Ngày mai binh mã lên đường, trận chiến một vùng trời gia biến, đất Tượng Quận tình huynh đệ tương tàn, nỗi lòng xao xuyến, bất đắc dĩ trong cuộc chinh chiến này không ai muốn thấy, nhất là tình huynh đệ tự mình biết giải hòa không vì thù hận, cũng không muốn anh hùng tử vong ở tuổi trí tuệ thông suốt, sức khoẻ vẫn còn dâng hiến cho đất nước, hy vọng người huynh đệ còn một ít tình lưu luyến. Tượng Quận tướng quân Nguyễn Trung Thành lòng xao xuyến suy nghĩ không định thần, ông thở dài như tự thuật cho lương tâm nghe !

Bốn ngày sau Phùng Hưng bày ra trận chiến, còn Nguyễn Hồng cứ mãi cố chấp, tử thủ.  Tin cấp báo trong hàng ngũ Mân Việt Xã có người Hán đứng thị binh mã, gian tế Hán tạo ra thiên đàng Mân Việt Vương cho Nguyễn Hồng đầy tham vọng, một câu hỏi lớn. Kẻ nào làm gian tế Hán nằm trong tôn tộc Điền Việt ? Họ trong bóng tối làm gian tế Hán từ bao giờ ? ngày nay họ tạo ra một Nguyễn Hồng thì ngày mại họ tạo ra biết bao Nguyễn Hồng khác ? bao câu hỏi được đặt ra cho Nam Việt trả lời ! Đây là một cuộc chiến phức tạp khởi đầu, than ôi vô vọng tình nhà. Ông nói khẽ trong lòng ai oán, từ nay bỏ xuống phiền muộn, chỉ tha thiết hạnh phúc năm xưa trở lại. Tiếng nói của ông vẫn thì thầm đều đặn để Phùng Hưng nghe:

― Hưng nhi à, xưa nay người Hán thâm độc lắm họ dùng trăm phương ngàn kế để thôn tính tôn tộc Bách Việt ta, như vậy dân tộc ta phải sinh sản nhiều anh hùng tuấn kiệt để đối phó cùng Hán, làm thân trai đem hết tâm huyết vì tôn tộc, nhất là phải có một binh mã thiện chiến hơn cả người Kim, Yên, Tề, Sở, Thổ Phòng, Tấn, Đại Lý, Hạ, Lỗ, Ngô, Tần, Tống, Triệu, Vệ. Trước mặt toàn thể tôn tộc Bách Việt phải chung lòng, người người thực sự bảo vệ quê hương xứ sở, cùng mục phiêu lập quốc. Không tự lòng lấy ý dâng đất, bán nước cho Hán, giữ nước là nghĩa vụ của toàn thể con dân Bách Việt, đó là trừ tham vọng của người Hán .

Hiện thời, ta thấy ta để biết đến người, Bách Việt ta đã sinh sản được bao nhiêu anh hùng tuấn kiệt, người có tâm huyết được bao nhiêu, còn nói về binh pháp chiến trận thì kém xa người Kim, Yên, Tề, Sở, Thổ Phòng, Tấn, Đại Lý, Hạ, Lỗ, Ngô, Tần, Tống, Vệ .

Binh pháp của họ, như thế mà cũng bị Hán hóa hết cả rồi, nay chỉ còn lại Bách Việt chẳng khéo nay mai chúng ta để cho bước trước kéo theo bước sau, như các quốc gia kia hay sao ? Nam Việt ngày nay, sơn hà từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam, cương giới một cõi ngàn vạn dặm, mong rằng tương lai đời sau cương giới của Bách Việt bềnh vững đời đời ! Thúc phụ nghĩ rằng thế hệ mai sau trên vai nặng trĩu trọng trách giữ nước .

Sau trận giặc gia biến, còn phải đối phó với trận giặc cương giới phía đông Tượng Quân và Tứ Xuyên. Phùng Hưng đã từng nghe những lời giáo huấn của Tổ phụ Hoàng Hạc, quả nhiên là bài học lịch sử hôm nay nhằm bảo vệ đất tổ. Nay Phùng Hưng tỉnh ngộ tự nhủ:

― Thưa thúc bá, Hưng nhi cảm kích đức trọng, từ ái, cùng những suy tư của thúc bá. Lâu nay Hưng nhi hành động đúng như tinh thần của thúc bá, hằng tâm dâng hiến làm tròn con dân Bách Việt. Tâm tư Hưng nhi không thể tha thứ kẻ làm phản, kẻ nào rước Hán về giày xéo quê hương, nay quyết định phải trừ.

Dù cho trăm ngàn Nguyễn Hồng, Hưng nhi này cũng không vì tình riêng mà dung dưỡng kẻ làm phản, nếu để họ yên thân là đồng loã với kẻ làm phản. Thưa thúc bá, giờ này Hoàng Đức đã xuất binh tiến vào trận chiến, Hưng nhi được báo tin từ ngũ tướng Hoàng Đức đã bao vây niêm chặt tứ phía. Nguyễn Hồng không còn lối thoát nào khác hơn một là đối đầu, hai là cố thủ trước lực lượng tinh nhuệ của Hoàng Đức.

Trận chiến khởi đầu vang từng chập chùng tiếng vó ngực “hí hí” cát bụi mịt mù từ xa đến gần, tiếng quân la hét vang lừng, gươm giáo, kiếm cung nổi lên dậy đất, tiếng trống sa trường dồn dập “đùng đùng” thanh la “phèng phèng” loa thúc quân “tiến lên” như bão tố, lửa khói chiến tranh đã bốc lên cả cương giới Nam Việt-Hán.

Trịnh Đình Thao tay kiếm, tay cương, hai chân thúc hông tuấn mã phóng về phía trước nhắm vào phá trận. Nguyễn Hồng tay cầm song đao đứng trước tiền đạo. Nguyễn Hồng nghiêm nghị quát lớn:

― Quí anh hùng nguồn gốc tôn giá từ đâu đến, binh mã của nhân vật nào mà có gan đến đây khiêu chiến ? Trịnh Đình Thao dùng lời khiêm nhượng đáp lại.

― Thưa tôn trưởng, sự thật hậu sinh đến từ Tây Giang, võ nghiệp vô sư, họ Trịnh tên Đình Thao, nguyên quán Quảng Tây, hành hiệp nghiêm chính, tự lập binh mã trừ gian diệt bạo, phục nghiệp Nam Việt theo tinh thần “Hợp Việt Xuất Hán”. Nay nghe đồn rằng Tôn trưởng làm phản Tượng Quận, muốn lập Mân Việt xưng vương, cho nên hậu sinh đến đây xin tôn trưởng vui lòng thu binh mã, bỏ ý định “Bách Việt nồi da xáo thịt” có như thế thì ân đức của tôn trưởng sẽ hơn người ! Nguyễn Hồng nghe qua, lồng lộn nộ khí xung thiên quát tháo :

― Tiểu tử kia, thì ra tổ sư của ta là Hoàng Hạc sai mi đến đây phải không ? Trịnh Đình Thao cung kính trả lới nghiêm nghị:

― Quân mã tại hạ tự ý đến đây mời tôn trưởng bãi binh, đây là việc riêng giữa tại hạ, và tôn trưởng. Tổ phụ Hoàng Hạc là nhân vật đức độ hơn người, chưa hề xúi giục tại hạ đến đây, tôn trưởng không được phạm thượng, xin tôn trưởng từ tốn khi nói đến danh Người. Nguyễn Hồng nghe nói vậy vẫn còn đa nghi. Ông cười gằn “hừ” tỏ ý gắt gỏng.

— Thế thì, chính đại huynh mỗ là Phùng Nam sai mi đến đây bắt mỗ ư ? Khó lắm, hỡi những tên mặt trắng về đi đừng mơ tưởng. Này những tiểu tử kia ơi không phải là địch thủ của mỗ đâu ! Trịnh Đình Thao vẫn giữ thái độ cung kính. Chàng ung dung trả lới:

— Tại hạ có nghe tiếng Tượng Quận Vương Phùng Nam, nhưng chưa bao giờ biết mặt người, như vậy Tượng Quận Vương Phùng Nam là nhân vật như thế nào ?

Câu hỏi này làm cho Nguyễn Hồng bối rối không biết phải trả lời ra làm sao ! Ông tự suy nghĩ mỗ cũng có phần lỗi với huynh đệ, nhưng nay không còn con đường nào để chọn lựa, vì con đường đang đi đã quá xa rồi ! Đúng là đường đi lương tâm không chỉ lối, trách mỗ đen tối trước cám dỗ của người Hán, bây giờ trong quân ngoài phướng đã có người Hán, ngay cả gia đình mỗ cũng đang ở bên kia cương giới Hán, quả là một lầm lỡ cả đời của riêng mỗ kéo theo một gia đình cùng thác ! cái Mân Việt Vương chưa đến tay mà đã thấy thủ cấp treo ngoài chợ, ngày tối ngủ không yên, chỉ còn biết sống để trở thành người phục tùng cho Hán, thôi rồi tinh thần “Hợp Việt Xuất Hán” trong mỗ đã mất tự bao giờ !

Mân Việt Vương ơi ngân kim, châu báu, mi đến với mỗ trong ảo tưởng ! Mỗ biết sống thế nào đây ! thôi thì đành chấp nhận trận trống mái này, tuy chưa biết sống chết ra sao nhưng ít nhất mỗ phải cứu gia đình rời khỏi nơi này rồi hãy tính sau. Nguyễn Hồng lạnh lùng la hét lớn, tay cầm đao xông pha vào trận chiến.

— Tiểu tử kia, mỗ đã nghe lắm lời rồi, không cần hỏi nhiều nguồn gốc tôn giá của mi nữa, xuất trận mới biết con cháu nhà ai, tiểu tử nghe đây, mỗ có ý chí riêng không nhờ tiểu tử làm sư phụ ! đừng nhiều lời dạy mỗ, hãy quay đầu về đi, kẻo mất mạng, các hạ đừng ngoa ngôn vô ích. Trịnh Đình Thao khiêm nhượng đáp:

— Tại hạ, muốn tôn trưởng “Dĩ hòa vi quý” nhưng nếu thấy tài năng thắng số thì tại hạ phục, vậy xin bãi binh. Tôn trưởng đừng để thân danh chôn trong khe núi này, lời chân thật của tại hạ sao tôn trưởng không hài lòng ư ? Nguyễn Hồng đã có quyết một trận trống mái, miệng ông quát lớn:

— Mỗ đã bảo, hãy quay đầu đi nơi khác kẻo mất mạng, ở đây không có đất chôn, các hạ không muốn sống hay sao hả ? Đúng lúc mưa gió thổi vi vu, cái oai nổi giận của sấm sét, đánh một quả như thiên lôi giáng hạ “ầm ầm” không khác nào lời phê phán của đất trời.

Nguyễn Hồng xông pha mưa gió xuất chiêu “Vân cổ tử đao” mượn nội lực nương theo cuồng phong “vù vù”, chiêu thức quả nhiên hiểm độc như gió lốc thịnh nộ, cát bụi tung bay mù mịt. Trịnh Đình Thao đành lòng phải xuất kiếm động thủ ba thức một chiêu “Bành thành kiếm” trong “Phong tâm kiếm” đón nhận được chiêu số đối phương “keng keng” nội lực của Trịnh Đình Thao đẩy Nguyễn Hồng lui xa ba bước.

Trịnh Đình Thao muốn tiến vào xuất tiếp một chiêu nữa, nhưng mà lòng tự bảo, không nỡ nào hủy một danh tướng anh hùng nay cùng đường, chàng đành phải lui ra xa. Chàng tự biết không thuyết phục được Nguyễn Hồng, chàng thở dài:

— Tại hạ, há sợ song đao sắt thép của các hạ, nhưng ngặt vì không muốn thanh danh anh hùng một thuở, nay phải để thế gian chê cười !

Nguyễn Hồng cũng nghĩ thầm, quả thật tiểu tử này kiếm pháp không phải tầm thường như mỗ đã xem thường lúc đầu, nếu y thực sự muốn hạ thủ mỗ thì không khó, mỗ phải chết thôi, y là người đáng mặt anh hùng, đạo đức, có ý tha mạng mỗ nhưng không thể nào thối lui được nữa rồi ! đành phải sinh tử tại đây thôi, mỗ biết nhưng vẫn phải nhất sống nhì chết ! Ông vận nội lực, thét lớn như phong cách hành xử kẻ giang hồ:

— Nào, tiểu tử họ Trịnh tên Đình Thao kia ơi, đừng nhiều lời. Thà mỗ chết đứng làm cột giữa trời, còn hơn chết nằm để đất hận mỗ, mỗ đã nói như vậy rồi, mời tiểu tử đỡ chiêu. Kiếm đao đồng xuất chiêu quyết trận trống mái.

Nguyễn Hồng nhân vật võ học siêu quần, vốn ông nóng tính, nổi tiếng trong giới võ lâm Tượng Quận, chiêu độc hiểm nhất của ông là nói chưa dứt lời đã xuất đao, đao của ông xuất liên hoàn tới tấp, đối phương không trở tay kịp.

Trịnh Đình Thao lạnh người cười dài “ha hà” rồi chân lùi ra ba bước, chàng nói :

— Các hạ muốn chết đứng làm cột giữa trời, hay là chết nằm để đất khỏi hận, nghe qua lời nói không trung ngôn lại nghịch nghĩ, thì ra các hạ không thấy gạo thóc gì cả. Sao không thấy chính con kiến nhỏ bé còn tham sống, huống chi là loài người, lời đã cạn tại hạ đành phải chấp nhận lấy kiếm thử đao thôi ! kính mời.

Trịnh Đình Thao xuất mười hai thức sáu chiêu số “Thành tử kiếm” trong kiếm pháp “Phong tâm kiếm” phong tỏa đao pháp địch thủ, Nguyễn Hồng cũng không kém, đem hết nội lực xuất chiêu sinh tử vào những yếu huyệt nhằm đoạt thế thượng phong, chiêu đao “Hợp định khảo” một kình lực long trời lở đất, cả hai đao kiếm chạm nhau “keng keng” nổi lên cơn gió lốc cuồng phong “vù vù” mù mịt cả một góc trời.

Một lần nữa Nguyễn Hồng thực lòng khen, gã tiểu tử này bản lãnh thật phi thường, riêng Trịnh Đình Thao cũng cảm nhận. Thế gian này cũng lắm nhân kiệt, quả là thúc bá Nguyễn Hồng của đại huynh chiêu số tấn công như lộng gió trong vũ bão. Ôi tiếc thay sao người lại lạc lối đường tà !

Cả hai đánh nhau trên trăm hiệp chưa phân thắng bại, phần thượng phong nghiêng về Trịnh Đình Thao, tuy chàng đứng trước địch thủ mà lòng cố ý nhẹ tay, chỉ sử dụng bảy thành công lực, chàng nhân nhượng nhiều chiêu kiếm tuyệt luân, nếu muốn lấy thủ cấp của Nguyễn Hồng như đồ trong túi áo, thế mà chàng chỉ xuất hư chiêu .

Còn Nguyễn Hồng thì quyết tử, trừ cho bằng được Trịnh Đình Thao, có như vậy mới giữ được Mân Việt Xã, những thức kiếm hư chiêu của Trịnh Đình Thao đương nhiên để trống. Nguyễn Hồng lợi dụng độc chiêu “Thảo mộc đao” chém liền ba chiêu, trúng hai vai và sả trước ngực, ông có ý lấy lục phủ ngũ tạng của Trịnh Đình Thao.

Trịnh Đình Thao tránh được, thế mà vẫn để lại một vết thương trầm trọng máu chảy đầm đìa.

Trịnh Đình Thao đẩy được đao, liền xuất ba mươi chiêu “Hợp lưu thủy” xuyết nữa gửi mạng Nguyễn Hồng về thăm dương phủ. Ngoài trận Lữ Gia, Lê Trung Kha thấy vậy la lớn :

— Lão Nguyễn Hồng kia vô liêm sỉ, tên tiểu nhân, không thấu hiểu lưu tình của tam sư đệ mỗ, thảo nào cổ nhân có câu : “Đánh ngay dễ đỡ, đánh lén khó đề phòng” đúng là lão này khả ố, mỗ không tha thứ cho lão nữa rồi. Tam hiền đệ của mỗ vì tính thuần đức hạnh, đã nhẹ tay tha thứ cho lão rất nhiều chiêu, thế mà lão cố tình hại người ư ?

Lê Trung Kha phi thân vào trận chiếu diều Trịnh Đình Thao ra ngoài để chữa trị vết thương, còn Lữ Gia phi thân vào đứng trước mặt Nguyễn Hồng, lòng đã căm hờn vì dám đụng đến huynh đệ lục Hoàng Đức, từ ngưỡng mộ Nguyễn Hồng đến hết tình nghĩa, chàng xuất luôn một trăm thức bảy mươi hai chiêu “Phong vũ sơn” long trời lở đất, không nhân nhượng địch thủ, tiếng kiếm nội lực chạm vào song đao liên tục “keng keng” kéo dài như trăm ngàn chiêu kiếm đao phát ra tứ phía.

Nguyễn Hồng thấy chiêu kiếm choáng váng lảo đảo, hồn phách thất sắc, mặt xây xẩm tái như tàu lá chuối, tay run rẩy đao rơi xuống đất, lưỡi kiếm của Lữ Gia đã đưa vào chính diện yếu huyệt “Đại thủy” chỉ cần một cử động nhẹ của kiếm, hay kẻ ngã ngựa xê dịch nhẹ là thủ cấp vẫy tay chào trần thế, nhân lúc Lữ Gia xuất luôn một quyền vào huyệt “Hỏa hầu” tay đao hữu của Nguyễn Hồng rơi xuống đất, Lữ Gia lấy dây đai ra, quát lớn:

— Lão Hồng quỳ xuống, tự trói mình đi ? Nguyễn Hồng tự nghĩ : Đây là dịp hiếm có lần thứ hai, mỗ dụng quyền thay đao để thoát thân. Nguyễn Hồng vừa quỳ xuống xuất quyền “Hổ phục ngưu” trả đòn, không ngờ Lữ Gia kiếm pháp nhanh như thần hoá, lưỡi kiếm nổi giận đâm vào huyệt “Hồn Môn” tổng hối đường huyết mạch của Nguyễn Hồng xem ra đã bế sạch nội lực, phế hết võ công, hai cánh tay như có người xoán một vòng ra sau lưng, đã trói lại. Lữ Gia hỏi tiếp:

— Lão Hồng ơi xuất quyền nữa đi ? để được toại nguyện chết đứng làm cột giữa trời, còn hơn chết nằm để đất hận mỗ ! “ha hà” nói được mà làm không được thì đừng nói, thiên hạ sẽ cười cho, lão Hồng ơi song đao cùn mà không biết hổ thẹn phận. Lại đem lòng hiểm độc hại tam sư đệ Trịnh Đình Thao của tại hạ, tam sư đệ tại hạ vì lòng nhân nghĩa mà tha chết cho lão mấy lần, thế sao lòng độc hiểm không chừa một ít để đáp đền !

Tại sao tại hạ bảo quỳ xuống tự trói mình, mà lão không chịu nghe lại phản quyền hạ độc hại mỗ ? Nguyễn Hồng tự nghĩ thầm: Hôm nay những tên tiểu tử vô danh bạch diện, đã đưa cả đời anh hùng của mỗ vào đường cùng mạt lộ rồi ư ! Lữ Gia khoan thai, nói tiếp:

— Tội của lão, nay giải đến quan Tượng Quận. Lữ Gia kêu gọi:

— Hỡi quí huynh đệ trong hàng ngũ Mân Việt Xã, nghe tại hạ phân giải đôi lời đây. Hỡi quí huynh đệ, tại hạ chỉ bắt tướng không bắt binh, xem như quí huynh đệ không có tội với quan, từ hôm nay Mân Việt Xã giải tán trở về quê sinh sống bình thường đừng nghe những lời của kẻ làm phản Bách Việt, còn quí huynh đệ nào muốn theo Hoàng Đức bang làm việc nghĩa hiệp thì ra đây đứng bên phải. Tất cả thành viên Mân Việt Xã nghe lời nói của Lữ Gia có tình khí anh hùng. Mọi người đồng lòng hô:

— Huynh đệ tại hạ quy đầu phục tội, từ nay phục thiện, xin gia nhập Hoàng Đức bang, thà làm đệ tử nghĩa hiệp anh hùng, còn hơn làm phản để trăm họ điêu linh .

Thừa dịp Tượng Quận tướng quân Nguyễn Thành Trung xuất quân đánh vào cương giới nơi bản doanh giặc Hán, chiến trận kéo dài năm ngày mới hoàn toàn thắng lợi, lấy lại được cương giới, phục hồi vùng canh cư rộng lớn cho trang làng, chấm dứt quấy nhiễu của người Hán. Trong lúc chiến tranh cứu được cả gia đình Nguyễn Hồng ra khỏi bản doanh Hán, bắt được hai mươi bốn gian tế, bí mật đưa về Tượng Quận, lúc này Nguyễn Hồng ngồi trong tù xa, trên đường di chuyển về Tượng Quận, có một phụ nữ nhỏ thó, tuổi độ sáu mươi ngoài, tướng mạo ốm yếu, đen thâm, thân cốt không võ nghệ, đúng là loại đàng bà hầu thiếp, bà van xin đi theo hầu chủ tướng, đi được nửa đường Nguyễn Hồng bỗng chết mà không một ai biết lý do, người đàng bà ấy cũng biến mất.

Thi thể Nguyễn Hồng được mai táng trọng đại, lấy tư cách gia đình anh hùng Tượng Quận, cả gia quyến của Nguyễn Hồng vẫn được hưởng quyền lợi như trước khi Nguyễn Hồng chưa làm phản, riêng Trịnh Đình Thao chuyển về sơn trại Hoàng Đức điều trị. Huynh đệ Hoàng Đức tiếp tục tảo diệt thổ phỉ địa phương do người Hán xúi giục, chỉ năm ngày sau đã trừ được ba đảng thổ phỉ.

Những tướng thổ phỉ bêu đầu trước chợ trang làng, tiếp nhận trên ngàn thổ phỉ ăn năn hối cải, qui đầu phụng mệnh gia nhập quân Tượng Quận, chiến lợi phẩm vô số. Tượng Quận tướng quân Nguyễn Thành Trung phất cờ đại thắng, thu binh mã về thành Bạch Đế. Có tin báo Trịnh Đình Thao đang trị liệu trên thương thuyền của Hoàng Chỉnh tại cửa Hổ Môn .

Hoàng Hạc và Hoàng Phi vào thành Bạch Đế, gặp lại những đệ tử anh hùng Điền Việt như Phùng Nam, Nguyễn Thành Trung, Lê Bình, Trần Đông, Đỗ Trương, chỉ vắng mặt Nguyễn Hồng. Hoàng Hạc đã biết nội tình Tượng Quận cho nên Phùng Nam không trình bày cho Tổ sư phụ biết.

Đã lâu ngày nay tái ngộ thì lòng ai cũng thương nhớ nhau, anh hùng Tượng Quận tôn kính mời tổ sư phụ Hoàng Hạc ngồi vào ghế phải của Tượng Quận Vương, Phùng Nam ngồi vào ghế trái của Tượng Quận tướng quân, riêng ghế trung tâm vóc vàng để trống biểu tượng sự hiện diện của Nam Việt Vũ Đế ngự tòa. Tuy là tổ sư phụ cùng đệ tử Điền Việt trùng phùng, nhưng ai cũng biết mỗi khi Hoàng Hạc hiện diện với tư cách quân sư, trong buổi trào ông là người cao cả của huynh đệ Phùng Nam, ngoài buổi trào ông tự xem mình là huynh đệ của Điền Việt. Tất cả anh hùng đất Tượng Quận ai cũng kính phục hai trận chiến tại cương giới Trường Sa “Nam Việt-Hán”.

Một thời thanh xuân oanh liệt của Hoàng Hạc cầm binh đánh đuổi giặc Hán ra khỏi cương giới, đem lại thanh bình cho ba mươi năm sau, hôm nay ông trở lại đất Tượng Quận như một anh hùng lập quốc, cho nên vừa vui mừng, vừa quyết định vận mệnh của Bách Việt tại thành Phiên Ngung, ông là người lịch duyệt hiểu tình hình cương giới Tượng Quận và Hán, nơi đây thường bị quấy nhiễu liên miên không phân thắng bại nhiều năm.

Nay thời cương giới được yên, nhờ có ngũ đệ Hoàng Đức trợ lực, nên quấy nhiễu không còn như trước, tuy vậy lúc nào Tượng Quận cũng đề phòng người Hán.

Hoàng Hạc biết lục huynh đệ Hoàng Đức đã trở về trong lòng dân tộc, ông vui mừng, âu cũng nhờ thằng lỏi Phi điệt, nó hành động bậy bạ mà may nên việc, lúc này Hoàng Phi cũng muốn gặp lại lục Hoàng Đức để trả cái nợ tình nghĩa sư phụ, đệ tử. Nguyễn Thành Trung thưa với Hoàng Hạc:

— Thưa tôn sư phụ, hiền huynh Phùng Nam chính là lệnh nghiêm của Phùng Hưng, cùng lục đệ Hoàng Đức đồng có mặt ở đây, xin tôn huynh cho phép lệnh điệt ra mắt tôn sư phụ . Phùng Nam tỏ ý không hài lòng, ông trách:

— Hiền đệ Nguyễn Thành Trung à, hài nhi của ngu huynh đây có tài chí gì đâu mà giới thiệu với Tôn sư phụ, nó là đứa con hoang đãng, bỏ nhà ra đi đã bao năm không tung tích, nay nó trở về đem theo một số huynh đệ rồi được hiền đệ thu nạp vào binh ngũ, tuy việc cương giới nay được ổn định, đó không phải là chiến công của Hoàng Đức, mà nói cho chí lý, công bình là nhờ tài đức của quí hiền đệ mới phải, ngu huynh nghĩ rằng Hoàng Đức cũng là con dân Bách Việt, phải cộng lực cùng nhau diệt trừ giặc Hán, giặc cỏ, làm dân xem như nghĩa vụ cho nước, có đáng gì đâu mà giới thiệu, khác nào tạo cho chúng kiêu căng.

Nguyễn Thành Trung cảm phục tuổi trẻ Hoàng Đức, ông môi mím cười tỏ ý hài lòng :

— Thưa Tổ sư phụ, như lục Hoàng Đức ngày nay là người trẻ, nếu đem ra bàn luận thì chúng đệ tử lấy công minh mới tỏ lòng người. Theo ý của ngu đệ tử là muốn giới thiệu lục Hoàng Đức chứ không riêng một Phùng Hưng, hai nữa người đời có câu “Tre tàn măn mọc”. Đúng lúc tre cũng tàn măn vừa mọc, vì thế lục đệ tự chẩn bị tuân lệnh triều chính về Phiên Ngung thành, cho nên Tượng Quận phải có lớp người trẻ có tài đức, trị chính tay lái giữ vững miền Tây.

Điều trọng yếu là Nam Việt Vũ Đế đang cần Phùng đại huynh, nay thời thế đã đổi thay anh hùng trẻ đã xuất hiện, có như vậy thì miền tây Bách Việt mới an cư lạc nghiệp được.

Phùng Nam nghe qua cũng có lý, mà tại lòng còn dè dặt, ông chắp tay hướng về trung ương sảnh đường, hai hướng đông-tây, trình tấu:

— Thưa quân sư, giới thiệu ngưới bất năng là phạm thượng, nếu quí hiền đệ đồng ý cho phép tại hạ giới thiệu đó là điều bắt buộc ! Lê Bình, Trần Đông, Đỗ Trương, đồng phát biểu :

— Thưa đại huynh, chúng đệ nghĩ rằng nên giới thiệu, vì Nam Việt đang cần sự hiện diện của truổi trẻ trong lúc này.

Đặc biệt buổi thảo luận nào cũng có lúc trầm ngâm, bộc trực, gay gắt nhưng điểm chất của nó là hạnh phúc huynh đệ Phùng Nam không hề rời nhau, cho nên người đời có nói “Quân tử Bách Việt như huynh đệ Tượng Quận” mọi tranh luận vì lẽ chính đại anh hùng, cho nên người phương Bắc lúc nào cũng muốn tiêu diệt Bách Việt. Nguyễn Thành Trung hiểu ý ngay liền cười:

— Cho mời lục hiệp Hoàng Đức vào sảnh đường ra mặt Tôn sư phụ. Năm người trẻ khoanh tay trước ngực cúi đầu bước vào sảnh đường theo nghi lễ Quốc sư thay mặt Hoàng thượng, khi quỳ gối xuống, xá hai xá rồi mới được ngửng đầu lên, khi lục hiệp Hoàng Đức ngửng đầu lên đột nhiên thấy Tổ phụ Hoàng Hạc ngồi bên phải, sau lưng có sư phụ Hoàng Phi cả năm người bị hoa mắt, tinh thần như tỉnh như mơ, lòng vui mừng tự hỏi. Có phải đây là Tổ sư phụ của quí anh hùng Tượng Quận ư ? chính là Tổ phụ và sư phụ của lục huynh đệ Hoàng Đức đây mà ? lục hiệp mừng khôn xiết, không ai bảo ai nước mắt tự nhiên tuôn như mưa, cả năm trẻ lệ nhòa nhìn thấy Tổ phụ Hoàng Hạc và sư phụ Hoàng Phi như ẩn như hiện, càng nhìn nước mắt càng tuôn chảy đầm đìa, hai tay vạt bào lau nước mắt đã ướt đẫm mà vẫn khóc hoài.

Hoàng Hạc và Hoàng Phi đã biết trước sự xuất hiện của họ cho nên tinh thần thư thái, tuy vậy Hoàng Hạc cũng xúc động đôi mắt hơi đỏ đầy ẩn chứa tình nghĩa tổ phụ, còn Hoàng Phi vì xúc động quá nên phát ra tiếng khóc lớn, nước mắt cũng tuôn chảy ướt cả vạt bào, tiếng khóc của tuổi thơ làm cho cả sảnh đường cũng động lòng chan chứa tình thâm, sự ngạc nhiên vô cùng, vì trước cảnh tượng chưa bao giờ có như thế này. Hoàng Hạc phất tay:

— Ngũ nam điệt bình thân, lại đây đứng gần tổ phụ. Tất cả lục Hoàng Đức cúi đầu thưa:

— Ngũ nhi chúc tổ phụ an hảo, chúc sư phụ bình an, chúc gia gia, quí thúc phụ, sư thúc, sư bá, mẫu thân, thúc mẫu, sư huynh, sư đệ sức khoẻ bình an. Hoàng Hạc thì gật đầu hài lòng, còn Hoàng Phi thì mỉm cười. Sảnh đường cũng như Phùng Nam, Lê Bình, Trần Đông, Đỗ Trương, Nguyễn Thành Trung đồng không hiểu câu chúc sư phụ là nhân vật nào ? Còn tổ phụ dĩ nhiên là tôn sư phụ Hoàng Hạc, như vậy sư phụ Hoàng Đức là một nhân vật có lai lịch không phải tầm thường, tại sao không thấy xuất hiện ? tất cả lòng người trong sảnh đường cùng một ý nghĩ muốn thấy sư phụ của lục hiệp anh hùng Hoàng Đức, dĩ nhiên sư phụ Hoàng Đức cũng đang có mặt trong sảnh đường.

Phùng Nam đương triều Tượng Quận Vương phủ Điền Việt cai trị đất Tượng Quận, luận về võ học đệ nhất đương thời, thế mà không biết sư phụ của Hoàng Đức đang ở trong sảnh đường là ai ? nhân vật này có thể còn cao hơn cả Tổ sư phụ là khác ? Phùng Nam trịnh trọng đứng lên, đôi tay chắp lại:

— Tại hạ cùng ngũ huynh đệ Tượng Quận, lấy làm vui mừng, xúc động khi nghe lục Hoàng Đức gọi Tôn sư phụ bằng tổ phụ, quả thực đây là một cơ duyên cho Điền Việt, cùng cả thảy Tượng Quận. Hai nữa ngũ huynh đệ tại hạ không biết tiên sinh sư phụ của lục Hoàng Đức hiện giờ ở đâu ? không biết phải thi lễ như thế nào cho phải đạo, xin kính mời tiên sinh xuất hiện để huynh đệ tại hạ thỏa lòng tiếp anh hùng. Phùng Hưng khoanh tay vẫn còn nước mắt, nước mũi dầm dề:

— Thưa gia gia, thúc phụ, quí sư bá, lục huynh đệ hài nhi, may nhờ sư phụ cứu sống đến ngày nay, tuy võ học của sư phụ không có là bao, nhưng đã là ân công một ngày cũng đủ để lục hài nhi tôn người làm sư phụ, vả lại sự phụ tuy rằng nhỏ tuổi nhưng đức độ hơn người, chúng hài nhi tôn người làm sư phụ không sai, sư phụ của lục hài nhi đang đứng hầu Tổ phụ. Đỗ Trương ngạc nhiên hỏi:

— Như vậy sư phụ của lục hiệp Hoàng Đức là lệnh điệt của Tôn sư phụ,  Tôn sư phụ lại là Tổ phụ của lục hiệp, tại sao lại như vậy huynh đệ tại hạ không hiểu gì cả ? Phùng Hưng khoanh tay dịu dàng, thưa:

— Thưa thúc bá, lục huynh đệ hài nhi có duyên tôn vinh sự phụ Hoàng Phi trước, rồi sau đó Tổ phụ để lòng thương chúng hài nhi, mới tiếp nhận nghĩa tổ phụ, tổ phụ dạy chúng hài nhi làm việc thiện sống tinh thần Bách Việt, lục hài nhi chỉ biết tổ phụ là người đạo đức, phù Bách Việt, chứ không biết tổ phụ là Tôn sư phụ của gia gia, thúc phụ, nếu biết trước thì lục hài nhi nào dám phạm thượng, tất cả vì tình nghĩa hiệp mà thành như vậy, hài nhi xin tôn vinh Tổ sư phụ của gia gia, thúc phụ. Nay chúng hài nhi xin trở về đạo gia, tuân lệnh bổn phận nhi điệt, xin phép không còn gọi Tôn sư tổ là tổ phụ nữa. Phùng Nam hiểu ngay liền cười:

— Như thế cũng hay lắm, lục Hoàng Đức thuận hòa, biết người trên người dưới, nhân đây huynh đệ Điền Việt đất Tượng Quận xin bái kiến tiên sinh Hoàng Phi, huynh đệ tại hạ không thấu hết, xin tiên sinh thứ lỗi cho, quả là anh hùng không luận tuổi tác. Hoàng Hạc liền cười:

— Đời là một con đường dài, có nhiều nẻo rộng, hẹp, mình làm sao biết trước để tránh ! Nhưng khi mình đi qua được để sống, thì mình lấy đó là sự duyên lành vậy, theo mỗ nghĩ, lục hiệp Hoàng Đức gọi mỗ bằng tổ phụ cũng là hợp lý trong tinh thần hành sự giang hồ, tuy mỗ là tổ sư phụ của quí huynh đệ, nhưng mỗ lấy tình nhà mà nung đúc lục hiệp, xem đây là nghĩa vụ đối với mai hậu, cho nên mới có ngoại hiệu là Hoàng Đức. Huynh đệ Tượng Quận nay đã cao niên, mà sống gần gũi với tuổi trẻ thì tâm hồn cũng trẻ, già trẻ phải bổ sung cho nhau những kinh nghiệm cần thiết, già phải nung đúc chí khí cho trẻ, cũng đôi khi già cũng cần trẻ nung đúc chí khí cho già, tất cả đừng ngần ngại học trẻ, vì trẻ có những suy nghĩ mới, táo bạo hơn, người ta thường nói “Suy nghĩ thời đại” là vậy, nếu không có suy nghĩ mới thì làm sao có Nam Việt ngày nay, tuổi trẻ là sức mạnh, đi trước mọi chặm tiến của người già nua, cũng là thành trì chống ngoại xâm.

Cả sảnh đường ai cũng đồng tình với tổ sư phụ Hoàng Hạc, đồng thanh hô lớn: “Bách Việt trường tồn” Phùng Nam trầm ngâm một lúc:

— Chúng đệ tử tuân lệnh của tổ sư phụ, tạ ơn Tổ sư phụ, nay lấy tình nhà mà xem lục Hoàng Đức như điệt nhi, tại hạ, đa tạ tiên sinh Hoàng Phi đã giáo hóa lục Hoàng Đức mới có ngày nay, tiên sinh bươi móc hậu đức to lớn này sâu tình nghĩa nặng. Huynh đệ tại hạ không biết bao giờ đền đáp. Bây giờ Hoàng Phi mới lên tiếng:

— Kinh thưa tổ phụ, thưa ngũ anh hùng Tượng Quận, hôm nay cũng có lục huynh đệ Hoàng Đức hiện diện, tiểu đệ nghe quí anh hùng luận không phân biệt tuổi tác, như vậy tại hạ mạo muội đại diện thanh thiếu niên Lạc Việt cùng đứng dưới ngọn cờ Tả đạo Nam Việt Vũ Đế (Cờ, biểu thị uy quyền của nhà vua, trang sức bằng lông đuôi cừu, dựng trên xa giá khi vua xuất thành) không để giặc nhà Hán xâm lăng cương vực Nam Việt, giá trị cao cả của toàn tôn tộc Bách Việt là chung sức chung lòng để “Hợp Việt Xuất Hán” xem đó là nghĩa vụ thiêng liêng.

Trong sảnh đường xúc động lời phát biểu của Hoàng Phi, ai cũng cảm nhận lời nói của Hoàng Phi là chí khí của tuổi trẻ ngày nay, người hơn mười tuổi mà đã thế thì sư phụ của lục hiệp Hoàng Đức quả nhiên nhân kiệt. Phùng Nam đắc ý:

— Kính mời tổ sư phụ, toàn thể quí huynh đệ đồng vào hậu sảnh đường tham dự buổi đoàn tụ để mừng chiến thắng cương giới Tượng Quận-Hán.

Hôm sau huynh đệ Phùng Nam thay mặt Tượng Quận, cùng tổ sư phụ thay mặt Nam Việt Vũ Đế, mật đàm đối phó với Hán, hẹn đại hội tại thành Phiên Ngung. Trong giờ nghỉ uống trà Hoàng Hạc cho huynh đệ Phùng Nam biết thêm về lục Hoàng Đức, tuy nhiên ông không nói quá khứ của lục Phùng Điền, ông chỉ nói hiện tại của lục Hoàng Đức để cho anh hùng Tượng Quận biết:

— Theo mỗ biết hiện nay quí huynh đệ Tượng Quận chỉ biết lục Hoàng Đức qua những trận chiến thắng anh dũng mà thôi, nhưng không biết thực lực của lục Hoàng Đức có phải thế không ? Phùng Nam sửng sốt:

— Thưa tổ sư phụ, theo lời dạy, chúng đệ tử chỉ biết Phùng Hưng là con, lại có tài dụng võ cũng như mưu lược mới được tin cậy, cho nạp binh cho có nhân lực mà đối phó với Hán, chứ ngoài ra không biết gì hơn nữa, xin tổ sư phụ cho chúng đệ tử thỉnh giáo. Hoàng Hạc lòng lạc quan, với một nụ cười nhân ái:

— Đây là sự phúc chung của Bách Việt, chứ không có gì đâu mà quí hiền đệ bối rối, khi mỗ đặt tên cho lục Hoàng Đức là có ý chuẩn bị cơ nghiệp mai sau cho Nam Việt, hiện nay quí huynh đệ chỉ thấy lục Hoàng Đức, nhưng chưa hiểu giá trị phần sau của nó, đây là một lực lượng tinh nhuệ trên ba trăm Hoàng Đức, đang hoạt động chuyên về kinh doanh từ cương giới Tượng Quận trên sông Tây Giang đến cửa biển Hổ Môn, với một lực lượng này biến thành binh mã trong nháy mắt, về kinh doanh có thể tiếp ứng được một phần lương thảo cho cuộc chiến giữa Nam Việt và Hán, điều này quí huynh đệ chưa thấy tài năng tuổi trẻ của ngày nay, họ có khả năng hơn mỗ nhiều lắm, lâu nay mình cứ xem thường tuổi trẻ, như câu: “Hỉ mũi chưa sạch mà đòi làm việc nước” Mỗ nói ra đây để quí hiền đệ vui mừng, cho con cháu của mình, nó đã biết lo việc nước rồi đấy, cũng nói thêm trong nội bộ Hoàng Đức luật rất nghiêm minh không tuyển mộ người bừa bãi, dù rằng quí huynh đệ giới thiệu cũng thông qua luật. Hoàng Đức tuyển chúng qua đức hạnh, võ học, và chí cường phù Nam, đây là nguyên tắc bảo quân của Nam Việt Vũ Đế, quí hiền đệ chú ý đừng hỏi xuất sứ của Hoàng Đức, ngày mai mỗ bảo lục hiệp Hoàng Đức trình bày cho quí huynh đệ biết để bảo mật .

Anh hùng Tượng Quận nghe Hoàng Hạc nói như vậy tinh thần rất phấn chấn, nhất là Phùng Nam không ngờ đứa con của mình lưu lạc giang hồ nay làm lãnh tụ Hoàng Đức từ Tượng Quận, Quế  Lâm, Nam Hải, lâu nay Phùng Nam xem Phùng Hưng không ra gì, bây giờ nghe chính Tổ sư phụ nói mới tin con mình hữu dụng, còn những huynh đệ của Phùng Nam thì lấy làm đắc ý, vì lâu nay Phùng Nam không hài lòng lục huynh đệ tiếp nhận Phùng Hưng, bây giờ sự đố kỵ của anh hùng Tượng Quận không còn nữa, họ cảm thông cho nhau vì việc nước không vì việc nhà.

Anh hùng Tượng Quận xưa nay vẫn xem Phùng Nam là đại ca, nay họ càng kính trọng hơn. Hoàng Hạc nhờ Phùng Nam lập một phòng riêng để ông gặp Hoàng Phi, Phùng Hưng, Lữ Gia, Lê Trung Kha, Mạc Thu Tá, Hoàng Quốc Kỳ. Ai cũng vui mừng, gặp nhau bất ngờ không hứa hẹn, cho nên miệng cười mà ra nước mắt. Hoàng Hạc ung dung:

— Tổ phụ, muốn lục nhi thuật lại trong thời gian qua để cho tổ phụ biết tình hình. Phùng Hưng đứng lên thưa:

— Thưa tổ phụ, thời gian đầu làm theo kế hoạch của tổ Phụ, lục nhi thực hiện hoàn chỉnh, bước thứ hai lục nhi không gần tổ phụ, tự bàn thảo, tự hoạt động lấy, hiện nay đã tổ chức giao dịch đường sông có trên một trăm con thuyền lớn nhỏ, mỗi thuyền có từ ba đến năm chúng Hoàng Đức phụ trách, mua thực phẩm của Hán với giá thật rẻ đem về bán lại cho dân lấy công làm lời, giao dịch này gọi là “hốt của Hán đổ vào Nam Việt” ngược lại mua những sản phẩm dư thừa của quê mình đem bán cho Hán, với giá cao hơn, Hoàng Đức còn mua võ khí, sắt thép, đồng, chì đem về lưu trữ.

Đây là kế “Hổ phục mèo” tại chỗ, khi lâm chiến người Hán không đáp ứng kịp lương thực, vũ khí. Trên bộ Hoàng Đức có hai mươi trang trại, tại trang trại Cửu Chân, đường biển chỉ có một thuyền di chuyển từ Hổ-Môn xuống Cửu Chân.

Trong tháng ở Cửu Chân có tổ chức tên là “Phục Hùng Bài Hán” nhân sự trên hai trăm, nay họ công nhận “Hợp Việt Xuất Hán” họ cho là hướng đi chính đáng, họ xin gia nhập vào Hoàng Đức, lục nhi chấp thuận, tuyển được trên trăm thanh niên tinh nhuệ, còn lại những thành viên không đủ sức khoẻ thì cho về địa phương với nhiệm vụ mới là phát triển Hoàng Đức địa phương, luyện tập võ nghệ và liên lạc, quyền lợi của họ cũng như thành viên tinh nhuệ.

Hiện nay Hoàng Đức có thêm bốn nghĩa hiệp, tổng cộng thập Hoàng Đức, họ nguyện sống cộng lực tinh thần “Hợp Việt Xuất Hán”, cách đây hơn tám ngày Hoàng Đức tuyển trong tàn quân của Nguyễn Hồng cùng giặc cỏ, được sáu trăm thanh niên tinh nhuệ, số còn lại hơn ngàn, cũng tổ chức theo mẫu Hoàng Đức ở Cửu Chân, tạm thời lập trang trại tại cương giới phía Tây, Nam Việt-Hán do bốn tổng bang và mười bang chúng Hoàng Đức phụ trách.

Đặc biệt nhất trong trận Mân Việt Xã bắt được nhiều tổ chức gian tế làm phản, gồm có năm tổ chức đang hoạt động tại Tượng Quận, như Tiên Thiên Đảng do huyện hàm Đại Lý làm đảng trưởng tên Tào Đăng sào huyệt tại núi Mạch Tứ. Chiếu Minh Giáo do Tiêu Đình Lân làm động chủ tại vùng núi Đô Di An, và núi Lin Căng. Cao Thượng Bửu Tòa Bang do Hoa Duy Hậu giáo chủ, sào huyệt núi Li Khu và núi Dao Tông. Bạch Y Chơn Lý Giáo, do Tăng Trung bang chủ, sào huyệt núi Lu Di. Liên Hòa Tổng Hội ở núi Đông Châu, do Lý Tồng Chu hội chủ, họ hoạt động bí mật, lấy núi rừng làm sào huyệt, thường xuyên di chuyển từ núi này qua núi khác, riêng địa chỉ Côn Minh có Ðại Ðồng Cộng Dụng trung tâm gian tế với Hán do Tăng Vĩnh Thứ. Chính họ làm hậu thuẫn cho Nguyễn Hồng, hiện giờ Hoàng Đức chẩn bị huấn luyện giám binh, tuyển chọn trong số thành viên Mân Việt Xã cũ đang sống tại địa phương. Cũng cách đây hai ngày Tượng Quận Vương, triệu tập trên hai trăm anh hùng, nghĩa hiệp đồng tâm đứng ra khử trừ những bang, đảng, giáo vừa kể trên, anh hùng Tượng Quận nhất quyết bảo vệ sự tồn vong của Nam Việt, Tượng Quận Vương rất tin tưởng tinh thần nghĩa hiệp anh hùng đất Tượng Quận.

            Nhân dịp này khám phá nhiều tài năng nhập cuộc trừ gian diệt bạo, đức độ, khả năng, tâm huyết trọng nghĩa, họ là rường cột Nam Việt. Ngày mai Tượng Quận bàn thảo đáng vào sào huyệt Minh Trị tại núi Mạch Tứ, và Thập nhị đại hiệp Tôn Nhân hội chia thành hai đạo đáng Thương Hồng động tại vùng núi Đô Di An và núi Lin Căng, về phần trú sở Côn Minh thì do Tượng Quận Vương đứng ra san bằng trọn gói, còn lại hai nơi theo kế hoạch “Lùa tà bắt quỷ phục thành chánh” như heo rừng vào bẫy, do bốn mươi anh hùng giang hồ mới xin gia nhập Tượng Quận, với Lạc dân tự nguyện chiến đấu. Những anh hùng này còn cho biết những đảng bang có dự trù, trong kỳ đại hội thành Phiên Ngung là cơ hội tốt để họ phát triển thế lực làm phản, có rất nhiều nhân vật tại triều đình làm gian tế.

Tượng Quận có trình tấu chương khẩn cấp lên triều đình, về tin thắng trận, có đính kèm danh sách gian tế.

Sau trận đánh Mân Việt Xã, có điều rất lạ không biết nguyên nhân nào thúc bá Nguyễn Hồng bỗng dưng chết, không có thương tích nào để lại, với sự biến mất người phụ nữ hầu thúc bá.

Phụ nữ này tướng mạo ốm yếu, người nhỏ thó, đôi mắt lương, da thâm, tuổi độ sáu mươi ngoài, thân cốt không võ nghệ, chỉ làm một việc hầu thiếp. Hoàng Hạc môi múm lại ngạc nhiên, không ngờ người đàng bà này giỏi về chất độc, ông thở dài:

— Lục Hoàng Đức không biết tung tích người đàng bà này sao ?

— Dạ, chúng hài nhi không biết gì cả, vì mọi sự có quí thúc bá lo liệu .

 — Trên giang hồ mọi việc khó biết trước, tuy người đàng bà này không biết võ học, nhưng lại biết dùng độc dược, sau đó biến mất để phi tang, việc này không đơn giản như vậy, nay biết thì phải đề phòng ngày sau, còn về Trịnh Đình Thao thì thế nào ?

— Thưa Tổ phụ, sư đệ Trịnh Đình Thao bị thương rất nặng, phải chuyển ra Hổ Môn, hiện đang nằm điều trị một trong những thương thuyền của tổ phụ. Hoàng Hạc vui mừng :

— Tốt lắm, nhưng Trịnh Đình Thao của lục nhi đã khoẻ nhiều chưa ? Phùng Hưng trả lời:

— Thưa tổ phụ, hai vết thương ở vai của tam đệ đã lành rồi, còn vết thương ở trước ngực đã lành phân nửa. Hoàng Hạc an tâm:

— Như vậy tổ phụ đã an tâm rồi, Trịnh Đình Thao tai qua nạn khỏi ! hiện nay tổ phụ rất hài lòng việc làm của lục nhi, đúng theo ý của tổ phụ, Hưng nhi, ngày mai Tổ phụ đi Nam Hải rồi đến Hổ Môn hẹn thập Hoàng Đức ở đó để ra mắt Nam Việt Vũ Đế, kể từ hôm nay Hoàng Đức là bảo quân Nam Việt Vũ Đế, ngày mai lục nhi trình nội vụ Hoàng Đức mà không được nói đến Phùng Điền, lục nhi hiểu ý của tổ Phụ chứ ? Phùng Hưng thưa:

— Thưa Tổ phụ lục nhi hiểu, vâng lời tổ phụ. Hoàng Hạc nói tiếp:

— Riêng Phi nhi chuẩn bị hành lý đi Nam Hải. Hoàng Phi đưa mắt ngó lục Hoàng Đức, ý muốn ở lại, rồi tháng sau hãy cùng đi với thập Hoàng Đức đến Hổ Môn, nhân dịp đi theo lục Hoàng Đức để biết đời sống giang hồ, nhân tiện chu du khắp miền của quê hương. Hoàng Phi thưa với tổ phụ:

— Thưa nội tổ, Phi nhi xin nội tổ cho đi cùng lục Hoàng Đức, ngày hẹn tái ngộ với tổ phụ tại Hổ Môn, đây là cơ hội để Phi nhi muốn tìm hiểu kiếm pháp của lục Hoàng Đức. Hoàng Hạc suy nghĩ một hồi, nghe ra Hoàng Phi nói cũng có lý, ông không trả lời mà chỉ gật đầu, như một mệnh lệnh đồng ý.

— Thưa nội tổ, Phi nhi xin lạy hai lạy, cảm ta nội tổ. Hoàng Hạc nói với Phùng Hưng:

— Bây giờ tổ phụ cùng quí hài nhi đến mộ phần  của Nguyễn Hồng. tất cả đồng ý cùng đi, . Đến nơi, ông xuất một quyền bốc mồ Nguyễn Hồng, đất trên mộ bay lên bốn hướng chỉ còn lại áo quan tài. Hoàng Hạc ra hiệu tất cả cách xa mộ hai trượng, ông xuất quyền thứ hai nắp quan tài bật ra, một luồn khói đen xanh thẩm mùi hôi nồng nặc bay ra. Một khắc sau Hoàng Hạc ra hiệu, tất cả đồng đến xem trong đáy quan tài, mọi người mới thấy chỉ còn là một bộ xương đem kịt, chưa kịp rã thành bùn non. Hoàng Hạc thở dài:

— Đúng là xương cốt của Nguyễn Hồng, còn người phụ nữ độc ác ấy là ai ? Trên thực tế ông đã biết là ai rồi, nhưng không tiện nói ra. Còn về Phùng Hưng có suy nghĩ riêng: Nếu như mỗ có chất độc này thì chế ngự được cõi giang hồ, còn Hoàng Phi suy nghĩ: Không thể tha thứ được những kẻ sử dụng chất độc hại người.

Hôm sau Hoàng Hạc từ giã anh hùng Tượng Quận, trong lòng ai cũng lưu luyến tổ sư phụ, tuổi hạc đã cao mà vẫn một đức háo sinh cho đất nước, chưa bao giờ tạo cho mình không gian hưởng thụ, tuy ông có một gia sản trải rộng từ Giang Tô đến Nhật Nam, thế mà ông vẫn sống như Lạc dân bình thường, ông là trưởng lão của họ Hoàng tại đất Giang Tô, ông giáo dục cả họ sống vì Bách Việt.

Hoàng phi và lục Hoàng Đức tiễn chân thêm một đoạn đường nữa rồi tạm biệt tổ phụ. Chiều hôm nay Phùng Hưng cùng ngũ Hoàng Đức trình bày tất cả sự việc trước anh hùng Tượng Quận, sau cuộc chiến thắng trận cương vực phía Tây, lục Hoàng Đức được toàn dân mến tặng ngoại hiệu “Lục hiệp Hoàng Đức Tượng Quận” đại gia đình huynh đệ Phùng Nam xúc động, từ đây Tượng Quận có một hình ảnh mới về mặt an ninh, đặc biệt người dân hy vọng niềm tin vào tuổi thanh xuân của lục Hoàng Đức, họ cho đây là những anh kiệt đất Tượng Quận mới xuất hiện.

Hôm sau ngũ Hoàng Đức, Hoàng Phi kính cẩn tạm biệt đại gia đình huynh đệ Phùng Nam, hẹn gặp nhau tại thành Phiên Ngung, cả sáu thầy trò thúc vó ngựa lên đường tiến xuống Nam đến động Lạc Việt .

            Đất Tượng Quận mở ra cuộc khai tử những đảng bang giáo gian tế, tuyển chọn được ba mươi nhất kiệt anh hùng văn võ song toàn, hai mươi nhị kiệt anh hùng võ nghệ xuất chúng, cầm binh trên ba ngàn quân tạp nhạp thu nạp tại cương giới.

Tướng và quân tất cả hoàn toàn mượn trại Hoàng Đức trước đây của “Mân Việt Xã” tại cương giới Bắc Tượng Quận làm nơi luyện tập ngày đêm để trở thành tinh nhuệ. Trong ba tháng ra sức luyện tập nay đã thành năm bộ quân thiện chiến, tướng sĩ binh pháp dũng mãnh, lập trận hợp chiến, đơn chiến, có cả Lạc giám binh, Lạc cảm tử binh.

            Tượng Quận Vương xuất binh, tứ trụ Mân Việt phong ban ngũ ấn, kiếm, cờ tướng phó soái, tướng phó tiền đạo, tướng phó tả đạo, tướng phó hữu đạo, tướng phó hậu đạo, tướng phó lương thảo.

            Đạo quân thứ nhất, do đại tướng soái Trần Anh Minh, phó soái Bạc Thành Công, tiền đạo tướng Hồ Khanh, tả đạo tướng Nguyễn Cừ Thông, hữu đạo tướng Lèo Bảo Cường, hậu đạo tướng Điều Đình Khá, tướng lương thảo Hà Thái Hầu, và các tướng Lạc dân Chiêu Minh,  Khằm Leo Sa, Lò Bao Lú, Vi A Tùng, Tòng Pha Tù, Ngần Pha. Tiến vào sào huyệt núi Mạch Tứ, đánh Tiên Thiên Đảng, do huyện hàm Đai Lý làm đảng trưởng, họ Tào tên Đăng.

Cùng ngày năm đại binh Tượng Quận tiến vào tất cả sào huyệt làm phản, gian tế. Tiên Thiên Đảng dùng thủ đoạn mê tín dị đoan, chiêu dụ người dân lương thiện nông thôn, kém hiểu biết về tâm linh, qua các pháp thuật đồng bóng, xin bùa trị bệnh, sai binh khiển tướng bằng hình nộm. Người dân xem những pháp sư như thần thánh, pháp sư xem họ như binh sĩ dự bị, từ đó pháp sư nẩy sinh cá nhân tham vọng.

Thầy trò pháp sư Tào Đăng trên hai trăm, bơi lội trong không gian mù mịt đầy danh lợi. Tiên Thiên đảng vắt hết xảo thuật bùa chú, cầu âm binh thu phục lòng dân hiếu tín, mê muội, những pháp sư ngày đêm vẫn loay hoay, ráng viết bùa hộ mệnh phân phát cho đảng chúng, đảng chúng nhận bùa chú xem như thần tiên bên mình, đại đa số không biết chữ, nếu có biết chữ cũng vài người là cùng, bùa viết nguệch ngoạc chữ không ra chữ, hình tượng không ra hình tượng, pháp sư chỉ cho họ biết đây là chữ của Tiên-thánh-thần, quả thực dù trên cõi Tiên-thánh-thần cũng không thể hiểu nổi chữ của pháp sư, chính pháp sư còn không hiểu, nhằm pháp sư vô học biết chữ đâu mà đọc, thế mà họ trở thành lãnh tụ của Tiên Thiên đảng, những câu chú cầu hồn cũng đặc biệt, pháp sư xướng lên không ai hiểu, cả chính họ cũng không biết nốt. Sở dĩ những pháp sư Tiên Thiên đảng có được một lực lượng là nhờ người dân quá mê tín dị mộng, thêm vào đó những pháp sư võ nghiệp hoàn toàn dốt đặc chữ lỏng, luyện tu tiên theo gia truyền sơ đẳng của một phần ngàn pháp Thái Thượng Lão Quân.

Nào ai có biết ! Lòng người là trung tâm quyền lợi cá nhân nếu người không có văn hóa thì trở thành bất lương, như những pháp sư đang nối tay chân cho gian tế Hán, họ mượn tập thể mê tín để phục vụ tầm nhìn hạn hẹp, tuy những pháp sư không biết tổ chức nhưng nhờ số đông cùng hành không theo ý muốn của pháp sư sai bảo, cho nên lương thiện hay hung bạo chỉ ở những pháp sư mà ra cả. Những pháp sư tự phong vương tướng quân, vương tướng đảng tiên thần v.v… Khi nào đảng chúng hồ nghi hỏi những pháp sư về thiên chức, thì họ trả lời “Thiên tướng do Thiêng Liêng ân phong”, thế là đảng chúng tin ! Đôi khi đảng chúng hỏi về sự hưng vong của Tiên Thiên đảng, thì Tào Đăng trả lời “Thiên cơ bất khả lậu” trên thực tế họ nào biết đâu là lậu, chính người đảng trưởng là nguyên ủy của sự làm láo lếu, mượn Thần, Tiên, Thánh để mưu đồ hù thể xác đảng chúng, nay Tào Đăng dù chết hay sống cũng phải liều dụng phép thuật, vì biết đó là cái giả Tiên Thiên đảng của họ Tào.

Khi chúng đảng Tiên Thiên hay tin, đạo quân Tượng Quận, do đại tướng soái Trần Anh Minh tiến vào bao vây sào huyệt núi Mạch Tứ.

Pháp sư Tào Đăng dựng đàng, nổi trống khua chiêng, cồng, chiêu hồn bảy ngày, chúng đảng rất tin tưởng không xuất quân mà vẫn thắng trận, tin tưởng pháp sư Tào Đăng là con của Trời, sau bảy ngày quân Tượng Quận sẽ tự tan rã, thì Tào Đăng sẽ xuống núi tiến vào Tượng Quận.

Đại tướng soái Trần Anh Minh được giám binh trình bày sinh hoạt nội bộ của Tiên Thiên đảng, tâm trạng đảng chúng chỉ là thành phần mê tín di mộng, thực lực trên hai trăm, phòng thủ sào huyệt như kẻ không biết dụng binh pháp, chỉ biết lập đàng độc thần chú, cầu hồn là chính .

            Sau bảy ngày đại tướng soái Trần Anh Minh mới tảo thanh, không ngờ cuộc chiến chỉ trong một ngày là chiến thắng, bắt được toàn bộ đảng chúng, những phù thủy con trời gian tế Tào Đăng bị thộp cổ.

Đại tướng soái Trần Anh Minh hỏi gian tế Tào Đăng:

— Thưa, đảng trưởng Tiên Thiên, nếu mỗ xin thủ cấp đảng trưởng con trời, thì lưỡi đao này đương nhiên là vô dụng, vậy mỗ phơ thử qua cổ, xem thủ cấp có rơi xuống đất không, thì mỗ sẽ tha tội chết và bái phục sư phụ xin làm đệ tử.

Tướng Trần Anh Minh xuất đao chỉ hai thành công lực, đầu của Tào Đăng rơi xuống như một sọ dừa tròn quay lăn trên mặt đất, đao xuất tiếp mười bốn pháp sư cùng cảnh như Tào Đăng, lúc bấy giờ đảng chúng mới hiểu ra là bị bọn Tào Đăng lừa gạt lòng tin. Đại tướng soái Trần Anh Minh, hỏi:

— Còn vị nào là con trời, dùng được pháp thuật xin đứng ra đây nói chuyện với lưỡi đao, không một ai lên tiếng. Đại tướng soái Trần Anh Minh, lời nhu thuận:

— Xin quí huynh đệ từ đây hãy bỏ cái pháp thuật ma mị, đừng chạy theo dục vọng cái không có, để rồi bỏ bê gia đình, bỏ bê chính sự sống của mình, không tạo được hạnh phúc cho ai cả, nhất là làm đồi trụy phong hóa Bách Việt, quí huynh đệ đã bị dụ vào mê tín quá đáng, để rồi hy vọng sẽ làm con trời bất khả xâm phạm, quí huynh đệ nếu có pháp thuật thì cử bạt tảng đá ba trăm cân kia thử xem.

Mỗ, mời quí huynh đệ xem kìa mỗi binh sĩ Tượng Quận đang cử bạt những tảng đá chướng ngại vật trên năm trăm cân, đó là pháp thuật do sự luyện tập sức mạnh thực tế. Hôm nay mỗ chỉ phơ đầu những tên lưu manh, gian tế, còn quí huynh đệ được lập tịch khoan hồng, nếu tái phạm theo gian tế lần thứ hai sẽ như Tào Đăng, đây cũng là dịp để quí huynh đệ tạo sự nghiệp tương lai, lấy cơ sở này làm nương rẫy làm ăn, lo luyện tập võ nghệ để đề phòng giặc Hán, sau này sẽ được tuyển vào quân binh cùng chung xây dựng Nam Việt. Nay thay đổi nơi này thành Lạc dân Mạch Tứ. Tất cả Lạc dân Mạch Tứ đồng thanh hoan hô từ đây đổi đời trung thành Nam Việt. Mặt trận núi Mạch Tứ chiến thắng không một tử binh, tin chiến thắng báo về Tượng Quận Vương .

Đạo quân thứ nhì, do đại tướng soái Từ Bình Cam, phó soái Lự Đại Ba, tiền đạo tướng Manh Bá Cao, tả đạo tướng Nam Tào Cường, hữu đạo tướng Trang Hoa Hào, hậu đạo tướng Mèo Bo Khan, nữ tướng lương thảo Bua Thái Phùng, và các tướng Lạc dân Nữ tướng Cà Châu Hà, Chẩu thổ Chi, Lềm Chí Ba, Lô Như Nguyệt. Tiến vào hai mặt vùng núi Đô Di An đánh Chiếu Minh Giáo, do họ Tiêu tên Đình Lân làm giáo chủ. Chuyên lấy thủ đoạn, mưu gian mẹo vặt của Hán, làm mục tiêu hoạt động, khởi đầu mua chuộc người nhẹ dạ, sau đó đưa người thân vào vùng núi Đô Di An để sống chung, trên trực tế là cả gia đình của giáo chúng phải sống ngoài vòng kiềm chế của họ, khi đã vào thì không còn lối nào để ra.

Chiếu Minh giáo thu phục nhân tâm bằng thuật tà đạo, cầu cơ nói chuyện tàm phào như  “Ngoại truyền chơn giáo”, ai yếu lý trí, dù khôn ngoan đến mấy cũng dại khờ, đem lòng xả thân làm con thiêu thân, một khi vào vùng núi Đô Di An rồi thì hóa ra “Cay đắng ngậm cười trách ai” xác ở núi Đô Di An, hồn phiêu phiêu, bạt bạt bay theo Chiếu Minh giáo.

Ngày nọ, Chiếu Minh giáo không ngờ trong sào huyệt lại có một hiệp khách võ học tuyệt kỷ trốn ra khỏi núi Đô Di An, đó là Nguyễn Pha Ưng, khi ra khỏi vùng núi Đô Di An, ông vận hết nội lực khắc sâu vào tảng đá một tấc với lời răn: “Hồn xác ai nấy giữ, đừng để Chiếu Minh giáo cướp mất, ma quỷ mượn lời trời đất, sát hại chúng sanh” Sau khi Chiếu Minh giáo tan rã, tảng đá này vẫn còn lưu tại chân núi Đô Di An.

            Đại tướng soái Từ Bình Cam, được giám binh Từ Chấn trình bày nội bộ của Chiếu Minh giáo:

— Thưa tướng quân. Chiếu Minh giáo buộc giáo chúng phải đọc thuộc bài kệ ma chú trong “Đại Thừa Chơn Giáo” họ còn nói rằng: Những lời đó do tiên tri đức Chí Tôn ban bố”, thực ra chỉ có những lời bịa đặt, do phàm phu tục tử Chiếu Minh giáo dựng đứng, họ lấy lời phàm giả ngữ Trời đất, quả là chuyện không nói có.

            Tướng soái Từ Bình Cam nắm được tình hình, ông khởi quân bốn cánh tiến vào, Nam do nữ tướng Bua Thái Phùng, Bắc do nữ tướng Cà Châu Hà, Đông do tướng Chẩu Thổ Chi, Tây do tướng Lềm Chí Ba và tướng Lô Như Nguyệt.

            Trận đầu phá tan những phù chú ngũ sắc vàng, xanh, đỏ, đen, trắng treo trên cây trong sào huyệt, biểu tượng màu vàng “Thầy ngồi trước án ngó ra” màu xanh “Phúc xa mạng lịnh bửu tòa đem sang” màu đỏ “Nên cho lật đật giáng đàn” màu đen “Hồng mông phân định trược ly thanh” màu trắng “Quân tử tri cơ tất đạt thành”.

Quân binh Tượng Quận tấn công thẳng lên phá tan những phù chú trên bích đá, dưới đất, với những câu ám muội như “Ðại thừa chơn giáo chuyển lần ba. Ðộ dẫn nhơn sanh đến bửu tòa. Lão luyện chơn thân hoàn chánh giác. Tổ truyền tâm pháp khả cần phanh”.

Đại quân của tướng Manh Bá Cao, tả đạo tướng Nam Tào Cường, hữu đạo tướng Trang Hoa Hào, tấn công không gặp một cản trở nào, gặp lúc mới biết Chiếu Minh giáo bùa chú đọc như sấm không có linh hiệu gì, chúng giáo bỏ thầy, chào bạn đạo tan rã như ổ kiến hôi, đã đến giờ chết rồi mà các đạo trưởng, đạo huynh, đạo đệ trong ban trị sự còn ngồi lên đồng.

Một vài pháp sư còn đốt bùa, cầu cơ để hù những ông đạo mù quáng, đúng là tay phàm mượn thánh thần giả tiên, trời đất.

Tay mò, chuyển cơ nhúc nhích, viết rằng: “Đạo vô vi ta không làm cũng thắng” đúng là bọn gian tế lắm mồm nhiều miệng.

Đạo quân đã ập vào bắt sống hơn hai trăm gian tế, đem ra pháp trường trừ khử thế là hết “Đạo vô vi ta không làm cũng thắng”. Tin thắng trận tại núi Đô Di An cấp báo về Tượng Quận Vương.

Trận chiến toàn thắng bắt được hơn bảy trăm giáo chúng. Tướng quân Từ Bình Cam, hỏi giáo chúng:

— Bà con phục thiện đương nhiên được Tượng Quận Vương ân xá, như vậy bà con nào muốn về quê sống thì được cung cấp lộ phí, còn bà con nào muốn chọn nơi này lập cư thì được cấp phát các phương tiện để sinh sống, tuy nhiên bà con được ưu đãi như toàn Lạc dân bình thường, không phân biệt đối xử, bà con tự do lập lấy người điều động sinh hoạt theo Lạc trang, nơi này đổi thành Lạc trang Đô Di An. Tất cả Lạc dân đồng thanh hô lớn : Từ nay bỏ tà qui chánh, nguyện sống theo “Cơm vua, lộc nước” nếu đất nước cần có Lạc dân Đô Di An .

Đạo quân thứ ba, do soái tướng Lê Trong Đại, phó soái Mai Công Quý, tiền đạo tướng Bế Hà, tả đạo tướng Hồ Tứ Thông, hữu đạo tướng Nguyễn Bả Tường, hậu đạo nữ tướng Nông Hoa Trinh, nữ tướng lương thảo Đèo Hoa Tài, và các tướng Lạc dân Lượng Thủ Tô, nữ tướng Nho Nhi, nữ tướng Panh Thư Hà, Xa Xi Quá, Xin phu Cao.

Tiến vào núi Lin Căng, đánh cận chiến với Cao Thượng Bửu Tòa Bang, do gian tế họ Tiêu tên Đình Dân. Lực lượng gian tế này sử dụng cả võ nghệ, bùa chú, trước khi xuất trận bang chủ độc thần chú, rồi phân phát bùa cho bang chúng, họ dán trước ngực, tin tưởng không một vũ khí nào vào người họ.

Quân Tượng Quận tiến vào như vũ bảo, không hề nao núng. Soái tướng Lê Trọng Đại, thúc quân binh đánh sát trận, hiện giờ đang tiến từng bước một vì địch thủ ngông cuồng. Phó tướng Mai Công Quý đánh vào hông, tiền đạo tướng Bế Hà kích tây, tả đạo tướng Hồ Tứ Thông phục địch, mũi giáp công đã chiếm được thượng phong, tỉa dần từng cụm quân gian tế, đích thân tướng Lê Trọng Đại phi thân vào đánh mười hai thức năm quyền “Phi thần tiễn” trời long, lở đất, cây cỏ rung động “ầm ầm” đất bay mịt mù “ào ào” bang chúng nghe cũng phải táng đởm.

Tiêu Đình Dân đồng xuất đao “Thiên nha tướng” đánh trên trăm hiệp chưa phân thắng bại, Lê Trọng Đại thấy hạ được tên này cũng khó, ông bỏ quyền xuất song kiếm nội gia tuyệt học, hai mươi thức bảy chiêu “Hổ châu phố” tiếng kiếm đao “keng keng” có nhiều tiếng xẹt chưa đầy hai khắc lấy được thủ cấp Tiêu Đình Dân. Bang chúng thấy chủ soái hóa thành thây ma không đầu, chí khí hung đảng buổi đầu bây giờ biến mất, song kiếm của tướng Lê Trọng Đại đi đến đâu là thủ cấp rơi xuống đất.

Phó soái Mai Công Quý thúc quân binh mạnh vào bên sườn hôn trái, rồi chuyển qua phải, một mình đấu với hai địch thủ cộng lại như Tiêu Đình Dân, tuy có núng thế ban đầu cũng đã lấy được một xác bang phó họ Trần tên Thu, còn một cao thủ trẻ, con trai đầu của Tiêu Đình Dân, tên Đình Thọ đao pháp tuy chưa tuyệt kỷ nhưng nội công có thừa, đao kiếm qua lại trên tám mươi hiệp không phân thắng bại, tướng Bế Hà đang kích tây phi thân vào trận đấu với Tiêu Đinh Thọ, tướng Bế Hà đưa địch thủ vào phục địch của tả đạo tướng Hồ Tứ Thông.

Tiêu Đinh Thọ dù nội công như núi cũng phải tiêu hao nội lực, dưới tay tướng Hồ Từ Thông, lúc này tướng Bế Hà đem tuyệt chiêu lưới sắt, phi thân bổ lưới hốt cá như ngư phủ vậy, Tiêu Đinh Thọ chết tươi trong lưới sắt, thân xác như thịt bằm vụn, bắt được hơn sáu trăm bang chúng còn dán bùa mê thuốc lú trên ngực. Tướng soái Lê Trọng Đại:

— Quí huynh đệ nào còn để bùa mê thuốc lú trước ngực đứng ra bên tay trái của tại hạ, vừa dứt lời, có hai mươi ba người đứng ra. Tướng soái Lê Trọng Đại xuất song kiếm chưa hết một khắc cả thảy đầu rơi từ từ xuống đất, số còn lại hơn hai trăm mạng, vội vàng tháo bùa mê thuốc lú ra khỏi ngực. Ông nói lớn tiếng:

— Còn ai tin bùa như phép làm hộ mạng xin mời ra thử kiếm của tại hạ. Không ai trả lời, ông nhìn xuống chân bang chúng Cao Thượng Bửu Tòa thấy toàn là bùa, ông hỏi tiếp. Quí huynh đệ bị bọn gian tế làm phản, lấy bùa chú lừa bịp người thế mà cũng tin cho bằng được, tại sao không dụng khả năng của chính mình để sống, tại sao không dụng trí tuệ để phán xét bàn môn tà đạo ?

Hôm nay quí huynh đệ nào còn có ý tưởng thiên đàng của Cao Thượng Bửu Tòa Bang, xin ra đây ? Tất cả bang chúng đồng suy nghĩ có va chạm sự thực mới biết bùa chú không phải là thứ linh nghiệm để sống, âu cũng duyên do tính ngưỡng tin người, mở cửa lòng nhẹ dạ để cho Cao Thượng Bửu Tòa Bang bịp bao lâu nay, quả là hổ thẹn, thì ra có trận chiến này mới mở mắt sáng. Tướng soái Lê Trọng Đại nói tiếp, kể từ hôm nay quí huynh đệ hối cải, xem như được ân xá, làm lại Lạc dân bình thường, dưới sự bảo trợ lập cư của tướng Lượng Thủ Tô, nữ tướng Nho Nhi, nữ tướng Panh Thư Hà, tướng Xa Xi Quá, tướng Xin Phu Cao.

Quí huynh đệ xem việc Lạc dân như việc nước. Tất cả đồng thanh hoan hô anh hùng công chính, vạn tuế hoàng thương Nam Việt Vũ Đế .

Thắng trận chưa kịp báo về Tượng Quận, thì được lệnh chuyển quân đánh vào sào huyệt núi Li Khu của Bạch Y Chơn Lý giáo, giáo chủ họ Hoa tên Duy Hậu. Sử dụng đầu lâu người khuất mặt làm bùa chú, đầu lâu phát ra tiếng rít “hù hù” do gió lộng đi qua đỉnh núi tạo ra âm thanh, tùy thuộc vào gió nhiều hay gió ít, âm thanh có lúc hú rít lên to nhỏ, kéo dài, kéo ngắn, tiếng hú tự động có nhiều cường độ khác nhau không bao giờ ngừng, người yếu đuối, nhẹ dạ, bóng vía nghe qua mất bình tĩnh sẽ bị mê hoặc.

Trên núi Li Khu chia ra làm hai cảnh giới: Thiên thai giới ở gần giáo chủ, ngạ quỷ giới ở sâu núi. Ngạ quỷ giới là nơi cư trú của những người ở lâu loạn trí và người mới đến. Nơi đây thử thách tâm thần bằng tiếng hú của ngàn đầu lâu, môn đồ là kẻ sai khiến, ngoan ngoãn vâng lời huynh sư trưởng. Môn đồ ở ngạ quỷ giới một thời gian dài, muốn lên thiên thai giới phải chịu bao nhiêu cực hình, mới chính thức được nhập môn cầu đạo, tuyên thệ trung thành giáo chủ Bạch Y Chơn Lý giáo muôn năm.

Soái tướng Lê Trọng Đại, được giám binh báo trình tỷ mỉ về sinh hoạt của bọn gian tế Bạch Y Chơn Lý giáo tại núi Li Khu. Ông quyết định trận này giao cho nữ tướng Nông Hoa Trinh làm tiền đạo, tả đạo tướng Bế Hà, hữu đạo tướng Nguyễn Bả Tường, các tướng còn lại phục binh như phó soái Mai Công Quý và tướng Hồ Tứ Thông.

Nữ tướng Nông Hoa Trinh mở đầu trận chiến đánh vào ngạ quỷ giới, bà ra lệnh quân sĩ bôi lên mặt bằng lọ nồi, đột nhập vào ngạ quỷ giới, qua những lỗ thông gió, rồi phá hủy tất cả đầu lâu. Từ trên đỉnh có một tiến tù và phát lệnh toàn quân sĩ đánh xuống, mở cửa ngạ quỷ giới trống, không có phục binh. Bỗng nhiên toàn giáo chúng không còn nghe tiếng ngạ quỷ, nhưng thấy toàn mặt đen xuất hiện, vốn đã sợ cho nên tất cả bỏ chạy về hướng thiên thai giới làm tán loạn, tạo ra cảnh không còn trật tự, lo sợ mặt đen từ trên đầu lâu xuất hiện. Giáo chủ, trưởng giáo và giáo chúng hoang mang, đạo binh mặt đen chạy vào thiên thai giới, cũng đúng lúc phục binh của các tướng phó soái Mai Công Quý và tướng Hồ Tứ Thông đánh vào, còn tướng hữu đạo Nguyễn Bả Tường thì chiếm đóng ngạ quỷ giới.

Nội bộ Bạch Y Chơn Lý giáo phản ứng không kịp, rối loạn không còn thần trí điều động được ai, kết thúc trận chiến không đầy nửa buổi đã bắt hết toàn bộ gồm giáo chủ, giáo trưởng, ban trị sự. Giáo chúng trở thành một bầy ngơ ngáo.

Soái tướng Lê Trọng Đại ra lệnh thanh lọc, bắt những phần tử dơ bẩn xã hội, như giáo chủ Hoa Duy Hậu, mười chín tay chân trưởng giáo, năm mươi phó giáo trừ khử trước, giáo chủ Hoa Duy Hậu hy vọng được tha tội, tự khai hết những hành động của ông cùng với trưởng-phó giáo làm gian tế cho Hán.

Quyết định của soái tướng Lê Trọng Đại, truyền không tha gian tế, ra lệnh tử hình bảy mươi cao thủ đại bịp, kết thúc Bạch Y Chơn Lý giáo tại núi Li Khu.

Thành phần còn lại tổng cộng tám trăm ba mươi hai người nguyên là nạn nhân của Hoa Duy Hậu, được lệnh thăm viếng lại ngạ quỷ giới, lúc này tất cả thực sự tỉnh lại mới biết ý đồ Hoa Duy Hậu dùng đầu lâu, mượn gió làm phép sai khiến người.

Soái tướng Lê Trọng Đại ra lệnh phá hủy ngạ quỷ giới, để lại thiên thai giới, lập cư mới lấy tên Lạc trang Đời mới, ngày sau người ta thường gọi Lạc trang Đời mới, tại núi Li Khu sống bằng nghề nông, ruộng lúa từng cấp trải theo triền núi, gọi là lúa nước, có nơi gọi lúa trời.

Đạo quân thứ tư, do soái tướng Quảng Minh, phó soái Cầm Con, tiền đạo tướng Lý Kha, tả đạo tướng Bun Ca Thọ, hữu đạo tướng Vũ Bảo Cường, hậu đạo tướng Mạc Di Há, tướng Nguyễn Hân phụ trách lương thảo và các tướng Lạc dân Phia Hụ, Phìa Tương Da. Tiến vào sào huyệt núi Dao Tông, đánh Bạch Y Chơn Lý giáo, do họ Hoa tên Duy Bấu phó giáo chủ, em của Hoa Duy Hậu. Chuyên dùng thuật “Chiêu hồn sai binh” lực lượng của Hoa Duy Bấu chỉ có hơn ba trăm người, đóng trại rải rác khắp núi Dao Tông.

Soái tướng Quảng Minh nắm trong tay sơ đồ trại địch, và qui luật của bọn Hoa Duy Bấu. Ông chia thành hai mũi tiến công vào trận chiến, đánh đêm chỉ dùng một trăm quân giám binh thiện chiến, đích thân ông chỉ huy, vốn ông biết thiên văn hiểu thuật chiêu hồn sai binh. Xuất quân vào giờ “Thái sơ” thì thắng, vì đó là cung chu kỳ chuyển động vị trí của thiên thể. Thuật trận “Thái sơ” trong kinh của “Thái thượng lão quân” còn thuật trận “Chiêu hồn sai binh” của các ông thầy pháp.

Soái tướng Quảng Minh dùng trận “Thái sơ” để lập trận, thử xem tài cáng của Hoa Duy Bấu đã đến cảnh giới nào ! . Thực ra ông thừa biết thuật “Chiêu hồn sai binh” không sử dụng được ban ngày, tuy vậy ông vẫn bày trận đánh đêm.

Đúng tám giờ tối ông chỉ huy ba mươi binh sĩ, và một ngàn quân hình nộm làm bằng rơm tiến vào trận, đánh với hai trăm quân của Hoa Duy Bấu, quân của ông chỉ được la hò hét, cùng với tiếng phèng la và trống trận. Cả núi rừng Dao Tông vang động cho đến bốn giờ sáng mới được lệnh rút quân.

Sáng sớm hôm sau soái tướng Quảng Minh truyền lệnh cho phó soái Cầm Con chỉ huy trận chiến, tiền đạo tướng Lý Kha, tả đạo tướng Bun Ca Thọ, hữu đạo tướng Vũ Bảo Cường, hậu đạo tướng Mạc Di Há.

Đúng bảy giờ sáng xuất quân binh mãn, đánh vào sào huyệt của Hoa Duy Bấu. Như binh sách đã định, tiến quân thần tốc, quân đến đâu bắt sống địch đến đó, đến giờ ngọ san bằng được sào huyệt, bắt sống hơn hai trăm giáo chúng.

Hoa Duy Bấu không ngờ trận chiến đêm qua chỉ là hư, chính ông thấy một ngàn quân Tượng Quận không đánh nổi hai trăm quân Dao Tông. Ông tự hào, xem đêm qua như chiến thắng trận đầu, ông còn suy nghĩ xem thường quân Tượng Quận chỉ có tài miệng phèng la. Ông ra lệnh dưỡng binh, chờ giờ ngọ xuất binh, ông đứng trước ngỡ ngàng vì quân Tượng Quận lấy trận chiến sáng sớm làm thật.

Soái tướng Quảng Minh xuất lệnh trảm Hoa Duy Bấu, lập tịch lạc dân trả về quê quán, toàn giáo chúng đồng hứa từ nay không tham gia làm phản. Núi rừng Dao Tông trở lại yên tĩnh, vĩnh viễn không còn bóng Bạch Y Chơn Lý giáo .

Đạo quân thứ năm, do soái tướng Tạo Trà, phó soái Sầm Thương Đa, tiền đạo tướng Pha Khô, tả đạo tướng Nhật Cổ Thi, hữu đạo tướng Ngưu Vu Độ, hậu đạo tướng Mè Đình Khả, lương thảo tướng Lộc Trường, cùng các Lạc dân nữ tướng Quàng Bo, tướng Tày thô Tô, tướng Vang Phước. Đồng tiến đánh Liên Hòa Tổng Hội, do hội chủ Lý Tư Chữ làm lãnh tụ, Liên Hòa Tổng Hội lấy eo núi Động Châu thuộc ngọn núi Lu Di làm sào huyệt .

Lý Tư Chữ học kinh dịch từ thầy làng, sau gặp một gian tế Hán chỉ thêm cách bói tướng số và thủ thuật “Ngọt mật chết ruồi” từ ấy liên hệ mật thiết với người Hán. Vốn tính của Lý Tư Chữ thấy duy lợi là nhận, duy đức là bỏ. Ông lập ra Liên Hòa Tổng Hội vì mục đích duy quyền giáo chủ muôn năm. Ông còn duy tình, tiền ra vào như nước, ông bảo giáo chúng rằng “Đạo chúng công quả vật chất, tinh thần, thể xác cho Liên Hòa Tổng Hội sẽ được hưởng phước đức đời đời, nhất là lập phước cho con cháu mai sau”. Riêng về duy tình ông có bảy bà vợ trẻ, đời sống trên núi của ông không khác nào một đại vương gia.

Ông còn hứa hẹn với khách hành hương, “Mai sau ông sẽ phân phát cơm vua, lộc nước” Đối với người chân chất, thực thà nghe qua bổng lộc là xem ông như thần tiên sống, vội vàng xin ông thu nhận làm đệ tử, tính đến nay Lý Tư Chữ thu nhận trên bốn trăm đệ tử .

Soái tướng Tạo Trà, đánh thẳng vào eo núi Động Châu, với một lược lượng quân binh võ nghiệp hoàn chỉnh, còn bên của Lý Tư Chữ là một đội ngũ ô hợp, phần đông nữ nhiều hơn nam, cho nên sào huyệt mau tan rã, bắt được Lý Tư Chữ cùng sáu giáo trưởng của Liên Hòa Tổng Hội đem ra xử tử, còn tên gian tế Hán chạy thoát, điều tra không ai biết họ tên của y.

Soái tướng Tạo Trà ra lệnh tìm tên gian Hán, tướng Tày Thô Tô liền báo:

― Đúng là tên gian Hán, giả làm tiều phu đã xuống núi trước một ngày. Số đệ tử của Lý Tư Chữ lập tờ tịch Lạc dân được ân xá, trả về quê quán sinh sống .

Tứ trụ Mân Việt Tượng Quận, do tướng quân nguyên soái Nguyễn Thành Trung, tướng quân tiền đạo Lê Bình, tướng quân tả đạo Trần Đông, tướng quân hữu đạo Đỗ Trương. Tảo trừ trung tâm gian tế Ðại Ðồng Cộng Dụng do họ Trần tên Trung Việt, hoạt động bí mật tại Côn Minh.

Địa chỉ Phụng Cát Lầu là nơi hoạt động bí mật của Ðại Ðồng Cộng Dụng, ở đây che mắt được quân quan Tượng Quận hơn mươi năm qua, Phụng Cát Lầu có ba dãy, trung tâm Tây-Đông lan, nổi tiếng là nơi ăn chơi lịch sự nhất Tượng Quận, mỗi ngày tiếp trên năm trăm khách ra vào tấp nập.

Muốn khám phá tổ chức Ðại Ðồng Cộng Dụng không phải là dễ dàng, việc khẩn cấp không cho phép thời gian chậm trễ.

            Mân Việt Vương xuất lệnh quân binh của bốn tướng, nguyên soái Nguyễn Thành Trung, tướng Lê Bình, tướng Trần Đông, tướng Đỗ Trương đồng lấy quyết định phong tỏa Phụng Cát Lầu vào canh hai, lệnh phong tỏa nội ngoại Phụng Cát Lầu, bằng năm mươi chốt chận. Không một người nào được ra khỏi phòng, lục soát tỉ mỉ phòng buồng, lập tịch khách trú, cô lập chủ Phụng Cát Lầu, tửu bảo, nam nữ dịch, bắt được hai mươi ba người Hán đang ở dưới hầm kín, riêng tên gian Trần Trung Việt không có mặt, một lần nữa được xem như cao bay xa chay.

Tướng Tày Thô Tô cho giám binh về Côn Minh cấp báo, người Hán tên Trần Trung Việt vào eo núi Động Châu, sau đó giả làm tiều phu xuống núi Lu Di, y có mặt tại Phụng Cát Lầu nhưng không tìm ra vết tích ! Hiện chưa biết y ở đâu.

Mân Việt Vương Phùng Nam, xuất lệnh niêm phong, tịch thu giấy tờ, sách vở, hóa đơn, tài sản, ngân kim xung công vào kho Mân Việt. Cuối cùng vẫn chưa tìm được tên Hán gian Trần Trung Việt và người chủ Phụng Cát Lầu là ai ? .

Hồi 5

Võ Môn Trên Sườn Núi Lạc Việt

Huỳnh Tâm - Anh Hùng Nam Việt