Trên đường về động Nam Khê Sơn chàng suy tư. Dương Tử giang chốn ải địa đầu đất Lĩnh Nam, cái nôi anh hùng năm xưa còn lảng vảng bóng phù trì Bách Việt nơi đó lúc nào cũng linh thiên. Đã bao lần cỏ hoa Trường Sa rưng lệ, khóc theo vận đất nước.

Gió sương còn đó mãi mãi cất tiếng “vi vu” gọi hồn Bách Việt hào hùng. Đúng thế, những tướng quân binh mã còn lưu danh đứng trước không gian, người xưa khi thấy chiến tranh trên quê hương thì đem lòng xót xa. Hôm nay mỗ hy vọng chiến tranh không đến nổi lạnh lùng để cho quân dân Nam Việt hao binh tổn tướng.

Chàng phi thân xuống sân động, đi thẳng vào sảnh đường tụ tập tỷ, huynh, kiểm tra sáu mươi bốn chiêu “Bát Quái Lĩnh Nam” như chiêu số, nội công, phi thân, chàng rất vui mừng chỉ trong năm ngày đã thành thuộc hơn trước, chỉ có Đỗ Trọng Kha còn non tay chiêu số, nội công tạm dùng được. Chàng nói:

― Theo tại hạ suy nghĩ, thập thất tỷ, huynh, đệ đã trải qua nhiều trận chiến, cũng như am thông giang hồ, nếu trao một trách nhiệm làm tướng soái thì phải thế nào? Lữ Thư dõng dạc đáp:

― Tay cầm soái kỳ binh phù thà chết chứ không khuất phục địch, ngoài chiến trường không sợ quan địch, mà chỉ sợ quân ta quản hốt, chưa kể đến kế mưu của địch làm lung lạc ý chí, bởi vật trong binh pháp có câu “Binh đến tướng đỡ, nước đến giữ bờ”, đứng trước chiến trận phải mưu cầu thắng trận yên dân.

Đáng chú ý nhất là khi lâm trận phải biết dụng tinh thần “Bất úy tử” của Bách Việt, như khi trước Hoàng đế Câu Tiễn đánh Ngô cũng dùng đến chiến thuật này. Chu Thông phát biểu:

― Phận làm tướng, tay cầm soái kỳ thà mất mạng chứ không để mất mặt, có đi không có về, quân hùng mã cường, lương thảo là chiến sách thắng địch. Đinh Anh Thi thù nước thù nhà chưa trả, chàng phát biểu:

― Tay cầm binh phù soái tướng, cần chú ý khí dũng háo cường của ta và địch, điều cấm kỵ trong trận chiến quân binh không được mệt mỏi, tránh thiếu ăn, tránh quân binh chán nản, nhiễu loạn lòng dân. Đào Phụng Thương cũng phát biểu:

― Bổn phận làm tướng phải có mưu kế, cắt đứt lương thảo của địch để bóp yết hầu của chúng. Lập giám binh nội ứng, làm nhiều cạm bẩy sát thủ địch, dù rồng xa bải cạng, hổ xuống đồng bằng cũng phải làm cho địch thần bất trí, quỉ bất giác. Huy động lương dân thù nhà nợ nước. Trịnh Đình Thông vốn gia gia qua đời sớm tại trận cương vực Việt-Hán, mối thù này chưa trả, chàng phát biểu:

― Gia gia của tại hạ qua đời sớm vì giặc Hán, nay tuy “Rách lũy cũng còn bờ tre” nhờ gần núi ăn củi, gần sông uống nước, cho nên thấu hiểu được ít nhiều nghĩa lý thù nhà nợ nước. Tại hạ nguyện lấy thân này làm danh môn chi hậu, đứng trước mặt trời chưa xuống không gian vẫn phải sáng. Đỗ Trọng Kha tuy mới gia nhập động, lòng cũng nôn nao, háo hức tỏ bày nghĩa cử đền đáp Lữ Thư và trong động dành cho chàng tình thân huynh đệ vô bờ bến, chàng phát biểu:

― Trong binh pháp có nói: “Đa ngã kiến kết tụ duy nhất kiến”, để tránh tâm khí quân binh sanh tạp ý, không thể bỏ qua lập dịch quán, quân binh mã giả. Hôm nay tại hạ gặp anh hùng cùng chí khí vì mưu cần an dân, chỉ xin một ước nguyện, vạn tử bất từ, quí huynh đệ muốn dùng tại hạ vào chỗ nào cũng đặng, há sợ chi tướng địch mạng, thân này tướng mạng sống chết phú cho trời cao. Lý Bình Trung phát biểu:

― Thống soái cao minh biết thiên thời địa lợi, nhân sinh, biết mình biết người, dùng binh tướng đúng nơi, hiểu sự như thần, thuộc lòng binh pháp thống lãnh tam quân, dưỡng binh thiên nhật dụng nhất thời.

Đạo làm tướng soái phải có kiến thức lớn, như kỳ môn độn giáp, binh mã thần cơ diệu toán, biết nhật nguyệt phong linh khí, tuy tay không cầm cung kiếm mà phá được địch. Trịnh Trường đúc kết:

― Từ hôm nay động Nam Khê Sơn tiếp nhận những suy tư hữu dụng của quí huynh, tỷ, đệ làm chuẩn, ý kiến nào cũng vì đất nước vì dân đều dùng được tất cả. Tại hạ xin công bố từ nay động Nam Khê Sơn chiếu y pháp vô tư, quân lệnh vô tình, động qui nghiêm chính, khi quí huynh, tỷ, đệ có binh mã trên tay phải tuân bát điều, như Nhất khinh binh, Nhì mạng quân, Tam đạo quân, Tứ nối quân, Ngủ loạn quân, Lục ngộ quân, Thất khinh địch, lộ quân cơ.

Ngoài ra còn cắm, như Đào thoát, không nghe lệnh cấp trên, tuyên bố sai sự thật, ăn cắp lương thực, quân trang, vũ khí, theo lệnh kỳ, nghe trống tiến quân, nghe chiên lui binh, không được khi dân. Từ tướng đến quân binh kẻ nào trái lệnh đó là ham sống sợ chết, thưởng công chuộc tội minh chính không nể tình, tội nhẹ khai trừ, tội nặng khai tử. Hoàng Phi nghe Trịnh Trường công bố lệnh lòng chàng lo ngại, phát biểu:

― Quí tỷ, huynh, đệ quả là những kỳ tài xuất ngôn tự đáy lòng, suy nghĩ thể hiện đồng một ý chí không khác nào phổ văn hiến Bách Việt có lưu truyền kim ngôn vạn ngữ, cho nên phổ có câu: “Liệt nữ giá phu, quân thần trung nhất chúa” có như thế đó mới đúng là kim chỉ nam của thiên hạ, cùng thi thố khả năng tư tưởng và hành động.

            Chàng mời những hiền đệ chưa nhận “Thanh Long đơn” ra sân phát mỗi người một viên, nhân dịp này chàng khuyến khích Đỗ Trọng Kha luyện tập võ học mỗi ngày.

Chàng đã có ý tặng bảo kiếm từ lâu nhưng chưa phải lúc, nhân dịp nay chàng tuyên bố tặng kiếm.

Quý huynh, tỷ, đệ, muội tại hạ muốn gửi thác chí nguyện thanh danh tuổi trẻ này trong tay quý vị, bằng những thanh bảo kiếm cho những ai có khởi tại lòng vì Bách Việt.

Trước hết kính mời đại tỷ Lữ Thư là người có trách nhiệm lớn nhất, phải chăm nom thật tốt tất cả sư đệ của mình, tiếp kiếm.

― Tỷ cảm ơn hiền đệ .

― Bảo kiếm này là Nhu-Long kiếm đúc trong lửa cực nóng và cực hàn, có thể đoạn đá phân kim, chẻ sắc như đất, lệ khi xuất kiếm vạn kiếm phân mảnh, tính của tỷ hợp về sau này gặp thế thái nhân tình xem mây trôi ngoại cảnh, phú quý chỉ là danh lợi không đủ nặng nhẹ tình người, tỷ có khí khái nữ kiệt nặng xử sự tình cảm, đệ xin tặng hiền tỷ ba chữ Kiếm, Lợi, Tư, Nghĩa. Trịnh hiền đệ tiếp kiếm.

― Dạ đại huynh.

― Đệ là người tính tình thẳng thắn việc gì cũng như người ba phân, thế mà đến lúc then chốt vẫn phải phân trái trắng đen, nay huynh tặng đệ Nội-Thiên bảo kiếm, nhớ kỷ việc phải-trái xử trí cần quả quyết mới được, có hiểu không?

― Da đại huynh đệ hiểu rõ.

― Lý hiền đệ, tính tình đại chí, hơn nữa kiếm pháp để trong kiếm, tuy là một đại chí thế mà hồi ức để bên ngoài, vì thế huynh tặng cho đệ một bộ Canh-Tinh bảo kiếm.

― Dạ cảm ơn đại huynh.

― Đinh hiền đệ, chuyện xưa gia đình của đệ đau trong lòng nay nên dứt bỏ, không còn trốn tránh quá lâu ở đây, nếu có một ngày muốn đương đầu e là không thể được nữa, đại huynh tặng cho đệ Kiêm-Châu bảo kiếm, huynh nhắc nhở đệ kiếm pháp không thể biến phu.

― Dạ, đệ cảm ơn đại huynh.

― Trịnh dại huynh, tiếp Thiên-Thác bảo kiếm, như tên của nó, nước thác trên trời từ núi cao đổ xuống, nếu sử dụng thỏa đáng sẽ có lực lượng vô cùng và khiến người khác phải công nhận truyền nhân của thúc bá, đồng thời khiến hiền huynh nhận thức trong lòng có nhân nghĩa, trí, tín, dũng.

― Cảm tạ hiền đệ.

― Chu Thông hiền đệ, huynh tặng cho đệ một cây bảo kiếm uy lực vô cùng.

― Thưa đại huynh tiểu đệ kiến thức bất tài, võ công kém cỏi bây giờ tiếp nhận bảo kiếm chỉ lo cho đệ không biết cách sử dụng và phụ lòng yêu thương của đại huynh.

― “Hà hả” đường có tự xem thường mình, cây kiếm này có duyên với hiền đệ, huynh mới tặng cho đệ đó, tiếp kiếm.

― Dạ, cảm ơn đại huynh.

― Tên bảo kiếm này là Xá-Thân có từ thời đại đế Câu Chiếu nước U-Việt, đúc từ thiên ngoại phi tiên mà thành, nó không những chẻ núi mở đá và khiến cho đệ lập nghiệp trùng sanh, cho nên bảo kiếm này có ý nghĩa là làm người phải biết xả thân cứu  nước, đệ phải nhất định biết quý nó.

― Thưa đại huynh, tiểu đệ quả là không dám tiếp nhận bảo kiếm này, tiểu đệ chỉ mong mỏi sớm ngày thi thố trừ giặc Hán.

― “Hà hả” bảo kiếm là hứa hẹn của đạo nghĩa, cây bảo kiếm này rốt cuộc đã tìm được chủ nhân, tiếp kiếm.

― Tiểu đệ đa tạ đại huynh.

― Đào Trần Mẫn Trâm, con là đệ tử nhỏ nhất của mỗ, tư tưởng của con đơn thuần, mọi việc cẩn thận, giang hồ là cõi hiểm ác, lòng người càng hiểm, chuyện đời không đơn giản như tính tình của con, hôm nay việc gì cũng phải suy nghĩ từ hai mặt. Gia gia tặng cho con Nhật-Nguyệt bảo kiếm, chỗ kỳ diệu của bảo kiếm mai này ắt con sẽ lãnh ngộ, lúc mà kiếm pháp phân làm hai, con phải biết quý nó nhé, gia gia biết tâm kết lớn nhất của đời người là vốn học chữ ít, cha tặng con hai tập phổ Sử-ký và Binh-pháp con hãy đem theo bên mình từ nay về sau phải độc sách cho nhiều, viết chữ cho nhiều.

― Hài nhi vân lời, đa tạ gia gia.

― Đến đây đã hết việc tất cả huynh đệ vào trong, chỉ còn đại tỷ ở lại đây với tại hạ.

― Có việc gì quan trọng vậy hiền đệ?

― Dĩ nhiên có việc lần đến tỷ, đệ để bảo kiếm Thanh-Can vào bích núi, nhờ tỷ hướng dẫn công chúa Trí Túc đến đây tiếp nhận, tỷ cho công chúa biết bảo kiếm Thanh-Can, luyện từ dẫn thạch trên trời mà thành, sức mạnh kiên cố, ngoan cường gặp lửa bất biến, khi dụng đến nó sẽ phá mọi trở ngại.

― Tại sao hôm nay đệ lại tặng thất bảo kiếp và đặc biệt bảo kiếm Thanh-Can phải để trên bích núi?

― Tỷ hỏi vậy cũng phải, bảo kiếm Thanh-Can ngày sau đứng ra can gián Nam Việt, chỉ có mẫu người này mới lập được công hiển hách, đôi lúc đệ cũng tự hỏi lòng mình xem ra đã thẹn với tiền nhân, nay chỉ cầu sao đời mình vô hối “hà ha”.

― Cảm ơn hiều đệ đã có lời toại nguyện.

― Tỷ tỷ, đệ giao huynh đệ muội cho tỷ, nhất định sau này tất cả cùng sống trong tình người.

― Tỷ hứa với đệ, sau này đời sống của họ như hôm nay và đùm bọc thương yêu không thiếu một ai.

― Chào Tỷ, nhờ chuyển lời bình an đến tất cả mọi người, đệ đi.

― Hiền đệ bảo trọng.

― Đại tỷ bảo trọng. Hoàng Phi lên hạc bay một vòng trên bầu trời rồi biết mất.

            Đúng khắc hẹn với Vũ Thư Minh, chàng vừa ra khỏi động, đã thấy Vũ Thư Minh cùng một người lạ mặt ngồi trong chòi trang chờ. Hoàng Phi cúi đầu chào:

― Hài nhi kính chào thúc thúc, thúc bá. Vũ Thư Minh giới thiệu:

― Đây là nguyên thủ lãnh Cần Lĩnh Nam, họ Hoàng tên Phi, còn vị này nguyên là người của Cần Lĩnh Nam Trung Tông, hơn năm làm Cần Lĩnh binh, tám năm làm trại chủ dịch trạm Tháp Sơn họ Văn tên Văn Nam .

― Tốt lắm, thì ra Văn thúc bá cũng là người nhà cả, may mắn vô cùng. Thưa thúc bá gia đình mạnh khoẻ không, còn gia đạo thế nào?

― Dạ, đa tạ thủ lãnh, thưa cả nhà mạnh khoẻ, gia đạo bình an, còn dư ăn dư để, con cái cũng theo cha lập nên ý chí, nhờ sống trong lòng Cần Lĩnh Nam Trung Tông.

― Tốt lắm “Con hơn cha, là nhà có phúc” Tại hạ xin vào đề. Văn thúc bá đã hiểu rõ chuyến đi này tuy bề ngoài là nguy hiểm, nhưng bên trong không nguy hiểm, vì người Hán cần thúc phụ Chu Thông Được, cho nên họ không ra tay sát hại người, khi Văn thúc bá vào đất Hán cần thiết nhất là đừng lộ thân phận, tính tình thúc phụ rất kiên cường, không chấp nhận mọi trả giá bán Mân Việt.

Hôm nay Lạc dân Nam Việt phải đến lúc không còn chiều theo ý người Hán, vì vậy nhờ thúc bá giả Chu Thông Được, hài nhi cung cấp một mặt nạ da để làm Chu Thông Được, hai con hạc nhỏ để đưa tin báo cho thúc thúc Vũ Thư Minh, chỉ cần gõ vào cột nhà hai tiếng là hạc xuất hiện. Ngày mai Văn thúc bá lên đường với hài nhi qua Hán rồi đến Trường An đột nhập vào lâu các, thế là thành công.

Văn Văn Nam hoạt động trong Cần Lĩnh Nam đã hơn chín năm trường chưa bao giờ gặp Hoàng Phi, tuy có nghe tiếng là nhân kiệt người lãnh đạo cao nhất của Cần Lĩnh Nam. Ông thầm suy nghĩ. Không ngờ người lãnh đạo của mình quá trẻ tuổi chỉ bằng con trưởng của lão mà thôi, thế mà đã làm việc trọng đại phi thường, khẩu khí của chàng trai này tuy đơn giản nhưng mang theo mệnh lệnh nghiêng thành, trong lời nói rất tình nhà thân thuộc. Ông thưa:

― Thưa thủ lãnh, trước hết Cần Lĩnh binh kính cẩn, mạo muội xin hỏi đôi câu. Việc này chỉ đơn giản vậy sao?

― Thúc bá an tâm, tại hạ đưa đi thì phải đón về, chỉ vài tháng sống tạm trên đất Hán, rồi thúc bá sẽ về đoàn tụ với gia đình. Hoàng Phi mời Vũ Thư Minh cùng Văn Văn Nam về động.

Lúc này sinh họat của động thay đổi, tất cả tỷ, huynh, đệ đã dời lên động trên, còn động dưới làm vườn hoa, trồng cây ăn trái, làm nhà giam, sảnh đường dành tiếp khách vãng lai của Hoàng Phi. Lần đầu tiên Vũ Thư Minh biết nơi ở của Hoàng Phi, chàng nghĩ trong bụng quả là đời sống Hoàng Phi rất thanh bạch. Hoàng Phi tự tay làm cơm trà nước mới Vũ Thư Minh cùng Văn Văn Nam dùng buổi chiều, sau buổi chiều Hoàng Phi chúc ngủ bình an. Chàng chào tạm biệt hẹn sáng mai lên đường.

            Sáng hôm sau Hoàng Phi đưa Vũ Thư Minh cùng Văn Văn Nam ra khỏi động.

― Chào tạm biệt thúc thúc. Chàng cầm tay Văn Văn Nam phi thân đưa lên đại hạc, bay thẳng về hướng Bắc. Đến Trường An chàng tìm được lâu các Mân Việt Xứ, chàng cùng Văn Văn Nam phi thân vào núp sau cánh cửa phòng ngủ, thấy Chu Thông Được đang uống trà, chàng nghe Bạch Khẹc dùng nhĩ ngữ truyền âm:

― Hiền đệ hay quá, huynh chờ đã lâu mới gặp ở đây, hành động nhanh lên, chàng vừa bước ra Chu Thông Được biết là Hoàng Phi đến cứu ông, lại thấy một người giả dung mạo như mình, ông lanh trí nói:

― Qui luật sống ở đây, sáng điểm tâm, dùng cơm trưa, chiều, uống một thứ trà Thái Nguyên, tối độc sách kinh thư, luyện kiếm pháp, ngủ sớm trở tùy mình, họ đề nghị những gì phải đắng đo, có lợi cho Nam Việt thì chấp nhận, bằng không từ chối, tuy vậy những ngày tới phải tùy nghi ứng phó vì người Hán chuẩn bị kéo quân vào Trường Sa, hiền huynh này thủ vai Mân Việt Vương cho thật khéo nhé? Tại hạ xin chào sẽ hậu tạ cứu mạng. Bạch Khẹc rất cẩn thận:

― Huynh phải ở lại, vài ngày nữa rồi sẽ về động Lạc Việt. Hoàng Phi gật đầu đồng ý, chàng nắm tay Chu Thông Được phi thân mất dạng. Văn Văn Nam đã nắm vững tình hình, tuy có ngại nhưng sau vài ngày an tâm sống bình thường. Chu Thông Được về đến Tượng Quận cha con trùng phùng cùng nhau vui mừng, vài ngày sau Hoàng Phi đề nghị với Chu Thông Được:

― Thưa thúc phụ hôm nay đi Trường Sa phục chức Mân Việt Vương, cầm lấy binh quyền người Hán. Cả nhà chưa hiểu ý, nhưng Chu Thông Được đã hiểu, ông nói:

― Việc đại sự cần làm gấp, theo Hoàng Phi mà thực hiện thì không sai, tuy hiện giờ mỗ chưa hiểu mưu lược của điệt Phi, nhưng chắc chắn đó là việc làm thành công. Hoàng Phi trầm tĩnh nói để tinh thần cả nhà ổn định.

― Thưa thúc phụ, thúc thúc, quí thúc thúc mẫu, việc làm lần này là nội giám phản Hán, tên giả Mân Việt Vương dung mạo như thúc phụ chỉ cần biết qui luật sinh hoạt của y là thành công, trước nhất bắt toàn bộ chúng, rồi thay vào toàn bộ người của mình, sau đó tìm mọi cách lấy qui luật sinh hoạt chúng. Hiện nay chúng có bảy tướng kể cả tên giả thúc phụ, sáu người của Cần Lĩnh Nam mang mặt nạ da, hài nhi cung cấp, riêng thúc phụ vẫn nguyên hình. Vũ Thư Minh lo âu.

― Làm thế nào để bảo vệ được gia gia của thúc thúc?

― Sẽ có một toán quân trên trăm, giả làm quân Hán theo hầu Mân Việt Vương, đó cũng là Cần Lĩnh Nam bảo vệ thúc phụ. Chu Hoa Thủy thấy chưa ổn:

― Làm thế nào bắt được bảy tên tướng Hán, đang ở trong phủ Mân Việt Vương?

― Hành động cùng một lúc, bảy tướng Hán giả thay vào tướng Hán thực, hài nhi cùng thúc thúc quí thúc thúc mẫu yểm trợ, tuy nhiên hài nhi là người ra tay trước. Chu Trang Thủy thấy vẫn còn sơ hở:

― Như vậy bảy tướng Hán đem đi đâu để lấy qui luật sinh hoạt của chúng?

― Thưa thúc thúc mẫu, trong phủ Mân Việt Vương có một đường hầm bí mật, đưa chúng xuống đó là việc gì cũng biết được hết, dùng chúng đến khi nào vãn hồi thanh bình Trường Sa, sau đó thả chúng để nhà Hán hài tội họ. Vũ Thư Minh ngạc nhiên:

― Thúc thúc chưa bao giờ nghe tiên phụ nói về bí mật đường hầm đó cả?

― Chính nơi an toàn nhất ở trước mắt, không ai dám suy nghĩ dưới bệ ngai Mân Việt Vương có đường hầm, cửa xuống hầm bên trái ngai, bấm vào răn cùng con rồng nơi tay cầm thì cửa mở ra, bình thường khó ai thấy được mí cửa hầm.

Mọi người an tâm theo kế hoạt của Hoàng Phi, nhất nhất hàng động đúng, quả thực thành công, người ngoại cuộc không tài nào biết bí mật tráo đổi Mân Việt Vương, tài tình như có phép lạ.

Thời gian trôi qua đúng một mùa đông, trong động có sinh khí mới, kiến thức văn võ hơn trước bội phần, âu cũng ở Hoàng Phi mới có ngày nay. Chàng thở dài rất tiếc không tìm được một tỷ, huynh, đệ nào có khả năng tiếp nhận ngũ phổ bích động Lạc Việt! Duy đại huynh Hoàng Khải có khả năng thì lại không có dịp để truyền, đúng là người chưa gặp khởi lúc!

Tỷ, huynh, đệ, muội động Nam Khê Sơn tổng cộng mười tám người tiếp nhận được thiệp mời tham dự lễ thành hôn của Hoàng Khải, tất cả đồng lên đường đi đến thành Phiên Ngung. Cuộc hôn lễ của Hoàng Khải được mỹ mãn như ý. Hoàng Phi thay mặt Cần Lĩnh Nam chúc đôi uyên ương:

― Hiệp hôn thượng tri thời, uyên ương bất độc túc, đàm hỷ tân hôn hỷ, ngã vốn tự tình đắc dụng tình. Lữ Thư thay mặt động Nam Khê Sơn chúc:

― Sớm sanh quí tử, vạn sự như ý, bách niên hảo hiệp. Hoàng Phi đến gần Lữ Thư nói nhỏ khiêu khích:

― Hiền tỷ sao mà vẫn độc thủ khuê phòng như vầy khó loi lắm, đại huynh đã thực hiện đúng lời người xưa nói “Nam đại đương hôn”, còn tỷ tỷ đúng là nữ góa góa, hiền tỷ là nữ đẹp tu hoa đế nguyệt thế mà không có đấng minh quân để sửa lưng lắc tuối ư? Lữ Thư cười:

― Còn hiền đệ cũng thế thôi, sở dĩ to đầu mà không lập gia đình là vì đi trên mây (cưỡi hạc) chân không chạm đất (phi thân) người đẹp biết đâu mà tìm! Thực ra hiền đệ sợ người ngoài họ lắc cái gia tài của mẹ, tỷ buồn quá có một hiền đệ sợ phái yếu, nhưng không sao cậu út ơi! Biết đâu phước nhà “Vợ chồng phận đẹp duyên ưa” ừ một cái đi, tỷ tỷ sẽ tìm cho hiền đệ một cô bạn trăm năm nhé. Lữ Thư vừa nói đến đây có hung tin người Hán đã xua quân như vũ bảo tràn vào Trường Sa.

            Tất cả cùng hoảng hốt, duy chỉ có những lãnh tụ Cần Lĩnh Nam cũng như Hoàng triều điềm tĩnh. Nam Việt Vũ Đế triệu tập quần thần triều nghị, đứng đầu triều đình có Vũ Đế, Thái thử Hồ.

Đứng đầu bát phẩm triều đình quan văn, mưu sĩ gồm có Thừa Tướng Lê Cơ Mạnh, Thái sư Trần Hồng Lĩnh, Thái phó Lữ Gia, Thái bảo Lý Từ Cố.

Đứng đầu tướng văn võ tại triều có Hộ Thành Hoàng Quốc Kỳ, Hộ Vệ Quân Trần Thanh Hổ, Ngự Lâm Quân Lê Cung Minh, Cơ Mật Viện Nguyễn Đàm Châu, Vạn hổ hầu La Chấn, Thiết lộ sứ Đỗ Hiếu Trung, Thiết lộ sứ Trương Vũ.

Đứng đầu dân quân Cần Lĩnh Nam có Hoàng Phi, Vũ Thư Minh, Hoàng Biên, Hoàng Lữ Giao, Chu Hoa Thủy, Chu Trang Thủy, ngoài ra còn có Tôn Nhân Phủ như Hương Trí Túc, Hoàng Khải, đứng chầu triều nghị.

Thừa tướng Lê Cơ Mạnh trình tấu:

― Muôn tâu, Hoàng thượng bệ hạ, di thần khải tấu, theo binh quyền hiện thời soái kỳ binh phù do Hoàng thượng lãnh binh, Hoàng thượng đã xuất chỉ cho các Tướng ngoài mặc trận chuyển quân về Trường Sa, như Tướng quân Nam bình hầu Triệu Hành Giả đóng binh mặt Đông. Tướng quân Bình nam tiền phong Đặng Hà Đàm đóng binh mật Bắc. Đồng Tướng quân Hổ trung lan Võ Khố đóng binh mặt Tây. Tướng Quân Điện tiền thái úy Triệu Long Ân đóng quân Đồng Tương.

Di thần khẩn tấu, quân Hán xua quân vào Trường Sa bằng ba mặt cương giới Bắc, Đông, Tây hơn ba vạn. Cách đây hai canh giờ quân Hán tiến quân vào lãnh thổ Nam Việt đương nhiên là chủ chiến, nhưng đến giờ này không có tin báo của các tướng quân ngoài mặt trận, di thần chỉ nhận được tin cấp báo Bắc, Đông, Tây của dân binh Cần Lĩnh Nam, thử hỏi những tướng quân binh mã của triều đình hiện giờ đang ở đâu, nguyên do nào không có mật tầu về triều đình như đã ấn định!

Di thần còn được tin quân nội ứng của Hán, do Mân Việt Vương Chu Thông Được lãnh đạo hai ngàn quân Hán thiện chiến phối hợp nổi dậy trong đánh ra, ngoài đánh vào. Thái tử Hồ phát biểu:

― Thừa tướng trình tấu không sai, Soái kỳ binh quyền do Hoàng thượng lãnh binh tuy chưa xuất binh, nhưng đã có dàn trận thế rất chu đáo, bây giờ đột biến quân triều đình bất động để cho quân Hán tiến vào Trường Sa.

Quả thực từ bao lâu vẫn tin tưởng những tướng ấy là rường cột nước nhà, nay Trường Sa thất thủ, mới biết cột đã bị mọt ăn mục hết! Vậy quí khanh có mưu kế gì không? Vũ Đế trầm ngân một lúc, không thấy quan văn  võ triều thần tấu, Vũ Đế hạ chỉ:

― Đã đến lúc trẫm xuất quân, lấy ba đạo quân tiến thần tốc thẳng đến Bắc, Đông, Tây và Đồng Tương. Hiện nay trẫm chỉ nhờ cậy vào Lạc dân quân Cần Lĩnh Nam, đây mới là thời gian để trẫm nghiệm cung, thượng ứng thiên mệnh, hạ ứng nhơn tâm, đó là vạn sự may mắng cho triều đình, rãi phước cho thiên hạ bá tánh.

Trong triều nghị hôm nay quí khanh nào theo trẫm xuất trận diệt trừ quân Hán?

            Hoàng Khải, Hương Trí Túc tấu:

― Muôn tâu Hoàng thượng điện hạ. Di thần xin hộ giá Hoàng thượng.

― Tốt lắm, trẫm chuẩn. Nam Việt Vương Phùng Nam tâu:

― Khấu kiến, Hoàng Thượng, điện hạ. Di thần nhận trách nhiệm lương thảo, xin Hoàng thượng ban ân.

― Hay lắm, chuẩn. Có khanh trẫm an tâm. Phùng Nam tâu tiếp: Hạ thần đã cho ba đạo quân Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam di chuyển bằng đường thủy vào cửa Hổ Môn cách đây ba ngày cũng đang tiến vào Trường Sa, do các tướng lãnh binh Lê Đằng, Đào Tứ Cường, Tô Thành, Bàng Lân, Trần Tam Hiệp, Nguyễn Hà chỉ huy.

― Trẫm chuẩn, ban ấn tướng cho Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Hoàng Chỉnh tấu:

― Muôn tâu, Hoàng thượng, điện hạ. Di thần thỉnh cầu Hoàng thượng ban ân, cho phép hạ thần cùng chuyết kinh hộ giá Hoàng thượng.

― Hay lắm, chuẩn. Hoàng Phi thay mặt Cần Lĩnh Nam khấu kiến:

― Muôn tâu, Hoàng thượng, bệ hạ. Di thần khấu kiến, Cần Lĩnh Nam Tam Tông thay mặt bảo đảm Mân Việt Vương Chu Thông Được phản Hán, còn ngoài mặt trận Cần Lĩnh Nam phối hợp quân binh triều đình quyét sạch quân Hán ra khỏi Trường Sa.

Vũ Đế, thái tử Hồ cùng Hoàng Phi đã thảo luận kế sách cho nên nắm rõ thắng bai chiến trận Trường Sa. Vũ Đế hài lòng lời phát biểu có ẩn ý trừ gian tế tại nghị triều nếu có. Ông trầm tĩnh tươi cười, như không có chiến tranh:

― Trẫm hài lòng, chuẩn. Ban ấn tướng cho Hoàng Phi, Vũ Thư Minh, Hoàng Biên, Hoàng Lữ Giao, Chu Hoa Thủy, Chu Trang Thủy. Vũ Đế ban chỉ phủ dụ an dân Trường Sa, bải triều. Vũ Đế hạ chỉ dụ, hai canh giờ sau xuất quân.

Sáng sớm mặt trời chưa nhô trên mặt hồ, sương mù còn phản phất lờ mờ, lúc lảng vảng trên mặt hồ vài con thuyền lớn nhỏ, lúc hiện tấp nập như đi trẩy hội, thấp thoáng có vài con xuồng phóng nhanh lao về phía trước. Xuồng độc mộc chồng chành chèo vội vã lước nhanh như lia thia trên mặt nước, chở Hoàng Phi len lách qua những chiếc ghe lương thực, dưới đáy chứa binh khí. Người bàng quan bình thản xem cảnh thiên nhiên Động Đình hồ đúng là nơi tiên giới đang hành hương, hay những ai yêu sống thoát tục. Người trong cuộc tấp nập, chuẩn bị cuộc chiến bắt đầu khởi sự. Chàng gọi Cần Lĩnh binh.

― Nhờ hiền huynh cắm cây cờ vuông vàng nhỏ trên mui xuồng.

― Dạ. Đây là dấu hiệu tập hợp thập thất anh hùng động Nam Khê Sơn tại cửa Tây Động Đình hồ, cứ ba khác có một xuồng cắm cờ vàng chèo đến gần xuồng Hoàng Phi, chàng lập trận đồ độn ngũ hành trong “Bát Quái Lĩnh Nam” chia thành: Kim, trấn thủ Đồng Tương hướng Tây, do Lệ muội, Trịnh, Xuân, Phụng Anh đệ phụ trách.

Mộc, trấn thủ Động Đình hồ hướng Bác, do Hoàng tỷ Lữ Thư, Chu Thông, Phụng Châu, Chu Thiện đệ phụ trách.

Thủy, trấn thủ hướng Nam, do Chu Hào, Đinh Anh Thi, Đào Phụng Hiệp phụ trách.

Hỏa. trấn thủ hướng Đông, do Lý Bình Trung, Đào Phụng Thương hộ giá Vũ Đế.

Thổ. Đích thân chàng trấn thủ phủ Tòng Giang, Động Đình hồ. Riêng Trịnh Đình Thông, Đỗ Trọng Kha, Đào Phụng Anh Tuấn, Đào Trần Mẫn Trâm hộ vệ Chu Thông Được tại thành Nhạc Dương.

Chàng âm thầm bấm độn xem cuộc chiến. Hôm nay ngày Đinh Hợi, ngũ cung phi tinh, túy nhập trung cung, ngũ sắc hà hướng Bắc, tụ thành ngũ cung phi tinh, là hung.

Tứ hà cung ở hướng Bắc gặp hành thổ lại thêm vào hành dương quả là càn chỉ rõ Nam Việt thắng trận.

Tiếng vó ngực cung kiếm quân binh Hán bốn phương xuất hiện tại phủ Tòng Giang giáp Đông cửa Động Đình hồ, hơn một vạn quân Hán mới đến nơi đã mệt nhừ vì di chuyển nhiều ngày đường xa, hạ trại tạm nghỉ, chờ sáng mai bày binh bố trận. Lữ Thư cùng Chu Thông giả binh Hàn vào trung ương tướng quân Hán, thấy một tên lưu linh trẻ đang uống rượu, mặc giáp bào đúng là tướng Hán, thế ngồi của y đã lắc lư theo chiều gió, hồi lâu đầu y ngẩn lên, Lữ Thư nói nhỏ:

― Hiền đệ à? y chính là La Tử Hiền (Độ Thiếu) để tỷ bắt sống nó, còn hiền đệ thủ cửa đừng sơ hở nhé?

― Dạ. Lữ Thư phi thân nhẹ tiến vào, La Tử Hiếu xuất ra một chiêu quyền “Nhất thập sát” Lữ Thư tránh né an toàn, tuy vậy bên tay trái vang lên tiếng “tét tét” nàng thấy tay áo bị rách tươm, chiêu số rất kỳ lạ, lần đầu tiên nàng tiếp võ học người Hán, Chu Thông biết bị trúng kế của La Tử Hiếu, quả là có gian tế đâu đây? Lữ Thư không xem thường địch thủ nữa, nàng hỏi:

― Độ đệ mạnh khoẻ không? bây giờ đã là tướng quân nhà Hán, thật không ngờ!

― Đúng thế, tại hạ chờ hốt hết động Nam Khê Sơn đám đệ tử của Hoàng Phi.

― Độ đệ à? mới một chiêu đừng tưởng lay gió xuân là đắt chí. Lữ Thư nói chưa dứt lời Độ Thiếu xuất chiêu quyền “Nhị sinh sát” Lữ Thư thấy nội lực của y có phần hung hăng hơn chiêu trước, lần này nàng đã đề phòng tránh không khó, nhưng nàng muốn thử xem đầu kiếm rung động đến đâu? Nàng vận nội công lên đầu kiếm tiếp một quyền “keng keng” đầu kiếm mẻ một góc, nàng gọi tên thật của Độ Thiếu:

― La Tử Hiếu, tên gian tế, hôm nay mi chờ kiếm lau cổ rồi. Ta đã ân huệ cho ngươi hai chiêu, La Tử Hiếu cười “ha hả”.

― Đúng thế, hai chiêu vừa rồi mới là điểm tâm, đây mới chính là chiêu bày cổ bàn để mời ta ăn nhậu, Lữ Thư ơi đã đến lúc chết không kịp ngáp đấy. Lữ Thư cười “hà hả”.

― Đồ cẩu trệ Hán, không biết thẹn thuồng ăn cơm tiên Nam thờ quỉ Bắc, mới được hơi mùi chao đỏ đã bỏ mắm cá lóc rồi, đúng là quân giặc nhà Hán không khác nào giặc Hồ. La Tử Hiếu trợn mắt:

― Mỗ về đây là để đòi mạng trả nợ thù nhà, không nói nhiều.

― Nợ nhà gì vậy? gia gia mi làm gian tế cho Hán, không lo làm ăn, nay mi cũng đi trên con đường cha mi, mi muốn đòi nợ hả, thôi thì để ta tiễn chân một đoạn đường, mi xuống âm phủ thăm viếng cha mi nhé? La Tử Hiếu sát khí đằng đằng, hai bàn tay đập vào nhau xuất quyền “Tam hồ khí” được nửa vòng, Lữ Thư đã xuất chiêu “Hỏa lô phệ hạp” hợp trên dưới hóa lửa sánh sáng, chớp đánh tan những sự ngăn cách, chiêu số đi thẳng vào lấy sinh mạng La Tử Hiếu, chỉ một chiêu trong “Bát Quái Lĩnh Nam” La Tử Hiếu hiện thành một đống thịt tươi. Nàng gọi Chu Thông:

― Chu đệ, chúng ta rời khỏi nơi này gấp? Lữ Thư cùng Chu Thông đem thây ma La Tử Hiếu đến báo nội tình trong đêm cho Hoàng Phi biết.

― Tướng Hán chính là tên La Tử Hiếu, tỷ đã hạ lệnh cho y ra mắt Diêm la, vào canh tư này tiến vào cướp trại Hán nhé? Lúc này Bạch Khẹc núp trong tay áo Hoàng Phi, chàng đã biết nhiệm vụ của La Tử Hiếu ở trong quân Hán, chàng cười.

― Tỷ tỷ à? tên La Tử Hiểu chỉ là quân cờ nhỏ trong quân Hán, y không phải tướng mà làm chó săn đó. Hiện cánh quân Hán ở phủ Tòng Giang này có ba tên tướng, tiền đạo họ Vi tên Mộc Quảng, trung đạo họ Từ tên Đồng, hậu đạo họ Trang tên Tú Cảnh. Hiện giờ binh tướng Hán bị động cho nên canh phòng nghiêm ngặc, tiến vào trại địch chưa tiện, vì chúng mới đến đã mệt mỏi, lại tiếp theo một đêm không ngủ, phải chở đến cuối canh năm, mới chôn thây quân Hán trên đất Việt. Trong binh pháp có nói “Không chiến bại người”

            Qua canh năm còn sương mù, Hoàng Phi xuất lệnh hơn ba trăm Cần Lĩnh binh rời thuyền, lên bờ tiến vào trận, đúng như dự trù tiền đạo Hán tướng Vi Mộc Quảng tử trận tan rã, nhưng không ngờ trung đạo do Từ Đồng điều động binh tướng như thần, tập hợp tiền đạo cùng trung đạo tiến về phía Cần Lĩnh Nam, nửa vạn binh Hán xáp chiến thuật “nhân hải”. Hoàng Phi thấy trước mặt quân số hai bên quá chênh lệch. Chàng la lớn:

― Tất cả huynh đệ lui bước, tại hạ xin làm trâu nghé không hề sợ cộp. Chàng cùng tỷ Lữ Thư và Trịnh Trường, cả ba ngồi xuống đất theo hàng ngang đồng vận nội công xuất hết chiêu thức trong “Bát Quái Lĩnh Nam” chuyển bảy thành công lực đẩy ra sáu mươi bốn chiêu cứ thế mà biến hóa, có lúc dùng hai tay cầm đất cát như đang dương cung tên đắng vào địch Hán “ào ào” không khác nào trận mưa bảo cuồng phong, quét sạch lá vàng trên cây dưới đất, binh pháp Hán lấy thịt đè người bằng trận chiến hải nhân tiến lên xác chết lớp lớp như núi, quân Hán chia thành tam giác tiếp tục tấn công, đúng như dự đoán của chàng trong trận đồ Hành Thổ. Chàng gọi:

― Đệ Chu Thông, Đào Phụng Châu, Chu Thiện chia thành tam giác, Tỷ tỷ bảo vệ Cần Lĩnh binh kết một vòng thành. Chàng chuyển Hành Thổ xuất tam chiêu “Sơn hỏa bí, Thủy hỏa ký tế, Phong hỏa gia nhân” phá tan tành trận tam giác của quân Hán.

Chàng thấy một bóng phi thân bay qua trước mặt điều động mộc binh tiến vào trận, tên tướng này tay cầm đao, trên lưng đeo một thanh kiếm, chàng nhận diện không sai chính là thanh kiếm của chàng, năm xưa tặng cho tướng Mã Tử Di người Tề quốc. Đối với người nhãn lực bình thường chỉ thấy một bóng nhòa khó biết kẻ địch đang động binh. Cháng nói thầm. Chà hôm nay mình gặp cao thủ Hán, chưa biết y là ai?

Chàng suy nghĩ. Trước nhất lấy thanh kiếm, sau đó chận đường tiến quân của Hán chưa muộn, chàng phi thân xuất chiêu “Đăng Thiên Khôn” trong “Đăng Thiên Lĩnh Nam” chưa đến nơi thanh kiếm đã ở trên tay, chàng đứng trước mặt tên tướng Hán:

― Thưa các hạ, có thể cho tại hạ biết danh tánh được không? Tướng Hán biến đổi sắc mặt, mà thần tướng vẫn bình tĩnh, thấy trên tay của Hoàng Phi cầm kiếm, Từ Đồng vẫn chưa biết thanh kiếm bị mất:

― Xin các hạ tránh ra một bên, mỗ không tiếp bất cứ ai trong lúc dụng binh đối địch, mỗ phải lấy xác địch để trả thù cho tướng quân Vi Mộc Quảng vừa tử trận, nếu các hạ là địch thì không có việc gì phải nói.

Từ Đồng xuất luôn một quyền tay ôm phong cuồng khí chuyển động mười thành công lực đẩy về phía trước. Hoàng Phi không phản ứng, thân đứng không động, ung dung tiếp nhận quyền của địch. Từ Đồng nhãn lực không tệ thấy kẻ đứng trước mặt như một núi kim loại rắn chắc! Từ Đồng thuận tay xuất chiêu quyền thứ hai lấy hết nội lực, Hoàng Phi bình thảng đứng tư thế cũ, chiêu này cuồng khí mạnh khôn tả, tà áo phất phơ, hai tay áo lộng gió reo lên “phập phập” Hoàng Phi mượn gió phi thân xa năm mươi thước có ý dụ tướng Hán ra khỏi trận chiến. Từ Đồng phi thân theo biết địch thủ phi tường:

― Các hạ là ai mà dám hỏi việc điều binh động mã, mỗ là tướng quân trung đạo có nhiệm vụ phục hồi Mân Việt.

― Thì ra các hạ là tướng quân Từ Đồng đây à?

― Đúng thế, còn các hạ là tướng Nam Việt ư?

― Không sai, tại hạ kính chào tướng quân, muốn hỏi một việc xin tướng quân cho biết.

― Việc gì?

― Thanh kiếm trên lưng có liên hệ thế nào với tướng quân? Từ Đồng lúc này mới biết thanh kiếm trên tay của địch chính là thanh kiếm của mình, rội hỏi:

― Tại sao các hạ đoạt thanh kiếm trên lưng của tại hạ và vào lúc nào? Hoàng Phi hỏi lại:

― Tướng quân chưa trả lời, liên hệ thanh kiếm này, còn lý do đoạt kiếm sẽ được trả lời sau.

― Được, thanh kiếm này tuy vô dụng nhưng nó là của gia bảo, tại hạ mất kiếm không khác nào mất người tâm phúc của gia gia tại hạ.

― Tốt lắm, thế thì các hạ là người ở xứ nào thuộc Hán?

― Tại hạ người xứ Kiếm Nghiệp, xưa kia thuộc Tề Quốc.

― Tốt lắm, tại hạ tạm đoán, có phải các hạ là người hạ thủ họ Mã tên Tử Di không? Phải nói thật không được dối nửa lời .

― Vô lý, tại hạ không bao giờ hạ thủ người ấy bao giờ. Từ Đồng ngạc nhiên tự hỏi: Tại sao gã này biết tên gia gia mình, cả thanh kiếm này. Trong đầu đang suy nghĩ, còn lòng lại bối rối, thì nghe hỏi.

― Thanh kiếm này của đại huynh họ Mã tên Tử Di người Tề Quốc, làm sao các hạ có được? Hoàng Phi dồn dập những câu hỏi Từ Đồng không thể nào trả lời cùng lúc được, vì sợ mọi bí ẩm bị địch khám phá, nếu không trả lời khó mà tránh được kẻ địch. Từ Đồng nói khéo:

― Những câu hỏi vừa rồi tại hạ có thể trả lời thỏa đáng, nhưng phải biết danh thánh của các hạ.

― Tốt lắm, tại hạ họ Hoàng tên Phi người ở xứ Cửu Chân, Nam Việt. Cũng nói thẳng rằng chính thanh kiếm này của tại hạ tặng cho đại huynh Mã Tử Di, trong sống kiếm gần chuôi có tên của tại hạ. Từ Đồng toát mồ hôi hột, cũng may gặp được chủ thanh kiếm.

― Từ Đồng xin khấu kiến Hoàng thúc thúc, gia gia của Từ Đồng chính là Mã Tử Di, ngày xưa kết nghĩa huynh đệ với thúc thúc tại trận chiến cương vực Ly Bộ, gia gia tặng ngọc Thanh Thanh, gia bảo, còn thúc thúc tặng thanh kiếm gia truyền. Người còn nói thanh kiếm này chỉ có thúc thúc mới sử dụng được. Hoàng Phi chưa tin lời nói của Từ Đồng, chàng hỏi:

― Để tránh mắt người, tại hạ cùng các hạ xuất vài hư chiêu rồi đi xa nơi này để nói chuyện riêng, cả hai đi khỏi trận chiến, Hoàng Phi hỏi tiếp:

― Vậy các hạ là người con trưởng của đại huynh, tên thực là Mã Từ Đồng có phải không?

― Thưa thúc thúc đúng thế, nguyên nhân thay đổi họ tên là để tránh tru di tam tộc họ Mã, lúc nhỏ gia gia đưa Mã Từ Đồng đến Kiếm Nghiệp ở là để đổi họ tên, đến nay Từ Đồng lập gia đình sinh được ba con trai, khai lại họ Mã. Hoàng Phi hiểu ý cười:

― Lúc trước mỗ hiểu chí lực của Mã huynh chỉ được một, nay gặp Từ Đồng hiểu được hai, hy vọng Tề Quốc được ngày phục hồi. Chàng hỏi tiếp: Mã huynh hiện nay sức khoẻ thế nào, ở đâu?

― Thưa thúc thúc, được tin sức khoẻ của gia gia rất tốt, nay gia gia tụ binh đang khởi nghiệp ở Tề Quốc.

― Tốt lắm, chí khí anh hùng tìm về cổ quốc, cũng như con kiến còn biết tìm cây lớn làm tổ, tại hạ gửi lời thăm gia gia nhé. Mã Từ Đồng cũng chưa tin Hoàng Phi, hai nữa cũng muốn biết giá trị viên ngọc:

― Thưa thúc thúc, gia bảo họ Mã chỉ có hai viên ngọc thanh thanh. Từ Đồng giữ một viên ngọc, nếu hai viên ngọc gặp nhau thì sáng rực rỡ, thúc thúc có đem theo viên ngọc không? Hoàng Phi hiếu kỳ, cũng muốn biết giá trị ngọc thanh thanh:

― Tại hạ có mang theo vật kỷ niệm này, vì nó là ân oán giang hồ một chữ nghĩa. Từ Đồng thấy ngọc như thấy họ Mã, đôi dòng lệ chảy, khóc thành tiếng, còn Hoàng Phi thì thấy hai viên ngọc gặp nhau sáng rực rỡ đúng như lời của Từ Đồng nói. Hoàng Phi cảm động:

― Hiền điệt, mỗ có nhả ý viên ngọc này trở về nhà họ Mã. Từ Đồng tiếp nhận, cúi đầu ba gật thay cho ba lạy. Từ Đồng suy nghĩ trong trận chiến này rất khó sử:

― Thưa thúc thúc, ngay bây giờ sử trí thế nào để lui quân.

― Được, mỗ đánh hiền điệt trúng thương chạy về trận, có vậy mới tránh được mắt người, mỗ búng vào một viên “Thanh Long đơn” để giữ mạng, còn đây là tiên đơn “Hạc Chu Thảo” sau năm ngày uống vào thì vết thương lành. Về nói lại với Mã đại huynh, khi nào cần đến mỗ thì đến Động Đình hồ, làm dấu hiệu HP sau năm ngày thì có mỗ.

            Từ Đồng bị thương chạy về phòng ngư Hán, binh mã đưa vào trại, tướng Trang Tú Cảnh xuất binh nghinh chiến. Từ lúc xuất trận đến giờ này Cần Lĩnh binh chưa tham chiến, Hoàng Phi gọi:

― Quí huynh đệ Cần Lĩnh Nam vào trận diệt địch. Tiếng hò reo vùng dậy cả một góc trời “tiến lên, tiến lên” quân binh Hán khiếp vía, vì hai trận vừa rồi quân Hán bị tan rã, xác chết chồng chất vô số, lấy nhân hải thí mạng không còn giá trị, quân Hán đành phải lui binh, Lữ Thư, Chu Thông, Đào Phụng Châu, Chu Thiện không bỏ lỡ cơ hội phi thân vào trận đánh với các tướng Hán, Lữ Thư giết được tướng Trang Tú Cảnh, còn Chu Thông hạ được phó tướng Mạnh Đào Hồ, Đào Phụng Châu trừ được phó tướng Mao Dự, Chu Thiên dẫn Cần Lĩnh binh đuổi theo địch, cuối cùng quân Hán chạy qua Dương Tử giang, chiến lợi phẩm vô số, đáng kể nhất là lương thực, ghe thuyền. Cờ thắng trận kéo lên tại phủ Tòng Giang.

            Trịnh Đình Thông, Đỗ Trọng Kha, Đào Phụng Anh Tuấn, Đào Trần Mẫn Trâm hộ vệ Chu Thông Được thành Nhạc Dương. Trận hướng Đông của Hoàng Phi dụng hành Hỏa, theo bày trận có dùng ngũ sắc, quân phục của người Hán để phá trận từ trong đánh ra Đồng Tương, hiệp với cánh quân trấn thủ Đồng Tương hướng Tây, do Trịnh Trường, Xuân Giao, Lệ Thanh, Đào Phụng Anh, hai cánh này dụng hành Kim, Hỏa đốt cháy quân Hán nằm la liệt như rừng phát hỏa.

            Do tướng quân Chu Thông Được thống lĩnh xuất trận phá Hán, theo trận đồ Kim-hỏa. Từ thành Nhạc Dương tướng quân Chu Thông Được ra lệnh, phân phối khăn quấn cổ ngũ sắc trắng, đen, xanh, vàng, đỏ cho quân binh, khi có cờ lệnh xuất hiện màu nào là tức tốc quân binh phải thay đổi khăn theo màu cờ lệnh.

            Năm ngàn quân binh khăn màu vàng xuất trận tiến ra khỏi thành Nhạc Dương, đánh bật một cánh tàn quân Hán chạy từ phủ Tòng Giang do phó tướng quân Thạch Cửu điều binh mã, tướng quân Chu Thông Được lấy trước thủ cấp tướng Hán tên Thạch Cửu, ra lệnh binh Hán bổ sung vào khăn vàng. Binh chuyển hơn năm mươi trượng, có tin cấp báo quân Hán từ hướng Tây chia thành hai ngã một tiến vào Đồng Tương, một tiến về Nhạc Dương. Tướng quân Chu Thông Được thay cờ xanh ra hiệu đổi màu khăn trên cổ, chận đường tiến quân của địch, đánh thẳng vào tiền đạo, ngũ tướng trẻ Văn Hảo, Đào Phụng Thương, Trịnh Đình Thông, Đỗ Trọng Kha, Đào Phụng Anh Tuấn, Đào Trần Mẫn Trâm điều quân theo cánh quạt, phân địch ra làm nhiều mãnh, diệt địch từng phần một, phối hợp quân binh triều đình, lấy yếu dụng mưu làm mạnh, cộng vào độn giáp đồ trận, thế đánh chẻ tre địch không tiến mà chỉ thối lui bỏ chạy.

Quân Hán nhạy cảm, nhận tin cấp báo quân khăn vàng nội công ngoại kích, không biết nguyên nhân nào Hán với Hán đối đầu rồi biến mất. Tiếp theo xuất hiện khăn xanh binh hùng mã cường, đội ngũ chánh khí kỷ phong, soái kỳ tung bay tiền đạo, theo sau vó ngựa mịt mù cát bụi, không khác nào đại thành đang di chuyển. Tả đạo tướng Văn Hảo thọc sâu vào tiền đạo của địch như chốn không người, còn tướng Hán tưởng quân nhà đón tiếp, quân hai bên so vai chen nhau trận cài răng lược, Văn Hảo thúc mã đến gần tướng Hán, nói thầm.

― Mỗ không được chùn tay với kẻ Hán, phải thừa cơ xuất kiếm lấy thủ cấp tướng Hán. Chàng không chần chờ xuất luôn ba chiêu thủ cấp Liêu Thừa rơi xuống đất, đồng phận hai tướng Hán tả hữu khai tử cho đi chầu Diêm vương. Văn Hảo ra lệnh:

― Tất cả quân binh mã tráng phục khăn cổ xanh, tiến qua bên tả địch.

Hoàng Phi nhờ biết phép lập trận đồ độn Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ thắng trận đầu tại phủ Tòng Giang, chàng dụng binh thần tốc, đánh về hướng Đông trợ chiến cho quân triếu đình, hộ giá Vũ Đế. Lữ Thư được phân công trợ chiến Mân Việt Vương. Trước khi Lữ Thư đi Hoàng Phi nhắc đi nhắc lai thật kỹ:

― Tỷ tỷ nhớ, cảnh giới cao nhất của binh pháp là “không chiến mà bại người” tránh tình trạng nhân hải, tùy thời cơ lập trận để thắng.

Lữ Thư đến nơi, đướng lược trận cùng với tướng quân Chu Thông Được, nàng thấy trong trận có một tướng Việt đông tây đột phá phòng tuyến địch, thân cốt thần võ, hữu dũng mãnh phi thường, hai đuôi chéo khăn xanh bay phất phới trong gió, tại trận đang đối địch nắm được thượng phong thế cờ, một chiêu kiếm, một chiêu quyền hai tay tiếp ứng với nhau, hai chân di động như rồng bay ẩn hiện, cứ thế quần thảo làm tướng Hán họ Dương tên Hối khiếp sợ. Nàng để ý võ học tướng quân Việt này không phải là hèn kém, kiếm pháp rất lạ chưa từng thấy. Nàng hỏi thúc phụ Chu Thông Được:

― Thưa thúc phụ, tướng quân đang tỷ đấu với tướng Hán xuất thân danh gia võ học thế nào, có thể cho nữ nhi biết không?

― Nữ điệt đã thấy đó, người tướng này họ Văn tên Hảo cháu chín đời của tướng Văn Chuẩn. Từ khi U Việt bị nhà Sở chiếm, cả họ Văn xuôi Nam lập nghiệp tại Trường Sa, riêng gia đình này có tất cả bốn anh em thừa kế nghiệp tổ văn võ lưỡng toàn, người đời tặng danh hiệu Văn tứ hùng. Người này là nhất hùng vẫn chưa lập gia thất. Văn tứ hùng nguyên là tướng quân tại phủ Mân Việt Vương ngày trước, sau khi thúc phụ bị người Hán ám hại, Văn tứ hùng triệu tập dân quân, luyện tập binh mã dự trữ lương thảo chuẩn bị phục nghiệp Mân Việt, nay là dịp Văn Hảo tứ hùng xuất binh trừ giặc Hán.

Nàng nghe thúc phụ nói xong xin phép lui về trại, lúm khúm bước đi mà lòng trồng tình, trồng ỳ. Chiều xuống Việt-Hán lui quân binh mã về trại dưỡng binh, cố thủ.

Tối nay tiết trời lành lạnh, trăng mới nhô lên ánh sáng vằng vặc, bước chân nàng lầm lũi nhẹ đi tới, đi lui trong lều trại, suy nghĩ hình ảnh một vầng dương quang chiếu những tia nắng đầu rung động trong lòng nàng kỳ lạ, nàng muốn xua đi sự suy nghĩ về một người xa lạ, nhưng nó vương mãi trong tâm trí của nàng hình ảnh không phai, dù có tiết trời đêm đông giá lạnh nàng vẫn cảm thấy sức ấm đâu đây.

Nàng thả bộ đến gần ngọn thác khổng lồ xem nước đổ “ầm ầm” bụi nước bốc lên bay theo gió phủ giăng. Nàng cảm nhận phía trước là núi rừng hùng vĩ, trong tiếng reo của thác nước có ẩn chứa khúc ca tình tự, khiến bất cứ ai cũng chung lòng với suối, khi đối mặt nói lên tận cõi tình không văn tự nào diễn tả hết lời ca của suối, nói chung trong văn võ cũng lấy thác nước chuyên chở chí hùng, chánh khí.

Bụi nước thấm vạt bào phục của nàng ướt sũng, bỗng có tiếng hỏi:

― Ai? Đã vào đây sao không chào hỏi, vô miếu sao không thắp nhan.

― Ở đây là suối, núi rừng không phải là nhà thì miễn chào hỏi được không? Văn Hảo nghe tiếng biết đây là một thiếu nữ. Chàng đáp:

― Đúng thế, ở đây là hướng Tây doanh trại của quân binh Mân Việt Vương, do tại hạ phụ trách, không một ai được lai vảng, chỉ gian tế mới có hành vi ngông cuồng đến đây nạp mạng mà thôi, xin cho biết danh tánh trước khi rời khỏi nơi này?

― Cũng được tại hạ họ Hoàng tên Lữ Thư hôm nay đã diện kiến Mân Việt Vương, buổi chiều tại hai có lược trận. Nàng xoay lưng lại thấy Văn Hảo mặc giáp bào, đứng tư thế pho tượng bấp thịt đồ sộ, lòng nàng lơ lửng trước thân hình vạm vỡ. Văn Hảo ngạc nhiên nhìn thấy thầm nghĩ. Đúng là nữ tướng Lữ Thư võ học phi thường, mà mình đã từng nghe danh, nhưng tại sao ở đây người như thần nữ trầm ngư lạc nhạn xuất hiện trong đêm, chàng hỏi:

― Tại hạ thất lễ không biết Hoàng tướng quân đến đây, xin thứ lỗi.

― Không có gì, không biết đó là thường tình, tại hạ cũng đã biết qua thân thế của Văn tướng quân, đúng là anh hùng tai nghe không bằng mắt thấy, tại hạ để lòng kính phục Văn tướng quân.

― Tại hạ chỉ là một người rất tầm thường, không đáng gì để nữ tướng quan tâm, âu cũng vì thời thế nên tại hạ dụng tạm một ít võ nghiệp để báo đáp thù nhà nợ nước.

― Hay lắm, tại sao các hạ lại có suy nghĩ này?

― Tại hạ là dân Việt thì không thể nào chấp nhận sống chung với ma quỷ Hán, mình là Việt thì không thể xa rời tôn tộc. Ngày trước ma quỷ Hán chiếm cứ cơ đồ U Việt, đất mất, nhà tan, dân lầm thang khố khổ, mối thù này quyết không đội trời chung với Hán. Nàng cũng muốn biết thêm về kiến thức của Văn Hảo:

― Thực ra thì Sở chiếm U Việt mới đúng hơn. Văn Hảo dẫn giải:

― Đúng vậy, khi nhà Sở chiếm U Việt được bốn năm thì Sở suy vi, lúc này toàn dân U Việt nổi lên chống lại nhà Sở, Tổ họ Văn đời thứ ba được toàn dân và Hoàng thân đề cử đứng đầu binh mã khởi nghiệp, quả thực U Việt chưa đến nổi phải suy vong đã lấy lại hơn ba phân đất tổ, lúc này Hoàng thân chuẩn bị lập Hoàng đế trị vì U Việt, nhưng không ngờ nhà Hán thừa lúc Sở suy vi trầm trọng, U Việt chưa lập vua, Hán đưa quân tiến vào chiếm Sở, bảy tháng sau nhà Hán mới chiếm được U Việt, có nghĩa là Sở mất trước rồi U Việt mất sau, cho nên mới gọi là Hán chiếm U Việt mới đúng hơn.

― Thế à! Tại hạ thán phục trí lự đại huynh, thảo nào tướng quân kiệt xuất văn võ, đáng để lòng ghi nhớ.

― Thưa nữ tướng, võ học của tại hạ tầm thường lắm, không chủ yếu để giết người, mà để ngăn cản người khác giết người, can gián người không được xâm phạm cương giới, tại hạ hằng tâm chỉ xin một tay cộng lực vào việc bảo vệ tôn tộc Bách Việt.

― Hay lắm, cõi đời này hiếm ai sánh bằng tâm chí của hiền huynh, nay muội xin hỏi về tình riêng, hiền huynh niên kỹ thế nào để dễ xưng hô.

― Tại hạ nay đúng hai lăm.

― Hay lắm vậy từ nay gọi nhau bằng huynh muội tiện không?

― Ý này rất hay, nhưng tại hạ không dám vì thân thế quá thấp hèn! Mạng phép nữ tướng quân xem lại.

― Thưa hiền huynh xem đây là tình huynh, muội không biên giới thấp hèn hay cao trọng, đã là người có ý chí thì không mang nặng cái vỏ xác thân tầm thường mà phải hướng thượng để nhìn mặt trời.

― Nếu cho phép thì tại hạ vâng theo.

Văn Hảo khám phá trong nét đẹp kiều diễm của Lữ Thư hiện dưới ánh trăng, trong đôi mắt Lữ Thư là luồn sáng từ suối hắt lên khuôn mặt của nàng, màu trắng hồng như thiên thần xuất hiện, có những vì sao đang quyện tỏa mây trùm chung quanh. Hồn phách chàng đang đi vào đại lộ thênh thang, có thể lạc lối không về thực tại, đôi khi chàng còn bay bổng phơi phới trên mây. Trong tâm hồn riêng chàng nói: Nếu mai này nàng lâm trận chiến bị thương, thì ta phải phi thân vào để cứu nàng, nàng nhất định phải sống. Khi ấy ta đặt nàng trên phiến đá bên cạnh bờ suối này, vận nội công cứu nàng, lấy thuốc giải độc, những gì ta làm hoàn toàn trong ý thức tình yêu, nếu nàng cho phép, bằng khả năng hiện có, ta hy vọng nàng sẽ để lòng hiểu được ý ta.

Bỗng chàng hồi trí về thực tại, tự trách mình. Quá tự tin tại sao nhỉ, mình có ý niệm vô duyên thế. Văn Hảo lòng hơi thẹn biết mình không xứng đôi với họ Hoàng. Lữ Thư đọc được một phần nhỏ trong suy nghĩ của Văn Hảo:

― Hiền huynh đối diện với quân binh nhà Hàn thì thế nào, còn đối diện với một người mình mến thương thì ra sao?

― Người làm tướng đối địch không được tự phụ, kiêu hãnh, lấy phép điều binh để đoán ra địch thủ, đây là ba việc không thể khuyết điểm trong đời làm tướng. Người làm tướng cũng để lòng Quốc pháp hưng thì quốc vận thịnh, Quốc pháp xuy đồi thì quốc vận diệt.

Còn về liên hệ nam nữ thì khó nói vô cùng, chỉ trừ gặp nhau trên một điểm khởi thì ý mới hợp, đôi khi có thứ tình yêu tao nhân thế ngoại, hay tình yêu bỏ chấp nhất quên quá khứ, cũng có tình yêu rượu lạc vô vị nhưng khi có tri kỹ rượu sinh ra hậu, ngoài ra còn có những tình phụ đạo vì động tình hại thân, xuy tình hại tâm, theo huynh biết chỉ có tình yêu cao thượng nhất là “nhất nhật vi sư, chung thân vi sự” Lữ Thư hài lòng. Tự xem như gặp được đồng hành trình.

Năm ngày hưu chiến, nàng cùng chàng thường gặp Mân Việt Vương trao đổi cuộc tấn công, ngoài ra hai người có những việc riêng mà người ngoài cuộc khó ai biết được, chàng có ý tìm hiểu về nàng, khi gặp dịp tỏ lời phối ngẫu.

Hoàng Phi đến chiến trường Đông tại phủ Băng Giang, đúng lúc quân Hán đang mở trận nhân hải lần thứ bảy, trước mắt xác quân Hán chồng chất như núi, tử thi lâu ngày hòa vào khí hậu nóng bức đốt đen bầm cương phồng no tròn như những con bò chết, sương gió biến thành chướng khí hôi, tử thi da bị nức chảy mở, chiến trường vẫn đằng đằng tiếp tục phơi thây.

 Mỗi ngày quân Hán mở một cuộc chiến nhân hải, tướng Hán thí quân như loài thiêu thân, riêng khí thế quân Nam Việt vẫn kiên cường, quân tướng cùng nhau kết lại kiên cố thành quách. Lý Bình Trung trình bày trận chiến.

― Thưa đại huynh, trận chiến này luận về quân số Nam Việt thua Hán hai mười lần, luận về tướng Việt trội hơn Hán ba lần. Những ngày đầu trận chiến quân Việt tử trận nhiều, khó hiểu nổi nguyên nhân, vào giờ Dậu quân binh bị ngộ độc trên ba ngàn, đến giờ Tý quân Hán tràn vào Trường Sa, quân binh Việt không một ai chiến đấu được, tử trận tất cả xem ra là phi lý, riêng Tướng quân Nam bình hầu Triệu Hành Giả cùng binh mã chạy thoát khỏi nhưng bị bao vây tại núi Băng Đông. Nhờ có trận đồ Cung Hỏa mới giải vây được Triệu Hành Giả. May phát hiện được mưu bán quân binh Việt của Triệu Hành Giả. Vũ Đế xuất chỉ trảm y hôm qua, trong vụ này còn có nhiều tướng quân khác bán khí giới, lương thảo cho Hán.

Nhờ trận đồ Cung Hỏa chế ngự được quân Hán tiến công, họ ra sức để thắng trước một bước nhưng vẫn không thành. Những ngày qua nếu không có thúc bá, thúc mẫu, gia gia mẫu thân, Khải huynh, Hương Trí Túc công chúa và quí huynh đệ Nam Khê Sơn thì khó mà hộ giá Hoàng Thượng.

Đệ cũng không ngờ Khải huynh võ học

uy lực vô hình, vô sắc còn lại vô biên, chế ngự được các cuộc tấn công nhân hải của Hán. Mỗi chiêu thức xuất ra là toàn khối thịt nhân hải ngã đổ rạp đất chẳng khác nào cỏ rạ bị một lưỡi hái phớt ngang. Kiếm pháp của huynh tuyệt đẳng tùy theo ý mà thu phát bất cứ lúc nào cũng thuần.

            Còn về y thuật, quân binh bị thương Khải huynh dùng hai bàn tay nhả ra nguyên khí để điều hòa nội tạng, rồi chuyển hóa chân nguyên áp song thủ vào hai kỳ huyệt sinh tử “huyền quan”, những làn khói độc tỏa ra ngoài vì vậy quân Việt thoát khỏi tử thần, không thiệt hại nhiều.

Theo lời của Lý Bình Trung trình bày, trong lòng Hoàng Phi vui mừng anh mình đã tìm được võ học bí cấp “Dược Giới Lĩnh Nam” và “Đăng Thiên Lĩnh Nam” Hoàng Phi tiết lậu mặt trận phía Bắc:

― Nói cho cùng những tướng Việt ngoài mặt trận thèm khác duy tình, duy kim ngân, đó là cái bệnh khó chữa trị, cho nên có hậu quả tướng quân tiền phong Đặng Hà Đàm thua trí quân Hán mới tự vẫn, tướng Hổ trung lan Võ Khố bỏ ngỏ chiến trường vì tự kỷ tài năng, làm tướng thiếu đức mới chết dưới đao tướng Hàn Bành Khậu, tướng Điện tiền thái úy Triệu Long Ân cũng không hơn, nay mai Mân Việt Vương sử tử y thôi! giờ này mặt trận phía Bắc đã yên, chỉ còn mặt Đông và Đồng Tương.

Hoàng Phi nghe tiếng binh mã quân Hán sầm sập lao tới tấn công, vừa rút binh khí chưa xuất chiêu thì một ánh chớp xanh biếc nhoáng lên rồi vụt tắt. Một lớp người ngã xuống, quân Hán cứ tiến lên từng đội hình như sóng vỗ vào bờ, mỗi lớp thi nhau ngã gục. Vũ Đế biết Hoàng Phi đã đến trợ chiến, ông phất soái kỳ hiệu lệnh cho tướng Nam Việt tấn công thần tốc chỉ diệt tướng Hán không diệt quân binh Hán.

Vũ Đế phi thân đứng trước tiền đạo, tất cả tướng Nam Việt đồng phi thân theo, Hoàng Phi khen thầm. Trận đồ “Đại La Thiên Đế” (Lưới Trời) ở hậu quân Hán, do một nhân kiệt người Nam Việt tuyệt thế bày ra. Trong trận đồ có cửa cửu trùng hộ giá Thiên Tử, còn lại mười một cửa mở ra khép lại không ngừng, tướng Hán xa vào cửa nào cũng bị kỳ ngũ sắc đánh phanh thây, tuy vậy cửa cửu trùng còn một sơ hở không đáng kể. Hoàng Phi suy nghĩ. Ta âm thầm bổ túc vào ngũ hành trận “Đại La Thiên Đế” cho được hoàn chỉnh hơn. Hoàng Khải thấy trong trận có thay đổi ở cửa cửu trùng, chàng an tâm hiểu ngầm chính Hoàng Phi đưa ngũ hành vào trận.

            Đứng trong trận đồ “Đại La Thiên Đế”  Quân tướng Hán cũng không phải là kẻ hèn, biết lập trận đồ “Hậu Tiêu Chung” nhưng không phải cao thủ của Hoàng Khải và Hoàng Phi. Tất cả tướng Việt-Hán quyết tử thắng thua trong trận này.

Trong trận đồ tướng quân Nam Việt có cửu trùng Vũ Đế trụ cung Càn, Hoàng Phi và Bạch Khẹc hộ pháp cửu trùng hộ giá Vũ Đế, trong trận ngũ hành Cung Càn rất quan trọng. Công chúa Hưng Trí Túc, Hoàng Khải thị sát vận chuyển trận đồ trụ Cung Khôn. Hoàng Biên, Hà Thanh Phụng trụ Cung Khảm. Lý Bình Trung, Đào Phụng Thương trụ Cung Cấn, Hoàng Chỉnh, Hiệp Khách Lan, Lê Trung Kha trụ Cung Chấn. Hoàng Lữ Giao, Hoàng Lữ Trinh trụ Cung Tốn. Lê Đạt, Võ Thu Hồ trụ Cung Ly, Phùng Nam, Mạc Thu Tá, Nguyễn Tào Đang trụ Cung Đoài.

Hoàng Phi còn khóa tất cả trận đồ “Hậu Tiêu Cung” không cho quân Hán một cơ hội nào tẩu thoát, chàng điểm thêm vào trận ngũ âm, như Cung, Thương, Giác, Trỉ, Vũ trong ngũ âm có tác dụng hòa tấu tiển đưa quân tướng Hàn xuống chầu Diêm vương, ngũ âm do Xuân đệ và Lệ muội trấn nhậm.

            Bên Hán có trận đồ “Hậu Tiêu Cung” Phó Như Thứ trấn thủ Bạch dương, Tạ Kính Hương trấn thủ Kim ngưu, Gia Hồ Bình trấn thủ Thất nữ, Bình Ngũ trấn thủ Thiên binh, Khưu Liên Khôi trấn thủ Thiên át, Tăng Bạch Nhỉ trấn thủ Ma kiết, Thái Ma Ma trấn thủ Thích binh, còn lại ba cửa Song nhi, Cự giải, Nhân mã không người trấn thủ, quả là một trận đồ vô dụng.

            Trận chiến Thiên-ma tại phủ Băng Giang bắt đầu. Hoàng Khải miệng hô chưa trọn câu chàng đã xuất chiêu “Hà thanh xà” như sợi lụa xanh lao tới Bạch dương quấn lấy Phó Như Thứ, một tiếng rú của y thảm khốc vọng từ trong trận ra ngoài trận, địch nội ngoài trận cũng vì tiếng rú của Phó Như Thứ mà đổ sầm xuống đất. Phó Như Thứ giãy giụa, tắc thở tức thì. Công Chúa Hương Trí Túc xuất luôn một quyền “Quyết châu môn” trong “Quyềt Thanh Công” võ học nhà họ Triệu, đẩy xác Phó Như Thứ bay ra ngoài trận đồ, binh mã Hán thấy soái tướng bay trên không trung rơi xuống đất biến thành bải phân trâu có tẩm phẩm đỏ.

Hoàng Biên, Hà Thanh Phụng trấn thủ Cung Khảm, tên tướng Hán đướng trước mặt là Thái Ma Ma, y bị trận vây hảm đánh mãi chưa biết bên nào thua thắng, nữ hiệp Hà Thanh Phụng bị một quyền “Hồng đan độc” kèm ám khí “Thạch sa” trong người đang thiêu đốc nổi lên cơn khát nước trầm kha, đứng như bị trời trồng bất động, nhưng nếu nhìn kỹ thì giữa tam tinh của bà đó một chấm đỏ rịn máu.

Hoàng Biên biết Hà Thanh Phụng trúng độc, ông bảo:

― Ngồi xuống vận khí, tịnh chế động thì sẽ khỏi, trong lúc tinh thần bất nhất cho nên Hà Thanh Phụng không để ý dụng tịnh chế độc, khi nghe tướng công của bà nói mới tự chế động.

Hoàng Biên để ý gã ma đầu này chuẩn bị chiêu thức gì trong trận, thì ra chỉ có “Thạch sa” gọi là ám khí phi thường của y. Hoàng Biên vốn trừng trải cõi giang hồ, võ học của ông lúc này đã đạt ngoài cõi thượng thừa, trí tuệ thông thái sinh ý niệm. Lúc này phải quyết định không thể chùn tay trước địch thủ, ông xuất chiêu thức “Hoàng long thanh” kiếm chuyển nhẹ như chiếc lá bay là đà theo con gió yếu, kiếm đã xuyên qua yết hầu Thái Ma Ma chẳng khác nào mũi dùi nung đỏ xuyên qua cây chuối hột, vài tên quân binh Hán cũng đồng cảnh tử trận, xác chết cháy da thịt “xèo xèo” ngã xuống đất một loạt biến thành xâu cá mè ngư phủ trúng mối chài, ông đến gần Hà Thanh Phụng hỏi:

― Muội thế nào có khỏe chưa.

― Thưa huynh, muôi đã hồi lại được công lực rồi, đa tạ tướng công.

― May quá, muội làm huynh lo vô cùng.

Lý Bình Trung, Đào Phụng Thương thủ Cung Cấn, thấy Tăng Bạch Nhỉ xuất một chiêu kiếm vào Ma kiết, không biết từ đâu nhảy ra một áo quan tài, phát ra tiếng kêu răng rắc rời rạc rơi xuống đất từng hạt máu đen với lời nói truy hồn.

Trịnh Bình Trung biết đây là yêu thuật, chàng nói với Đào Phụng Thương:

― Đệ hãy tĩnh tọa gấp mới phá được yêu thuật. Trịnh Bình Trung và Đào Phụng Thương đã đạt đến cảnh giới siêu hoá nhưng vẫn có cảm giác yêu thuật hung tợn, đứng truớc tên Hán này phải có một lời thách thức với y thì khí hư của Tăng Bạch Nhỉ mới tan biến được. Chàng nói:

― Mỗ đã phá được yêu thuật của mi rồi, đừng giở trò gạc người nữa. Tăng Bạch Nhỉ cười “ha hả”.

― Áo quan tài của mỗ tuy nhỏ mà nó có thể chứa được ba mươi ngàn tro cốt quân binh Nam Việt đấy nhé. Đào Phụng Thương cười lớn.

― “Ha hả” Trước mặt áo quan tài này, chỉ để chứa bốn ngàn tro cốt của người Hán đang nằm ngoài trận đồ “Hậu Tiêu Cung” của mi đó.

Trịnh Bình Trung thảy vào áo quan một vật hư mà thực.

― Mỗ tặng cho chó một bải phân ăn đi rồi luyện công, cũng là vật để hồn phách khỉ yêu ma hồi thiện. Tăng Bạch Nhỉ tím người đỏ mặt, biết thuật gọi hồn bị kẻ đứng bên kia trận phá thối.

― Tốt lắm, xem đây số tinh của mi không qua khỏi tam khắc. Tiếng trong trận sấm sét “ầm ầm” như cái oai nổi giận của thiên lôi.

Lý Bình Trung, Đào Phụng Thương lấy quyết định đồng xuất ba chiêu “Địa hỏa minh di” “Sơn hỏa bí” và “Thủy hỏa ký tế” nhưng mới đến chiêu “Sơn hỏa bí” thì Tăng Bạch Nhỉ đã không còn mạng, thân thể của y cháy đỏ như ruột trái gấc, sự đã xong từ hỗn mang biến thành trật tự, chiêu thứ ba xương thịt hòa vào đất cát, mọi vật ở đúng chỗ biến thành yên lặng.

Hoàng Chỉnh, Hiệp Khách Lan, Lê Trung Kha đứng trong Cung Chấn, thấy Gia Hồ Bình chân tay thủ thế trấn giữ Thất nữ. Hoàng Chỉnh hít một hơi thật sâu, gọi:

― Gia Hồ Bình hãy đầu hàng thì sống, chống cự lại thì chết.Gia Hồ Bình nhìn tứ hướng dòng lệ tự tuôn trào, người đứng trân không chớp mắt, biết đến đây là tận số, vì ít nhất đã thấy cái chết soái tướng phó Như Thứ biến thành bải phân trâu, còn Thái Ma Ma chết như xâu cá nướng.

Tăng Bạch Nhỉ chết cháy xương thịt hòa vào đất cát, ba đồng liêu chết không toàn thây, tấm gương này phản chiếu sự thật trước mặt đã chứng kiến trận chiến trên đất Nam Việt hôm nay đúng là máu chảy thành sông, thây chất thành núi… Gia Hồ Bình đáp:

― Thưa quí các hạ, mỗ đã chịu đầu hàng, hãy phế võ công mỗ đi. Hoàng Chỉnh cười  .

― “ha hả” Tốt lắm, các hạ tự phế lấy võ công, có như thế mới thể hiện được tính anh hùng. Hồ Gia Bình đưa tay trước ngực, nói:

― Đa tạ quí các hạ, nhắc nhở hãy xem đây. Tay đánh vào đơn điền “bụp” một tiếng, thân thể đổ xuống đất nằm dài vô tư đi về cõi khác. Hoàng Chỉnh khen:

― Đúng là anh hùng không hổ danh, đầu hàng cũng chết, thà chết như thế còn lưu danh anh hùng.

Hoàng Lữ Giao, Hoàng Lữ Trinh trấn thủ Cung Tốn, bên quân Hán có Bình Ngũ liên thủ Thiên binh. Bà nói với Hoàng Lữ Trinh.

― Hôm nay tình hình chiến trường quá căng thẳng, lấy máu chan vào thịt xương, nghĩa vụ quân binh tướng sĩ phải định đoạt số phận Nam Việt, phạn làm tướng phải biết bốn chữ “Bảo vệ dân tộc” đó là chân lý anh hùng bất khuất, đứng trước kẻ địch lòng ta vô ngại.

Bà nói xong rít một luồng chân khí căng phồng lồng ngực, hai tay thủ đốc kiếm xuất nội lực, mũi kiếm chênh chếch đi thẳng đến yết hầu của tên tướng Bình Ngũ. Bà thét lớn một tiếng kiếm pháp uy vũ, về Bình Ngũ không phải là kẻ tầm thường, y nhoáng chân tránh được chiêu kiếm, thân thể của y xoay vần tròn xuất hiện một sợi xích sắt khua loảng xoảng đang cầm trên tay, tuy y tránh được thế kiếm mà toàn thân đã toát mồ hôi, xuýt nữa kiếm xuyên qua yết hầu. Y nghĩ thầm. Con mụ này kiếm pháp quả là lợi hại, mỗ chưa bao giờ gặp được người thứ nhất trên đời này như hôm nay, nếu mỗ bắt được sẽ lấy làm nương tử, y nói:

― Này nương tử bỏ kiếm xuống, hãy theo mỗ mà hưởng hạnh phúc cả đời, đừng làm nữ tướng Nam Việt. Hoàng Lữ Giao cũng phải công nhận tên Hán này nội lực khác thường. Bà suy nghĩ. Rồi đây y phải chết dưới kiếm của ta, y làm tướng mà xem thường địch thủ, còn háo sắc, dục tình, đó là khuyết điểm lớn của người làm tướng, nhất là người Hán thấy đàn bà như mèo thấy thịt mỡ, bà trả lời.

― Thưa tướng công, chuyện tình thì có nhưng chuyện binh đao thì phải phân minh. Chỉ một câu nói ngọt này thôi, tâm thần Bình Ngũ không còn nội lực. Hoàng Lữ Giao nói với Hoàng Lữ Trinh:

― Tỷ dụng kiếm nhu, muội dụng kiếm cương, tỉnh động tấn công bằng chiêu thức “Phong hỏa gia nhân” rồi phối hợp “Hỏa lôi phệ hạp” nhé?

― Dạ, tỷ an tâm cứ theo thế mà xuất chiêu. Bình Ngũ tự đắt, tay đưa lên sợi xích sắt đứng thẳng rồi khua loảng xoảng, khuôn mặt của gã đại Hán ẩn tàng những nét sát khí mà bất cứ một người nào chạm nhãn cũng phải e dè. Sát khí đó còn ẩn hiện qua vết thẹo dài ngoằng trên mặt, xích sắt còn khắc họa vào cá tính của một kẻ thích giết người. Cùng với bộ pháp phân thân thần kỳ, xích sắt của Bình Ngũ cũng kết thành những đóa hoa nhoang nhoáng ập tới đối phương, ông nói:

― Sao nương tử, xuất thủ cho bản nhân xem đi chứ, đứng đó làm gì. Hai nữ tướng cùng xuất chiêu họ Hoàng, vào điểm đứng Thiên binh của Bình Ngũ thành một vùng đất khô hạn, nứt nẻ, nhăn nheo. Bình Ngũ tránh được vượt qua tất cả bằng chính nghị lực phi thường của bản thân. Nhị nữ họ Hoàng biểu lộ võ học cùng ý chí phi thường, chuyển qua tuyệt kỹ “Phong hỏa gia nhân” xuất nội công mãnh liệt, phong ba bão táp “vù vù”. Bình Ngũ bỗng dưng đôi mắt sáng ngời đóng đinh vào Hoàng Lữ Giao, Hoàng Lữ Trinh như trời trồng, rồi từ từ thân thể Bình Ngũ lún dần xuống đất, đến lúc chỉ còn lại nửa thân người, Bình Ngũ biết đã gặp phải địch thủ, ông vận dụng hết toàn lực nội công của bình sinh xuất một quyền chôn xích sắt vào lòng đất, ông nói lời cuối:

― Hôm nay mỗ chết dưới kiếm của hai người đàn bà Nam Việt, thôi rồi một đời làm tướng hữu dũng vô mưu! Chỉ vì cái dục tính phải chôn anh hùng. Bình Ngũ này chết để lại miệng bia chê cười, một dĩ vãng anh hùng đất Hán trở thành bại tướng! Bình Ngũ chết đứng dưới đầm sâu.

Hoàng Lữ Giao, Hoàng Lữ Trinh phối hợp xuất luôn chiêu “Hỏa lôi phệ hạp” một phần tư thân thể Bình Ngũ mang theo thủ cấp, văng ra ngoài trận rơi xuống đất, quân Hán khiếp đảm thấy tướng quân tử trận phanh thây. Hai nữ tướng họ Hoàng thắng trận, ghi tên tướng Hán Bình Ngũ rồi cấp tờ công văn bại trận đi chầu A tỳ.

Lê Đạt, Võ Thu Hồ trấn thủ Cung Ly, bên Hán có tên tướng Tạ Kính Hương da mặt lồi lõm nhiều vết sẹo ngang dọc, đúng là hung tướng, đầu đội kim mao, tay chắp sau lưng cầm thương, thế bước chặm chạp trong Kim ngưu.

            Lê Đạt giũ vạt áo trường bào, khoan thai đứng nhìn Tạ Kính Hương, còn Võ Thu Hồ ánh mắt hừng hực toát ra thứ quyền lực uy nghi tột đỉnh khiến người khác phải khuất phục. Ngược lại ánh mắt của Tạ Kính Hương khác nào gáo nước lạnh vô tâm, vô cảm phủ lên thứ võ biền đang muốn ăn thịt người.

Thời gian tuần tự trôi qua đến lúc phải khởi động đầu kiếm, hai bên đao kiếm nổi sóng gió. Lê Đạt tinh thần đởm lược còn hơn cả những bậc đại soái Hán, Hán tướng Tạ Kính Hương nhìn thoang thoáng cũng đủ tưởng tượng trung niên Lê Đạt có nội lực thép, nhìn qua Võ Thu Hồ hình dung được một hữu nhân xác thể không còn cảm nhận ngoại cảnh. Tạ Kính Hương tự thầm. Đất Nam Việt có những pho tượng hùng vĩ như thế này thì ai có khả năng đánh đổ xuống được!

            Tạ Kính Hương liền xuất mười hai chiêu thức đao, gió bụi nổi lên khắc mặt đất “vù vù” khí đao phát ra nghe rợn cả cột sống. Thời gian tiếng đao tự do “vi vu”, còn Lê Đạt và Võ Thu Hồ cứ để trôi qua trong sự yên tĩnh đến độ ngỡ như cả không gian trong trận đồ là chốn vắng lặng, không gian một cõi chối bỏ tất cả những mầm sống không còn tồn tại.

Tam khắc dằng dặc của thời gian lẫn không gian cô tịch, điểm vào nội lực chí khí tung hoành, vượt qua mọi vật cản trở, nội công thần kỳ vùng dậy trong Lê Đạt và Võ Thu Hồ, đồng xuất đôi song kiếm múa “vùn vụt” tạo thành bức tường kiên cố, phong tỏa được lực đao của Tạ Kính Hương.

Hai ánh quang kiếm xuyên qua vách trận đồ rồi dừng lại. Tạ Kính Hương hồn phách biến mất chỉ còn cái xác hết thần, ông nói thầm. Đến lúc mỗ chết dưới hai tay kiếm khí vô ảnh rồi! Làm sao sống được bởi một kiếm đã vào yết hầu, kiếm thứ hai đã vào đơn điền.

Tay đao của Tạ Kính Hương từ từ rơi xuống đất phát ra tiếng “lẻng kẻng” ai nghe qua cũng lạnh lùng, đao trở thành vô chủ, thân thể Tạ Kính Hương nằm trên mặt đất, không còn ánh hoa đao bay phất phới, như trước khi nỗi trận đao kiếm trong cơn giận dữ, tướng Hán cau mày, nói:

― Bây giờ mỗ càng hối hận, càng thêm sầu. Tạ Kính Hương nói được nửa câu, thần thổ địa rước đi cống triều Diêm vương.

Phùng Nam, Mạc Thu Tá, Nguyễn Tào Đang đứng trong Cung Đoài, còn tên Hán trấn thủ Thiên át là Khưu Liên Khôi, y có tuyệt tài phóng ám tiển. Thân thể trung niên vạm võ khoẻ mạnh hơn người, như có vẻ u uẩn hiện rõ trên nét mặt. Y đứng án ngữ trước trận đồ, bào giáp kim y nai nịt chỉnh tề, tay cầm Lang Nha đứng như hai ông Thiện ông Ác canh giữ lăng tẩm, vẻ mặt như được trét sáp trông thật lạnh lùng. Nam Việt Vương Phùng Nam thấy tên Hán này không khác nào hộ pháp, ông lên tiếng trước:

― Tướng quân là kỳ thủ lẫy lừng, sao người không tạo ra uy thế riêng mà lại theo chi những tên tướng vô dụng, bất tài, vô mưu phận làm tướng như thế còn gì để lưu danh!

Khưu Liên Khôi vừa nghe một cụ già nói liền quay ngoắt lại. Hai mắt y trợn trừng trừng, chừng như muốn dùng ánh mắt cay nghiệt đó cướp lấy linh hồn của kẻ đang đứng trước mặt, cây Lang Nha với ánh mắt cay độc, tràn ngập đe dọa địch thủ bằng khẩu khí:

― Bổn tọa làm tướng lấy dũng lược là chính, còn những thị phi xem như vô hại. Đây cũng là dịp để bổn tọa khống chế tiêu trừ mấy con Nam Việt “ha hả”.

Nam Việt Vương Phùng Nam nói thầm. Đây là con ma khát máu của Hán, mỗ còn chần chờ gì nữa mà không ra tay trị chúng.

― Này con ma khát máu, mi ở trong mộ đầu thai khi nào vậy, hãy sớm quay đầu về cổ mộ, nếu chểnh mảng thì đừng có trách mỗ không vị tình. Mạc Thu Tá đứng cạnh xuất chiêu “Địa sơn khiêm” Nguyễn Tào Đang xuất chiêu “Trạch địa tụy”.

Nam Việt Vương lâu ngày không dụng võ hôm nay có dịp cũng xuất chiêu “Thiên địa bỉ” Ba chiêu thức biến hóa thành thế tập kích đối phương, Khưu Liên Khôi làm sao mà chịu nổi, dù có sức mạnh phi thường cũng phải hứng trọn một kiếm tại yết hầu, một kiếm tại đơn điền và một kiếm tại tam tinh, Khưu Liên Khôi có Lang Nha vô thanh, vô sắc cũng không đối bằng ba thanh kiếm “Bát Quái Lĩnh Nam”

Cuộc tranh hùng Việt-Hán phía mặt trận đông, nhờ Hoàng Khải lập trận đồ “Đại La Thiên Đế” ít hao binh tổn tướng đem lại chiến công hiển hách. Hoàng Phi khám phá có một nữ nhân ở trong liều vải của tướng soái quân Hán, chàng phi thân vào trận thộp cổ được mụ già Phạm Thuy Ngu. Tin này được tấu lên soái tướng Vũ Đế, nhàn vua hạ chỉ bất cứ ai theo quân Hàn làm phản đều bị trảm để làm gương cho kẻ khác, tức thì mụ độc trùng Phạm Thuy Ngu đem ra pháp trường. Chỉ dụ thứ hai gửi cho Nam Việt Vương Phùng Nam lập danh sách giới giang hồ già ở Giang Nam gửi cho Mân Việt Vương để tìm cao nhân sau lưng nữ nhân độc trùng.

Hoàng Phi tức tốc lên đường qua Hán đến Trường An đưa Văn Văn Nam về nước. Những tướng quân Nam Việt được lệnh truy kích địch quân Hán qua khỏi cương giới Việt-Hán mới lui binh. Có những tướng vì uất hận quân Hán, thừa dịp phất cờ tiến quân thần tốc, nhờ thắng trận tinh hóa thần khí sức mạnh vô địch, mãi mê trong chiến thắng không còn e ngại cương giới, mục đích truy kích địch chết càng nhiều càng tốt, mà quên bẵng quân lệnh.

Quân Hán tháo chạy như kiến vỡ tổ để cầu sống, kẻ đuổi theo người chạy không còn phân biệt trời Việt đất Hán, quân Hán cắm đầu chạy vẫn thấy quân Nam Việt ở sau lương đuổi tới. Cuộc truy kích vô tình tiến thẳng đến Kiến Nghiệp, giáp Dương Tử giang nhà Hàn không ngờ đi chinh phục Nam Việt bây giờ hậu quả trả giá Nam Việt tiến quân đến Kiến Nghiệp nguyên cô đô nước U Việt ngày trước. Chiếm được một vùng đất rộng bao la từ Nam lên Bắc, nhưng không lập được hoàn chánh địa phương, lúc này các tướng mới hồi tâm thì đã muộn màn vì trái quân lệnh.

Cũng may Vũ Đế kịp thời cầu hòa với nhà Hán trả lại Kiến Nghiệp, còn nhà Hán hứa từ nay không xâm phạm một tấc đất của Nam Việt, hai nước đồng chấp thuận hòa hảo giữ triều cống như cũ. Đoàn quân Nam Việt chịu lui binh được nhà Hán cung cấp thuyền bè về cố quốc bằng đường thủy Giang Tử cặp bến Động Đình hồ

 Tổng kết trận chiến phía Đông, trước hết phải nói cề cuộc truy kích địch tuy phạm quân lệnh nhưng được Vũ Đế truy thăng thưởng hậu, lập bia ghi danh các tướng tử trận. Phía quân triều đình do soái phó tiền đạo Bắc binh tướng quân Võ Thành Hà, hậu cần tướng Nguyễn Thủ Khoa, hậu đạo tướng Lê Mỹ.

Các tướng tử trận có tướng quân Mạc Hư Không, La Hậu La, Lê Bình, Sùng Mạc. Phía Lạc dân quân Cần Lĩnh Nam Bắc Tông có Võ Thu Tá, Nguyễn Tào Đang, Lê Trung Kha, Lê Đạt, Võ Thu Hồ. Trên hai ngàn binh mã tử trận, ba ngàn binh sĩ bị thương.

Về mặt trận Đồng Tương do Chu Thông Được lãnh binh, ông chọn yếu lộ Đồ Kê để vào thung lũng Tùng Lĩnh đường tiến quân này ngắn thời gian, chỉ mất năm ngày đường, còn chuyển quân hai lộ thuận thiện thì phải mất nửa tháng. Tuy dãy núi Tùng Lĩnh chỉ có độc đạo Đồ Kê hiểm trở, đất khô cằn dân thưa, bù lại ưu điểm có đường sông tiện di chuyển, ở Tùng Lĩnh lại có một căn cứ năm trạm dịch Cần Lĩnh Nam Bắc Tông hướng dẫn thông đường thuộc lối, ai có đến địa thế Tùng Lĩnh mới biết hiểm trở của núi rừng.

Một khi chuyển quân ra khỏi dãy núi Tùng Lĩnh là vào được Đồng Tương, nếu địch binh hùng mã cường phục kích ở đây thì toàn quân binh tướng của Chu Thông Được rủ nhau đi con đường Diêm vương, nhưng khó mà phục binh vì con lộ này do Cần Lĩnh Nam Bắc Tông kiểm soát, hai nữa còn có đường ẩn quân bí mật để tiến vào đồng Tương.

Hàng trình tiến quân vượt rừng, vượt suối đi nhiều ngủ ít, tuy có khắc khoải nhưng quân binh vững lòng bền chí.

Về nam nữ tướng quân Văn Hảo và Lữ Thư thì được dịp mở hội lòng, cho nên đi mấy ngày liền mà không hề biết núi cao, rừng sâu, hiểm trở là gì, trái lại hai người cảm nhận yêu đời yêu người, chàng hỏi:

― Huynh thấy muội lỗi lạc văn võ, nhưng về tình người thì thế nào?

― Một thứ tình người cần thiết là biết yêu thực sự, ta hãy căn cứ vào gió quyện cát bay mãi tận chân trời làm mục đích sống, muội biết có những điều huynh không làm hơn được, như động tâm thì dễ, suy tâm thì khó, lưu tình thì dễ, thủ tình thì nan.

Cũng có đôi khi thù không thể tách rời chữ nghĩa, vì huynh là tu mi nam tử đem đại cuộc làm đầu, đến khi bỏ xuống tất cả những gì tư kỷ để làm việc lớn thì do dự.

― Đúng vậy lời của muội rất quí bất khả ngôn, như trong gió màu xuân có bưm bướm bay múa hát. Theo huynh nghĩ tuy cõi đời này không có mọi chuyện như ý, nhưng ít nhất mình phải có một ý niệm tốt về tình yêu đó là như ý hôm nay vậy .

― Thưa huynh từ xưa cũng như nay, khi nói về tình yêu phải tự tin lòng mình, không vì hoàn cảnh thoáng qua mà đánh rơi cái như ý, tình yêu là cả một chân thành bền vững trong lòng mình, huynh cùng muội có phải lòng thì hãy cho nó như ý, cũng như tìm thấy một ( tôn song đầu) trăm năm mới có một.

― Muội à? thực mà nói huynh có lòng yêu muội, nhưng biết họ Văn không cùng đôi với họ Hoàng, chỉ có tự lòng ước mơ không hề nghĩ sự trân quí ấy sẽ cầm được trên tay. Nếu có đến thực sự thì huynh xin thề không đổi hai lòng, trời cho phủ mã phanh thây, hơn nữa cho vong mạng thiên thai không thấy mọi loài. Dù mai này đôi lúc có hỷ nộ, ái lạc gặp phải nguy nan, vẫn một lòng bền vững tạo nên hạnh phúc chung, đây là khẩu bất hồi tâm.

― Văn lang à? Muội rất an lòng, muội hy vọng sống trong lời thề của huynh, muội cũng xin thề lời này. Coi nặng hiệp cốt đồng sinh cộng khổ, xem thường nhục thế, mọi cản trở không để mất hạnh phúc của mình.

― Sau chiến thắng này, huynh sẽ thảo giản biên xin hai họ phối hợp cho huynh muội nhé?

― Huynh nói phải đó, muội cũng mong đợi ngày lành tháng tốt hạnh phúc đến với huynh muội.

Đoàn quân tiến vào Đồng Tương sớm hơn dự định nửa ngày, trong đêm Chu Thông Được cho quân chia ra thành nhiều cánh ém trong rừng, hạ trại khao quân và truyền quân lệnh, giờ Dậu hôm sau tiến quân đối địch.

Mùa xuân da trời canh tư hé mở ánh sáng mờ mờ, quân Hán còn trong giấc ngủ mơ về thần thoại làm chủ Trường Sa, họ nào biết canh năm phải ngụp lặn thân xác vào chiến trường hư ảo, họ quên cả linh hồn chuẩn bị vất vưởng tại đất Nam Việt xa xăm.

Canh năm tiến quân vào thảo nguyên Đồng Tương, đêm nay Chu Thông Được xem canh năm dài nhất cuộc đời. Những giám binh đưa tin về cấp báo trại lương thảo, trại binh khí của địch đúng giờ sẽ nổi hỏa theo quân lệnh.

Trước đây quân binh Hán tiến quân vào Nam Việt không một cản trở nào đáng để sợ, quân Hán tự lòng sinh ngạo khí chọn Đồng Tương để hạ trại, xem đất Nam Việt như chốn rừng hoang.

Canh năm vừa điểm, không ngờ tiến trống thúc quân từ trong trại quân Hán nổi lên, trại lương thảo, trại binh khí ông bà hỏa thi nhau bốc cháy sáng rược như có hai thái dương cùng một bầu trời đang nhô lên. Quân binh Hán còn ngái ngủ không trở tay kịp, tiếng binh Hán nháo nhác, tinh thần thất phách trộn lẫn tiếng đao, kiếm Nam Việt thi nhau tìm địch đếm quan tài. Quân binh Hán trong lúc này chạy vại không khác nào sợ cọp vồ mồi.

Đến cuối canh năm trời mới thực sự hừng đông, trong quân Hán mới tập hợp được quân binh chia thành tả hữu tiền phong, hữu tướng lược trận, trong quân binh đã hết tinh thần chiến đấu, cuộc diện nghiêng phần về Nam Việt. Những tướng Hán cũng không phải tầm thường, có hai tướng Hán như “Hổ khẩu bất khẩu” tay cầm đao, kiếm điều binh theo đội hình tiến vào trận, y vừa xuất đao đã đoạt mệnh vài quân binh Nam Việt, đúng là sĩ khí Hán, có câu “Sĩ khả sát, bất khả nhục” Y nói:

― Đời làm tướng mỗ há sợ phục… Y vừa nói vừa bước thẳng đến bất kể lưỡi kiếm sắc bén của quân binh Nam Việt, đao y đã kề ngay yết hầu một quân binh Nam Việt. Văn Hảo phi thân xuất kiếm đẩy được đao tương Hán, tướng Hán nói thầm. Thì ra trong quân Nam Việt cũng lắm người tài:

― Các hạ là tướng quân Nam Việt ư?

― Phải thì sao.

― Mỗ muốn biết danh môn của các hạ thế nào?

― Mỗ họ Văn tên Hảo tiền đạo tướng quân Nam Việt, còn các hạ?

― Thì ra cũng đồng liêu một Việt một Hán, Mỗ họ Đặng tên Đại Thố, còn người đứng sau là bào đệ tên Tiểu Thố.

― Thảo nào cục phân trước, cục phân sau cùng một mùi hôi. Đặng Đại Thố không cằm được cơn phẩn nộ:

― Tốt lắm, các hạ cầm kiếm, mỗ cầm Đao hai thứ binh khí này đồng vô tình, nhưng kẻ cầm kiếm chắc không vô tình, dám vào trận cản trở mỗ tước mạng sống của quân Nam Việt, vậy các hạ đã có ý lấy mạng tại hạ ư?

― Đúng thế. Chân trái chàng tấn thế, chân phải lướt tới băng mình thành vòng cung, kiếm chuyển ngay đỉnh đầu tướng Hán, tên Hán nhanh chóng xòe quyền phóng lên ám khí như một đóa hoa hướng dương vàng đậm, với những đinh sắc bén nhọn phủ xuống đầu Văn Hảo, kịp lúc phát hiện ám khí như quả quít vàng chụp tới thiên đỉnh, Văn Hảo xuất chiêu “Bá long châu” đánh bung tất cả ánh sắc kiếm hóa thành một màu đen kịt chứng tỏ ám khí có tẩm một thứ độc đoạt mạng trong nháy mắt.

Đặng Đại Thố quay lưng trở bước chân chậm rãi lui về phía sau, lại có một kỳ ảo khác, bóng trắng phi thân tới đứng cách Văn Hảo năm thước. Nhãn lực Văn Hảo bắt được chính là tên địch Đặng Tiểu Thố, chàng cũng dụng phi thân thượng đẳng đứng sau lưng y xuất chiêu thì chạm vào cây thương vang tiếng kỳ lạ “bong bong” tên địch Hán phi thân khuất dạng, chẳng để lại dấu tích gì. Chàng âu lo không hiểu địch thủ muốn dở trò gì đây, hôm nay mỗ gặp hai cao thủ!

Bỗng trước mặt Văn Hảo xuất hiện bức tường khiên bằng gỗ do mười hai cao thủ dựng trận pháp, không khác nào thành trì biết di động, Văn Hảo liền xoạc hai chân hoành chuyển bộ pháp, đồng thời tống luôn hai chiêu “Đạo kình huyết” phá thành trì địch, mười hai tên binh Hán tay thương tay khiên chết trong tư thế ông già chống gậy.

Đặng Đại Thố, Đặng Tiểu Thố phi thân đứng sau lưng Văn Hảo, chàng chuyển mình biến chiêu quyền nấm hụt địch thủ, chàng nhếch mép biểu lộ thái độ cảnh cáo Đặng Đại Thố, đồng lúc thay cho lời báo tử đối với y, còn Đặng Tiểu Thố thì đang nhận một nhát kiếm chí tử, hai mắt mở trừng trừng nhìn Văn Hảo không chớp. Đặng Đại Thố, hỏi:

― Nhãn lực của tại hạ thấy kiếm pháp của tướng quân mà không thể nào tưởng tượng sự huyền hảo trong chiêu thức kiếm pháp của tướng quân Nam Việt, vì nó biến đổi vô hình mà cũng có thể thành hữu hình cùng một chiêu thức, làm cho tại hạ hơi có một ít ganh tị, thế thì hôm nay tại hạ thừa dịp này muốn tiễn đưa tướng quân một đoạn đường đến nơi an nghĩ nhé?

― Khỏi cần đưa đón, tại hạ biết đường đến quê hương Nam Việt và đường về đất Tổ. Đôi mắt của chàng nhợt nhạt dần dần tự biết đã trúng chất độc mạnh, trí tuệ hết minh mẫn, chân tay không còn linh hoạt, trong lòng muốn xuất chiêu nhưng không còn nội lực, chàng tấn trụ thân thể đứng thẳng hướng về Nam. Trong ánh mắt từ tốn của chàng chỉ còn đối nhãn cùng nàng.

Lữ Thư đứng lược trận thừa biết Văn Hảo võ học tuyệt thế, nhưng sao không thấy chàng xuất chiêu mà chỉ đứng hóa thành thân phỗng.           Nàng không an lòng trước mắt thấy ám khi của địch phóng ra tàn khốc, tức khắc nàng phi thân vào trận, nàng mới vỡ lẽ chàng đã chết đứng vì trúng ám khí độc của địch Hán, nàng xóc thân chàng trên vai phi thân về trận. Nàng để chàng nằm trên thảm cỏ xanh mượt, xem lại mạch lạc nàng thở dài tuyệt vọng vì chàng đã chết trong lúc đôi mắt hướng về Nam nhìn nàng. Mạch khí của nàng phát ra hừng hực muốn vào trận đòi nợ thù tình, nàng điềm tĩnh lại tự thầm trả thù chưa muộn, nàng phi thân tìm những khóm hoa khoe hương khoe sắc đem về tô điểm trên thân xác chàng, nhiều vòng màu hoa tươi. Mắt của nàng long lanh xuân tình lệ, nép đầu vào thân thể lạnh của chàng.

Nàng ngẩng đầu lên nhìn chàng lần cuối để thâu tóm lấy khuôn mặt vàng vọt héo úa vào tâm thức trước khi trả thù cho chàng.

Lữ Thư phi tân vào trận hỏi:

― Đặng Đại Thố, Đặng Tiểu Thố chúng bay sẽ chuẩn bị tiếp nhận hậu quả. Trong trận nàng man tâm tưởng nỗi thống khổ xót xa, không thốt ra lời. Nàng gào rú lên như tiếng gầm vang của sấm sét, khiến cho trận chiến tử sinh hãi hùng, báo hiệu cơn ác mộng không hề tĩnh giấc. Nàng xuất một chiêu “Càn Hỏa Trấn” trong “Bát Quái Lĩnh Nam” Tất cả quân địch loạn hồn phách, thân thể của hai tướng Hán trộn cùng với đất đá không còn phân biệt đâu là thịt xương, danh trại Hán lửa bốc cháy ngùn ngụt, quân binh sĩ mã Hán phanh thây vô số, quân Nam Việt cũng không biết lý do gì doanh trại Hán lui binh bỏ chạy về hướng Tây cương giới Việt-Hán. Nàng hồi tâm lại mới biết sự hận thù khiến cho nàng dụng đến phối võ học tuyệt kỹ của chiêu “Càn Hỏa Trấn” thành một chiêu thức “Khai hồng hoan” trận Đồng Tương nhờ nàng thắng trận.

Nàng đến thảm cỏ xanh ôm xác Văn Hảo thở dài thầm: Ôi đời người của chúng ta quá ngắn ngủi, trong ngắn ngủi không được tận hưởng những gì cần thiết trên đời này! Tại sao không được lưu luyến trong hạnh phúc chứ?

Huynh muội là hai người đến với nhau bằng tâm hồn, tại sao thân thể của chàng từ đây ở trong lòng đất. Vì sao nẻo đường này cứ cản trở hạnh phúc của ta?

Nàng bậm môi rồi nhắm mắt lại, hai giọt lệ rịn ra khoé mắt, nàng khẽ hát:

Văn huynh ngủ yên trong lòng gió hắt hiu

Muội ở lại lệ suối đổ chạnh lòng thương

Người ra đi biền biệt chỉ còn mồ

Kẻ ở lại ngày tháng sống như khô.

Hình bóng của nàng như một cành liễu đứng trước gió, vừa yếu ớt vừa mảnh khảnh, sự thực nàng ở trong lầu son gác tía chứ không phải rong ruổi giang hồ gió sương khắp dặm đường chiến chinh. Sự việc cõi đời này có sắp xếp của tạo hóa ư? Tại sao ý trời cho nàng một Đỗ Trọng Chí rồi lại thêm Văn Hảo để  cho nàng gặp phải thiếu duyên phận không may.

Hoàng hôn xuống, Lữ Thư phi thân đi về hướng Bắc, nàng muốn mượn Động Đình hồ buông lỏng thần kinh cho thư thái xuống phiền muộn, nàng tìm được con xuồng nan nhỏ thư thả chèo ngắm nguyệt lão đang di chuyển trên lưng trời, nàng ước gì đi cùng nguyệt lão đến tận phương xa, đêm nay nàng là bạn trăng gió cùng tiêu giao qua bờ Bắc, nàng sống lại thuở ấu thơ, nhưng nàng đã trưởng thành tính lãng mạn cũng lớn dần theo ngày tháng, nàng cảm thấy thích thảng trò chuyện với gói trăng khuya: Hò, ơ…ư… Nơi nào có gói trăng chơi nước. Hò, ơ… ư… Em vui đến liền. Bỗng có tiếng hò không xa lắm đáp lại: Hò, ơ…ư… Nước không hay trắng gió chơi khuya. Hò, ơ…ư… Có tới lui mới biết bạn hiền. Hò, ơ…ư…

Tức tốc nàng hỏi:

― Ai đó, dám ghẹo chọc bổn cô nương dưới áng trăng mờ, xuất hiện ngay không thì bỏ mạng dưới hồ. Chàng thanh niên chèo thuyền đến cách xa hai trượng, lúc này nàng đã lấy khăn che mặt, phi thân đứng trước đầu truyền, hỏi:

― Các hạ là ai, bổn cô muốn biết thân thế.

― Thưa thân thế thì vời vợi ở tận Giang Nam, chỉ lấy mắt trông vọng về xa, ngày ra đi chưa hề trở lại, dù có nhớ quê nhà và cha mẹ già cũng thế thôi, âu bằng sau khi nào đất nước bình yên thì về cũng chưa muộn.

― Bổn cô muốn biết danh tánh là chi?

― Danh tánh thì không thể lộ, nhưng tại hạ cho biết rằng không phải người địa phương, mới đến đây hơn mươi ngày, thấy đêm nay trăng thanh gió mát mượn thuyền rong chơi trên mặt hồ không ngờ gặp tiếng hò, lòng này nhẹ dạ mới hò theo, xin cô nương tha thứ.

― Nếu không nói danh thánh nhất định là gian tế, bổn cô cho đi mò ca Lý.

― Gian tế không có ở đây vì mười ngày trôi qua Cần Lĩnh Nam trừ khử hết rồi, nếu có cũng phải vài tháng sau chúng nó mới từ từ xuất hiện, như vậy tại hạ không phải là gian tế được, cô nương chưa chi mà đã phủ lên đầu Lạc dân một tội gian tế rồi, nói thực với cô nương thà chết chứ không tiết lộ danh tánh. Chàng nói đến đây thì từ xa có tiếng gọi Lê hiền đệ. Nàng nghe rất rõ tiếng gọi đó chính là Anh Tuấn đại huynh, không ngời người trước mặt là Lê Chí Nam một thuở tuổi mới biết yêu có ấn tượng một ít tình chàng. Nàng áy náy tại lòng vì câu hò thổ lộ lãng mạn, cũng sợ chàng biết thân phận ở nơi đây vội phi thân vào bờ biệt dạng. Chàng phi thân theo nhưng không thể nào bắt kịp, chân chàng vừa chấm xuống đất thì vướng một mảnh khăn lụa Giang Nam màu trắng xám có hàng chữ thêu Hoàng Lữ Thư màu vàng, chàng bỏ vào tuối áo.

Khi buộc khăn che mặt Lữ Thư vô tình không thắt gút chặt, cho nên khi vội vã phi thân quá tốc độ khăn bung ra khỏi mặt vơi nơi nào không biết, đối với nàng chiếc khăn này rất giá trị vì xem đây là vũ khí đã từng bắt chim Trĩ tặng Hoàng Phi, nàng đành phải trở lại để tìm khăn không ngờ chạm mặt Lê Chí Nam, nàng giả ngộ không biết chuyện gì đã sẩy ra, chào:

― Muội xin chào Lê huynh, nguyên do nào lại có mặt ở Động Đình hồ này?.

― Lê tôi cùng Hoàng huynh đến đây là do lệnh của Vũ sư phụ, mục phiêu phục kích quân Hán và bảo vệ hiền tỷ khi cần thiết. Còn hiền tỷ sao không ở trận mà lại đến đây để làm gì?.

―  Trận chiến đã tàn, Chu thúc phụ đã chiến thắng, quân Hán còn lại kéo chạy về hướng Tây cương giới, cho nên không đi qua của Động Đình hồ. Muội đến đây để tìm một nữ nhân thân thích, vậy Lê huynh có gặp không ?.

― Thưa tỷ, trong đêm khuya Lê tôi có gặp nữ nhân ấy chèo thuyền rông chơi trên mặt hồ, còn hát hò nữa rồi sau đó phi thân biến mất, nếu tỷ có gặp cho Lê tôi gửi đôi lời thăm.

―  Bây giờ Lê huynh đi đâu?.

―  Lê tôi đã hết khắc canh, phải về trại thay chanh.

―  Lê huynh thay canh cho ai?

―  Hoàng đại huynh.

― Tốt lắm sau khi thay canh, mời Lê huynh trở lại đây để tìm nữ nhân nhè? Hoàng Lữ Thư muốn chàng đi để tìm khăn, có như vậy thì không lộ tung tích, nàng tìm mãi mà không thấy khăn đâu cả, nàng tự thầm chăng nhẽ đã rơi xuống nước. Vừa lúc Lê Chí Nam trở lại, chàng hỏi:

― Tỷ chưa đi tìm nữ nhân ấy hay sao, nếu không ngại thì cùng đi được không?

―  Có lẽ nữ nhân ấy đã về nhà rồi, dù cho tìm cũng thế thôi, nàng thở dài, trong lòng không còn hy vọng. Chàng thấy nàng chú ý tìm chiếc khăn đã mất, nhưng nàng không dám nói thực hay là trong chiếc khăn ấy có ẩn dụ gì chăng, chàng cũng muốn hiểu về lịch sử chiếc khăn ấy.

― Thưa tỷ, có phải nữ nhân ấy lấy cắp của tỷ một vật gì giá trị lắm phải không?

―  Thưa Lê huynh đúng vậy, đó là một chiếc khăn gia bảo.

―  Thì ra là vậy, Lê tôi có nhặt được chiếc khăn ấy xin gửi lại tỷ, nhưng có một đề nghị, tỷ cũng nên tha thứ cho nữ nhân ấy, vì Lê tôi và nữ nhân ấy vô tình đã trót đối đáp hai câu hò, nữ nhân hò trước thế này:

Hò, ơ…ư…Nơi nào có gói trăng chơi nước. Hò, ơ… ư… Em vui đến tìm.

Lê tôi cũng vô tình cất tiếng hò đáp lại:

Hò, ơ…ư… Nước không hay trắng gió chơi khuya. Hò, ơ…ư…Có tới mới biết tìm bạn hiền. Hò, ơ…ư…

Lê tôi cảm thấy nhớ người trong câu hò, có lẽ mãi mãi không hề quên được!

― Thực vậy sao, Lê huynh yêu người trong mộng, hay là nữ nhân có thực?

― Nếu yêu trong mộng tức là hiện thực, vì tay khó với mới sinh ra mộng mơ, còn yêu trong thực tại với tiến hò thì lại biệt bóng chỉ còn khăn mà thôi, cho nên con người gặp phải trường hợp này gọi là si tình, si ít thì còn điềm tĩnh, si nhiều thì ngây ngô, đại si ngất ngưởng phế hết cuộc đời! À, Lê tôi xin trao khăn này cho Tỷ.

― Đa tạ Lê huynh, à nếu Lê huynh sa vào trường hợp si tình, thì thế nào?

― Si tình thì ai chẳng có, nhưng Lê tôi có hai lối si tình, si trong thuần ái chứ không đến nỗi điên dại, thứ đến si vì xã tắc.

― Đa tạ Lê huynh, hẹn ngày tái ngộ. Nàng chuyển bộ phi thân vãy khăn chào. Chàng kêu lên:

― Kìa bóng dáng nữ nhân với tiếng hò xuất hiện rồi bay xa không trở lại. Nhân dịp gặp lại Lê Chí Nam tại Động Đình hồ, Lữ Thư có ý định nối lại tình ướm năm xưa.

Hoàng Phi cùng Văn Văn Nam từ Hán mới về đến cương giới, được tin thắng trận Đồng Tương. Chàng đi thẳng đến cương giới Việt-Hán để khuyên can quân binh Việt không được vượt cương giới lần thứ hai và chàng báo tin hiện thời quân Hán đã lập năm phòng ngự phía Tây, cuộc truy kích dừng lại để mở đường sống cho địch Hán, có thế mới kết thúc cuộc chiến, Nam Việt thanh bình lâu dài.

Vũ Đế cũng vừa tiến quân vào cương giới phía Tây. Hoàng Phi yết kiến Vũ Đế trình bày truy hơn kém về binh pháp tại cương giới, Vũ Đế rất hài lòng vì ông cũng có ý này.

Thắng trận Trường Sa, nước mắt toàn dân thay cho tiếng vỗ tay hoan hô, mừng vui chiến thắng là một lẽ sống của đất nước thanh bình, cũng may trong chiến tranh tài sản không thiệt hại là bao, tử vong rất ít, nhờ Vũ Đế đích thân xuất chinh, thân rồng nằm sương gối tuyết, lấy thân giá lạnh che đất tổ.

Vua tôi một lòng bảo vệ vẹn toàn Nam Việt, Vũ Đế tuân phục lời thề đem lại thanh bình bờ cõi Lĩnh Nam. Vũ Đế xuất chỉ an dân:

― Từ nay Nam Việt “Thượng chí thiên tử, hạ chí thụ dân”. Vũ Đế phất cao soái kỳ. Khải Ca Hồi Trào:

Đất tổ ký viết thánh đô

Phương Nam một cõi điểm tô cơ đồ

Đã từng đắp lũy đắp mô

Tiền nhân tuyền hịch đánh ô danh tàu

Lĩnh Nam nguồn chảy vận hà

Bao năm muôn thuở nguyên là ái dân

Tổ tiên ngày trước khải ân

Đất Nam một cõi tâm nhân chính trào

Bách Việt chủng nguyên lâu đời

Văn hiến hùng chính sáng ngời trên ngôi

Chủ quyền ở đất nước tôi

Bia tạc Nam cương chưa trôi máu đào.

            Nam Việt Vũ Đế, kéo quân tướng binh mã hồi trào, vừa về đến Phiên Ngung thành, triều đình xuất chỉ lập đàn tế lễ quốc thái dân an.

Vũ Đế ban chỉ lập danh sách truy thăng thưởng phạt phân minh. Thái tử Hồ xuất chỉ loan truyền danh sách giám binh Hán, quan quân làm phản tội nhẹ gián làm thứ dân, tội nặng xử trảm.

Tuyền thêm chỉ dụ: Quân quan triều đình thân dân, trọng dụng hiền tài, trí sĩ, mở kho thi giáo, tinh thần nghĩa Việt.

Hoàng Phi tâm ứng, thấy đêm trăng sáng trầm trầm có một ngôi sao nghiêng, chàng bấm độn xem thử. Hiện lên hung tin đầy trời, khắc tinh Vương nhân, chủ Tinh ở vị trí bất thường, trên Đẩu tinh, chủ Càn lại lờ mờ, hắc ám trong khoảnh khắc, ắt mai này đổi thay ngôi Thiên tử. Đúng là Nam Đẩu chỉ ngôi vua hiện mờ, quốc vận sẽ thay đổi nay mai, lẽ ra thời điểm này thịnh thì lại đổi ngược, ngôi sao Thiên tử cho thấy sát phá quân, tam nan tam sắc tinh soi sáng lẫn nhau, tàn quang lấp lánh sâm phạm đến cung Tinh, âm thanh kết cuộc sắc phá hà, Vũ Đế thăng hà nhưng chưa biết ngày nào? Đúng là thiên cơ bất khả lậu, sau trận chiến này có hung tin.

Vũ Đế thăng hà, ở ngôi bảy mươi mốt năm ( 207-136 TCN ) thọ 121 tuổi ( 256-136 TCN )

Đại thần Chánh tế cử hành nghi lễ nhập quan, Thái tử Hồ đứng đầu Tôn Nhân Phủ, nay đã tám mươi lăm tuổi, lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu Văn Vương năm thứ nhất (136)

Phó tế Lữ Gia xướng:

― Giai nghi lễ sự Hoàng Đế qui thiên: Chiếu theo lễ chế triều đình. Hoàng Đế thăng hà, ân ban vinh dự cho trí sĩ hộ quốc thần kỳ dâng văn tế.

Cuối cùng triều đình chọn Hoàng Phi thay mặt trí sĩ dâng văn tế.

Phó tế xướng:

― Giai hưng trí sĩ Hoàng Phi nghi lễ sự.

Hoàng Phi đứng vào trung tâm điện tiền linh đế, chàng ứng khẩu bốn câu:

Sơn hà Nhất thái dương

Vũ Đế Nhất thái âm

Nam Đế Nhất chí hòa

Việt cường Nhất biên cương.

Sau đó Tôn Nhân Phủ dâng hương, tiếp theo đại thần văn võ.

Hoàng Đế Văn Vương chính thức công bố lập lăng Nam Việt Vũ Đế tại Cung Hành Thiện núi Vũ Sơn.

Sau khi Vũ Đế thăng hà chàng bấm độn, thấy việc đời. Dụng sắc phối hà đã đổi ngôi, sau này vua-tôi đối đầu giặc giã nổi lên khắp nơi, không thể nào hòa giải được tam sắc.

Nay trúc hà là tam hiệp, gặp nhau tam điểm tái diễn, khói lửa bốn phương phá nghiệp kim lăng, đời anh hùng trong thiên hạ chỉ ở lại trong hồng phúc. Cung Càn nay chuyển ngày khắc số, gian thần hãm đức, sinh ra thất sát.

Nay thiên cơ không thể đoán trước được, nếu dùng cửu ngũ sa tử hà cung mới thấu hết thiên cơ.

Chàng nghe tiếng hạc kêu sầu, lúc này Bạch Khẹc đang bị bệnh lão, lòng chàng thương mến Bạch Khẹc sợ qua đời sớm, càng sợ càng thương, lòng chàng héo hắt, chàng ngẫm suy cho cùng chỉ còn lại giang sơn cẩm tú để yêu, chàng rửa sạch hồng trần, hóa thân về dã hạc, cõi đó mới thực là động Lạc Việt chờ ta. Chàng nghe Bạch Khẹc chỉ dẫn:

― Hiền đệ à! Hãy chuyễn kho tàn Lạc Việt xuống phía Nam theo địa lý hình đồ này.

― Dạ. Chàng xem kỹ rồi hỏi:

― Như vậy kho tàn phải chia ra làm ba phần đều nhau, đi Cửu Chân trước địa điểm là Đồ Bàn, Nhật Nam thì ở Ngự Bình, Giao Chỉ thì tại Đại La.

― Hiền đệ nói đúng lắm cứ thế huynh đệ mình thực hiện, hy vọng sau này Lạc Việt cơ may tồn tại. Bạch Khẹc còn nói:

― Hiền đệ phải thi hành đúng theo di chúc người xưa. Hoàng Phi ngạc nhiên hỏi:

― Đại huynh à, người xưa là ai?

― Cứ thế mà hành đừng hỏi nhiếu, dùng đại hạc di chuyển. Huynh cùng đệ phải lo liệu càng sớm càng tốt, không được trễ nải.

― Dạ, đệ hiểu. Hoàng Phi cùng Bạch Khẹc về động Lạc Việt tập trung đại hạc khoẻ mạnh trên năm mươi con. Hoàng Phi ngạc nhiên hỏi:

― Chỉ trên năm mươi đại hạc thì làm sao chở hết kho tàn? Bạch Khẹc cười:

― Huynh đã bảo chia làm ba, chở đến ba nơi mà! Chở những gì giá trị nhất chứ ai bảo chở hết kho tàng.

― Thì ra là vậy, đại huynh nói hà tiện lời quá đệ không hiểu hết .

― Huynh tưởng hiền đệ thông minh tuyệt đỉnh cho nên nói thế là đủ, không ngờ người thông minh nhất cũng có khắc nào đó do dự. Hoàng Phi thấy Bạch Khẹc bệnh nặng cho nên chàng lấy sáo trúc ra tấu một khúc Nam Xuân cho vui, Bạch Khẹc nghe hết tấu khúc trong lòng thanh thản vui nhiều buồn ít, tuy có xao xuyến nhớ ngày còn trẻ bôn ba khắp đó đây, nhưng mà đời cuối rối muôn vật cũng đi vào lòng đất. Bạch Khẹc hỏi:

― Huynh đệ mình đến thế gian này làm nghĩa vụ rồi ra đi, cuộc sống thanh nhàn nhất không lưu luyến trần gian, khi ấy huynh chỉ đem theo một ít thứ tình riêng vào cõi hư vô.

Sáng sớm huynh đệ Bạch Khẹc cơm nước no nê, cùng trên năm mươi đại hạc bay vào không trung về hướng Nam. Bạch Khẹc hỏi:

― Bụi giang hồ tuy còn phảng phất trong huynh, nhưng đến lúc thanh nhàn nhất vào là xuôi tay, hiền đệ có ý niệm đó không?

― Thưa đại huynh khi mình có đến thì sẽ có đi, không cần thiết phải động tâm với đời cùng cảnh, tất cả của hư vô, trả về hư vô. Huynh để ngoại tâm, gọi gió lửa rồi nhìn vào cõi định nào đó, sẽ thấy cửa vô.

― Đúng như thế, từ lòng huynh đã rộn rã lời ca tiếng hát trên đường hư vô đó, huynh đã đi xa tướng cảnh mịch, để hãy tấu khúc Nam Xuân cho tâm linh khởi đầu bước chân đi vào cõi ấy.

Hoàng Phi tấu khúc âm hưởng “Dấu phiêu linh sa mạc vàng”, Bạch Khẹc nghiêm giọng nói:

― Trong tấu khúc mang sự bình lặng trong huynh đó mới là chân lý. Trong âm khúc không cần huyên náo, ví nó là tạm bợ của vui chơi.

Chuyến đi Đại La, Bạch Khẹc không còn sức khoẻ nhiều, báo hiệu không sống đến ngày về động Lạc Việt, Bạch Khẹc tươi cười:

― Ngày mai sự việc đến trong cõi đời này đều là hư ảo, chỉ có tâm thức hướng đến sự bình lặng đó mới gọi là cõi trường tồn trong huynh.

― Đúng thế, như huynh có nghe tiếng gió reo trong cánh đại hạc không, rất vui tai, cùng lúc hơi ấm của hạc đốt lên từ từ thời gian, nó đã cho huynh, đệ cùng một cảm nhận khoan khoái vô tả, nhưng không giá trị bằng cái huynh, đệ có được chính là kho bảo vật Tinh, Khí, Thần đó là hạnh phúc mình đem đi được, còn xác thể chỉ là vật thừa thải vô giá trị.

― Câu nói này của hiền đệ lão nghe được lắm, quả hiên là thâm thuý vô cùng. Đại hạc hạ cánh xuống Đại La, Hoàng Phi chôn kho tàn vào long huyệt, Bạch Khẹc khẻ nói:

― Huynh đã đến lúc chọn nơi đây để trút hơi thở cuối cùng, xin hiền đệ an táng xác huynh trong kho tàn này nhé? À hiền đệ, huyền cơ ban cho con người tính thông minh, vậy khi hiền đệ về động nhớ phía sau lưng nơi ở của huynh có một sợi dây thanh thạch nhỏ bằng đầu đũa, chỉ cần tay ấn vào trung tâm thanh thạch là cửa động bí mật mở ra, đó là nơi an nghĩ của sư phụ.

Hôm nay hiền đệ tiếp nhận được dấu hiệu riêng của sư phụ rồi đó, hiền đệ thay huynh hương khói sư phụ, khi hiền đệ gặp sư phụ nhớ lạy ba lạy mười hai gật và thắp ba cây hương đều nhau theo phương pháp như sau: Nhất hương trung tâm thuộc về Trời, nhị hương Trái thuộc về Dương, tam hương Phải thuộc về Âm. Hiền đệ nhớ rõ cứ thế mà hành cho đúng, hiền đệ hành lễ lạy bái sư phụ bấy nhiêu lần, thì huynh cũng xin gửi từng ấy.

À còn lời này, từ đây về sau hiền đệ luyện nội công dưỡng khí thì sống lâu và trẻ mãi không già, khi hiền đệ về động nhớ “Trên đầu ba gang có thần linh, dưới đất cũng vậy”.

― Dạ, tiểu đệ thực hiện theo lời chỉ bảo của đại huynh. Bạch Khẹc nhăn răng cười rồi nhắm mắt đi xa.

Chàng thấy Bạch Khẹc còn nguyên vẹn thân xác mà đã thực đi xa không trở lại. Chàng mất một đại huynh tâm phúc, một ý chí của vạn vật đồng nguyên, chàng mất một tâm hồn thôi thúc thực hiện hoài bảo đại nghĩa vì Bách Việt.

Lòng chàng thương tiếc ân vật, nỗi buồn ray rức tác động bối rối tâm tư. Chàng làm một áo quan bằng đất sét, ghi Bạch Khẹc chi mộ, ngày tháng tử tiết không có năm sinh. Chàng hành lễ an táng cho Bạch Khẹc theo nghi lễ Nho, hai dòng lệ tình nghĩa người vật khắc sâu trong lòng đất.

Chàng tự lòng cũng đến lúc bỏ xuống tất cả để cho trí tuệ thông thoáng, chàng chỉ còn một ý niệm duy nhất là về động Lạc Việt càng sớm, càng tốt để thực hiện theo lời chỉ bảo của Bạch Khẹc, chàng giả từ kho tàng và Bạch Khẹc phi thân lên đại hạc bay vào mây mất hút.

Lúc này trong động chỉ vắng mặt Hoàng Phi, lại có thêm Hương Trí Túc và Hoàng Khải, Hương Trí Túc về động để tiếp nhận thanh bảo kiếm Thanh-Can do Hoàng Phi tặng, hiệm thời trong động tâm tư ai cũng mong chàng về. Bỗng  nhiên từ không gian có tiếng văng vẳng từ xa đến gần bay theo gió rót xuống động Nam Khê Sơn:

Hữu sức kiếm vô cùng

Dụng sức nhu phong đạo

Xuất công đến thẳng

Tiến thoái mau chặm linh hoạt

Ý động hư thực liên hồi

Đoản rồi phải liền

Tâm định Tinh Khí Thần nguyên thể

Trí tuệ thông thả xuống bất ngại

Cõi lòng như ý niệm hư vô.

Trong động ai cũng nghe và hiểu chính là âm thanh trầm bổng của Hoàng Phi, tất cả vui mừng gọi nhau đồng ra sân động để đón chàng, nhưng không ngờ chờ mãi chẳng thấy người thân trở về, chỉ nghe tiếng của chàng đọc khẩu quyết cho một pho võ học nào đó.

Tiếng nói từ không trung đã xa tắp, trong động trở thành không gian yên lặng. Sự mong chờ đã biến mất, tất cả đồng hiểu từ đây động Nam Khê Sơn không còn Hoàng Phi và không ai biết khẩu quyết vừa nghe qua có dụng ý gì?. Hoàng Khải cũng im lìm để cho không gian trầm lặng!!!

Chung

Diễn Đàn Facebook

Huỳnh Tâm - Anh Hùng Nam Việt