh đệ tại hạ là một nhà thì không có gì hạnh phúc bằng. Đỗ Trọng Chí thưa.

— Thưa gia gia mẫu thân cùng hiền đệ, vào hậu sảnh đường nghĩ ngơi cho khoẻ. Đỗ Trọng Chí nhờ một Cần Lĩnh binh, hướng dẫn gia nghiêm vào phòng nghĩ. Lúc này trong sảnh đường còn lại Hoàng Biên, Hoàng Chỉnh, Lữ Thư, Đỗ Trọng Chí, Tạ Thành Công và huynh đệ tổng bộ duyệt xét trận chiến lần cuối. Hoàng Biên hỏi:

— Tạ đệ tử, bây giờ binh mã đã thế nào rồi trình bày lần cuối để xem lại kế hoạch trận địa.

— Thưa sư phụ, bốn hướng quân Cần Lĩnh Nam ém mình vào đất Đông, binh phục có tổng giám binh Chu Thường đánh vào sào huyệt núi Ba Sao của Lê Chí. Còn ở hướng Tây đã có hai đoàn binh thiện chiến do phó tổng binh Hoàng Hạ, một đánh vào Long Thái và một đánh vào sào huyệt Trùng Sơn. Hướng Bắc có đoàn binh do tổng quản an ninh Lê Hộ chỉ huy đánh vào Trùng Sơn. Hướng Đông có đoàn phục binh của Võ Tú Nghiêm. Hướng Nam có đoàn binh của tổng lý Võ Văn Độ đánh vào Hà Điền.

            Tổng binh Đỗ Trọng Chí đánh vào Mông Tự, sau đó chuyển một cánh quân nhỏ đánh vào Ba Sao, theo mật báo tối nay quân của mười bốn huyện phủ chuyển vào Mông Tự và Ba Sao.

Tổng lương thảo Đỗ Từ Đại và phó Mạc Bình Khang, đã cung cấp lương thảo cho các nơi rất đầu đủ, có thể nói rằng thừa, ngày mai sẽ cung cấp lần thứ nhì.

Tổng cứu thương Nguyễn Ngọc Tường, lực lượng cứu thương đã đến nơi trú quân, cùng lúc đã phân phát dụng cụ cần thiết cho mỗi cá nhân.

Trưởng liên lạc Trần Văn Thanh, phó liên lạc Nguyễn Trí, bảo đảm tin cấp báo không lọt ra ngoài, đi và về hoàn toàn bí mật.

Trưởng luật Tống Trừ, Trưởng án Tạ Hợp Minh. Lực lượng an ninh, lập án phân minh, kẻ quây đầu kiếm, khi quân trảm trước tấu sau.

Tổng lý đường thủy Hà Phương, cung cấp chiến thuyền cho các lộ thủy.

Quân dụng Đào Vũ Châu, chuyển đến chiến trường đủ loại khí giới, cung cấp thay thế khí giới hư hao và vật dụng cá nhân. Hoàng Biên còn lo ngại hỏi:

—  Còn Tạ Thành Công ở đâu?

— Thưa sự phụ đệ tử đã nhận lệnh di chuyển mười bốn cánh quân chế ngự những huyện phủ địa phương, hiện giờ quân đã tiến áp sát vào địch, chỉ còn chờ pháo lệnh là vào trận. Hoàng Biên nhắc nhở:

— Giờ này Mông Tự được xem là đầu nảo làm phản, lực lượng của Đỗ đệ phải đương đầu trống mái quyết định thắng. Cũng phải nhớ rằng bọn quân quan gian ác, nhiều mưu gian mẹo vặt, không thể nói trước dễ chế ngự chúng, khi bất trắc tạm chuyển qua kế hoạch hai, quí anh hùng phải đề phòng vào lúc này, chờ ổn định thì trở lại tiến quân theo phương cũ. Hiện thời Lữ Thư lập kế hoạch ba, chịu trách nhiệm dẫn đầu đánh vào đầu-đuôi địch, quí anh hùng am tường chưa? Lữ Thư phát biểu theo qui luật trân pháp:

— Thưa Tổng lý, tại Mông Tự xem như đã ở trong bàn tay của nữ nhi, nay chỉ cần trợ lực của Xuân, Đinh, Chu, Thông, Đào, Anh, Phụng Châu đệ, Lệ muội, tuy người ít mà trí mưu mạnh vì đã hiểu hết quy luật của địch, riêng phần hành động đã được nhất ý tuy tám mà một. Đầu tiên Xuân đệ, Lệ muội làm nhục chí chiến đấu của địch bằng âm pháp, Đinh, Thông, Hào đệ làm xáo trộn hàng ngũ bằng cách lấy cắp quân dụng. Phụng Hiệp, Phụng Anh, Phụng Châu đệ làm giả binh địch đánh với nhau. Đưa hợp binh của chúng vào trận bất hòa, biến thành nội ngoại chiến, vốn đã ô hợp nay trở thành binh ô hợp bất hòa, chưa ra trận mà đã có thù oán khó trị.

            Sau khi binh bị của địch có loạn thì tất cả theo nữ nhi đi lấy xác hai mươi tám quan quân, phần còn lại là cái đuôi thì do quí anh hùng tự quét sạch địch quân. Hoàng Biên hỏi quí anh hùng có những ý kiến gì cần bổ khuyết không, nếu không có thì theo sách đó mà thi hành khẩn cấp. Tất cả đồng ý chào nhau chúc chiến thắng, kết thúc cuộc thảo nghị mọi người rời khỏi sảnh đường thi hành nhiệm vụ của mình.

            Lúc này trong sảnh đường chỉ còn lại Hoàng Biên, Hoàng Chỉnh, Lữ Thư, Đỗ Trọng Chí, Tạ Thành Công, bỗng Đỗ Trọng Mỹ đi vào tự quỳ xuống đất, mọi người ngạc nhiên:

— Thưa quí anh hùng cho mỗ cùng ra chiến trường ở dưới trướng của tướng quân Đỗ Trọng Chí. Hoàng Biên lấy làm lạ:

— Thưa hiền huynh không thể được hãy đứng lên, đây là quân pháp không thể chấp nhận ý nguyện của hiền huynh.

— Nếu như Tổng lý không cho ra trận thì thà trảm tại hạ cho rồi, nếu không trảm tại hạ sẽ đập đầu chết tại đây.

— Được rồi, đại huynh đứng dậy đi, nhưng đại huynh đi theo một cánh binh nhỏ của tổng binh Đỗ Trọng Chí nhé? Đỗ Trong Mỹ mừng rỡ.

— Đa tạ quí anh hùng. Một Cần Lĩnh binh lấy binh phục trao cho Đỗ Trọng Mỹ rồi đi theo sau Cần Lĩnh binh hộ vệ. Trong thâm ý của Đỗ Trọng Mỹ muốn đích thân mình ra trận vì mục đích để bảo vệ Đỗ Trọng Chí cũng là dịp ở gần con trai trưởng, ông muốn gốp phần vào việc trừ bọn quan lại gian ác.

Bầu trời chưa hết hoàng hôn đã đổi màu tối đen, rơi vào chu kỳ tám trăm lẽ chín năm. Kim, Hỏa, Thổ giao hợp với nhau tạo thành một điểm sáng lớn đặc biệt nằm trên đường thẳng trái đất, như Cần Lĩnh Nam Nam Tông biến thành thiên võng bao vây khắp núi rừng, mười bốn huyện phủ binh mã chuẩn bị hiệu lệnh quét sạch gian tế Hán, tham ô quan lai, thối nát tại Giao Chỉ.

Từ xa vọng vào huyện Mông Tự, tiếng đàn cung “Thương” trải nhẹ ngũ âm của Xuân đệ rồi qua cung bậc thuận để Lệ muội bắt vào cung bậc liền “Thứ” của quản hai, âm giai phát cung “Pha” động “Thần” quân địch.

Một chiêu thức cung âm lòng ngược, đúng như dụng ý đánh lên bậc nghịch lòn, chính là cung bậc hở âm phát ra cung “Thương” trở thành một âm giai kỳ ảo rung cả đơn điền quân địch. Sau đó chuyển từ cung “Thứ” qua “Trưởng” gảy mấy khúc tiếng đàn lanh lảnh, làm “Khí” hao địch quân nghe lòng buồn bả, tiếng đàn mang âm hưởng ai oán, “Thần, Khí” bất an, cảm giác bi ai, thân thể yếu đuối như xa rời cõi sống.

Trong lòng binh mã địch ai cũng muốn bỏ gươm giáo kiếm cung trở về với vợ con, bỗng có tiếng đao kiếm đánh nhau từ phía binh Đại Tân với Bình Dương, rồi có tiếng gươm giáo đánh nhau từ phía binh Thượng Tư với Phòng Thành. Tiếp theo binh Minh Tha, Thắm Hợp, Ni lộc, Hồng Hà, Mã Quang cùng thi nhau thác thố lòng tự đại địa phương, thế là Mông Tự có khác nào “Nồi da xáo thịt”. Quân binh của Ba Ba cũng đánh với Tịnh Tây, trung tâm huyện trở biến thành bải chiến trường ăn thua đủ, tướng với tướng, quân với quân tha hồ đánh nhau không phân biệt nguyên nhân, lý do chỉ biết huyện này đánh huyện kia là bênh vực nhau, tình trạng hôi của với nhau cũng không kém đổ máu, những quân tướng xưa nay cướp của dân đã quen nay gặp của rơi vô chủ ngu sao không lấy.

Lữ Thư ra hiệu Xuân đệ, Lệ muội, Đinh, Thông, Hào, Hiệp, Anh, Châu đệ đồng phi thân mất dạng, thẳng tiến vào sảng đường chia nhau xuất chiêu như ánh sáng chớp trong mây, điểm huyệt được hai mươi tám tên huyện làm phản, kiếm trên tay làm ổ khóa đưa toàn bộ “Nuôi ông tay áo” ra điểm hẹn ngoài thành huyện. Để lại một chiến trường quan quân gian tế tự sát phạt lẫn nhau. Lữ Thư tay chỉ về hướng trước, hỏi khẻ:

— Quí hiền đệ, muội đã chuẩn bị tàu ngựa chưa? Đinh Anh Thi thưa:

— Thưa tỷ tỷ đã chuẩn bị rồi, hiện ở cánh rừng hướng trái ngoài thành.

— Tốt lắm tất cả di chuyển gấp hai mươi tám thằng này về trại Trà Bích Sơn, rồi thực hiện kế họach hai.

            Chỉ hai mươi khắc, tám tỷ, đệ, muội của Lữ Thư đã chuyển được hai mươi tám thây béo tròn lên ngựa phi thẳng về trại.

            Hoàng Biên, Hà Thanh Phụng, Hoàng Chỉnh, Hiệp Khách Lan tró mắt nhìn những bại tướng, rồi nhìn tám huynh đệ của Lữ Thư trong ánh mắt ngạc nhiên không diễn tả được bằng lời, tự hỏi làm sao tám tuổi trẻ này bắt sống được kẻ gian Hán, quân tham ô, gian ác một cách gọn nhẹ như vậy, mới hai canh khuya mà đã làm được chuyện vá trời lấp biển.

Đưa hai mươi tám cái miệng ồn ào khắc trước, khắc sau im lìm như hến, đúng là kẻ bại trận đang ngồi dưới nền hoa thạch tại sảnh đường. Cần Lĩnh binh cũng lanh lẹ, chỉ một khắc sau đã lấy ra năm mươi sáu trái khóa, sau khi tay chân bọn làm phản bị khóa đưa vào ngục thất, chỉ để lại La Tử Hiếu và Lê Đại.

Hoàng Biên ngôi trên ghế trung tâm sảnh đường. Lữ Thư thấy đã ổn định, nàng thưa:

— Thưa Tổng lý, cho nữ nhi sáu bao bố lớn nhập lại thành hai bao, mỗi bao ba lớp, bỏ La Tử Hiếu và Lê Đại vào, sáng mai nữ nhi lên đường đem hai tên này về trình với Phi đệ, còn lại những tên kia đem ra xử trảm trước quân binh làm phản, cùng lúc kêu gọi họ theo chủ trương của Cần Lĩnh Nam “Đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”. Trong sảnh đường từ Hoàng Biên đến Hoàng Chỉnh xem như nàng là chỉ huy chính. Nàng nói tiếp:

— Thưa Tổng lý làm sớ trình tấu lên Nam Việt Vương, xin với Người thay quân đổi mã, nhất là thay huyện phủ. Hoàng Lữ Thư đề nghị Lệ muội, Xuân, Đinh, Thông, Hào, Phụng Hiệp, Phụng Anh, Phụng Châu đệ, ở lại trợ lực huynh đệ Cần Lĩnh Nam ngoài trận địa. Đêm nay xin quí hiền đệ đi ngủ sớm để lấy lại sức cho ngày mai, tin tưởng quí hiền đệ dụng hết khả năng để hổ trợ binh tướng các nơi nhé.

            Hoàng Biên chuẩn bị chu đáo để sớm mai Lữ Thư chuyển hai tên Hán gian La Tử Hiếu và Lê Đại về động Nam Khê Sơn. Ông được chiếu chỉ của Nam Việt Vương chuyển tất cả quân quan tham ô, gian tế đến trước các sào huyệt xử trảm, nhằm để thị uy các đảng cướp cấu kết với quan lại địa phương.

            Hoàng Biên nhận được tin núi Trùng Sơn án binh bất động, cô lập được dư đảng Trùng Sơn, Hà Điền, Long Thái, chờ lệnh tiến thẳng đánh vào sào huyệt. Tin thứ cấp báo của Tạ Thành Công cho biết đã chiếm được mười ba huyện phủ, không có kháng cự nào đáng kể, Cân Lĩnh binh lên tinh thần, chỉ bị thương không vong, lập tịch binh mã các phủ, lập sách tịch thu tài sản sung công. Lập sổ xuất kho lẫm cấp ngũ cốc cho dân làm mùa, cấp gia súc cho dân chăn nuôi, cấp ngân kiêm cho dân chi dụng, ủy lạo bằng ngân kiêm cho dân xây dựng lại nhà cửa, phóng thích tù binh, giải tán thê hầu, thứ thiếp các quan lại và binh quân huyện.

Lạv dân mười bốn huyện tấp nập kéo đến chỉ mặt đặt tên, những quân quan, binh mã còn sống đem ra hài tội, đã làm dân khổ cùng cực sáu năm qua. Tạ Thành Công đúc kết bản luận tội trạng quân quan cường hào ác bá, lập danh sách trả lại công chính cho dân, lệnh trong ba ngày phải hoàn tất mọi sự ổn định cho dân được an hưởng thái bình.

            Nội dung bản luận tội trạng gồm có:

Thứ nhất: Cướp tài sản, ngân kim, nhà đất, ruộng vườn, ngũ cốt.

Nay quyết định phải trả lại vốn lẫn lời tương xứng cho dân.

Những kẻ cấu kết với tham quan quân đày đi công dịch sáu năm.

            Thứ nhì: Cưởng đoạt vợ người, cậy quyền thế hiếp phụ nữ, bách hại hà hiếp dân, bắt người tù đày trái phép, cậy quyền thế lừa đảo tài sản của dân.

Nay quyết định, phải trả lại công lý tương xứng cho dân.

Những kẻ cấu kết đày đi công dịch năm năm.

            Thứ ba: Những kẻ làm phản, tham gia làm phản, giết người bừa bải.

Nay quyết định xử trảm.

Toàn dân mười bốn huyện sau khi nghe đọc bản luận tội đồng thanh hoan hô “Quốc pháp minh bạch” Toàn dân còn yêu cầu bổ dụng quân quan huyện mới phải có tài năng, đức hạnh, thương dân như con thì mới có hy vọng tránh được cảnh lầm than của lúc trước.

Tạ Thành Công hứa trước toàn dân sẽ đề bạc nguyện vọng này lên Nam Việt Vương.

Lữ Thư về đến động trình bày tóm lược cho Hoàng Phi biết về Cần Lĩnh Nam, cũng như nàng bắt được mười bốn quan quân huyện Giao Chỉ. Nàng nói gia gia, mẫu thân có mặt tại trại Trà Bích Sơn, nhưng không nói về đoàn thụ gia đình của Đỗ Trọng Chí, vì sợ vô tình vướng vào tội tình riêng, nàng để tình này trong lòng chỉ có chàng Đỗ Trọng Chí mới biết mà thôi! Hoàng Phi vui mừng cuộc chiến thắng gian tế Hán đã thành công, bắt được bọn quan làm phản rất êm lặng, trong ngoài yên tỉnh không động đến dân:

— Tỷ tỷ đã về động rồi, tiểu đệ vui mừng lắm, vậy tỷ tỷ ở lại động vài hôm rồi trở lại Cần Lĩnh Nam Nam Tông nhé? Trong lòng Lữ Thư muốn đi ngày mai:

— Hiền đệ à, tuy đã thu được mười bốn huyện, nhưng những sào huyệt chưa mở cuộc chiến, tỷ tỷ muốn đi vào sáng mai, khi dẹp được các nơi ấy, tỷ tỷ sẽ cùng về với mấy đệ một lượt. Hoàng Phi nghe nói cũng có lý, chàng đồng ý.

— Sáng mai tỷ tỷ lên đường nhớ cho đệ gửi đôi lời thăm gia gia, mẫu thân nhé? Nàng như mở hội trong lòng, thực tế là nhớ chàng Đỗ Trọng Chí:

— Tỷ tỷ lúc nào cũng vâng lời hiền đệ, đệ bảo tỷ tỷ đi đâu cũng đi không từ chối. Hoàng Phi hiểu được ý thầm yêu riêng của Lữ Thư, nói đùa.

— Thế thì tỷ tỷ đi thành Phiên Ngung trước rồi mới trở lại Giao Chỉ sau cũng được. Nàng nghe Hoàng Phi nói câu này trong lòng hơi buồn rầu, nàng tự trách thầm cũng tại cái miệng hại thân, nếu đừng nói thì hay biết mấy! Sự thể chẳng đặng đừng nàng phải nói liều:

— Đi đâu tỷ tỷ cũng đi không từ chối. Nàng tự hối lòng. Đến nỗi thế này, sao mình vẫn còn ngu thực là ngu, tức quá để cho đệ Hoàng Phi làm mất cơ hội tốt, không còn hy vọng trở lại Trà Bích Sơn rồi! Hoàng Phi thấy nét mặt buồn của Lữ Thư, chàng giả bộ suy nghĩ:

— Thôi tỷ tỷ đi Giao Chỉ trước còn việc thành Phiên Ngung có đệ lo. Nàng vừa nghe Hoàng Phi nói, lòng trở lại vui mừng, Nàng tự hỏi hình như hiền đệ của mình đã hiểu ý riêng tư của mình chứ gì? Thảo nào hiền đệ âm thầm trêu ngươi ta mãi vậy. Hoàng Phi nói tiếp:

— Nhân tiện cho đệ gửi một giản biên mời đại huynh Đỗ Trọng Chí đến thăm viếng dã dân, nhờ tỷ tỷ trao hộ. Nàng để lòng vui mừng, đây cũng là dịp để cho nàng gần chàng, nàng gật đầu đồng ý. Nàng tỏ bày tâm sự nghĩa bóng cho Hoàng Phi nghe:

— Hiền đệ à? năm nay tỷ tỷ đã lớn rồi, ngày nào đó không còn ở gần hiền đệ, để thay gia gia, mẫu thân chăm nom cho hiền đệ, vậy hiền đệ có tán đồng ý lập gia thất của tỷ tỷ không?

— Sao tỷ tỷ nói vậy? nếu không đồng ý thì tỷ tỷ phải đi Phiên Ngung rồi. Tỷ tỷ lập gia đình là đương nhiên, làm người ai cũng phải vào cánh cửa gia thất, ví như gia gia, mẫu thân vậy, thôi được đúng canh năm tỷ tỷ đi Giao Chỉ.

Lúc này nàng mới biết Hoàng Phi đã hiểu hết chuyện thầm kín của mình, nàng tin Hoàng Phi biết người nàng yêu là ai rồi. Cho nên gửi thư mời Đỗ huynh về động, nàng khen thầm Hoàng Phi chu đáo tình cảm.

Ngoài trời lờ mờ sáng, tiếng gà rừng gáy “ò ó o” báo hiệu canh năm chuẩn bị tàn, nàng đã chuẩn bị hành lý lên đường. Lần này Hoàng Phi cấp mươi sáu đại hạc:

— Thưa tỷ tỷ, đã đến lúc phải lên đường, khi tỷ tỷ về động nhớ mời gia gia mẫu thân cùng đi nhé? Nàng vẫy tay tạm biệt.

— Hẹn hiền đệ tái ngộ, tỷ tỷ sẽ mời gia gia mẫu thân cùng về động. Mười sáu đại hạc bay vào mây. Hoàng Phi trở về sảnh đường viết sớ tâu về triều.

— Muôn tâu, Hoàng thượng điện hạ, hạ thần Hoàng Phi cẩn tấu. Hạ thần đã bắt toàn bộ quân quân và gian tế Hán, cùng đồng lõa làm phản triều đình, hiện đang giam tại núi Nam Khê Sơn. Nay hạ thần về triều kiến, rồi xa giá Hoàng thượng đến gian nam theo dõi phong yên Giang Nam.

Cẩn tấu Hoàng thượng chuẩn y hạ chỉ cho phép Cần Lĩnh Nam giải tội phạm thuộc Nam Hải, Quế Lâm về triều đình xét xử, riêng những gian Hán sau khi Hoàng thượng thẩm xét tường tận, chuẩn y xử trảm tại chân núi Nam Khê Sơn. Ngày rằm tháng hạ bẩm Hoàng Thượng điện hạ, hạ thần triều kiến tại Hành Cung. Cẩn tấu, hạ thần Hoàng Phi.

Hoàng Phi viết sớ thứ hai gửi Nam Việt Vương:

— Muôn tâu, Nam Việt Vương điện hạ, hạ thần Hoàng Phi cẩn tấu. Hạ thần đã bắt được gian quan và gian tế Hán họ La tên Tử Hiếu, nay chờ thẩm xét của Hoàng thượng, sau khi kết quả thì đem ra xử trảm tại núi Nam Khê Sơn, còn lại mười bốn đồng lõa làm phản tại Giao Chỉ sẽ đem ra xử trảm tại những sào huyệt đảng cướp. Hạ thần cẩn tấu tận tường lên Nam Việt Vương thấu rõ tình hình phước tạp nay đã yên, xin Nam Việt Vương cử bổ tân quan huyện có khả năng đức hạnh tốt, biết yêu dân như con, có như vậy Giao Chỉ mới an bình thịnh vượng. Hoàng Phi viết thư cho Vũ Thư Minh.

— Thưa thúc thúc, điệt nhi nhờ thúc thúc giải giao năm tên gian tế Hán, cùng đồng lõa hai mươi lăm người làm phản đến chân núi Nam Khê Sơn, thúc thúc huy động Cần Lĩnh Nam Trung Tông lập ba trại, một sảnh đường lớn khang trang, chặt cây rừng làm năm mươi tù xa, lấy thật nhiều cây khô để làm giàn hỏa, cử nhiều anh hùng túc trực, lập trại giám binh kín, canh phòng cẩn mật, hài nhi hy vọng thúc thúc thực hiện đúng kế hoạch. Kính thúc thúc, quí cô mẫu. ký tê Hoàng Phi.

Hôm sau Hoàng Phi tiếp nhận chiếu chỉ hồi âm của triều đình ký tên Nam Việt Vũ Đế. Cùng lúc Vũ Thư Minh cho biết chấp thuận thực hiện kế hoạch của Hoàng Phi, chàng an tâm chuẩn bị hồi triều, một giờ sau tiếp nhận được chiếu chỉ của Nam Việt Vương viết: Tổ phụ đã hạ chỉ, bổ Trần Bạch Phương nhậm chức tân quan huyện Đại Lộc.

Đào Phụng Tiên nhậm chức tân quan huyện Mông Tự.

Trần Bình Thành nhậm chức tân quan huyện Ba Ba.

Đào Phụng Hòa nhậm chức tân quan huyện Đại Tân. Chàng đọc chiếu chỉ mà lòng vui vô tả, chàng nói thành lời. Tổ phụ của mình cũng thấy được nhân kiệt, chàng ra hiệu mười đại hạc bay xuống trong số đó hai đai hạc hồng cao một thước bảy, chàng phi thân di chuyển về hướng Bắc-Đông, chàng gọi Anh Tuấn, Mẫn Trâm.

— Các hài nhi ở động nhớ chuyên cần tập luyện nhé, gia gia có việc phải đi gấp.

            Lữ Thư về đến Trà Bích Sơn, hay tin cánh quân của Đỗ Trọng Mỹ tại Ba Sao bị địch bao vây đã hai ngày, lương thực gần cạn không đưa vào được, nàng xin đi giải vây Hoàng Biên đồng ý:

— Nữ nhi à, cẩn thận nhé, hiện giờ Đỗ huynh bị bao vây trong trận, không phải người bất tài mà do địa thế hiểm trở, cạm bẫy kín đáo, đường thông hào chằng chịt. Vừa rồi giám binh mới khám phá được cửa thông hào đặc biệt, đó là thông hào cố thủ, chúng sống hay chết cũng tại thông hào này, cánh quân của Đỗ huynh đánh vào nơi này bị bao vây. Trừ khi cửa này thất thủ là toàn bộ sào huyệt Ba Sao không còn đứng vững, còn những cửa khác xem như Cần Lĩnh binh đã bao vây tất cả. Tin cấp báo cho biết Đỗ Trọng Chí đã vào trận phá được vòng vây, mở được đường sống cứu Đỗ Trọng Mỹ và một nữa binh ra khỏi trận, binh của tướng quân Đỗ Trọng Chí tiến vào hơi chậm chân, vì sức chống cự của địch rất mạnh, hơn nữa trong sào huyệt dày chặt thông hào bí mật và hầm hố cá nhân. Tuy đã có giám binh  nằm tại chỗ nhưng không thể nào biết hết được nơi nào là cơ động toàn bộ của sào huyệt, xem ra tên huyện Lê Chí lấy nơi này làm nơi trú thân khi hữu sự. Lữ Thư thở dài, nàng bối rối.

— Thưa thúc bá, nữ nhi dùng đại hạc hướng dẫn Cần Lĩnh binh chiếm từng thông hào, nếu cùng lúc khám phá trung tâm chỉ huy, đánh trúng sào huyệt thì phá được trận cờ này. Nhờ thúc bá báo tin cho Lệ muội, Xuân, Đinh, Thông, Hào, Phụng Hiệp, Phụng Anh, Phụng Châu đệ, chuyển về hướng đó để cùng nữ nhi vào trận.

Lúc này Hoàng Biên mới tỉnh ngộ lối đánh trận của Lữ Thư còn có đại hạc tham gia. Ông đồng ý để Lữ Thư xuất trận, rội thảo khẩn thư chuyển cho bát anh hùng Nam Khê Sơn đến Ba Sao cùng Lữ Thư xuất trận:

— Bây giờ nữ nhi lên đường đúng lúc rồi đấy, Lữ Thư hai tay chấp bái thúc bá, phi thân lên hạc bay thẳng hướng bắc đến Ba Sao. Nàng đến nơi thấy Đỗ Trọng Mỹ đang ôm mặt khóc, than van, trên khuôn mặt tiều tụy, đau khổ, nàng xúc động hỏi:

— Thưa lão bá, việc gì phải khóc như vậy?

— Thưa nữ hiệp, Đỗ Trọng Chí đã tử trận rồi!

— Thưa lão bá, tin này có chính xác không?

— Lão nói thực đấy mà, hiện giờ thân xác còn trong trận chưa đem ra ngòai này được!!! Nàng nghe đến đây phi thân vào trận, quả thực là đúng không sai, nàng rất yêu Đỗ Trọng Chí hy vọng ngày thành hôn sau cuộc chiến, nay không ngờ chàng đã ra đi trong cuộc chiến chưa tàn, lòng nàng nổi lên căm hờn, tay nàng chỉ vào sào huyệt nói. Hởi dư đảng ta không tha thứ những kẻ cướp mất hạnh phúc của ta và của Lạc dân. Nàng cười “hà hả” người thù của ta chính là kẻ phản Bách Việt, nhất định trận này ta phải làm sạch cỏ bọn quân “Ăn cơm Nam thờ ma đất Hán”. Tiếng cười của nàng khiến mọi người đứng chung quanh bị tức ran lòng ngực, không chịu được, tất cả phải nằm xuống đất để tránh tiếng cười căm hờn của nàng. Nàng ôm Đỗ Trọng Chí vào lòng khóc, Đỗ huynh đã đi xa rồi muội còn ở lại đây, biết tỏ tình với ai? Giờ này huynh có linh thiên thì trợ lực cho muội được hùng chí quét sạch bọn Ba Sao! Nàng ôm thi thể Đỗ Trọng Chí phi thân mất hút, ra khỏi trận nàng đặt chàng trên thảm cỏ xanh mướt mịn, với những tàu lá rừng, nàng thỏ thẻ rót vào tai chỉ đủ cho chàng nghe:

— Ngày nào muội có hứa với huynh.

“Yêu nhau chẳng quản chiếu giường,

Dẫu rằng tàu lá che sương cũng tình”

Muội cầu nguyện Đỗ huynh quang thiên phù trợ diệt kẻ địch trả thù cho huynh. Tại sao hôm nay không phải là ngày tình hẹn, mà là ngày muội phải khóc vì thi thể Đỗ huynh đang nằm trên tàu lá rừng, nơi đây muội không có hàn âm để gửi vào lòng ấm Đỗ huynh, muội hẹn ba ngày nữa sẽ về tiễn biệt Đỗ huynh lần cuối. Nàng trực cảm thi thể khác thường không tử vong vì cung kiếm, mà tử vì chất độc, nàng suy nghĩ cũng có thể nữ nhân Phạm Thuy Ngu ở mặt nơi này, nàng đứng lên như cần vọt, ra lệnh cho mười hai Cần Lĩnh binh chuyển thi thể Đỗ huynh về Trà Bích Sơn, đem tù xa Lê Chí đến Ba Sao. Đoàn binh vâng lời hối hả ra đi. Đôi mắt nàng hướng xa thi thể, lệ rơi theo hai gò má hồng. Đúng lúc bát anh hùng động Nam Khê Sơn vừa đến, thấy nàng đang khóc, Xuân khuyên.

— Tỷ tỷ à, chỉ còn một biện pháp là quyét sạch bọn cẩu trệ Ba Sao, bịt tất cả đường trần thế, không cho chúng chạy thoát nơi này. Lữ Thư lấy lại điềm tĩnh, cương quyết:

— Đa tạ bát hiền đệ, tại hạ quyết một phen sinh tử nơi này, nhằm mưu cầu đất nước sơn hà xã tắc Bách Việt được phong yên. Trận chiến này bát hiền đệ vận dụng hết sở trường võ học mới thành công được. Xuân Giao được xem trí năng mưu lược hơn trong bát huynh đệ Nam Khê Sơn, chàng nói:

— Tối nay lấy vải trắng viết nội dung như thế này “Ba ngày nữa đúng giờ Dậu trảm Lê Chí, những ai trong sào huyệt Ba Sao thức thời sớm, khuất phục triều đình, được tự do về đoàn tụ cha mẹ, vợ con với điều kiện đem theo một hay hai thủ cấp của kẻ làm phản. Triều đình đón tiếp quí huynh tại cửa Đông vào giờ Dậu, nếu bằng không bị trảm như Lê Chí”. Đinh Anh Thi đống ý việc làm này có kết quả.

— Tên làm phản Lê Chí trảm treo thủ cấp trên cây cổ thụ trước trung tâm sảnh đường Ba Sao. Chiều nay Xuân đệ, Lệ muội đàn ba bài nhạc Hoài Hương, Xuân Làng Xưa, Quê Hương Ta Đó. Quí hiền đệ còn lại cùng huynh dụng “Bát Quái Lĩnh Nam” thi nhau xuất liên chiêu, đánh vào trung tâm, riêng tỷ tỷ tìm mọi cách bắt trọn gói bọn Ba Sao. Tất cả đồng ý kế của Đinh và Xuân đệ.

            Hoàng hôn chưa xuống núi rừng còn sáng, tiếng côn trùng thi nhau báo hiệu một ngày qua, tiếng thú rừng gọi nhau về hang, tiếng chim muông hót líu lo trên tổ ru con, cảnh vật sơn lâm náo động bốn hướng từ muôn thuở vẫn vô tư, thời khắc của màn đêm đòi lại yên tĩnh cho không gian hơi thở cây rừng. Trong đêm khuya tiếng đàn bầu thở nhẹ trong Tỵ tơ, cung bậc đều do những ngón tay ấn ở đầu cây đàn, phát ra âm ba huyền ảo, như tiếng người muốn gửi đến lòng người một tâm sự riêng. Tiếp theo tiếng đàn tỳ thân cây Ngô đồng, lưng bầu, mặt phẳng, cổ ngắn Tỵ tơ cung bậc thành lời, cùng hòa khúc với đàn bầu, hai nội lực chuyển âm ba ra khắp bốn hướng, thay cho tiếng sơn lâm trước thời khắc hoàng hôn. Cả bạn lẫn thù nghe qua hòa khúc cũng phải bỏ đao kiếm xuống đất, nhớ về quê hương xa xăm, dù cho hùng chí đến đâu quân tướng, binh mã cũng phải bị tác động đến duyến lệ phải rơi, tiếng đàn không ai khác hơn chính là đôi nghệ sĩ trữ tình của dộng Nam Khê Sơn. Tiếng đàn trong binh pháp có chính nghĩa mới thắng được thù, nhờ vậy Cần Lĩnh binh không hề nản chí mà còn phấn khởi chiến đấu.

            Lúc này trong sào huyệt Ba Sao có tiếng đồng đảng la hét hoảng sợ, mỗi người có một ý thầm kín riêng tư, thần kinh càng lúc căng thẳng hơn vì cung bậc âm hưởng tru hồn mang theo nội công đại thừa, tạo ra đêm thanh vắng lặng khác thường như cõi chết hiện về, những tiếng phi mã bồn chồn không còn khí phách hôm qua. Tiếng đàn vẫn đều thanh âm gọi đất vòng lên, gọi trời chuyển phong ba, gọi người bỏ hồn lấy xác, âm ba theo chiều gió chuyển vào sào huyệt Ba Sao.

            Lữ Thư trở lại chỗ Đỗ Trọng Chí tử vong, nàng thấy những huynh đệ chết cùng một chiêu thức, nàng sát định đây chính là nữ nhân độc trùng có mặt trong sào huyệt Ba Sao, nàng hỏi dò Cần Lĩnh binh cho biết: “Khi huynh đệ tiến sát nách giao thông hào thứ nhì thì có người đàn bà dắt một đứa con chạy ra, tay vãi như sạ lúa không biết chất gì, trên bốn mươi huynh đệ lăng ra chết tức khắc, đến phiên Đỗ huynh tiến vào thông hào thứ ba cũng bị người đàn bà ấy, thế là có thêm ba mươi hai huynh đệ tử thương trong số đó có Đỗ đại huynh. Nàng tìm hiểu thêm sau khi Cần Lĩnh binh chiếm thông hào thư bốn thì không ai còn thấy người đàng bá ấy! Nàng khám phá thông hào thứ hai và ba là ngõ cụt, vậy tên nữ phỉ Phạm Thuy Ngu này trốn tránh ở đâu, hoàn toàn biệt tích không ai biết!

            Lúc này trung tâm sào huyệt đèn còn thắp sáng, quân binh thổ phỉ chín lớp thông hào chung quanh đại trại quân phỉ, canh phòng nghiêm mật, hình như đang có cuộc họp nội bộ tại sảnh đường. Cảnh vật bên ngoài im lặng chỉ cần một tiếng động cũng đủ làm mọi người dựng tóc gáy, vì trại đã bị bao vây không còn lối thoát.

Quan trọng nhất hiện giờ ai cũng biết trước sảnh đường có một lá phướn trắng, treo trên cây cổ thụ viết “Ba ngày nữa đúng giờ Dậu trảm Lê Chí, những ai trong sào huyệt Ba Sao thức thời sớm, khuất phục triều đình, được tự do về đoàn tụ cha mẹ, vợ con với điều kiện đem theo một hay hai thủ cấp của kẻ làm phản. Triều đình đón tiếp quí huynh tại cửa Đông vào giờ Dậu, nếu bằng không bị trảm như Lê Chí”

Trong sào huyệt càng lúc càng náo động, tiếng la hét lớn cùng tiếng đao kiếm thi nhau gào thét. Binh mã quân phỉ không biết lý do nào đưa đến nội loạn, thần trí của sào huyệt xuống thấp. Đinh, Thông, Hào, Phụng Hiệp, Phụng Anh, Phụng Châu đột nhập thình lình vào thông hào trung tâm của sào huyệt, mời trước một số lục tặc, dư đảng đi mò tôm tép, huynh đệ Nam Khê Sơn lấy binh phục giả làm lục tặc Ba Sao.

            Đinh, Thông, Hào, Phụng Hiệp, Phụng Anh, Phụng Châu, tay cầm một hay hai thủ cấp chạy về hướng Đông sào huyệt, vừa đầu canh hai mà đã thi nhau nội loạn, thủ cấp tiếp thục phi về hướng lá phướn trắng.

Lữ Thư đang nóng lòng tìm đảng trưởng địch, Nàng thấy sảnh đường trong ngoài năm lớp phòng bị đã co lại, nàng không ngần ngại phi thân vào sảnh đường, chỉ thoáng qua gió đàn ngọn đèn hồng sáp. Nàng đếm được mười lăm tên ngồi tại bàn hình chữ nhật, trung tâm sảnh đường bàn chuyện cố thủ sơn trại.

Hai cây hồng sáp lờ mờ ánh sáng, nàng nhận diện được tên Nguyễn Cự Bình phó quân binh huyện Mộng Tự, còn lại những tên khác đều lạ mặt, nàng nghe từng lời nói để nhận diện đầu đảng. Tên ngồi đầu bàn, nói:

— Mỗ muốn tìm nguyên do để chỉnh đốn nội loạn, các hạ có kế mưu nào cứ đưa ra. Nguyễn Cự Bình đứng lên:

— Tại hạ xin mời tướng quân Chu Hoa Cương cho ý kiến trước. Chu Hoa Cương phát biểu:

— Tại hạ nghĩ rằng dù có hao tổn binh lực nhiều thì tất cả tướng mã phải dụng tài năng thao lược để giữ vững Ba Sao. Kẻ nào trái lệnh xử trảm, có như vậy mới tránh tình trạng nội loạn. Lữ Thư nghe tiếng nói trọ trẹ rất khó nghe nàng biết người này không phải ở Giao Chỉ. Một người lạ mặt khác:

— Tại hạ e rằng tướng quân Chu Hoa Cương xem chừng xử trảm trước, hiện nay binh sĩ lấy thủ cấp lẫn nhau để tìm đường sống, tình thế không thể nào cản trở họ được, thay vì các hạ dùng kế chiêu quân có phải được việc hơn không. Chu Hoa Cương đứng lên tay chỉ vào mặt người mới phát biểu:

— Tên cẩu thối Tăng Bạch Mai, đề nghị của mi không mang lại kết quả, phải ra lệnh nghiêm minh mới làm cho tình thế không loạn. Tên ngồi đầu bàn đứng lên phát biểu:

— Thưa quí đại huynh đừng có nhiều lời, bốn ngày trôi qua sào huyệt đã bị bao vây, tuy địch khó tiến vào ta vẫn giữ được yên, chỉ có một việc khó, đó là trong ngoài không liên lạc được. Nay chỉ vì một tấm vải trắng công bố xử trảm đại huynh Lê Chí, mà quân tướng, binh mã đã đầu hành phân nửa, tại hạ nghĩ đây là một kế ly gián, chứ không thể nào đại huynh Lê Chí bị bắt một cách dễ dàng như vậy, chờ xem xử trảm phải thấy xác, không thể tin vào tấm vải ấy được. Lữ Thư xuất hiện qua âm lực:

— Các hạ muốn thấy xác Lê Chí thì chờ ngày mai, chính tại hạ bắt một lúc hai mươi tám tên trong đó có Lê Đạt, La Tử Hiếu, còn mười bốn huyện phủ đã giải tán hết rồi, hôm qua triều đình đã cử tân huyện phủ, tân quân huyện đến nhiệm chức các ngươi đừng mơ ngũ nữa, đầu hàng đi, biết thời thế sẽ sống, không biết là chết. Tiếng nói của nàng ở trong sảnh đường nhưng người nghe tưởng chừng ở ngoài nói vào. Tất cả nghe tiếng nói của nàng rợn rợn lạnh người, trong âm có nội lực ép vào lòng ngực như đánh trống da “bình bịch” Tên ngồi đầu bàn nói:

— Mỗ là đảng trưởng sào huyệt Ba Sao họ Từ tên Tồn xin mời nữ hiệp diện kiến. Nàng xuất hiện bên trong cửa có tấm màng lụa mỏng màu vàng, nàng không hề sợ hải khi đã vào hang hùm, nàng vừa nói tay chỉ vào mặt kẻ thù:

— Ai là người hạ thủ tướng quân Đỗ Trọng Chí?

— Chính mỗ hạ lệnh cho độc trùng Phạm Thuy Ngu, thế Đỗ Trọng Chí chết thực ư, y chết cũng tốt thôi, ai dám đụng vào sào huyệt Ba Sao là tự đưa mình vào cửa địa phủ. Nàng vận nội lực vào hai tay xuất chiêu “Hậu hồn du” bế thập nhị huyệt của mười lăm địch thủ, nàng tiến ra sảnh đường.

— Tại hạ đã vào sảnh đường rồi, mục đích tìm đồng đảng Ba Sao, không ngờ ngẫm cơ các đầu đảng hội ngộ nơi cửa Diêm la. Còn cái tên Từ Tốn sao nghe qua như tên là Từ Trần thế là không đáng sống rồi, nàng xuất luôn một chiêu “Phong hỏa đình” lấy gió hóa lửa, tống táng tên Từ Tốn bay ra khỏi sảnh đường rơi xuống đất, nằm chết như bao thịt trên bảy mươi cân, xương cuộn tròn nhừ bấy.

Còn lại mười bốn tên đầu đảng đã bị nàng điểm huyệt, không ngờ tên Chu Hoa Cương giải được huyệt, phi thân đến gần Lữ Thư, y xuất một chiêu kỳ ảo, nàng chưa bao giờ thấy qua, nghĩ thầm: Tên trọ trẹ này giải được huyệt tức nhiên võ học phải hơn người, y từ đâu đến, lý do gì có mặt trong sào huyệt Ba Sao, y là ai? Nàng để ý thăm dò tiếng nói của Chu Hoa Cương, ít nhất đã nghe qua một lần ở đâu đó, nàng hỏi:

— Tên gian tế Hán, Chu Hoa Cương từ đâu đến đây, người bản xứ không có giọng nói này?

— Không cần biết mỗ từ đâu đến, bản xứ hay không chỉ lấy võ học để trả lời, đừng nhiều lời, lúc này chỉ phân thắng bại để mở lối đi. Chu Hoa Cương xuất một chiêu quyền kỳ ảo gió mạnh từ đôi tay cuồng cuộn theo quyền đánh tới, mười bốn người đứng gần phải lùi xa năm bước. Lữ Thư tránh được chiêu quyền của địch thủ, nàng biết đây là tên gian Hán đã gặp tại tư gia Mao Tùng Khố, trong thành Phiên Ngung, thì ra tên gian tế La Tử Hiếu phụ trách liên giao quan trường, còn Chu Hoa Cương lo về liên giao binh mã, thế mà lâu nay không ai biết tên Chu Hoa Cương đúng là y hoạt động rất bí mật! cũng may hôm nay y lộ diện có thêm một gian tế Hán đem về Nam Khê Sơn. Nàng nghĩ ra một kế, nói lời đôi, để cho tên Chu thu nhỏ tâm thần lại:

— Tại hạ, biết các hạ từ đâu đến rồi, cũng nhờ bộ pháp này mà tại hạ nhớ người đặt tên, võ học Trung nguyên cũng tạm xem được đấy chứ. Chu Hoa Cương tự nghĩ thầm: Nay chân tướng của mỗ đã bị lộ, có thể mười bốn tên trong sảnh đường này làm nội giám ư? Mỗ phải diệt trừ rồi sau mới tính đến nữ nhân này, y nói:

— Tại hạ xem ra lời nói của Nguyễn Cự Bình rất đúng. “E rằng tướng quân Chu Hoa Cương xem chừng xử trảm trước” Thế thì bây giờ tại hạ phải xử trảm mười bốn các hạ trước khi mỗ bị xử trảm sau cùng nhé. Chu Hoa Cương xuất mười bốn chiêu quyền cùng lúc, dụng hết nội lực, hướng thẳng vào Nguyễn Cự Bình cùng đồng bọn. Mười bốn cao thủ Ba Sao cũng không vừa tuy bị Lữ Thư điểm huyệt mà vẫn còn sức chống cự. Nguyễn Cự Bình ra hiệu đối địch cố hữu dụng đa đánh tiểu, chia nhau thủ thế vòng tròn, Chu Hoa Cương bị bao vây vào trung tâm, tiếng động chiêu quyền trong sảnh đường vang lên như sấm “ầm ầm” tất cả vật dụng trang trí rơi xuống đất, cột sảnh đường động mạnh rung chuyển trần nhà, những mãnh ngói rơi xuống “ào ào” bụi mịt mù. Lữ Thư đứng ngoài trận chiến chú ý chiêu số của tên Chu Hoa Cương, sau ba khắc thấy phe đảng Nguyễn Cự Bình có năm tên lăng xuống đất chết tươi, Chu Hoa Cương phi thân ra khỏi vòng vây, Nguyễn Cự Bình ra hiệu thủ thế vòng cung, hai bên vừa thủ vừa tấn công hơn hai mươi chiêu nữa, lúc này Chu Hoa Cương hơi thở dồn dập, còn đồng đảng Nguyễn Cự Bình có tám người thoi thóp thân hình đứng không vững, từ từ ngã lăng xuống đất, vang lên tiếng khô khan “bịch bịch” rồi nằm im liềm xuôi tay chết, chỉ có Nguyễn Cự Bình còn đứng vững. Lữ Thư vui mừng, cười thầm, Quân tướng Ba Sao tự nội loạn, thay phiên nhau quét sạch đồng đảng, nàng không cần phải bẩn tay hao trí tốn sức.

Nàng chú ý nhìn vào những xác chết không thấy đổ máu, thế mới biết tên Chu Hoa Cương không phải thứ võ học tầm thường, ta không nên xem thường y. Nàng có ý can thiệp cứu Nguyễn Cự Bình, nhằm cho y tạm sống để tìm nguyên nhân về sào huyệt Ba Sao tại sao có nữ phỉ. Lúc này binh mã sào huyệt Ba Sao thực sự đã biến thành bầy ông vỡ tổ, ngoài sảnh đường tiếng la hét của tiếng đao kiếm thưa thớt dần. Nàng cười lớn tiếng “hà hả”:

— Họ Chu gian tế Hán, mi đã đánh chết con số mười ba nhân mạng đủ rồi, dừng tay lại nghe tại hạ hỏi đây. Mi đến từ Trung nguyên, đương nhiên võ học cao siêu, độc thân độc mã vào đất Nam Việt, vậy tại hạ mời vài chiêu thí mạng có được không?

— Mỗ thấy thân mi không đỡ được nửa chiêu quyền Trung nguyên đâu, thì làm gì gọi là thí mạng. Mi cút đi đừng để mắt mỗ thêm con số mười bốn. Lữ Thư vốn đã đề phòng những chiêu quyền khác lạ, Nàng cười không có gì gọi là khiếp sợ:

— Này gian tế Hán đừng đắc chí, mới hạ được vài đồng đảng của mi, là đã vênh mặt ư? Tại hạ đến đây mục đích để bắt gian tế Hán, vậy mi không thoát khỏi nơi này đâu, tuy tại hạ là phận nữ cũng có bản lãnh lấy xác mi như tên Từ Tốn vậy, nào mời ra chiêu trước. Chu Hoa Cương nghe nàng nhắc tên Từ Tốn trong lòng cũng hơi khiếp sợ, ít nhất đã chứng kiến chiêu pháp kỳ tài của nữ nhân. Chu Hoa Cương xuất quyền nhanh vô cùng nhưng vẫn còn chặm hơn Lữ Thư một bước. Chu Hoa Cương xuất quyền được phân nửa chiều dài, thì gặp một luồn gió thổi mạnh vào chiêu quyền đụng bàn tay kêu hai tiếng “rắc rắc” thật giòn, Chu Hoa Cương mới biết bị nữ nhân bẻ gãy tay làm đôi, tay còn lại Chu Hoa Cương dụng hết tàn lực xuất quyền tới, nàng phi thân ra sau lưng họ Chu xuất nhanh chiêu thứ nhất “Sơn hỏa bí” ánh sáng hỏa chiếu núi non trời đất, chiêu thứ nhì “Thủy hỏa ký tế” từ hỗn mang biến thành trật tự. Phóng nội lực vào họ Chu như búa thiên lôi đẳng luôn hai chân, một tay của Chu Hoa Cương, nàng thấy thân thể địch thủ cũng phải cười:

— Đúng là con gà cồ luộc chín, đã chặt đứt hết hai tay, hai chân chỉ còn thân trơ trụi, bây giờ mi tự đi tâu với Hán đế lời này nhé: Ở Nam Việt có một nữ nhân thích ăn gà cồ luộc Hán. Nàng lấy hai cánh tay áo, hai ống quần của Chu Hoa Cương buộc lại, rồi quăng thật xa dính vào cành cây cổ thụ treo đong đưa lơ lửng như tổ chim sâu.

Tại sảnh đường chỉ còn lại tên Nguyễn Cự Bình, y đã chứng kiến cảnh tượng kinh ngạc, chưa bao giờ thấy trên giang hồ có một nữ hiệp võ học kiệt xuất. Lữ Thư đến trước mặt Nguyễn Cự Bình, phỏng đoán hỏi:

— Có phải các hạ lập ra đường thông hào trong sào huyệt Ba Sao này không? Nguyễn Cự Bình không ngờ nữ hiệp xa lạ lại biết phá thông hào để vào sảnh đường, phần lo sợ thân thể như Từ Tốn hay Chu Hoa Cương, y thực thà thưa không dấy lời nào:

— Thưa nữ hiệp, kẻ hèn này đáng tội chết, không thể tha thứ được. Sự thực cũng vì Lê Chí áp bức cả nhà kẻ hèn không còn cách sống, nên mới hiến kế thông hào cho Lê Chí. Ngày trước gia gia của kẻ hèn làm quan quân huyện, dạy dỗ kẻ hèn biết văn hiểu võ, thuở ấy thường chơi trò đắp lũy xây thành bằng đất với Lê Chí, lúc nào thành lũy của kẻ hèn cũng hay và đẹp, không ngờ chính trò chơi ấy trở thành nạn nhân ngày nay của Lê Chí. Lữ Thư thừa biết dù có quân binh vạn mã cũng không chiếm được sào huyệt này:

— Tốt lắm các hạ thực tâm không có lời chi gian dối, vậy tại hạ cho các hạ một ước nguyện cuối cùng.

— Thưa nữ hiệp, kẻ hèn này không có ước nguyện gì hết, sống chết do nữ hiệp định số, dù có ăn năn, hối cải cũng đã muộn rồi, tội làm đôi vai phải chịu!

— Tốt lắm, tại hạ không ra tay hạ thủ các hạ, vậy các hạ phải sống để thực hiện ước nguyện của mình. Công việc trước mắt, các hạ kêu gọi tất cả đồng đảng đầu hàng, tuyên bố giải thể sào huyệt Ba Sao. Lấy công chuộc tội lỗi thì được triều đình miễn tra xét.

— Đa tạ nữ hiệp, việc kêu gọi đồng đảng đầu hàng đó là việc nhân đức, kẻ hèn này làm được, còn lẽ sống của tại hạ để làm người thì kẻ hèn này xin nguyện đầu quân triều đình.

— Tốt lắm, trước nhất tại hạ sẽ giới thiệu các hạ đầu quân vào Cần Lĩnh Nam được không?

— Thưa nữ hiệp không ổn vì Ba Sao hạ thủ tướng quân Đỗ Trọng Chí, tội ấy Cần Lĩnh Nam không tha thứ tại hạ đâu!

— Thực ra người không tha thứ các hạ chính là tại hạ, chứ không phải Cần Lĩnh Nam, còn một câu hỏi cuối:

— Ai là người có liên hệ với nữ nhân Phạm Thuy Ngu xin các hạ cho biết.

— Thưa nữ hiệp, chính là Lê Chí.

— Như vậy nữ phỉ có nhiệm vụ gì ở đây và hiện giờ đang ở đâu?

— Lê Chí rất tham vọng, sau cuộc nổi dậy, nhờ mụ độc trùng Phạm Thuy Ngu tiêu diệt những tên quan huyện có tham dự cuộc nổi dậy, tên Lê Chí hứa với mụ sẽ giao quyền phụ chính triều Lê tại Phiên Ngung. Lê Chí cấp thẻ lệnh cho mụ độc trùng sử dụng thông hào số hai và số ba, đây là thông hào bí mật giao tiếp với sảng đường, đặc biệt cuối thông hào là ngõ cụt, tại đây là cửa sống đi thông xuống núi.

— Mụ độc trùng có mặt ở tại thông hào ngõ cụt, như vậy là đã chạy thoát thân rồi ư?

— Đúng vật.

— Thôi được đại huynh đến cây cổ thụ có treo tên Chu Hoa Cương, thi hành lệnh khẩn kêu gọi đảng chúng đầu hàng, sau đó theo tại hạ về Cần Lĩnh Nam.

Binh mã sào huyệt Ba Sao chết hơn phân nửa, phần còn lại đầu hàng. Nguyễn Cự Bình sợ sào huyệt này bị kẻ sấu sử dụng thì sau này hại đến toàn dân trong vùng:

— Thưa nữ hiệp cho phép tại hạ xuất lệnh phá hủy toàn bộ thông hào, phóng hỏa đốt trại kín, trại nổi, hầu ngừa trước hậu quả sau này, nếu có kẻ sấu sử dụng thì nguy lớn cho dân trong vùng. Lữ Thư ngăn cản không cho phá hủy:

— Ba Sao là thành trì kiên cố có thể hữu dụng về sau, tất cả để nguyên, riêng binh mã chiêu hàng phải lập trại ngoài sào huyệt, còn trong trại này do Cần Lĩnh Nam quản lý, còn nhờ đến tướng quân hướng dẫn cách bố trí quân binh chiến đấu tại thông hào, trại nổi trại kín, tướng quân nghĩ thế nào ?

— Thưa nữ hiệp, tại hạ tuân lệnh, làm tất cả những gì nữ tướng vừa truyền lệnh.

  • Tướng quân thì hành như vậy là tốt lắm.

Chiến trận toàn thắng Lữ Thư đem lại thanh bình cho dân Mông Tự. Nàng về đến Trà Bích Sơn, tiếng loa vang dậy đất, khắp nơi hoan hô nữ tướng Lữ Thư, bát anh hùng Nam Khê Sơn, nhưng trong lòng nàng không được yên vui, tuy nàng thắng trận được xem công trạng lớn nhất trong đời nàng dâng hiến cho Nam Việt, thì trái lại nàng mất một anh hùng của tình yêu, khi về đến Trà Bích Sơn nàng mới thấy cô đơn, không còn gì để ước mơ ngày mai, nàng ở luôn trong phòng tự khóc thầm mấy ngày liền.

Hiệp Khách Lan cùng Hà Thanh Phụng, hiểu được lòng nữ nhi vì yêu Đỗ Trọng Chí mà tự hành hạ bản thân, hai bà cảm thông cho nàng, cũng muốn nàng giải khổ càng sớm càng tốt, Hà Thanh Phụng gọi Lữ Thư:

— Nữ nhi đi dùng cơm tối với thúc mẫu cùng mẫu thân đang chờ, nàng dạ trong âm thanh yếu ớt, khi nàng đi ra ngồi vào bàn dùng cơm thấy có mặt La Chung Hương mẫu thân Đỗ Trọng Chí, bà chào Lữ Thư:

— Ngày xưa lão có yêu một chàng thanh niên tuấn tú, khôi ngô, văn võ song toàn, tài đức hơn người, không may chàng ấy đoản số qua đời ngoài mặt trận, khi ấy lão rất đau khổ khiến mất hồn lạc phách, tuổi thanh xuân đã mất một thứ gì đó thì khó mà tìm lại được, rồi ngày tháng trôi qua, vơi dần tình yêu ấy. Sau đó lão lại gặp một chàng trai khác cũng khôi ngô tuấn tú đeo đuổi lão một cách đấm đuối, lão không thèm đếm xỉa gì đến người ấy, nhưng tơ hồng đã ràng buộc, lão quyết định bỏ xuống những quá khứ để lập lại đời mới với chàng trai ấy chính là gia gia của Chí ngày nay. Lão thấy thời nào cũng thế nam nữ yêu nhau đều do duyên định tâm sinh chỉ lối đưa đường, kiếp sinh khó mà cưởng lại luật định thiên nhiên, cũng như lão ở vào lúc ấy vậy, sau khi lập gia thất cùng lão Đỗ Trọng Mỹ mới biết trân quí hạnh phúc. Nay lão thấy nữ Lữ Thư đúng như hoàn cảnh của lão lúc ấy, lão lấy làm quí mến lắm, lão muốn Lữ Thư đừng quan tâm nhiều những gì đã qua, mà nên chú ý về tương lai, dù sao mỗi người đều có khoảng sống không định trước được, hiện nay không ai trách Lữ Thư, trái lại còn khen nữa. Lữ Thư hiểu được tâm sự của phụ nữ, nàng vâng lời dạy bảo xa gần của người lớn:

— Nữ nhi vâng lời bá mẫu. Nhân dịp này nàng thưa mẫu thân cùng La Chung Hương:

— Thưa mẫu thân cho phép nữ nhi tiếp nhận tiểu đệ Đỗ Trọng Kha làm em nuôi được không mẫu thân? Hiệp Khách Lan vui mừng:

— Nữ nhi tiếp nhận như vậy cũng phải, ta hài lòng lắm, nhưng mà phải giáo dục hiền đệ của nữ nhi hơn người thì ta mới an tâm. La Chung Hương cũng vui mừng không kém:

— Lão đa tạ nữ hiệp, từ đây lão an tâm, Đỗ Trọng Kha có được một hiền tỷ văn võ kỳ tài, đức hạnh hơn người, nhà họ Đỗ xem ra cũng còn hồng phúc. Lữ Thư cùng Đỗ Trọng Kha bái kết nghĩa tỷ đệ trước sự chứng kiến của Hiệp Khách Lan, Hà Thanh Phụng, La Chung Hương.

Buổi chiều nàng xin phép mẫu thân đi thăm mộ người yêu, nàng đã chuẩn bị trước hương hoa trà quả, trên đường đi gồ ghề xô xảm, nàng cảm nhận ngày mai đời nàng không bằng phẳng, con đường tương lai vẩn còn xa xăm, diệu vợi đầy thử thách, không như ước mơ của thuở âu. Nàng đang trên đường đi mà lòng héo hon như kẻ lạc phách, đến phần mộ của chàng, nàng làm lễ vong hồn siêu thăng, cầu nguyện cho chàng về cõi bình an, nàng cảm ứng cất lên lời:

Tình Xa.

Tiển đưa anh, em thấm ước mơ

Chân bước nhẹ gọi chờ hồn anh

Nay cõi thế độc hành bơ vơ

Tình hương sắc nhạt bờ bến cũ

Gặp nhau nở đóa màu phù dung

Kiếp này không đặng chăn ấm nồng

Thương anh tình số đoản phân ly

Sầu hẹn ngày về cõi sống ngoài sinh tử

Thương anh, em nhớ nghìn lời

Nhớ mãi dung nhan đất trời bao la

Tình nghe gió gọi tình xa

Ta hỏi đất trời đường xa hay gần.

            Đất Giao Chỉ đã quét sạch gian tế Hán, bóng quan quân gian đảng tham ô, cường hào, ác bá cũng không còn, các trại động sơn của đảng cướp cũng tan rã đầu hàng, lập lại an ninh cho mười bốn huyện, toàn dân ăn mừng nơi nào cũng hô vạn tuế Nam triều ban phước, thế sự trở thành quan minh.

            Phùng Nam tiếp nhận được tấu chương của Hoàng Biên thay mặt Cần Lĩnh Nam Nam Tông:

— Muôn tâu Nam triều, Nam Việt Vương. Nay Giao Chỉ đã yên mười bốn huyện cấu kết gian tế và giặc cướp, bắt được tên Chu Hoa Cương gian tế Hán tại sào huyệt Ba Sao, chuẩn bị đem về núi Nam Khê Sơn.

            Chiến thắng này xin cẩn tấu triều đình tuyển bổ thêm tân quân quan huyện có toàn mỹ đức để chăn dân đặng hưởng thanh bình. Cần Lĩnh Nam Nam Tông có tiếp thư mời bốn ngày nữa mở hội tại chân núi Nam Khê Sơn, lúc ấy hạ thần xin cẩn tấu chi tiết nội vụ phát-dương tinh thần Bách Việt tại Giao Chỉ, nguyện vọng kế sách của hạ thần dâng lên Nam Việt Vương. Kính chúc thúc bá khương an. Nam nhi Hoàng Biên.

            Từ lúc Lữ Thư rời khởi Nam Khê Sơn, Hoàng Phi có cấp hai mươi đại hạc để tùy nghi di chuyển, bây giờ Lư Thư mới hiểu nguyên nhân dùng vào hậu cuộc chiến, như mời tổ phụ Phùng Nam, thúc bá thúc mẫu, gia gia mẫu thân về động Nam Khê Sơn. Nàng gọi bát đệ muội Đinh, Xuân, Lệ, Thông, Hào, Phụng Hiệp, Phụng Anh, Phụng Châu, đại huynh Hoàng Hạ.

— Quí hiền đệ về Nam Khê Sơn trước, ngoài ra còn có một đại hạc đưa gian tế Chu Hoa Cương về động, chú ý nếu như hạc lỡ để rơi tên gian Hán từ trên cao rơi xuống đất tức nhiên phải chết, quí huynh đệ cẩn thận xem lại thi thể, nếu đã chết thì bồi thêm vài chiêu như vậy mới an toàn, sau đó cho y một nấm mồ, như vậy mới an tâm về động.

Bát huynh đệ vâng lời Lữ Thư về Nam Khê Sơn, tất cả phi thân lên hạc bay vào không gian, tay vẫy chào tạm biệt Cần Lĩnh Nam Nam Tông.

Trong buổi cơm chiều Lữ Thư thay mặt Hoàng Phi mời cả nhà đi Nam Khê Sơn. Sao buổi cơm nàng lên đường xa giá tổ phụ Phùng Nam.

            Sáng hôm sau Phùng Nam đến Trà Bích Sơn, Cần Lĩnh binh đứng bảy hàng đón tiếp, tất cả anh hùng đứng ngoài sân đồng hô vạn tuế Nam Việt Vương. Hoàng Biên, Hoàng Chỉnh rước Phùng Nam vào sảnh đường:

— Chúng hài nhi kính cúc thúc bá khương an, mời an tọa.

— Quí hài nhi bình thân, lần sau mỗ có đến đây đừng bày tiền hô hậu ủng, uy nghi như vậy, tất tất phải miễn. Hoàng Biên xá một xá thưa:

— Thưa thúc bá, luật nhà thì chế, luật triều đình phải tuân, nhưng đứng trước anh hùng Cần Lĩnh Nam Nam Tông không hành sử như vậy thì trị dân bất tuân, xin thúc bá an tâm. Hà Thanh Phụng bưng ra một kỷ trà ba chung, Hiệp Khách Lan bưng bình trà rót vào ba chung trà:

— Chúng nữ nhi, mời thúc bá dùng trà cho ấm, mời đại huynh, tướng công.

— Mỗ cảm tạ nhị điệt nữ hiệp, không nên đa lễ vì tất cả là người nhà. Phùng Nam vốn là đệ tử đời thứ hai của Hoàng Hạc, ông ngưỡng mộ họ Hoàng mỹ đức, văn thông, võ chí, ngoài ra còn nhiều phương diện khác cũng kỳ tài như nhau, nhất là họ Hoàng đã ba đời xuất hiện nhân kiệt phụng sự Bách Việt.

Nay Lữ Thư đến đón rước ông đi Nam Khê Sơn, ông rất hài lòng chấp thuận không do dự, trong thâm tâm từ lâu ông muốn gặp Hoàng Phi mà không có dịp. Lữ Thư cho biết Hoàng Phi mời ông, nhất là di chuyển bằng đại hạc là chuyện không thể ước mơ có được. Ông đang suy nghĩ thì Hoàng Biên thưa:

— Kính thưa thúc bá, đã đến lúc phải lên đường, kính mời thúc bá. Cả nhà lên đại hạc bay về hướng bắc Lữ Thư hướng dẫn, về động lần này Lữ Thư đem theo hiền đệ Đỗ Trọng Kha, đến chiều đoàn đại hạc vào trung tâm động, Lữ Thư ra hiệu cho đại hạc bay xuống thấp, Lữ Thư phi thân xuống trước, tất cả đồng phi thân theo. Trong động lúc này có đông đủ chỉ thiếu Hoàng Phi. Lữ Thư nguyên là động chủ:

— Thưa tổ phụ, thúc bá, thúc mẫu, gia gia, mẫu thân vào sảnh đường uống trà, để nữ nhi đi chuẩn bị nơi nghỉ ngơi. Cũng may có Trịnh, Lý, Trần đệ, về trước bốn ngày phụ lực cùng Anh Tuấn, Mẫn Trâm. Hai ngày sao Đinh, Xuân, Lệ, Thông, Hào, Phụng Hiệp, Phụng Anh, Phụng Châu, đại huynh Hoàng Hạ mới về động.

Mọi phối trí ngăn nắp do Hoàng Phi hướng dẫn, nào là nơi ăn chốn ở, nhiều phòng thông nhau, phòng trà, phòng Ngự thiện, sảnh đường có Long sàng lộng lẫy, ba chiếc ngai cao thấp chạm trổ rồng, lông, lân, qui, phụng lại thứ tự cửu phẩm triều đình, không khác nào Hoàng chung thu hẹp, mọi vật trang trí không ai biết từ đâu mà có, lần đầu tiên mọi người mới thấy trước ngai vàng có một Thanh Bàn Vô Kỷ. Ai cũng tự hiểu thầm: Hoàng Phi làm việc vá trời lấp biển có lẽ người sư phụ ẩn danh trợ lực. Thực ra nào ai biết tất cả mọi trưng bày mượn ở động Lạc Việt.

Lữ Thư hỏi Anh Tuấn:

— Gia gia của các hài nhi đi đâu sao chưa về?

— Thưa cô mẫu gia gia đi về thành Phiên Ngung đã hai ngày rồi, hẹn hôm nay về.

— Cô hiểu rồi. Các hài nhi ra mắt chào Nội tổ, tổ thúc bá, tổ thúc mẫu nhé. Lần đầu tiên Anh Tuấn, Mẫn Trâm gặp mặt gia đình của gia gia, cho nên cả hai bối rối:

— Chúng điệt nhi kính cẩn chúc Nội tổ, tổ thúc bá, tổ thúc mẫu an khan, sức khoẻ thịnh niên, lộc gia vui cùng con cháu. Người đã lịch duyệt giang hồ thấy hai đức con của Hoàng Phi thân cốt khác thường, ai cũng khen thầm: Thương lai hai đứa trẻ này sẽ làm được nhiều việc hữu ích trong giang hồ. Lữ Thư cũng cười thấy Anh Tuấn, Mẫn Trâm bối rối, nàng nói:

— Được rồi chúng hài nhi đi làm việc đi, ở đây có cô mẫu hầu lo liệu?

  • Dạ. Chúng hài nhi vâng lời cô mẫu ạ.

Hồi 21

Thanh thanh nhứt Nguyệt cửu trùng thiên

Huỳnh Tâm - Anh Hùng Nam Việt