Hoàng Phi vừa phi thân xuống sân động thấy một người tàn phế trơ trụi nằm gần gốc cây cổ thụ bên trái, biết đó là gian tế Hán viếng thăm động, chàng xuất luôn một cước “phập” thân thể tàn phế của Chu Hoa Cương bay lên động trên vơi vào phòng giam gian tế Hán.

Anh Tuấn, Mẫn Trâm chay ra sân động chào đón tiếp gia gia, công chúa Triệu Hương Trí Túc, còn lại ba người khác chưa bao giờ gặp. Cả hai quì xuống đất bái một xá, Hoàng Phi bảo:

― Các hài nhi vào sảnh đường báo tất cả ra sân động nghinh giá. Cả hai chạy vào thưa:

― Gia gia đã về, mời quí ngài ra sân động nghinh giá. Tất cả ngạc nhiên đồng hiểu Vũ Đế đã đến động, mọi người lớn nhỏ chạy ra sân đúng là Nam Việt Vũ Đế, Thái tử Hồ, công chúa và Hoàng Khải .

Từ Nam Việt Vương Phùng Nam đến Mẫn Trâm đồng nghi lễ đón tiếp Hoàng Thượng, vào đến sảnh đường Thái Tử Hồ ngạc nhiên Nơi này núi rừng trùng điệp, bằng cách nào có những thứ trang trí màu sắc lộng lẫy, xem qua ông nghĩ thầm: Ngay tại Hoàng cung rất hiếm vật cổ có giá trị như ở đây.

Nam Việt Vũ Đế am tường nguyên nhân và mọi vật hiện hữu hiện tranh trí lấy từ động Lạc Việt, vì ông đã một lần đến nơi ẩn cư của Hoàng Phi, đặc tính của Nam Việt Vũ Đế thấy vật có cũng như không. Công chúa Hương Trí Túc vốn đã ở đây một thời gian, nay trở lại thấy thật là kỳ diệu, nàng nghĩ Hoàng Phi quả là một kỳ nhân, không hóa có, có hóa không, phải chăng hiền đệ của ta là tiên gia, về văn võ của Phi đệ thì ta đã biết, đức hạnh thì ta cũng đã thấy qua, Phi đệ cũng vừa là sư phụ vừa là huynh đệ trong động thì ta đã hiểu, nhưng gia sản này từ đâu mà có thì ta không hề biết!

Thực tế Thái Tử Hồ cùng công chúa Hương Trí Túc không biết Hoàng Phi là chủ nhân kho tàng Lạc Việc. Trong lòng Thái Tử Hổ khen thầm: Hoàng Phi tính khí đáo, chỉ có Hoàng Thượng và Hoàng Hạc mới biết kho tàng ở đâu, ngoài ra họ Hoàng chỉ nghe mà mắt không thấy, cũng mỗ chưa hề biết những vật trang trí trong động Nam Khê Sơn có từ đâu, cảnh vật này không khác nào một Vương cung xứ lạ, cũng có thể gọi đây là điện Thái Hòa thu nhỏ của Nam Việt Vũ Đế.

Sảnh đường phân lập cửu phẩm, nhưng thực tế chỉ có nhị phẩm, trên là triều đình dưới là Lạc dân, triều đình do Nam Việt Vũ Đế làm chủ, hữu có Thái Tử Hồ, tả có Nam Việt Vương Phùng Nam, ghế dưới công chúa Hương Trí Túc. Lạc dân đứng đầu Hoàng Biên, đứng sau Hoàng Chỉnh, kế Hà Thanh Phụng, Hiệp Khách Lan cối cùng Hoàng Khải, Lữ Thư, Hoàng Phi cùng toàn thể huynh đệ Nam Khê Sơn, có một thanh tiếu niên lạ mặt chưa kịp giới thiệu đó là Đỗ Trọng Kha.

Lễ triều đình trang nghiêm, mọi di chuyển đều không để phát ra tiếng động, chỉ còn nghe tiếng suối reo, tiếng gió thổi rì rào qua những cây bạch dương ngoài động. Vũ Đế truyền chỉ dụ:

― Trẫm đến Giang Nam phủ an xã tắc, các khanh bình thân tư lập lưỡng ban. Nam Việt Vương Phùng Nam đứng lên chấp tay tấu:

― Muôn tâu, Hoàng thượng điện hạ, vạn tuế, vạn tuế. Hạ thần Phùng Nam phục mạnh, Trình tấu Hoàng thượng triều an, từ Giao Chỉ đến Nhật Nam nay được phong yên nhờ Cần Lĩnh Nam trợ lực trừ loạn đảng, nay hạ thần đã bổ nghiệm tân quan quân huyện có tài năng, đức hạnh thay mặt triều đình an dân, tiếp theo hạ thần xuất hai phần kho lương thực, vật dụng nông nghiệp cung cấp cho Lạc dân làm phương tiện sản xuất, hy vọng không lâu toàn dân thịnh đạt trở lại, kính xin Hoàng thượng khai ân cho mười bốn huyện vừa gặp phải nạn tham quan, hạ thần bái mệnh.

― Trẫm thấy ngồi trên cửu phẩm Hoàng triều mà không lo cho Lạc dân ấm nó, đó là điều bất tín với dân, bất trung với Nam Việt, bất hiếu với Bách Việt, làm vua quan mà không được dân tin, có khác nào con thuyền triều đình chuẩn bị nghiêng, đó là một nguy hiểm khó tránh, hai nữa quí khanh cũng vì bình an Lạc dân, cho nên Quả nhân ví rằng:

“Chạnh trẻ phải cơn sương gối ướt,

Thương già gặp trẻ tuyết thân pha.”

Nay sương gối ướt, Lạc dân đành phải tuyến thân pha trừ khử mối nguy tệ lâu quan quân tham ô, cấu kết gian tế Hán. Đó là cầu nguồn sống đem lại thịnh đạt cho Lạc dân cũng như Nam Việt. Trong tâm của quả nhân đã toại nguyện lắm rồi, các khanh bình thân, quả nhân truyền chỉ dụ từ Giao Chỉ đến Nhật Nam nay tự hoàn chánh gọi là Giang Nam Trị do Nam Việt Vương Phùng Nam làm chủ. Vũ Đế nói tiếp: Nhân hôm nay qủa nhân muốn xem qua những gian tế Hán, cùng quan quân làm phản. Hoàng Phi tiếp nhận chỉ dụ, tâu:

― Muôn tâu, Hoàng thượng điện hạ, hạ thần áp giải họ xuống cửu trùng, kính Hoàng thượng ngự long an, tam khắc hạ thần trở lại. Bộ pháp của chàng chuyển đã biến mất, chỉ còn để lại một hơi ấm trong sảnh đường. Hoàng thượng vui mường:

― “Hà hả” chàng trai Hoàng Phi không khác nào thần long thấy đầu không thấy đuôi, đúng là Nam Việt có chính khí xuất hiện nhiều anh hùng trẻ, anh hùng ngày nay khắc ghi tâm khảm quốc thù, gia hận. Lần đầu quả nhân gặp Hoàng Phi đã nhận thấy sĩ phu vì xã tắc, dù có quân hùng hiệu lệnh cũng không bằng trí lự của một thiên tài, tiếc rằng quả nhân tuổi đã quá cao không còn thời gian để chiêm ngưỡng sĩ phu thời nay. Quả nhân ước vọng tất cả quí khanh thiếu niên ở động Nam Khê Sơn ngày mai được thừa kế khí phách của Hoàng Phi, có như thế Nam Việt mới được an phúc. Hoàng Phi áp giải tội phạm vào sảnh đường:

― Muôn tâu, Hoàng thượng, hạ thần áp giải tội phạm đến, kính Hoàng thượng ban chiếu chỉ.

― Trẫm thấy nhà Hán đã đến lúc muốn xua quân đánh vào Nam Việt, đúng là nhà Hán đã chuẩn bị nhân tánh gian tham, họ có ý lấy sức mạnh để hiếp Nam Việt, trẫm còn được tin nhà Hán đã xuất quân khố, ngân kim, châu báu nhằm chiêu mộ gian tế, quan quân triều đình Nam Việt để làm phản. Cũng may cho Nam Việt có Lạc dân hạnh đức, anh hùng sĩ khí, trí lự yêu dân, có khả năng dập tắt được mưu đồ nhà Hán, Trẫm thấy nhà Hán mũi nhỏ, mắt híp không thấy gần xa, nhất là họ không thể hiểu được năng lực sinh tồn của Phương Nam. Nay trẫm xem những kẻ quân quan tội phạm làm phản là đồ gỗ mục không thể dùng được nữa, thế thì làm sao mà khắc ghi được một chữ tín vào lòng họ! Trẫm quyết định vào canh ba, tam khắc thi hành đúng hẹn với Diêm vương.

Nam Việt Vũ Đế chỉ vào mặt ba tên làm phản Thái phó Đào Phương Hùng, Thái Bảo Lê Đại, Cấm Tử Thành tướng quân Giang Hồng Tư. Vũ Đế thất vọng:

― Trẫm chưa hề có ý bạc đãi quí khanh, nhất là đại phẩm của triều đình! Hiện nay quí khanh chỉ biết thú tính tham lam quyền lực ích kỷ cho cá nhân, cấu kết mưu đồ bất chính. Các khanh không vì nghĩa ân tôn tộc Bách Việt, thử hỏi nếu làm phản thành công các khánh có được an cư lạc nghiệp không, toàn tôn tộc Bách Việt sẽ như thế nào? Tại sao không nhìn thẳng vào ý Lạc dân, mà nhìn xiên tình ý với người Hán, phải chăn các khanh muốn chỉ đường cho người Hán thôn tính Nam Việt này và đồng hóa như các dân tộc Bắc, Đông, Tây!.

Đúng là kẻ không còn nhân đức! Hôm nay đứng trước khắc hối cải các khanh có còn gì để nói khộng? trước khi nhắm mắt tự lòng đặt câu hỏi phải thì hành trái thì khước, nếu không trẫm thay mặt toàn Lạc dân Nam Việt và tôn tộc Bách Việt hạ chỉ trảm?

Ba phạm tội làm phản Đào Phương Hùng, Lê Đại, Giang Hồng Tư không nói thành lời vì tất cả đã là hiển nhiên, xem như tự công nhận có làm phản. Nam Việt Vũ Đế thấy sự thật quan trường tâm tính hẹp lượng lắm lòng phản trắc, cười:

― “A hả” đúng là “Nhơn định bất thắng thiên” Trẫm thấy sự việc của các khanh hôm nay, đương nhiên ngày mai Nam Việt tránh được mưu đồ nhà Hán, cũng may cho muôn dân Nam Việt tránh được lầm than! Chính các khanh đã chọn giờ thuận hậu để làm gương cho người sau.

Trong sảnh đường ai cũng hiểu Vũ Đế đã xuất chỉ, Thái tử Hồ và Hoàng Phi hiểu ý Vũ Đế quyết định trừ gian, đánh Hán tại Trường Sa, việc xử trảm này không thể tha cho ba tên nội ứng và còn nhiều tên khác chưa xuất hiện.

Hoàng Phi tiếp chỉ, đưa gian tế Hán cùng quan quân làm phản xuống núi phía Nam, động Nam Khê Sơn chờ đến canh ba hỏa thiêu.

Nam Việt Vũ Đế liền ra chỉ dụ:

― Từ nay quí khanh bảo vệ Bách Việt chứ không phải bảo vệ triều đình Nam Việt, trẫm hy vọng quí khanh chuẩn bị đảo ngược tất cả thế cờ của nhà Hán, chuyển nguy thành an, chuyển yếu thành mạnh, chuyển nghèo khó thành phồn thịnh, tất cả vì tôn tộc, phải biết đạo lý Bách Việt lấy sĩ tiết an dân, chí khí sĩ phu anh hùng làm đầu, đướng trước khó khăn không hề sờn lòng, có như thế mới tránh được nguy cơ do kẻ làm phản tạo ra. Hôm nay quí khanh phải lấy mục chí Bách Việt để tồng sinh.

Hoàng Phi chuyển gian tế Hán cùng những tên làm phản lên động trên giam lại. Lúc này toàn thể hiện diện trong sảnh đường mới hiểu ý của Hoàng thượng. Họ khen thầm, Hoàng thượng chuẩn bị đại la tìm tung tích kẻ làm phản chưa lộ diện hết, quả là mưu lược treo thủ cấp trên lưng quần của kẻ làm phản, đó là phương cách thu tóm toàn bộ làm phản. Chỉ còn một canh giờ là làm sạch giặc cỏ trong động Nam Khê Sơn.

Trong sảnh đường đồng tấu:

― Chúng thần khấu bái Hoàng thượng điện hạ vạn tuế. Nay chúng thần phục mệnh chí hiền háo đức của Điện hạ, nhằm phục hồi an ninh, lạc nghiệp cho muôn dân. Vũ Đế phủ dụ:

― Tuy trẫm được thiên truyền mệnh thiên tử để lập an lạc cho muôn dân, nhưng trên đôi vai gánh sơn hà xã tắc khó vô cùng, làm một thiên tử nếu suy nhược thì quan trường dễ lấn lước, còn thiên tử khôn ngoan thì triều đình tránh được kẻ hai lòng, lắm dạ đổi thay. Phần quan trường suy nhược bề ngoài trung trực, trong lòng đại nghịch, mắt thường để lòng đắm đuối ngôi cửu ngủ chí tôn, thực sự nơi quan trường cầu danh lợi thì nhiều, rất ít có quân quan chủ ý một lòng lo cho xã tắc.

Đó là nguyên nhân để trẫm xem diện mạo quan trường, đã từng thấy ngoài mặt họ thiện tâm tốt, nhưng trong lòng họ ẩn thâm độc chờ dịp hại nhau, cho nên trẫm lập ra nhân qui để trị những kẻ tán quan nhục thể, cũng là để khuyến khích anh hùng xuất thế hành hiệp, trẫm vì thiên hạ mới cầu khẩn đại kiết cho Lạc dân, ngày nào đó nếu trẫm có da ngựa bọc thây cũng không hổ danh, sau này trẫm có thác ở nơi nào xác thể cũng về phàm thổ đất Nam, trẫm hy vọng tuổi thanh xuân tiết tháo, cương cường hơn cha ông, dù đướng trước mặt quân Hán cũng phải vận dụng “Sĩ khả phách bất khả nhục”.

Đêm thiên địa nhật nguyệt ở núi rừng Giao Chỉ, chứng giám cho trẫm trung can nghĩa đảm dâng hiến Tin Khí Thần lên tôn tộc Bách Việt, trẫm không vì nhà Triệu, lòng của trẫm bao giờ cũng đứng thẳng để Lạc dân công tham dị nghị phán xét. Việt Nam Vương Phùng Nam chấp tay hướng lên Cửu trùng.

― Muôn tâu Hoàng thượng điện hạ, di thần muốn giáo huấn những kẻ làm phản đôi lời. Ông đưa tay chỉ vào mặt tam nhân làm phản, cười.

― “Hà hả” này tam nhân làm phản, khi đã làm loài người thì đừng để thua loài kiến, phải hiểu loài kiến còn có trật tự chung, các ngươi hãy xem hai con kiến tự trọng đi trên một sợi dây. Làm nhân như các ngươi quả là ích kỷ, sao lại tiếp tay nối giáo cho người Hán? Này tam nhân vì quyền lợi cá nhân biến thành vọng ý hoang đường, đúng là trí tri nhỏ không suy cùng tận cái biết, thế mới hại mạng hôm nay, tại sao không dụng trí tri lớn củng cố Nam Việt, thế mới giữ gìn được cương giới ông cha, phòng bị không để người Hán xâm lăng đất nước, mất một tấc đất là có tội với người xưa! người Nam ở gần người Hán thì phải biết tính tham tàn của Hán, có bao giờ người Hán mà thương dân Việt ta đâu! Thế mà các ngươi nhẫn tâm làm phản, hầu đem đất nước này dâng cho Hán, quả là hàng trào lơ láo! Nay mỗ xin làm một bài thi trào phúng răn đời, cũng để thay cho lời tiển đưa các ngươi lên đường hỏa tán .

Ngày đêm tưởng vương Hán công hầu
Không ngờ kiếm bào hết hia râu
Miệng khoe huy tước lòng dòng bích
Nào hay nay cứt pha trộn đầu.

Trong sảnh đường đồng nghe bài thi trào phúng của Nam Việt Vương Phùng Nam, đồng cười, khen đúng là thi phú dành riêng cho kẻ làm phản. Hoàng Biên tâu:

― Di thần thay mặt Cần Lĩnh Nam Nam Tông muôn tâu Hoàng thượng, vận tuế. Chúng hạ thần nguyện ước hy sinh vì đất nước, quyết chí dạ hùng tài, lập công dâng hiến an ninh tôn tộc Bách Việt, ý chí theo gương sáng của Hoàng thượng báo quốc hiếu dân, vạn vật chi mẫu.

Từ nay Cần Lĩnh Nam Nam Tông tay binh khí sáng ngời, tuấn mã thay chân, chiến bào lập mạng phù Nam Việt, dân binh như gió lớn thổi lá vàng phương Bắc. Trong sảnh đường nghe Hoàng Biên xuất ngôn hùng khí, tất cả đồng hô:

― Hoàng thượng vạn tuế, “Nam Việt muôn năm” và “Bách Việt miên trường”. Lần đầu tiên Thái tử Hồ để ý những thanh thiếu niên tuấn kiệt, ông muốn bải triều sớm để tiếp xúc thế hệ mới, ông truyền chỉ:

― Hôm nay tạm gọi là triều nghị thần dân, đem lại thành quả trị an, Tại hạ thay mặt Hoàng thượng truyền chỉ bải triều. Tất cả vua tôi trong sảnh đường được Hoàng Phi mời dùng tiệc, thực đơn sơn kê đặc biệt như nấm rơm mì căn gà rừng tiềm, độn măn cháo hạt nhân, thịt nai nướng quấn lá thơm, thịt heo rừng hầm, thỏ chưng với hạt dẻ, tráng miệng bánh nướng củ năng, bánh dầu mè và hoắc lê của động Lạc Việt.

Lần đầu tiên Hoàng Chỉnh mới thấy Hoàng Phi dùng toàn hoắc lê rất thanh đạm, ông hỏi:

― Hài nhi sao không dùng tiệc như mọi người?

― Thưa gia gia, hài nhi đã dùng hoắc lê từ lâu rồi, không biết tại sao cơ thể của hài nhi lại xa lạ ẩm thực động vật. Hài nhi tuy dùng hoắc lê nhưng cơ thể vẫn tráng kiện bình thường không thay đổi.

Huynh đệ trong động cũng không biết nguyên nhân ẩm thực của Hoàng Phi, cũng lạ thay những hoắc lê rất tươi, vừa hái xuống từ vườn cây ăn trái, cũng không biết ai đem đến. Thực ra những hoắc lê này do hạc hái từ động Lạc Việt. Hoàng Phi thấy Vũ Đế hướng long nhan về mình, hiểu ý bưng đến Hoàng thượng một khay hoắc lê, tâu:

― Muôn tâu, Hoàng thượng, di thần kỉnh dâng hiến Hoàng thượng những hoắc lê từ dã lạc, Hoàng thượng dùng thử một quả đào thơm. Vũ Đế rất hài lòng.

― Trẫm nhớ ngày trước đã hưởng được loại trái cây này, nay trẫm thấy khanh là nhớ ngày ở Lạc Việt, cũng những trái cây này cho trẫm thấu hiểu hiền thần, nay gặp lại thân cốt của khanh phương phi, đảm dõng khác hơn trước nhiều. À, cũng nhờ khanh mà ngày nay dân giàu nước mạnh, nơi nào cũng xuất hiện nhân kiệt, trẫm thấy khanh chí dũng không khác gì Tiên tổ họ Hoàng, đúng là “Hổ phụ sinh hổ tử” Hoàng Phi cuối đầu tâu:

― Muôn tâu Hoàng thượng, di thần chỉ là người thừa lệnh, cũng như tiên tổ ngày trước. Hoàng thượng đã biết người Hán chuẩn bị binh mã hơn tháng nay, họ sẽ tiến công vào Trường Sa, Hoàng thượng đã có mưu lược nào để ứng phó mà không tổn hại binh mã nhiều?

― Đúng thế, việc triều chính lâu nay do Thái tử định đoạt, trẫm được Thái tử tâu về binh mã Hán hiện đang lập trại ở tả ngạn sông Vị, quan binh mã nhà Hán tuyển mộ các nơi như Tề, Lỗ, Thiểm Tây, Chiết Giang. Quân binh các nơi tụ tập về sông Vị mất hết hai tháng, luyện tập quân binh tinh nhuệ mất nửa năm, tiến quân vào Trường Sa một tháng, như vậy là tám tháng, nếu người Hán vào Trường Sa sớm hai tháng thì khó tránh dân tình khổ.

Nam Việt không hao tổn thì phải nói đến mưu lược, binh hùng mã cường, theo như giám binh tâu về triều, nếu quân Hán vào Trường Sa đúng như dự liệu thì dân binh không hao tổn. Nay binh mã triều đình đã di chuyển trước một bước, cách đây một tháng triều đình không thông báo cho Trường Sa Vương biết nội vụ này, theo mưu lược sẽ cho Lạc dân biết một tháng trước khi cuộc chiến khởi đầu, còn ý của Cần Lĩnh Nam thì thế nào? Hoàng Phi tâu:

― Muôn tâu, Hoàng thượng điện hạ, Cần Lĩnh Nam lúc nào cũng là lực lượng dân binh, tiên phong hậu ủng, chỉ chờ Hoàng thượng ban chỉ dụ.

― Tốt lắm, làm như vậy đi. Trong lúc mừng chiến thắng trừ gian tế Thái tử Hồ hỏi Hoàng Chỉnh:

― À, tại hạ còn có một việc riêng muốn lập chỉ hôn, nhưng không biết ý của các hạ có cần thiết không, tại hạ hy vọng cuộc hôn nhân này là đôi mỹ nữ phối anh hùng. Dĩ nhiên Hoàng Chỉnh biết ý của Thái tử nói về hôn nhân của Hoàng Khải cùng với công chúa Trí Túc.

― Thưa Thái tử, di thần tuân lệnh, lắng nghe, thi hành chỉ hôn của Thái tử.

― Nay có dịp tại hạ tỏ bày xin làm thông gia với các hạ được không?

― Thưa Thái tử, việc này hạ thần xem như gập được ban bố ân sủng, tùy Thái tử định chỉ hôn, hạ thần tạ long ân Hoàng thượng cùng Thái tử.

― Tốt lắm, theo định lệ hôn phối của tổ tiên lưu truyền và tập tục văn hóa Nam Việt: Thiên Tử một năm, Tôn Nhân Phủ nửa năm, Đại thần một mùa, Lạc dân hai tháng. Đầu mùa xuân lễ thành hôn cử hành, như thế là đúng ngày lành tháng tốt, xin nhà xui chuẩn cho, tổ chức lễ đơn sơ tại Tôn Nhân Phủ, thành phần tham dự chỉ có nội ngoại hai nhà xui gia.

Đặc biệt tấu triều lên Hoàng thượng chuẩn phê lập tổ đường họ Hoàng trong thành nội, nơi này sẽ diễn ra cuộc cử hành hôn lễ thuận tiện cho cả đôi bên, cũng là nơi cư ngụ của Phò mã.

― Vạn tuế, vạn tuế, Hoàng thượng cùng Thái tử ban ân phúc, di thần cung kính tùng chỉ. Hoàng Khải cùng công chúa Hương Trí Túc bước ra trước bệ rồng bái.

― Muôn tâu, Hoàng thượng điện hạ đã ban ân, chúng di thần hưởng được phúc, kính dâng nhị bái vạn tuế, vạn tuế.

            Sinh hoạt trong động rất náo nhiệt, đến lúc buổi tiệc sơn khê cũng phải tàn cuộc, riêng dưới chân núi Vũ Thư Minh bày trận đặt nhiều chòi canh kín, có những tiếng mõ gỗ báo hiệu theo từng canh một.

Trong đêm sương mù sa xuống la đà trên mặt đất, nhìn ra sân chỉ thấy toàn một màu xám, từ động đi xuống chân núi phía Nam sương dày đặc, thác nước trong ngoài đổ ào ào, thế núi hiểm trở, cao dốc thẳng, cho nên ít người đến đây săn bắt thú rừng.

 Vũ Thư Minh bố trí nghiêm ngặc, lập nhiều hào hố canh kín, chòi canh trên những ngọn cây cổ thụ, ra vào trung tâm pháp trường mật khẩu thay đổi từng canh, bọn gian tế Hán cùng bọn làm phản đã đem ra pháp trường, mỗi tên đều bị điểm yếu huyệt, buộc trói vào cột trụ, chất dẫn hỏa bằng nhiều lớp rơm, cây tạp làm nền củi dưới chân tử tội, chung quanh bốn phía toàn là củi khô ba vòng, cao ba thước. Pháp trường canh phòng cẩn mật có tất cả là mười tám nhà chòi cao để quan sát giàn hỏa, đặc biệt có một nhà chòi trung ương dành riêng cho Vũ Đế và quân thần.

Tiếng mõ gỗ điểm canh ba, bỗng xuất hiện một bóng đen phi thân vào giàn hỏa, nhãn lực Vũ Thư Minh rất tinh, phi thân theo xuất quyền “Phong hỏa gia nhân” chiêu số này, tốn tượng theo gió, gió từ lửa xuất ra, lửa mạnh thì gió sinh, gió sinh lửa từ trong phát ra. Bóng đen tiếp được một quyền, thân thể bay bổng trên cao rơi xuống đất nghe một tiếng khô khan “bịch” chỉ còn thấy đưa tay chới với lên đằng trước như người bắt chim. Toàn thể Cần Lĩnh Nam Trung Tông chưa bao giờ thấy Vũ Thư Minh sử dụng quyền tuyệt kỷ này, chính bộ võ học “Bát-Quái Lĩnh Nam” do Hoàng Phi âm thầm truyền thụ. Vũ Thư Minh đáp xuống đất, hỏi:

― Nhà ngươi là ai ? Không thấy trả lời, mặt kẻ cướp pháp trường úp xuống đất, Vũ Thư Minh chân đá vào đầu, lật mặt lên, chàng bất ngờ chuyện trớ trêu:

― Thì ra là ngươi, tại sao ngươi lại ngông cuồng như thế này? Kẻ nằm yên không nói, chàng để tay trước mũi mới biết Nguyễn Chung Kiệt đã chết rồi. Chàng nghĩ thầm chính hắng là đệ tử phản phúc, may mà chàng để ý từ lâu, nhưng nay y đã chết rồi thì không còn tìm ra manh mối kế tiếp. Chàng không còn nghi ngờ gì nữa, đúng là trong số tội phạm có họ Nguyễn tên Chung Phương do chàng bắt được. Chàng mật báo với Hoàng Phi kể nội vụ đã sẩy ra. Hoàng Phi trả lời:

― Thúc bá, chuyện này giải quyết không khó, đưa thi thể của Nguyễn Chung Kết vào giàn hỏa, đem tên Nguyễn Chung Phương về động Nam Khê Sơn hậu điều tra.

Về Hoàng Thanh Thủy chính mắt đã thấy Nguyễn Chung Kiệt phi thân vào cướp pháp trường, nàng không ngờ người yêu chưa cưới phải chết bất đắc kỳ tử. Bao lâu nay nàng kính trọng Nguyễn Chung Kiệt là anh hùng, cũng là tình yêu duy nhất mà nàng hy vọng hạnh phúc ngày mai, không ngờ bây giờ chính chàng có liên hệ với những kẻ làm phản.

Trong lòng riêng tư của nàng sao xuyến bởi tình đầu bất hạnh, đầu óc nổi lên những tiếng lửa bập bùng của đêm khuya, có tiếng từ cõi xa vang lại, mắt nàng thấy quân binh diêm vương đến lấy hồn phách của chàng, nàng đứng yên như người bơ vơ, nàng thở ngắn dài thì thầm: Đã hết kỳ vọng hạnh phúc ngày mai, đúng là trời đất quay cuồng muốn sụp đổ, tại sao không ưu huệ cho ta?

Nàng thất vọng nhưng vẫn còn được một ít tỉnh táo, vội bấm đốt ngón tay theo thuật độn số, đoán hung kiết cho chàng, nàng nói đúng rồi không sai: Chàng sinh năm bính Tý, tháng kỷ Sửu, giờ đinh Hợi đúng là tử vào đêm này!

            Nàng âm thầm tự nhủ: Việc duyên lành của tình yêu quả là gian nan, cõi đời này nhân sanh bất thường, mình với chàng thề nhau “Trừ bạo an lương” Thế mà chàng phản bội, đi ngược lời thề khi trước! Mình đã diễn đạt hết tình yêu tuyệt đối với chàng mà, sao trên đường đi của tình yêu trở ngại như thế? Quả là tình yêu có nhiều tính toán, cạm bẩy chờ sát thủ, hôm nay đúng là cảnh tình thấy mà dứt bỏ không được.

Ta phải quyết định dụng thanh khí, quên mình để tránh trạng thái quá khứ, tuy nay nhằm phải ngói hạt sen rất đắng, nhưng không để đắng cuộc đời mai sau. Nàng lủi thủi lên chòi canh, trở lại vị trí tam ngủ tướng, nàng đứng thẳng cương khí hào hùng của một nữ tướng Cần Lĩnh Nam Trung Tông đề phòng Nguyễn Chung Kết thứ hai.

Trước canh ba Lữ Thư hướng dẫn một đoàn người đi xuống núi, Hoàng Phi hướng dẫn triều đình di chuyển bằng hạc, tiếng mõ gỗ báo hiệu canh ba, tất cả tề tựu vào vị trí đã ấn định. Vũ Đế tường tận thấy hiện trường hình đồ nghiêm lệnh, dù có khả năng kỳ tài cũng khó vào cướp pháp trường, nếu có chăng cũng chỉ vào cửa tử mà thôi ! Vũ Đế xuất chỉ Hoàng Phi thi hành.

― Vào lúc canh ba tam khắc thi hành. Vũ Đế ý khen Hoàng Phi:

― Khanh lập hình đồ pháp trường này hay lắm.

― Muôn tâu, Hoàng thượng bệ hạ, hình đồ pháp trường này do thúc bá Vũ Thư Minh lập ra.

― Khá lắm, chàng thanh niên này bỏ ngai vàng Trường Sa Vương để trở thành Lạc dân, ở đời này khó có người thứ hai, trẫm muốn làm thân với Vũ Thư Minh được không hiền khanh?

― Muôn tâu, Hoàng thượng bệ hạ, việc này đâu khó gì, chỉ cần Hoàng thượng thương Lạc dân là có tất cả.

― Tốt lắm, sau khi sử lý pháp trường, trẫm triệu Vũ Thư Minh cùng tam nữ hiệp họ Chu vào chầu cũng không muộn. Nhân dịp đứng trước pháp trường, trẫm muốn phóng thích vài gian tế Hán để chế ngự tính gian giảo nhà Hán, cũng để cảnh cáo, cho họ thấy oai danh Nam Việt, được không hiền khanh?

― Muôn tâu, Hoàng thượng điện hạ, di thần hiểu hết ý, Hoàng thượng muốn dùng Hán làm đe đập búa đầu Hán.

― Đúng vậy hiền khanh à, thi hành nhanh lên?

― Muôn tâu, hạ thần tuân chỉ. Hoàng Phi đứng trên truyền lệnh:

― Kính thưa Tổng lỳ Cần Lĩnh Nam Trung Tông, Hoàng thượng ban chỉ phóng thích ba tên gian tế Hán như sau Thái thú Lý Từ Chúc, Thiết lộ sứ Mao Tử Hùng, Hộ vệ sứ Trương Kỳ. Xin thúc bá cho người phụ trách pháp trường đưa họ đến Hổ Môn, cung cấp lộ phí để họ làm phương tiên về Hán.

Pháp trường điểm tam khắc, lửa cháy trung tâm giàn hỏa tiếng củi gỗ vang lên “lạch tạch” lửa tứ phía ba vòng cháy tiếp theo, trôi qua nửa canh củi, gỗ, chỉ còn lại một đống than hồng. Ba tên gian tế Hán thoát chết đứng ngó trân người ngơ ngác, đôi mắt sợ hải, tất cả chỉ còn lại một gò đất đỏ rực cao hai thước. Họ nghe, thấy tiếng của lửa cháy “lạch tạch” không có tiếng người la hoảng sợ hay than oán, vì họ tự biết tội gian tế, làm phản không thể tha thứ được.

Trong lúc giàn hỏa cháy, Hoàng Phi mời Vũ Thư Minh và tam thúc mẫu đến yết kiến Vũ Đế, được tặng mỗi người một Hoàng đai khảm Hoàng ngọc. Vũ Đế còn mời tham dự ngày lễ thành hôn của Hoàng Khải, một vinh dự Hoàng triều khen thưởng cho Vũ Thư Minh. Chàng rời khỏi nơi Vũ Đế ngự, trong lòng vui mừng, chàng vừa chuyển mình thay mặt Cần Lĩnh Nam hướng về ngôi cửu trùng quì xuống đất xá ha bái, thấy không còn ai ở đó, chỉ còn nghe từ xa văng vẳng: Giang Nam Vạn Dậm Ngút Ngàn.

Bách Việt xưa nay hình tam gốc

Gốc Tây muôn vạn dậm ngút ngàn

Gốc Đông kho tàn biển cả bạc vàng

Bắc Động Đình xuống tận cùng Nam

 

Phân cương Lĩnh Nam từ thuở hồng hoang

Hơn ba ngàn năm Nam phương nguyên vẹn

Xương khô cốt nhục xây thành Bách Việt

Từ đô U Việt, Phong Châu, Phiên Ngung

 

Ta sống mảnh đất tổ tiên đã sống

Dân Việt bao đời bồi đắp công phu

Sông núi hồn thiên phản phất Hồng Bàng

Cổ kim lưu truyền không ai được phạm.

Lữ Thư cùng Hoàng Thanh Thủy lâu ngày gặp lại nửa vui mừng, nửa bồn vì cả hai cùng một tâm sự tình yêu, nhưng tình yêu hai cảnh ngộ khác nhau. Lữ Thư hiểu thấu tình đầu của chị họ mình, nàng khuyên giải:

― Tỷ tỷ xem mặt trăng đêm nay có đẹp không?

― Đẹp lắm muội ạ .

― Tỷ tỷ có lấy được không?

― Làm sao lấy được?

― Đó là cái đẹp ở trong hình tượng với tay không tới, cũng như mọi người có khái niệm riêng về tình yêu, nhưng ở tỷ tỷ thì cái đẹp đó đã cởi mở được rồi, may cho tỷ tỷ không gặp phải chữ lầm, sách có câu “Đàn ông sợ lầm nghề, đàn bà sợ lầm chồng” Tỷ tỷ cùng muội đã trôi qua tình dang dở, tuy mỗi người diễn đạt tình yêu khác nhau. Nay tỷ muội phải sống vì hy vọng mai sau, đời nữ nhi của mình sẽ hạnh phúc hơn, chẳng nhẻ vòm trời anh hùng không có một đấng tuấn kiệt hay sao, buồn phiền làm chi tỷ tỷ.

― Tuy là vậy, biết đâu sau này có những thay đổi không thể tốt hơn, hôm nay đời tỷ xem như hết rồi, vung trời thế tục này toàn là màu xám.

― Tỷ tỷ không nên phiền não bi quan như vậy, chúng ta vốn sống là thế tục mà, thì tình cảm và đôi mắt cũng đã thế tục rồi, cần nhất là ý chí phải vươn lên mới thấy thế tục có rất nhiều việc tốt để chúng ta thực hiện như ý nguyện.

― Cảm ơn hiền muội, quả là tâm thần đường đột lây động tình yêu quá độ, tỷ cảm nhận lời của muội, tỷ quyết định dứt tuyệt thứ tình yêu của kẻ nghịch đạo, từ đây trong lòng của tỷ trở về tự tại vô ngại, không còn vương vấn gì nữa cả! À muội, nghe nói hiền đệ Khải chuẩn bị thành hôn với công chúa Hương Trí Túc vào đầu mùa xuân phải không? Muội cho tỷ gửi đôi lời chúc hạnh phúc đôi tân lang, tân nương nhé?

― Dạ, muội sẽ chuyển lời này đến đại huynh, nếu có dịp muội mời đại huynh đi thăm tỷ tỷ.

― Tỷ cảm ơn muội, hy vọng chúng ta gặp nhau ngày giỗ họ nhé? thôi tạm biệt muội, à đại huynh Lê Chí Nam có gửi lời thăm sức khỏe muội đó, chúc bình an.

― À tỷ tỷ cho muội cũng gửi đôi lơi thăm huynh ấy, tạm biệt tỷ tỷ.

            Trận chiến diệt trừ gian tế Hán cùng quan quân làm phản, do Cần Lĩnh Nam âm thầm đấu trí với nhà Hán, dưới sự bảo trợ của Vũ Đế, Thái tử Hồ và Việt Nam Vương Phùng Nam, chiến thắng này Lạc dân không hề hay biết, chỉ có những người trong cuộc mới thấy mọi sự phức tạp, nó cháy âm thầm trong chiến tranh, trong bóng tối do người Hán chủ mưu.

Vũ Đế, Thái tử Hồ, Hoàng Khải, Hương Trí Túc cưỡi hạc về thành Phiên Ngung. Nam Việt Vương Phùng Nam về Phủ Giao Chỉ, Cần Lĩnh Nam Trung Tông chia nhau về dịch trại, huynh đệ Hoàng Biên được Hoàng Phi mời về động. Cuộc chiến gián binh kết thúc, pháp trường trả lại sự yên tỉnh cho núi rừng Nam Khê Sơn.

            Trời đã sáng, sương mù không còn phảng phất ngoài sân động, ai cũng ngủ say mặc kệ cho công trùng, chim kêu vượn hót liếu lo bốn bền rừng núi, một đêm dài trải qua khúc quanh lịch sử, chỉ có Lữ Thư và Hoàng Phi thức dậy sớm, vì hai tỷ đệ phải làm hoàn tất kế hoạch cư ngụ động trên, cũng như lập nhà giam mới cho bốn tên làm phản. Trong lúc làm việc Hoàng Phi mở đầu câu chuyện luận anh hùng.

― Ngày tháng gần đây tỷ tỷ hiểu biết nhiều ở chốn quan trường và giang hồ, đệ xin hỏi thời nay những ai là văn võ anh hùng vì xã tắc?

― Anh hùng thì rất nhiều, theo tỷ biết như Tướng quân Nam bình hầu Triệu Hành Giả.

― Người này tính tình nhút nhát, mưu trí không quả đoán, gặp đại sự tức thì thoái thác, thấy tiền lợi trước, thấy sắc quên tất cả, đây là gã bán nước hại dân khi có dịp và có tính ác độc.

― Tướng quân bình nam tiền phong Đặng Hà Đàm.

― Người này không khác nào đống củi mục, xương khô, khi gặp hữu sự đem thân làm bề tôi cho bất cứ ai, chỉ biết cầu sống sợ chết, có tính gian quyệt, gã này có bệnh thành kiến.

― Tướng quân Hổ trung lan Võ Khố.

― Người này hữu danh vô thực tham lam đủ thứ, người ta gọi là tứ duy danh, kẻ này bất lương tiền dâm hậu sát.

― Tướng Quân Điện tiền thái úy Triệu Long Ân.

― Người này ăn theo danh cha ông để lại, gã này hèn mạt dùng mẹo vặt lừa lòng tin người khác, tặng một mượn mười, chiếm đoạt tài sản thiên hạ một cách tráo trở, đó là bọn cướp cạn trong quan trường vô đức, mượn tục ngữ gọi họ là “Vặt đầu cá vá đầu tôm”

― Vệ mã hầu Trần Song Ngu.

― Người này chẳng qua là cẩu trệ quân sai giữ chuồng ngựa, gã này háo danh mua văn chữ tốt tự cho mình văn nhân, có bao nhiêu tiền bao ăn, xem hát để lấy lòng đồng bọn tâng bốc. Nói chung bọn gã như miệng loa mép giải, toàn là thứ ba rọi, tồi tệ, chỉ gạc người được một lần không thể gạc lần thứ hai, người đời đồn rằng chúng là giản nhân vô dụng, còn tệ lậu hơn bạch diện thư sinh. Sau khi nghe Hoàng Phi luận những văn võ bất tài, thất đức. Lữ Thư thở dài! Chẳng qua nàng biết họ là do những người khác đưa tin bất tín, lòng thất vọng:

― Thế thì hiền đệ thấy quân quan tướng nào gọi là anh hùng thời nay?

― Thưa tỷ tỷ, thực ra luận về người tài đức anh hùng thì nên căn cứ vào văn hay chữ tốt, võ học mà không nên luận về góc tích, mà theo lời của danh nhân mà luận, người có bảy tướng văn võ song toàn, như túc trí đa mưu, đó là Hộ Thành Hoàng Quốc Kỳ, Hộ Vệ Quân Trần Thanh Hổ, Ngự Lâm Quân Lê Cung Minh, Cơ Mật Viện Nguyễn Đàm Châu, Vạn hổ hầu La Chấn, Thiết lộ sứ Đỗ Hiếu Trung, Thiết lộ sứ Trương Vũ. Họ là anh hùng dũng mãnh thao lược, cốt cách oai phong, phép chánh trực, luật nghiêm minh, kính thượng trọng hạ, chiêu hiền đãi sĩ, đại chí, lấy binh mã làm nhà, đúng như tục ngữ có câu “Mãnh tướng phối báo mã” Nói về mưu sĩ thì có Thừa Tướng Lê Cơ Mạnh, Thái sư Trần Hồng Lĩnh, Thái phó Lữ Gia, Thái bảo Lý Từ Cố. Họ là anh hùng hữu mưu, quả cảm, tinh thông tam thập lục kế, trung can nghĩa đảm, sống tìm sáng bỏ tối vì xã tắc, chết manh theo ý nguyện, đó là những nhân tài ngày nay, họ có thể chết không để thành mất, thà đập ngọc vỡ toang chứ không để vào tay kẻ cướp, đá kiêm cương có thể tan nhưng khí tiết vẫn còn, anh hùng thà chết thanh danh lưu truyền muôn thuở. Còn lại những thành phần khác toàn là giản nhân, ngoài ra còn có những kẻ mãi danh không hề biết sấu hổ với đời, người ta thường gọi là đạo tặc văn võ miệng.

Thưa tỷ tỷ, cần chú ý đến bốn hạng quan trường. Một là quan mua bán tại chức và quan hàm, hai là quan chỉ biết làm theo lệnh, ba là quan suy xét làm theo việc, bốn là quan biết làm theo suy nghĩ công chính, cộng thêm võ học kỳ tài đó là hạng quan danh bất hư truyền.

Nói chung hạng quan danh bất hư truyền này sinh không đúng thời thì trở thành mối họa cho đất nước. Hạng người này ta phải vận dụng lý trí để biết ai là chánh đạo hay ai là tà đạo, nếu chánh đạo thì quốc gia chi phước, còn tà đạo sẽ đem tai họa đến cho bá tánh, đất nước bị rơi vào cảnh lầm than.

Lữ Thư gật đầu hiểu được lời lẽ phân tích của Hoàng Phi về chốn quan trường.

― Cảm ơn hiền đệ, hôm nay mới được sáng mắt để lòng. Lữ Thư cũng kể hết tình riêng cho Hoàng Phi nghe và nguyên nhân nào kết nghĩa tỷ đệ với Đỗ Trọng Kha.

            Công việc động trên, nhà giam dưới động đã hoàn tất, cả hai xuống động đến sảnh đường thấy tất cả đã vào bàn điểm tâm buổi sáng, Hoàng Phi, Lữ Thư chấp tay chào mọi người rồi ngồi vào bàn. Lữ Thư dùng hết chén cháo củ năng, đứng lên tay chỉ vào người em kết nghĩa giới thiệu:

― Thưa toàn thể huynh đệ, hiền đệ này là họ Đỗ tên Trọng Kha em kết nghĩa với tại hạ, là bào đệ của hiền huynh Đỗ Trọng Chí. Lý Bình Trung vui mừng, thay mặt huynh đệ đứng lên.

― Tốt lắng, từ hôm nay hiền đệ Đỗ Trọng Kha hãy xem nhau như “Tứ hải giai huynh đệ” chung sống chia nhau cộng hưởng tình nhà. Tiếng vỗ tay đồng thanh, thay cho lời chính thức công nhận.

Hoàng Biên từ lúc đến động Nam Khê Sơn trong lòng có nhiều suy nghĩ, lo âu về tương lai tuổi trẻ, nhất là huynh đệ kết nghĩa với Hoàng Phi ông chưa được am tường mấy, ông hỏi:

― Quí hiền nhi, hiền điệt thân cốt tốt, đảm lược hơn người, vậy muốn phù trợ Bách Việt phải thành hình một tập thể, đồng chí khí, khả năng vạn phu bất địch, sức mạnh bài sơn hải đảo, như rồng biến hóa lớn nhỏ theo ý, ẩn gọi là vân hộ mệnh, hiện gọi là mượn việc phục đời, biết tàn hình trong chốn ba đào, vươn mình thi thố tứ hải hoành sơn nhất đái, phân biệt hận quốc thù nhà, mới quét sạch được kẻ mãi quốc cầu danh, mỗ hy vọng nhân cách đắt thành sự ở lòng của quí hiền điệt. Trịnh Trường đứng lên thay mặt động chủ:

― Hài nhi thưa bá phụ, bá mẫu, gia gia, mẫu thân cùng toàn thể huynh đệ. Từ trước đến nay đại huynh Hoàng Phi kết nghĩa tình huynh đệ, qui tụ về động Nam Khê Sơn sống với nhau bằng tình thủ túc, ngoài ra còn luyện tập văn võ, từ không ra có như ngày nay, không khác nào đại huynh huấn luyện bầy ngựa rừng, nay thuần thục trở thành báo mã, nếu gọi Hoàng đại huynh bằng sư phụ cũng nên lắm, nhưng ở đại huynh muốn có một chất tình thân thương hơn và tìm một thế giới trẻ sĩ khí, hòa hùng đó là mục phiêu của đại huynh.

Nay tình Tỷ, huynh, đệ, muội đã ghi xương tạc dạ, đại huynh còn hướng dẫn tinh thần “vô oán, vô hối” phân biệt đâu là “bất tư thiện, bất tư ác” Chính huynh đệ đã có lần cùng nhau thề quyết với Thiên địa nhật nguyệt chứng gián không thay lòng hai, khí phách trung can, nghĩa đảm làm đầu, đó là căn bổn sống của động Nam Khê Sơn, tuy một tập thể nhỏ nhưng nó phải là rồng. Bá phụ an tâm chúng hài nhi đã lấy quyết định theo bước chân của tiền nhân. Hoàng Biên vui mừng đã hiểu được lòng huynh đệ của Hoàng Phi.

― Có như thế mỗ mới an tâm được, đúng là “Tre tàn măng mọc” Sau buổi điểm tâm đến tuần trà, trà này của Hoàng Biên tặng cho Hoàng Chỉnh, ông nhờ Lữ Thư nấu nước pha trà đãi huynh đệ Hoàng Phi, trong lúc uống trà Trịnh Trường, thưa:

― Thưa gia gia, trà này ngọt không đắng, thơm không nồng, mùi vị nhạt mát miệng, ươm hương trà động lại khẩu lâu phai, nếu không lầm đây là trà móc câu Thái Nguyên Giao Chỉ, có mùi vị cao thanh cũng nhờ phương thức pha trà, người biết uống trà này thường gọi là trà tiên, người uống trà bình thường không thể nào phân biệt được các loại trà cũng như phương thức pha trà, họ chỉ thấy trà là uống ừng ực mà thôi.

― Kiến thức về trà của hài nhi khá lắm mỗ cảm kính vô cùng, người pha trà ngon đó là tỷ tỷ của hài nhi đó.

― Ý chà, bà chủ động tài thực, thế mà hài nhi không biết. Lữ Thư cười:

― Hiền đệ nhớ rằng, tỷ tỷ có tài pha trà chỉ để phục vụ thúc bá, thúc bá mẫu, gia gia mẫu thân, nay là ngày hạng hữu mới được hưởng trà bổn cô pha, đừng hy vọng được uống trà lần thứ hai.

― Thưa tỷ tỷ, ở đời này mình chỉ cần làm mai làm mối một lần là có trà uống hoài, tất cả đồng cười vui. Hoàng Phi thấy cuộc trà cũng đến lúc phải tàn, chàng muốn tranh thủ thời gian để về động Lạc Việt:

― Nhân dịp này hài nhi kính cẩn mời thúc bá, thúc bá mẫu, gia gia, mẫu thân ngồi trên bộ phản, còn tất cả huynh đệ ngồi dưới đất. Hôm nay huynh đệ chú ý luyện tập cho thật kỹ bộ võ học “Bát-Quái Lĩnh Nam” có phần bổ túc kiến thức nội công bảo hộ đệ nhị sinh mạng, tất cả đồng “Dạ” Hoàng Phi nói tiếp: Khởi động. Chuyển nội công tập trung tinh thần, tâm hồi quê, tâm khí hải đường, tâm lấy dương thả âm, nhập tinh, khí, thần. Thần chuyển vào non sông vô tận, đứt rồi lại nối, thấp đà lại cao. chìm mình trải rộng vào bĩ cực, xuất khí đến cửa thái lai.

Tinh khí thần hồi về Đơn điền, bế mạch khí trị liệu bệnh và thương tích, đốt tâm hỏa tiêu tâm, khí thuận bệnh lành, mở cửa Hộ pháp xuất tinh khí thần diệu thủ hồi sinh.

Chú ý luyện phần kết khởi động. Đơn điền hợp chiêu “Bát Quái Lĩnh Nam” xuất điền trung. Bạch hàm phái ngoại cố căn truyền dũng. Kỳ trầm kim mông hường. Dụng ý biện khí. Dụng bình âm dương xuất.

            Hôm nay về sau cứ thế mà năng luyện tập, sẽ thấy mỗi ngày phát triển, đến ngày xuất chúng đương nhiêu biết dụng nội công, chỉ cần xuất quyền điểm yếu huyệt, chứ không phải dụng nội công chủ ý đánh người đó là sai.

            Khi đứng trước địch thủ lấy nhãn lực làm khí giới, hiểu được lòng dạ con người thực hay giả tại nhãn, nhớ nhãn không biết nói láo, cho nên nhãn cho thấy mọi sự thật trong lòng địch thủ. Muốn luyện tập võ học thành công phải chú ý vào định bất động, tà bất động, nhãn xem xét tám phương, tay xuất trước ý, tay xuất sau chủ động, hai chân thay nhau một thủ một xuất chiêu, đây là chiêu cuối cùng gọi là “Thập nhị bộ đả chiêu” khi xuất chiêu này, tập trung ý niệm thiên nhiên làm gốc, phóng ý tạp ra ngoại thể, bỏ nhục thể hấp thụ tinh khí, vận xuống đơn điền, tâm niệm hợp nhất, bỏ nhục nhãn ra ngoài thì tâm nhãn sẽ thấy chiêu số, vạn pháp duy tâm biến đổi, vạn vật duy tâm hành động.

Sinh hoạt bình thường trong ngày, cũng dùng được chiêu số “Thập nhị bộ đả chiêu” biết người đối diện vui hay buồn, đều ở trên khuôn mặt, thâm tâm họ dày vò hay dấu kính  đều thấy lộ ba nét chính, như công danh, sự nghiệp và tình cảm. Còn nhận diện được nhân cách kẻ vô dụng qua ngôn ngữ phạm thượng đôi mắt, láo liên. Kẻ bất trung lời nói xu phụ, thường sinh sự, đó là mầm nội biến “Sơ bất dấn thân, tri kế giả” việc lớn nhỏ hóa thành hư sự, kẻ nào lưu trữ duy danh sẽ có ngày mất mạng, muốn đạt thành người hữu dụng phải khổ đức mới nên nghiệp, bằng không “Công bất thành danh bất toại” quí vị luyện kỷ phổ này là thắng vật cản đối diện. Hoàng Phi đến gần bộ phản nói tiếp:

― Thưa tứ đấng đi theo hài nhi, tất cả biến vào không trung, Hoàng Phi để lại thanh âm: Chào tỷ tỷ, huynh, đệ, muội hẹn gặp lại cuối đông.

            Hoàng Phi đưa thúc bá, thúc bá mẫu, gia gia, mẫu thân lên động Mao Gia Phong. Thế núi đứng thẳng không khác nào cây trụ kiếm trời, bích núi hiểm trở dù người nội lực phi thường, can đảm mấy cũng không lên được động này! Vợ chồng Hoàng Biên, Hoàng Chỉnh lên được là nhờ di chuyển bằng hạc, nếu không có Hoàng Phi thì khó thấy được cảnh bồn lai này. Lên đến đỉnh núi bốn người thấy một nửa núi bên tả bằng phẳng, còn nửa bên hữu nhô cao lên như có bàn tay tạo hóa gây dựng, đứng ở sân động thấy toàn cảnh núi rừng trùng điệp, một kỳ quan nhấp nhô trong mây. Bốn người vào động thấy cơ ngơi vững chắc, trang trí sảnh đường như nhà ở Cửu Chân, còn có bàn thờ Tổ, bàn hương án Tiên tổ Hoàng Hạc ở trung tâm trang nghiêm, tất cả những vật dụng của Hoàng Hạc đều được lưu trữ ở đây. Huynh đệ Hoàng Biên xúc động làm lễ dâng hương trước bàn Tổ rồi đến hương án tiên phụ khấn vái. Hoàng Biên để ý thấy trầm hương cuốn tròn đang cháy, ông hỏi:

― Hài nhi ở đây đã lâu chưa?

― Thưa thúc bá, hài nhi tình cờ khám phá động này hơn bảy năm, trước đây chỉ là một động thiên nhiên, đá ngổn ngang chồng chất không thứ tự, từ trong ra ngoài sân đan xen cây cỏ u tịch. Hài nhi thấy nơi đây phong cảnh đẹp, mới chọn để ở, mọi bố trí xếp đặt lại đều do bàn tay của hài nhi làm cả, từ cửa nẻo đến trái khóa, bàn tủ ghế, vật dụng mua sắm các nơi đem về, ngày nay động Mao Gia Phong khang trang tao nhã là nhờ ảnh hưởng tập tục gia đình mình và văn hóa Bách Việt.

Trang trí sảnh đường, thư phòng, mười hai phòng ngủ lớn nhỏ khác nhau, lối đi thông với nhau theo trận đồ, mỗi nơi bố trí các vật thể hình khối đường nét hài hòa, trên trần động màu thiên thanh, bích núi kẻ hoa văn đẹp mắt tạo thành một không gian kỳ ảo.

Mời thúc bá, thúc bá mẫu, gia gia, mẫu thân vào thư phòng. Cả bốn đi theo vào thư phòng, thấy treo tranh thủy mạc đen trắng thanh thoát đậm nhạt bảy màu, tranh thư chữ tốt lời thơ trang nhã, tranh vẻ phấn tiên ngọc thỏ kỳ ảo, tranh thạch mạc long lanh cảnh tiên giới dưới đáy nước hiện ra, tranh sơn thủy sông núi, cây cỏ, thú vật hài hòa hùng vĩ, tranh khảm xa cừ màu thanh thiên hoành tráng, xem qua mới biết trong tranh chở tình, trong thơ chứa ý, khó ai luận nổi phú từ trong thư phòng này. Ngoài ra còn có tranh dân gian phản ảnh sinh hoạt trong đời sống hằng ngày, từ thời mười tám đời vua Hùng Vương đến Hoàng đế Câu Tiễn, nay còn động lại đâu đây tập tục, văn hiến của Bách Việt.

            Đặc biệt năm bộ bản đồ cổ xưa, còn ghi lại chiến tranh U Việ-Ngô, Âu Việt-Ân, Lạc Việt-Sở, Mân Việt-Hán, Việt Thường-Hán.

Những tranh họa cổ Tứ Thiên Nhân chưa bao giờ thấy qua, tuy có độc sách nói về tranh họa này, nhưng không bằng thấy tận mắt, đây là may mắn nhất đời người mới được thấy. Hoàng Biên tự giải, nếu phân tích kỹ càng dân tộc nào cũng sinh ra nhân kiệt, đời nào cũng có đức lương dân, thời nào huyền cơ ấy luôn ẩn tàng trong thịnh suy, đặc điểm Nam Việt nay mới xuất hiện Võ phổ, Pháp phổ, Quốc sách phổ, Văn pháp, Họa pháp, Thư pháp.

Còn người Hán chỉ có Tứ Thư Ngũ Kinh mà thôi. Hoàng Biên thấy hiện vật cho nên động tình luận về học thuật.

            ― Ở trong động này, cho mỗ hiểu tuổi thọ của người văn nghệ sáng tạo. Nếu là một tiểu thuyết gia tuổi thọ lục thập niên dư, những tiểu thuyết gia vận dụng trí tuệ sáng tạo thế giới một cõi cho chính riêng mình.

Tiểu thuyết gia như đấng vô hình, họ cho ra đời một xã hội, cá tính hỷ nộ ái ố theo từng nhân vật, cuối cùng là sinh tử, xã hội đó tồn tại bao lâu còn tùy giá trị của tiểu thuyết.

Về hội họa tuổi thọ bát thập niên dư, họa gia dùng màu sắc biến hóa hình tượng theo nội tâm và đôi mắt, để lưu lại trên tấm vải bố, v.v… Mỗi họa phảm chỉ dấu cho người đời thấy một tư tưởng mới, không phải để suy nghĩ mà để luận thuật, nhưng tác phẩm đó giá trị hay không là do cung cách sáng tạo, còn những tàc phẩm có tính đồ lại, đó chỉ là ghi dấu cảnh vật.

Còn về thư pháp thì tuổi thọ cao nhất, thư pháp mượn bút mực truyền tình cảm tự nhiên, tự họ khởi động tâm ý để hòa vào vạn vật đồng nguyên, thư pháp đỉnh cao nhất chỉ một màu đen biến đổi đậm nhạt đến không trên giấy trắng. Hôm nay đáng chú ý nhất là những thư pháp đều dùng bằng bút đặc biệt bởi từ lông đuôi của con Cẩu sói.

Hôm nay huynh chỉ luận về những tác phẩm ở động này, còn những tác phẩm khác tùy lưu truyền theo thời gian, cũng có những tác phẩm vừa ồn ào buổi sáng thì buổi chiều đã khuất núi rồi. Hoàng Chỉnh tiếp nhận luận học thuật của đại huynh ông vui mừng.

            ― Tiểu đệ nghe qua lời đại huynh luận về sáng tạo trong học thuật rất lý thú, có ở gần đại huynh mới thấu suốt học thuật. Quả là chân trời văn học nghệ thuật cũng rộng như biển khơi không khác nào võ thuật, chỉ có khác sự việc sẩy ra tại hiện trường và trên giấy trắng mực đen, còn âm nhu, cương cường thì như nhau.

            Từ lúc cả bốn người vào động chú ý nhiều về sinh họat của Hoàng Phi, nhất là xem qua trang trí sảnh đường thể hiện tính nhu thuận, khi đến thư phòng xem tranh, thư họa biểu hiện được tâm hồn văn nhân. Cả bốn người vào võ phòng ngạc nhiên thấy toàn là vũ khí lạ về võ phổ, chứng minh kiến thức võ học đảm lược khí khái, khi đến những phòng ngủ thấy đâu đâu cũng ngăn nắp. Bốn người tự hỏi, Hoàng Phi vốn kiến thức thông thái, võ học siêu quần. Có đến gần mới biết chàng lỗi lạc văn võ, điều lo nghĩ về thân thế sư phụ của Hoàng Phi là ai, đến hôm nay chưa ai biết! Người sư phụ ấy ở đâu, những câu hỏi này không ai giải đáp, khó hiểu về Hoàng Phi như một ẩn vi, cả bốn chỉ biết Hoàng Phi là đứa con hiếu thảo, hiền hậu, ôn hòa không tự thị.

Hiệp Khách Lan trong lòng vui mừng thấy con mình đã lớn khôn, biết tự lập thân, văn võ hơn người trên môi bà múm mím.

― Hài nhi, chúng ta ở đây bao lâu mới xuống núi?

― Thưa mẫu thân, nếu thích ở đây cả đời cũng được, lương thực lưu trữ có khả năng nuôi sống ba mươi người, sau động có một con suối nước chảy quanh năm, cá đủ loại, trước sân có nhiều cây ăn trái bốn mùa.

― Ở đây hoài không chán hay sao?

― Thưa mẫu thân chán làm sao được, nếu ở đây là nơi ẩn cư không phải thích hợp hay sao, nếu muốn lãng du thì xuống núi khi nào chán thì về động.

― À thì ra là thế, hài nhi lên xuống núi mỗi ngày, còn mẫu thân làm sao đi được như hài nhi?

― Mẫu thân, an tâm chỉ ba hôm thôi, mẫu thân cùng gia gia, thúc bá, thúc bá mẫu di chuyển lên xuống núi không khó, nhưng mà phải tập luyện theo phương pháp hài nhi đã hướng dẫn hôm qua tại động Nam Khê Sơn, sau ba ngày luyện thêm hai ngày nữa sẽ thành.

Hiệp Khách Lan lòng phấn chấn, ý của bà đã muốn từ lâu, khi có tuổi chỉ ở với Hoàng Phi, nay nghe Hoàng Phi nói vậy bà háo hức luyện tập nội công, còn Hoàng Biên, Hà Thanh Phụng, Hoàng Chỉnh là những võ hiệp cầu tiến không ngại luyện tập. Hoàng Phi an lòng lấy phổ “Bát-Quái Lĩnh Nam” dâng cho mẫu thân.

― Hài nhi kính dâng lên tứ đấng, phổ “Bát-Quái Lĩnh-Nam” chỉ cần công phu ba ngày, hài nhi sẽ trở lại, tạm biệt tứ đấng sinh thành. Đôi chân chàng vừa rời khỏi động, hình bóng phi thân đã mờ mờ biến dần trong sương tỏa.

Chàng về đến động Lạc Việt, theo qui luật tự thân, lúc nào cũng đi một vòng quanh từ trên xuống dưới động để xem qua tình hình, dù chàng đã phối trí trận đồ vẫn phải cẩn thận. Hạc báo hiệu trong động yên tĩnh như mọi ngày, chàng ra sân động, bầy hạc nhớ chủ bay xuống đón mừng, chàng vuốt lên đầu từng con một, tình giữa người và thú trở thành trìu mến khắng khít có nháu.

Mỗi lần chàng về động bầy hạc làm nhiều trò vui, đặc biệt lần này động sạch sẽ, ngoài sân không còn cỏ mọc bừa bải, chàng thấy bên trái động dưới gốc cổ thụ có hai con hạc nhỏ đang nhổ cỏ, chàng cười lấy tu hú ra hiệu, hạc bay đến nằm dưới chân chàng, tay vuốt trên mình hạc, chàng ra hiệu tất cả hạc bay về tổ.

Chàng vào sảnh đường thấy mười bốn giản biên viết toàn là ẩn tự, ghi dấu thứ tự, chàng nói thầm. Đúng là giản biên này của đại huynh Bạch Khẹc đem về, chàng mở ra xem từng giản biên một, đọc từng chữ mới hiểu được toàn ý. Bạch khẹc kể chuyện đi Trường Sa:

― Huynh, khám phá nhiều bí mật khó hiểu của Mân Việt Vương, thông đồng với gian tế Hán. Khi huynh vào được Vương phủ tại thành Nhạc Dương mới biết sự thật không đơn giản, gian tến Hán giả dung mạo Chu Thông Được ngồi trên ngai Mân Việt Vương, tòng đảng Việt-Hán nghị thảo rằng:

― Khó lắm mới áp tải Chu Thông Được đến cửa nam Dương Tử Giang, ngày mốt thuyền khỏi hành có thể nửa tháng sau mới đến Thiết Giang, cái khó hiện nay thuốc mê công hiệu được bao lâu? tên Hán đứng bên tả nói:

― Thuốc mê công hiệu chỉ năm ngày, nhưng đừng lo phải lấy gông còng tay chân y trước khi thuốc hết công hiệu, khi đến Thiết Giang xem như cuộc áp tải hoàn tất, phần còn lại không biết ai tiếp tục áp tải về Lạc Dương cũng hết tháng. Tên gian Hán dung mạo y như Chu Thông Được truyền lệnh:

― Khẩn cấp, báo tin cho thuyền khởi hành vào ngày mai. Chàng đọc tiếp giản biên thứ hai.

― Huynh đi theo các tên Hán, sau đó đột nhập vào thuyền, đi đến Trường An, họ giam Chu Thông Được một nơi sang trọng có người hầu, người hạ, binh Hán canh phòng cẩn mật. Huynh thấy ông ta lúc nào cũng buồn phiền, ít ăn ít ngủ, nhiều người đến thăm, ông không nói chuyện chỉ lắc đầu. BK.

Chàng đọc tiếp giản biên thứ ba.

― Huynh ở đây được mười ngày, thấy họ chuyển Chu Thông Được vào thành nội Trường An, ngôi dinh thự này bố trí rất cẩn mật. Họ đề nghị nếu Chu Thông Được đồng ý hợp lực thì năm sau về Trường Sa tiếp thục giữ chức Mân Việt Vương. Chu Thông Được thái độ vẫn bình thản như cũ. Người quan Han nói tiếp: Nơi này là tài sản riêng của Mân Việt Vương kể cả lãnh thổ Trường Sa.

Huynh viết vắn tắt để hiền đệ am tường, chuyện còn dài sẽ kể sau. BK.

Chàng xem tiếp những giản biên còn lại, nội dung trùng hợp những tin chàng đã biết, chỉ có giản biên thứ mười ba nội dung đặc biệt:

― Hiền đệ, huynh đã đến Sông Vị vào dinh trại quân binh Hán, biết rất rõ lực lượng Sông Vị là kế hư binh, dành sẵn cho một cuộc chiến thứ nhì. Còn lực lượng đóng ở Hàng Châu, Tràng An, Trùng Khánh là chính, vài tháng nữa họ sẽ khởi binh đánh Trường Sa. Hiền đệ lo liệu việc trước sau cho tốt nhé. BK.

Chàng suy nghĩ: Hán dụng binh “thực chi hư”, đó là lẽ thường tình trong binh pháp còn nếu “hư chi thực” đồng nghĩa với phòng bị binh pháp, sự việc này người Hán có mưu lược chiến tranh từ lâu, ngày nay Nam Việt khó tránh, đây chính là nguy cơ cho Nam Việt.

Chàng suy luận: Dụng binh pháp đối lực “thực chi hư” cấp thiết dùng đến kế sách phản tướng, trước nhất phải tìm cho được một người dung mạo tốt, văn võ song toàn, chữ viết và giọng nói như Chu Thông Được, riêng khuôn mặt giả mạo thì chính tay ta thực hiện. Về “hư chi thực” đương nhiên phải lập đồ trận để tránh tổn thất binh mã.

Chàng lấy một giản biên viết gấp gửi Vũ Thư Minh nội dung. Tin khẩn, bí mật, tìm một nhân vật có những yếu tố giống hệt như Mân Việt Vương, nhằm thực hiện kế phản tướng, ký tên HP. Chàng viết tiếp một tấu chương gửi về triều, nội dung: Muôn tâu Hoàng Thượng điện hạ. Hạ thần vừa được tin giám binh từ Hán cho biết, ý đồ của người Hán sẽ tiến quân vào Trường Sa, hiện nay Mâm Việt Vương là sản phẩm giả do Hán dựng lên, nhằm tiến quân như vũ bảo theo kế lược “thực chi hư”, ngoài ra còn kế lực thứ hai “hư chi thực” đó là kế lược “Con Quay” đối phương không cho binh mã Nam Việt biết đầu đuôi kế lược nhà Hám. Hạ thần kính tấu bện hạ hiểu thấu. HP.

Những ngày còn lại, chàng tung tăng trên dưới động rất hồn nhiên như ngày đầu mới vào động Lạc Việt, ký ức của chàng về lại với thời gian như lồng đèn kéo quân, chàng nô đùa với bầy hạc, bắt cá thảy lên cao để chúng tranh nhau mồi, chàng cùng hạc ca múa, về đêm chàng ngồi lập kế lược “thực chi thực”, viết giản biên gửi cho Cần Lĩnh Nam Bắc Tông nội dung. Tin khẩn, bí mật, Hài nhi đề nghị nhị cô mẫu lập dịch trạm bí mật khắp Trường Sa. Tổ chức hoàn chánh cứ sáu nhà một Liêu, mười hai nhà một Bảo, lập giao thông hào, dự trữ lương thực, củng cố binh phòng, luyện tập binh mã cường tráng thì mới có khả năng thắng địch hy vọng bảo vệ được Trường Sa. Nhị cô mẫu khi tiếp nhận được chiếu chỉ của triều đình, thì âm thầm tổ chức di cư Lạc dân để tránh thất thoát tài sản lương dân, lúc chiến tranh tránh nhiễu loạn lòng dân.

Chàng viết tiếp gửi thúc thúc Vũ Thư Minh. Thưa thúc thúc, tin khẳn, bí mật lập dịch trạm cương giới Việt-Hán trải rộng từ Tượng Quận đến Nam Hải. Tổ chức hoàn chánh cứ sáu nhà một Liêu, mười hai nhà một Bảo, lập giao thông hào, dự trữ lương thực, luyện tập võ nghiệp bảo vệ Tượng Quận, Quế Lâm, Nam Hải. Thúc thúc chú ý đừng xem thường khí thế háo cường của địch. Tiếp theo chàng dụng binh theo kế lược “hư chi hư” phản công bằng phương thức ít thắng nhiều, đương nhiên phải lập đồ trận. Chàng gửi tấu chương về triều, nội dung hai kế lược điều binh khiển tướng “thực chi thực” và “hư chi hư” nhằm đối lực với quân nhà Hán.

            Sáng sớm Hoàng Phi trở lại động Mao Gia Phong, chàng phi thân trên không trung đã thấy tứ đấng thân sinh đang luyện tập nhãn lực, chàng đáp xuống sân thủ lễ bái. Hoàng Biên da mặt hồng hào tươi cười nói đùa:

― Hài nhi đi vắng, không sợ tứ huynh đệ mỗ phá động này hay sao?

― Thưa thúc bá, ở đây là nơi cư ngụ sau này của tứ đấng đó ạ. Tứ đấng ăn ngủ có tốt không? Ông cười “ha hà”:

― Thế à, động này đẹp có không khí trong lành hài nhi tặng tứ huynh đệ mỗ ư? Thảo nào ở đây ăn ngủ, luyện thập thoải mái, mau tiến triển hơn mọi khi. Ông nói cho vui: Lúc đầu đến đây cứ tưởng nơi này là nhà giam bí mật của hài nhi, xin lỗi, xin lỗi. Lần đầu tiên Hoàng Phi thấy thúc bá vui, trong lòng chàng cảm nhận tình thâm gia đình sâu đậm. Chàng thưa:

― Thưa thúc bá, hài nhi chỉ giam tạm tam nhật mà thôi, nếu đến tứ nhật thì hài nhi sẽ bị đỉnh Mao Gia Phong nhốt lại không khác nào “Tề thiên” thuở trước. Cả năm người hiểu ý đồng cười. Hoàng Biên hài lòng câu nói đùa của Hoàng Phi chứng tỏ hài nhi của mỗ không còn là trẻ thơ như ngày xưa:

― Thúc bá mẫu, gia gia, mẫu thân sau ba ngày luyện tập “Bát-Quái Lĩnh Nam” thân cốt có đổi thay nhiều, nhãn lực cũng thế, hôm nay hài nhi đến đây có gìa mới không?

― Dạ thưa có ạ, đề nghị tứ đấng thân sinh cùng luyện tập nội công, ba canh giờ mỗi buổi sáng, chỉ hai ngày thì có khả năng ra ngoài động một cách dễ dàng, không cần phải phá nhà giam Mao Gia Phong. Hoàng Biên tinh thần sảng khoái.

― Thế thì chần chờ gì nữa mà không luyện tập. Hoàng Phi rất tinh tế biết thân cốt của tứ đấng thân sinh, vốn cao thủ đã nhất nguyên chân khí, chí âm chí dương thuần nhất, chàng dụng thuật pháp luyện tập theo thế quì gối, lưng thẳng, chuyển hóa tinh, khí, thần. Hoàng Phi mời:

― Kính mời tứ đấng, luyện tập theo thế quì gối, lưng thẳng, phóng tạp niệm, chuẩn bị nội công thông bát mạch, chuyển hóa khí vào cửa Nơ hoàng cung, nhập thần, động chuyển tinh.

Hoàng Phi vận nội công xuất “Thiên lô vô võng” chiêu số trên dưới phân trời đất hóa sự sáng tạo, chuyển động tự nhiên, Tinh khí thần chảy vô tận, theo lòng tự dục “Tư kỷ khí”.

Chàng xuất chiêu thứ hai “Thủy hỏa ký tế” chiêu sự hoàn sinh, từ hỗn mang biến trật tự, mọi vật vô vi ở đúng chỗ, tự biến khó thay.

Thời gian trôi qua ba canh giờ đúng Ngọ, tứ nhân cảm nhận, thân thể nóng hừng hực nội lực đầy ấp phi thường. Cháng búng liền tám “Thanh Long đơn” lập thức thân thể tứ nhân hòa khí. Qua ngày thứ hai cùng một thuật pháp luyện tập, lần này chàng búng thêm bốn “Thanh Long đơn” tổng cộng tứ nhân tiếp nhận được mười hai viên. Chàng vui mừng thưa:

― Cõi nhân sinh vô thường, nay hài nhi mới biết tứ đấng thân sinh là văn nhân kỳ ngộ, võ nghiệp tuyệt kỷ nguyên thánh, bây giờ chỉ là thời gian phi thân, để ứng nghiệm sự kỳ diệu trong năm ngày cực khổ của quí đấng. Hoàng Biên cảm nhận được thuật pháp luyện tập của Hoàng Phi, ông nghĩ thầm: Đúng là một tỉnh mộng phi thường.

― Nào nương tử, hiền đệ, hiền muội phi thân theo huynh, cả tứ nhân phi thân biến vào sương mù xuống núi, rồi phi thân lên động không khác nào bốn đại hạc về động Mao Gia Phong, tất cả vui mừng. Hoàng Chỉnh còn nghi ngờ nội công của minh, ông hỏi:

― Hài nhi thử phân giải nội công của gia gia như thế nào? Hoang Phi khoanh tay cuối đầu xuống đáp:

― Thưa gia gia nội công chỉ là một, trong thân thể của gia gia có nhiều khả năng khác như bát mạch thông thương, tự trị bệnh, bế mạch khi cần, độc chất không sâm nhập vào cơ thể, nhờ nội công, còn nữa trí tuệ lại thông thoáng, cầm kiếm như lông hồng, tuy vậy kiếm pháp càng luyện mới thấy sở đoản, sở trường còn sơ sót, nhờ vậy bồi đắp chiêu thức mới, kiếm pháp trở thành tinh vi hơn, nói chung “Bát Quái Lĩnh Nam” vận hành khí vào kinh mạch phối hợp tinh, khí, thần phân làm tứ phương xuất phát nội công, mỗi chiêu phối hợp sáu mươi bốn cộng sáu mươi bốn, nội lực vô cùng uy lực, nhưng trước hết bát mạch phải thông, mới hội tụ được chân khí vào lòng bàn tay hay chân phát huy hết võ học “Bát Quái Lĩnh Nam” Gia gia thử xuất chiêu kiếm họ Hoàng nhà mình thì biết tức thì.

            Hoàng Biên và Hoàng Chỉnh nghe nói không tin, xuất kiếm là đã thấy ngay chiêu số bái tổ có sơ sót. Hoàng Biên tháng phục.

      ― Hài nhi nói đúng lắm, không sai, nếu là người siêu quần thì thấy sơ hở chiêu bái tổ! Hài nhi có thể xuất kiếm pháp nhà ta được không?

      ― Thưa thúc bá, hài nhi vâng lời. Chàng xuất kiếm đã thấy hoa kiếm pháp bay trong không gian, kiếm không van động gió, tứ phía trên dưới đều có ánh kiếm, từ chiêu bái tổ đếm cho thật kỷ đúng một trăm tám chiêu không thiếu không thừa, đường kiếm tinh vi, tuyệt ảo. Hoàng Biên vỗ tay khen:

      ― Quả là hài nhi không hổ danh họ Hoàng, lòng thúc bá đã bừng sáng rồi, thúc bá thử xuất chiêu một lần nữa nhé?

― Dạ. Hoàng Biên và Hoàng Chỉnh xuất kiếm đúng như kiếm pháp Hoàng Phi đã khai rộng cả hai huynh đệ vui mừng, không ngờ kiếm họ Hoàng có pháp khí như vậy, thức kiếm nối liền không sơ hở, biến thế nhanh cực kỳ, như gió thổi không lọt qua thức kiếm, như nước suối chảy quanh năm mà không ước trung tâm tảng đá ngầm.

Hoàng Phi đem việc quân Hán chuẩn bị mở cuộc chiến vào đất Trường Sa, cho Hoàng Biên, Hoàng Chỉnh, thúc bá mẫu, mẫu thân cùng nghe.

― Hài nhi đề nghị, năm ngày sau thúc bá đi cùng với Nguyễn Cự Bình đến chân núi phía Nam, Nam Khê Sơn. Hoang Biên hiểu ý, khen.

― Rất may, hài nhi đã biết trước âm thầm nghinh chiến và chuẩn bị phản công, đó là kế sách tốt, nếu vào trường hợp của thúc bá cũng làm kế sách này. Thúc bá cũng phải khẩn trương lập dịch trạm đề phòng phía Nam, kế tiếp gửi binh viện theo đường thủy cho phía Bắt, viết tấu chương gửi cho tổ phụ Phùng Nam.

Giờ dậu sau bữa cơm rồi đến tuần trà, chuẩn bị chia tay, Hoàng Phi thưa:

― Thưa thúc bá, thúc bá mẫu, gia gia, mẫu thân khi nào đến động thăm hài nhi thì dùng loại đá lân quang này, viết vào giản biên treo trước động sẽ có hài nhi hầu hạ. Hoàng Phi lấy tu hú gỗ ra hiệu, bốn đại hạc bay xuống động cách sân một trượng, Hoàng Phi tiển đưa. Cả bốn đấng thân sinh của chàng phi thân lên lưng hạc, bay về hướng Nam. Tay vẫy chào hẹn tái ngộ.

Hồi 22

Một nhành sen trắng ẩn cư động Lạc Việt

Huỳnh Tâm - Anh Hùng Nam Việt