Tàu đô hộ Việt Nam lần thứ nhì, mới có sạn đạo đi vào dãy núi Thất Long

Dãy núi Fan-sin-pan từ Tây-Tạng kéo dài xuống Đông Á, rồi nhỏ lại như đuôi con Khủng-long, người phía Nam gọi là dãy núi Trường Sơn, tại điểm xương đuôi con Khủng long hóa thành một quần núi Thất Long, hình thù như một ốc đảo, nội tâm có một động lớn, từ đó đến nay không ai biết động chủ bao giờ, tuy nhiên có tên là Động Lạc Việt .

Địa thế tam giác, Tây giáp huyện Phùng Ninh tỉnh Tượng Quận, Đông giáp huyện Đề Bao tỉnh Quế Lâm, Nam giáp huyện Ba Ba huyện Giao Chỉ, núi rừng trùng điệp, hùng vĩ, vách núi đứng hiểm trở, trung tâm núi Thất Long có ngọn Vân Sơn cao vút, mây phủ vói sát chân trời, người đời ban ngoại hiệu Vân Sơn Đài, ngày cùng đêm hơi nước bích đá bốc ra tỏa khí, thành hạt sương mù đọng lại nặng trĩu trên cành lá, chảy xuống như lệ, đỉnh đầu núi Thất Long mây bay bao phủ suốt ngày, như cảnh tình thực tại của dãy ngân hà. Không gian tĩnh mịch, mịt mù duyên cho những ai muốn luyện nhãn lực.

Người có tính sĩ đứng từ xa xa đã nhìn thấy núi xanh như vẽ, mây trắng quyện sườn non, khi ẩn khi hiện, tựa như cảnh trí thiên thai, u nhàn như bồng lai tiên động, ngọn Vân Sơn Đài có hai mùa xuân hạ, cũng là đầu nguồn của ba con thác nhỏ, một hợp lưu con suối chảy vào sông Kỳ Cùng rồi chảy ngược lên dòng sông Tây Giang. Động Lạc Việt ở trong thung lũng ngọn núi Vân Sơn Đài.

Hoàng Phi cùng ngũ Hoàng Đức vào trong động, cảm giác đầu tiên của Hoàng Phi tiếp nhận cảnh sắc không gian trong lành của đồng nội, trên bầu trời mây bay biến đổi nhiều hình tượng khác nhau, màu sắc chuyển động theo chiều gió, trong vách núi có ba thác nước chảy quanh năm, nguồn suối trắng bạc pha lê, hạt nước tung bay như hoa tuyết lấp lánh dưới ánh mặt trời, nơi đây thích hợp với những nhà ẩn sĩ, tu tiên.

Bên ngoài động, vách đá núi thiên nhiên cao đứng thẳng, cheo leo, che kín tạo thành một ốc đảo bí mật của trần gian. Phần trên thung lũng bốn bề tám hướng núi rừng, cổ thụ che phủ bóng mát lạnh mùa xuân. Trong động Lạc Việt là một thung lũng rộng trên hai trăm mẫu đất, đặc biệt có một vườn cây dược liệu quý như liên thảo, ngưu tất, linh lăng thảo, phù dung, bắc mộc qua, bắc sa sâm, cam kỷ tử, cao quí bán, cỏ cú, cam thảo, đào nhân, đại hoàn, hồng hoàn, hương phụ, hạn liên thảo, gừng, nghệ, mía lau, nhục quế, mai côi, quế hoa, sanh địa, thục linh, trần bì, táo, toàn nhục, thuốc cứu, thục đoạn, tùng tử và vài cây tùng bách đã lâu đời v.v…

Tất cả đã có bàn tay người sáng tạo. Hoàng Phi đứng trước rừng núi hùng vĩ, hỏi ngũ Hoàng Đức.

― Quí huynh đệ xem kìa trên cao có một tấm biển viết “Động Lạc Việt”, vậy ai là chủ của động này ? mình vào phải xin phép chủ đã, vào như thế này thì không tiện đâu, không một ai trả lời, chính lục Hoàng Đức trước đây đã từng ở trong động này qua nhiều tháng, rồi đến khi di chuyển lương thực, cùng một số ngân kim vào đây để dự trữ cũng chưa từng thấy người chủ xuất hiện, thực ra đây là động hoang liêu, vắng lặng, không còn vết tích của người trước, cho nên Hoàng Phi có hỏi cũng không ai biết để trả lời ! Phùng Hưng đành phải thở dài, rồi vấn an Hoàng Phi:

― Thưa sư phụ đây là động hoang vắng, không có chủ, chúng đệ tử vô tình vào đây được và cũng nhờ nơi này mới tự học hai pho kiếm để thi thố với đời. Hoàng Phi nghe Phùng Hưng nói vậy lòng cũng an tâm.

Động Lạc Việt nằm trên đỉnh cao nhất trong rặng núi Thất Long, đây chính là nơi khởi nghiệp của lục Phùng Điền, cho nên họ biết cửa ra vào của động. Hiện nay lương thảo dự trữ trong động có thể nuôi hai mươi người, sử dụng hết lương thảo phải đến hai mươi năm, còn ngân kim dự trữ tại hậu sảnh đường sử dụng hoang phí cũng từng ấy năm. Hang động to nhỏ trên một trăm lẻ tám, lục Hoàng Đức tổ chức rất chu đáo, nào lập kho chứa trong những động lớn, còn động nhỏ làm nơi ở riêng cho mỗi người, đặc biệt có một động trữ dược liệu thành phẩm, và nguyên chất dược thảo, có từ khi nào không ai biết, như Bắc mộc qua, Bắc sa sâm, Bắc mạch môn, Bạch thược, Cam kỷ tử, Chích huỳnh kỳ, Cao quí bán, Cam thảo, Đào nhân, Đài hồi, Đại hoàn, Đại nguyên thục, Đỗ trọng, Độc hoạt, Đột hượt, Đương quy, Đường phèn, Gừng, Khương hoát, Hồng hoàn, Hắc ngọc đoạn, Mã tiền, Mía lau, Minh phàn, Mộc quả, Nghệ, Nhục quế, Phèn chua, Phục linh, Phục thần, Phòng sâm, Phòng phong, Mai côi, Quế hoa, Quảng trần bì, Sanh địa, Tây quỉ thân, Thục linh, Trần bì, Táo, Toàn nhục, Tây tần giao, Thổ bạch truật, Thuốc cứu, Thục đoạn, Tây quy đầu, Tùng tử, Viễn trí, Xuyên đỗ trọng, Xương truật, Xuyên khung, Xuyên sơn giác v.v…

Hôm nay cũng là ngày lành tháng tốt, trong động Lạc Việt có thêm Hoàng Phi, nhưng lục Hồng Đức thì vắng mặt Trịnh Đình Thao, huynh đệ Hoàng Đức xếp đặt một chỗ ở riêng khang trang cho Hoàng Phi, trong động có một sảnh đường lớn rộng, một hậu đường tập võ thuật. Sáng hôm sau đúng là ngày cát nhật ngũ Hoàng Đức vào sảnh đường xin phép Hoàng Phi làm lễ thệ ra mắt sư phụ.

Đứng trước bàn hương án ngũ Hoàng Đức tuyên thệ như sau: Ngũ Hoàng Đức họ tên là Phùng Hưng, Lữ Gia, Lê Trung Kha, Mạc Thu Tá, Hoàng Quốc Kỳ, đồng kính bái nguyện từ đây một dạ không đổi thay lòng.

― Nhất thệ. Gìn giữ một lòng uyên nguyên, ngưỡng đức sư phụ. Chúng đệ tử đồng hướng về Bách Việt cầu xin ban ân, khai Cửu khiếu cho chúng đệ tử, từ đây dụng phúc đức, phục mạng vạn đại muôn dân, tuy sinh không cùng ngày nhưng đồng khải minh kiến đắc tâm hương, hướng lòng thăng hoa đệ tử thực hiện lời hứa phụng sự Bách Việt thiên thu.

― Nhị thệ. Chúng đệ tử, từ nay cải hóa không đồng sinh, nhưng đồng tôn tộc Bách Việt, xin được tử cùng ngày, hướng thiện vâng lời sư phụ, phụng sự đất nước không ngại khó, tự mình qui định thắng khổ, chúng đệ tử xin hứa lấy đức năng hạnh lực cùng sống vì đất nước.

― Tam thệ. Chúng đệ tử lấy đức chân thiện mỹ của sư phụ làm mục đích cứu cánh để thấu hiểu nguyên lý Bách Việt, nay lập lời minh thệ trước thiên bàn, chính thức tôn vinh Hoàng Phi làm sư phụ của ngũ đệ tử, trong buổi lời thề hệ trọng hôm nay, kính xin thiêng liêng đồng chứng minh. Lời minh thệ này như văn lực từ tâm, hóa hiện chứng thực hành động công phu đạo đức chúng đệ tử. Mọi tội lỗi lúc trước đến nay xin sư phụ hoàn toàn hủy bỏ, từ hôm nay được hạnh hưởng công đức sư phụ ban bố.

― Về phán xét. Chúng đệ tử nhận mọi phán xét của sư phụ, xem phán xét là trường thi thắng khổ sửa mình, ý thức lời minh thệ từ buổi ban đầu này như một quy ước trước sư phụ, nếu như mai nầy lòng dạ đổi thay, chiếu theo quy ước xin sư phụ phán xét theo luật giang hồ.

― Về ân xá. Chúng đệ tử nếu có hai lòng xin nhận hối cải, hồi tâm trở về toàn thiện, cầu xin lòng bao dung của sư phụ và sư huynh đệ. Hứa lấy nhân đức hòa sống cùng huynh đệ không tái phạm lần thứ hai, nếu không vâng lời sư phụ và chư huynh đệ sẽ bị phế truất không còn tại thế.

― Lời nguyện cuối cùng. Chúng đệ tử xin hứa nhận sứ mạng bảo vệ an ninh, phụng sự Bách Việt, mưu cầu thăng hoa đức hạnh, bảo cổ canh tân, lưu truyền cất cao ngời sáng văn hiến Hùng Vương. Nay lấy thân trải rộng lập nghiệp vì xã tắc thái bình, phù Nam Việt thịnh vượng, xin chứng minh lời thành cương quyết trọng đại hôm nay.

Chúng đệ tử từ đây tiếp nhận trọn vẹn thiên chức của sư phụ ủy thác không bao giờ sai. Dĩ Chứng.

Ngày nay Hoàng Phi chính thức là sư phụ của Hoàng Đức bang, nhiệm vụ của Hoàng Đức vẫn như cũ nhưng thay đổi hành động, riêng Trịnh Đình Thao không có mặt ở đây, đang trị bệnh ở Hổ Môn, nên phải chờ dịp sau tuyên thệ cùng với tứ hiệp Cửu Chân, Nhật Nam, hiện tại chỉ có năm đồng nhất tôn vinh Hoàng Phi làm sư phụ.

Hôm sau Hoàng Phi khởi sự luyện tập bảy mươi hai khẩu quyết kiếm cương “Tuyệt Cao Kỳ Kiếm” và một trăm lẻ tám khẩu quyết kiếm nhu “Phong Tâm Kiếm” Hoàng Phi chỉ học hai ngày đã thuộc hết hai pho kiếm, đọc thuộc lòng không bỏ qua một nét chữ nào. Đến ngày luyện tập Phùng Hưng sử dụng kiếm thép tự chế cho đúng với nội lực, chuôi kiếm cầm vừa tay, còn Hoàng Phi trên tay cầm kiếm mỏng dính chế tạo theo bí truyền của họ Hoàng. Phùng Hưng xuất hai mươi thức mười chiêu “Thiên lưu mạch” trong “Tuyệt Cao Kỳ Kiếm” và “Bạch lưu hùng” năm mươi sáu thức bốn mười lăm chiêu, đến chiêu thứ bảy mươi hai “Kiếm pháp phá kiếm pháp” Phùng Hưng dụng chưa hết khả năng chiêu pháp không như ý.

Hoàng Phi cùng với Phùng Hưng luyện kiếm đã hai ngày, theo nhận xét của Phùng Hưng, quả là sư phụ luyện kiếm chỉ hai ngày mà đã sử dụng kiếm pháp như những cao thủ trong võ lâm giang hồ đương thời, qua ngày thư ba Hoàng Phi tự luyện kiếm riêng, đến chiêu thức thứ bảy mươi hai Hoàng Phi cảm nhận trong cụm từ “Kiếm pháp phá kiếm pháp” quả thực khó hiểu, chàng phát hiện chính là bí ẩn của khẩu quyết.

Đó là nguyên nhân để Hoàng Phi xuất chiêu thức hư, Hoàng Phi cao hứng xuất kiếm không cần suy nghĩ, cũng chẳng cần biết chiêu số để làm gì, cứ thế đường kiếm tự xuất như thức vô ý, Hoàng Phi cảm nhận được thế kiếm thứ bảy mươi hai là thức vô ý của “Kiếm pháp phá kiếm pháp” Hoàng Phi xuất chiêu kiếm pháp vô ý lại một lần nữa để xác định thực hư, quả nhiên ngộ được kiếm pháp.

Qua ngày thứ năm Hoàng Phi tiếp tục luyện kiếm nhu “Phong Tâm Kiếm” với Lữ Gia, Lê Trung Kha, Mạc Thu Tá, Hoàng Quốc Kỳ.

Trong “Phong Tâm Kiếm” có một trăm lẻ tám chiêu thức rất tinh vi, khởi đầu học “Phụng xà hổ” nhưng đến tám chiêu cuối thì trong tứ hiệp không phát ra được lực kiếm, Lữ Gia, Lê Trung Kha, Mạc Thu Tá, Hoàng Quốc Kỳ xem như đến đó là tột đỉnh của võ học. Vì vậy chỉ sử dụng được một trăm chiêu thức mà thôi. Còn lại tám chiêu thức gọi là. Phong mạch kiếm, Phong huyết kiếm, Phong động kiếm, Phong ngã kiếm, Phong biến kiếm, Phong ly kiếm, Phong hòa kiếm, Phong vô kiếm.

Hoàng Phi thông minh, tinh thông kiếm pháp họ Hoàng cho nên trong vòng sáu ngày đã giải mật được tám chiêu kiếm cuối cùng. Hoàng Phi tập đi tập lại cho thuần thục tám thức kiếm trong “Phong tâm kiếm” Những ngày trôi qua trong động Lạc Việt, Hoàng Phi đã hoàn tất “Tuyệt cao kỳ kiếm” và “Phong tâm kiếm”. Thầy trò đấu kiếm xem tài, Phùng Hưng vòng tay nghi lễ mời sư phụ:

― Thưa sư phụ, luyện kiếm pháp mà không thực hành, thì làm thế nào để biết được đạt thành ? Hoàng Phi mỉm cười, gật đầu đồng ý thực nghiệm thử xem cao thấp thế nào với Phùng Hưng:

― Đúng thế, hay lắm, như vậy mỗ cùng đệ tử sánh nhau cho biết cao thấp nào nhá ? Cả hai thầy trò xuất kiếm đấu rới nhau, hơn kém dư trăm hiệp, nhưng Hoàng Phi luôn luôn thế kiếm nào cũng chứng tỏ thượng phong, tuy kiếm pháp không thấy gì là mạnh cũng không thấy có nội công, thế mà Phùng Hưng không hạ được Hoàng Phi, trái lại Phùng Hưng lại rất sợ đường kiếm của Hoàng Phi, đường kiếm Hoàng Phi chính đạo trong “Tuyệt cao kỳ kiếm” Phùng Hưng tăng sức vận nội công vào kiếm càng nhiều càng tốt, không ngờ như thể bong bóng bập bồng xì hơi, bị Hoàng Phi hóa giải hết. Bây giờ Phùng Hưng mới biết kiếm pháp của mình kém hơn sư phụ đến cửu bậc, Phùng Hưng chịu thua sư phụ.

Đến phiên tứ hiệp Lữ Gia, Lê Trung Kha, Mạc Thu Tá, Hoàng Quốc Kỳ, cũng xin đấu xem tài sức của sư phụ, Hoàng Phi chỉ sử dụng tám thức kiếm cuối cùng trong “Phong tâm kiếm” quả thực tám thức kiếm làm chủ phần thắng trước bốn cao thủ như Lữ Gia, Lê Trung Kha, Mạc Thu Tá, Hoàng Quốc Kỳ, cả thảy đồng chứng thực sư phụ của họ là bậc nhân thần đồng.

Lúc này Hoàng Phi mới đem hết những chiêu thức kiếm “Tuyệt cao kỳ kiếm” và “Phong tâm kiếm” đã luyện thành truyền thụ cho năm đệ tử, hôm nay năm đệ tử mới hiểu được toàn bộ chiêu thức kiếm “Tuyệt cao kỳ kiếm” và “Phong tâm kiếm” nhân dịp Hoàng Phi thử kiếm pháp họ Hoàng để biết võ học cao thấp đối với hai pho kiếm mới học được.

Hoàng Phi mời năm đệ tử cùng luyện kiếm, chia ra làm hai nhóm, thứ nhất Lữ Gia, Lê Trung Kha, Hoàng Quốc Kỳ, ba đệ tử dùng hết nội lực xuất một trăm lẻ tám chiêu “Phong tâm kiếm” nhưng vẫn không qua được thế kiếm thượng phong của họ Hoàng, đầu kiếm Hoàng Phi lúc nào cũng dính vào những yếu huyệt của ba đệ tử. Lữ Gia, Lê Trung Kha, Hoàng Quốc Kỳ lại càng tăng tốc nội lực vào chiêu kiếm pháp, không dám để sơ hở một yếu huyệt nào nhưng vô ích.

Kiếm Hoàng Phi đã chiếu thẳng vào ba cặp nhãn của Lữ Gia, Lê Trung Kha, Hoàng Quốc Kỳ, thấy vậy mới biết sợ, cả ba toát mồ hôi đồng nhảy ra ngoài vòng tỷ đấu, hai tay chấp lại bái sư phụ. Nhóm thứ nhì, Phùng Hưng xuất kiếm “Tuyệt cao kỳ kiếm” còn Mạc Thu Tá xuất kiếm “Phong tâm kiếm” Hoàng Phi vẫn sử dụng kiếm pháp họ Hoàng, lần này xuất chiêu tuyệt kỷ “Tam thập hoàng” đầu kiếm biến hóa như rồng trong mây bay ra như hổ vồ mồi, tỷ đấu được hai mươi hiệp thì thấy rõ hai đệ tử cũng dính vào tình trạng như nhóm thứ nhất. Cuộc tỷ đấu chấm dứt, cả năm đệ tử đồng quỳ xuống bái một lần nữa. Phùng Hưng thán phục, khoanh tay thưa:

— Thưa sư phụ, bao lâu nay chúng đệ dụng lòng học đức trọng của sư phụ, hai nữa cứ tưởng sư phụ tay trơn không có một tí gì võ học, chúng đệ tử thấy vậy mới truyền kiếm pháp để sư phụ hộ thân, không ngờ sư phụ luyện hai bộ kiếm pháp “Tuyệt cao kỳ kiếm” và “Phong tâm kiếm” nhằm tìm tinh hoa kiếm pháp để truyền lại những chiêu tuyệt kỷ, may được khởi lành chúng đệ tử gặp được sư phụ !

Chúng đệ tử không ngờ trời bao la, phủ ban nhân tài đức trọng không xa, cho nên người đời có nói: “Người tài, ngoài thiên hạ còn có người tài hơn”. Hôm nay chúng đệ tử quyết chí noi theo mẫu mực đức khiêm cung của sư phụ để sống cùng thiên hạ. Phùng Hưng thưa tiếp:

— Thưa sư phụ, khi nãy kiếm pháp “Tuyệt cao kỳ kiếm” và “Phong tâm kiếm” sao không thấy sư phụ xuất nội lực ? Vừa rồi sư phụ sử dụng kiếm pháp gì mà đệ tử chưa bao giờ thấy qua ? Hoàng Phi thực lòng, nói:

— Mỗ thực lòng học hai pho kiếm của quí hiền đệ tử, điểm cuối cùng mỗ đạt được là nhờ cái vốn “ý thả lỏng” cho đường kiếm bay phơi phới tự nhiên, đến khi nào đường kiếm kết thành thì gọi là thức, khi thành một thức nhắm mắt cũng hạ được địch thủ đó là “Kiếm pháp phá kiếm pháp” cũng như lẻ tám thức của “Phong tâm kiếm” trong “ý thả lỏng” nhờ vậy mới hóa giải, không cần dùng nội lực, nếu dùng đến nội lực thì ngoại cảnh không còn sự sống, một lát nữa quí đệ tử ra chiêu thử xem ! còn kiếm pháp mà mỗ đã sử dụng khi nãy là võ học của gia gia mỗ, còn cây kiếm này là vật gia bảo của mỗ, chỉ có một mình mỗ mới sử dụng được mà thôi, ngoài ra không có ai sử dụng được nó, dù gia gia mỗ nắm cây kiếm này cũng vô dụng.

Phùng Hưng xin phép cầm thử kiếm lên xem có phải thế không ? Tất cả ngũ hiệp Hoàng Đức ngơ ngác trước luận võ học của Hoàng Phi, kiếm pháp lại càng lạ lùng, riêng cây kiếm cũng không ai tưởng đến đó là bảo kiếm. Ngũ Hoàng Đức ngẩn ngơ một lúc rồi rủ nhau xuất chiêu “Kiếm pháp phá kiếm pháp” và lẻ tám chiêu thức “Phong tâm kiếm” như lời của Hoàng Phi chỉ dạy, quả thực cây cỏ tiện sát đất, những mảnh đá nhỏ chung quanh thành cát bụi, ngũ đệ tử vui mừng reo lớn:

— Không ngờ hôm nay kiếm pháp đạt như ý ! đa tạ sư phụ. Hoàng Phi tủm tỉm cười, đôi mắt trong sáng, ôn tồn:

— Quí hiền đệ tử đã sử dụng chiêu thức “Kiếm pháp phá kiếm pháp” trong ấy có một chiêu thức “Phong tâm kiếm” chưa đạt như ý của mỗ, hãy xem mảnh sỏi này đây .

Hoàng Phi thấy bên Tây thung lũng có một bầy chim đang đậu, liền xuất chiêu “Phong tâm kiếm” rất nhẹ không phát ra âm thanh, mảnh sỏi hóa thành bụi mù, bay đến cây cổ thụ, ngũ đệ tử thấy cả bầy chim rơi xuống đất “rào rào” sáu thầy trò chạy đến xem, tính ra có ba mươi bảy con chim mía rừng vừa chết nóng hổi. Lữ Gia vội hỏi:

— Thưa sư phụ, “Kiếm pháp phá kiếm pháp” trong lẻ tám chiêu thức “Phong tâm kiếm” có chiêu này hay sao ? Hoàng Phi bao giờ cũng lấy chơn tâm, đúng phép xử thế với người, chàng nói:

— Trong võ học mình phải sáng tạo ra chiêu mới, đứng trước trăm địch thủ muốn hạ được thì mình phải sử dụng chiêu này trong “Kiếm pháp phá kiếm pháp” lẻ tám thức “Phong tâm kiếm” Quí đệ tử hãy xuất chiêu xem thử thế nào ?

Muốn đạt kết quả phải thế này. Tâm khí tương thông, âm dương phối hợp, điều tiết vận hành khí, bồi đắp sở trường, điền khuyết sở đoản, đó là tụ nguyên khí, pháp huy năng lực cao siêu. Ngũ Hoàng Đức vâng lời đồng xuất chiêu, đúng như sư phụ truyền thụ, họ không ngờ tiếp nhận được kết quả như ý, họ vui mừng khôn tả, tất cả đồng reo lớn:

— Thưa sư phụ võ học tuyệt diệu, chúng đệ tử từ đây mãi mãi phục mạng sư phụ, cùng xin chọn nơi này làm đất sống không đi đâu nữa ! Hoàng Quốc Kỳ sực nhớ đến cây kiếm của sư phụ vội hỏi:

— Thưa sư phụ, chúng đệ tử muốn xem cây kiếm, mạo muội kính sư phụ ban tứ .

— Được thôi, Hoàng Quốc Kỳ cùng quí đệ tử tự nhiên, cầm thử xem, nếu thấy hay thì xuất vài chiêu cho biết. Hoàng Quốc Kỳ cầm cây kiếm thấy rất nhẹ, xuất chiêu hoàn toàn không được, đầu thanh kiếm mỏng dính, lắc lư như đuôi con diều phất phới, quả thực là cây kiếm vô dụng như lời nói của sư phụ, thế mà vào tay sư phụ hóa ra bảo kiếm. Ngũ Hoàng Đức không thể hiểu được cây kiếm này, muốn hỏi nguyên ủy lịch sử, nhưng không dám vì đây là kiếm gia bảo của sư phụ.

Bỗng Hoàng Phi hồi về ký ức. Nhớ lại kỷ niệm khó quên tại lò đúc kiếm, ngày ấy lên tám tuổi, chính Tổ phụ đúc kiếm cho mình, trong họ rất rộn rịp vì có tổ chức tiệc vui thâu đêm suốt sáng, nào là ăn xôi gà, cháo nấm, ăn các loại khoai nướng, bánh chưng, bánh nổ, ăn kẹo đậu phụng, uống trà. Những gia đình nhận kiếm tham gia vào việc thay phiên cầm cây thụt bỡ từ trên cao hai thước, đẩy hơi vào ống thụt bỡ bán kính ba tấc, cho lửa trong lò luôn luôn cháy đỏ, ngoài ra còn có nhiều người phụ trách, như nắm cây soi xem độ chảy của nước thép-đồng, tay xoay ly cho thép-đồng chảy đúng lửa, đưa than vào lò, thay mẫu khung kiếm.

Trong họ ai đến xem cũng được, không cấm đoán, mỗi khi đúc từ ba đến năm cây kiếm. Nhà họ Hoàng có phương thức đúc kiếm gia truyền đặc biệt, mỗi thanh kiếm đúc theo tuổi, võ học, nội công, cùng cá tính người sử dụng, do vậy gia gia không sử dụng được kiếm của Hoàng Phi, trái lại Hoàng Phi cũng không sử dụng được kiếm của gia gia, họ Hoàng có tất cả trên trăm cây kiếm, tuy những thân cây kiếm cùng một hình thể, nhưng khác biệt nhau rất nhiều, chỉ có người đúc kiếm mới biết giá trị từng cây kiếm một, họ Hoàng truyền thụ bí quyết đúc kiếm cho người trưởng nam, hay người xuất chúng nhất trong họ. Hiện nay ai cũng biết Hoàng Hạc là người giữ bí quyết đúc kiếm, còn truyền thụ cho người thứ hai thì khó mà biết được, trên thực tế thì lúc nào cũng có người thứ hai, cách đây ba tháng Hoàng Hạc chính thức công bố thứ nam Hoàng Biên là người thừa kế bí quyết đúc kiếm họ Hoàng.

Hoàng Hạc công phu trao bí quyết đúc kiếm cho Hoàng Biên đã hơn mười năm, tin này không tiết lộ trong họ, thế mới biết bí pháp đúc kiếm là một nghệ thuật của võ học đi đôi với phổ kiếm pháp họ Hoàng.

Trong nội vụ truyền nhân đúc kiếm họ Hoàng, chỉ có thúc phụ Hoàng Cương là không hài lòng, vì ông cho rằng chỉ có trưởng nam mới đủ tư cách truyền nhân võ học họ Hoàng !

Thầy trò trong động Lạc Việt đã trôi qua mười ngày tập luyện kiếm pháp, công phu nội công. Ngũ đệ tử nay tay kiếm đã dạn dày hơn trước, cũng vừa lúc ngày hẹn không quên phải lên đường đi đến Hổ Môn để gặp Tổ phụ Hoàng Hạc. Hoàng Phi muốn ở lại trong động.

— Quí hiền đệ tử đi Hổ Môn, còn mỗ xin ở lại động này mục đích để tự tọa công, mỗ nhờ ngũ Hoàng Đức thưa lại với tổ phụ, sau khi đại hội anh hùng Bách Việt bế mạc, quí đệ tử về đây đón mỗ về với gia đình, nay mỗ đến Phiên Ngung cũng không có ích lợi gì, nhờ ngũ Hoàng Đức chuyển lời chúc sức khỏe tất cả gia đình mỗ, nhân đây gửi lời thăm Trịnh Đình Thao.

Huynh đệ Hoàng Đức nghe Hoàng Phi nói ở lại động để tự tọa công cũng mừng. Phùng Hưng nhìn lên trời thở dài, tự nghĩ trong lòng. Thế là quang âm thấm thoát đã qua, như vó ngựa Phù Đổng. Nay sư phụ tự tọa công, đó là để chuẩn bị điểm hóa cho thập Hoàng Đức ư ? nụ cười đầy hy vọng:

— Thưa, sư phụ ở lại đây cũng phải, nhưng mà thân cô độc thì buồn lắm. Hoàng Phi muốn sống tự chủ, ý lòng không lo âu, chỉ cười, rồi đáp:

— Mỗ thú thực với quí hiền đệ tử, mỗ là công tử của họ Hoàng, điều này ai cũng biết, nhưng sự quan trọng nhất đối với mỗ là chưa được một ngày tự làm chủ chính mình, mỗ cũng không muốn xa gia gia, thân mẫu, mỗ rất yêu thương họ, nhưng âu cũng là khởi đầu cho sự xa cách tập làm người lớn, đối với mỗ đây là một dịp hiếm có không đến lần thứ hai. Từ khi mỗ theo Tổ phụ cho đến nay, mỗ mới nhận ra việc làm đầu tiên là phải tự lập, không nên ỷ lại gia đình, trước mắt mỗ thấy quí hiền đệ tử cũng thế, biết sống theo cung cách nghĩa hiệp, tìm cho mình một tâm hồn sinh động, sống theo ý chí riêng của mình, nay xa gia đình chỉ là thời gian tạm, cho nên mỗ muốn ở lại đây cũng vì mục đích sống ấy, sao quí hiền đệ tử thấy thế nào ? Tất cả ngũ Hoàng Đức nghe Hoàng Phi nói như vậy cũng phải, vì con đường mình đi qua cũng là con đường ngày nay Hoàng Phi đi đến, tuy hoàn cảnh của ngũ Hoàng Đức khác với Hoàng Phi, nhưng tất cả cùng bắt đầu từ tuổi trẻ. Ai cũng đồng ý lời nói của Hoàng Phi ở lại động là chính lý. Phùng Hưng đắc ý:

— Thưa sư phụ, trong động có ba cửa, tại cửa Tây để đi vào, cửa Nam để đi ra, mỗi cửa có sáu chốt bằng đá, ra vào hai cửa từ giờ Tý cho đến canh năm, riêng cửa Đông là cửa sống của động, khi đóng cửa Đông lại xem như bên ngoài thung lũng là cảnh hoang vu, cửa động này có chín chốt cũng bằng đá, trong động cửa Đông là trung tâm đại sảnh đường rất bí mật, chỉ có sư phụ và lục huynh đệ biết mà thôi, tất cả tiện nghi sinh hoạt đều ở trong cửa Đông, ngoài ra trong cửa động Đông còn có một cửa thiên nhiên bề ngang rộng một thước hai, lục huynh đệ chưa hề ra vào cửa này vì rất nguy hiểm, vách núi đứng thẳng, cao trật óc, xa cả tầm mắt, chót vót cheo leo, sương mù phủ khắp quanh năm.

Nay sư phụ ở lại đây chúng đệ tử chỉ lo ngại nhất về sức khỏe, ngũ đệ tử hứa sẽ trở lại sau ngày đại hội, thôi kính tạm biệt sư phụ. Hoàng Phi vui mừng, gật đầu tỏ ý ưng thuận, vui cười:

— Tạm biệt ngũ đệ tử, chúc sức khỏe bình an, nhớ ngày hội ngộ, đừng bỏ mỗ nhé ? à còn một việc mới nhớ ra, mỗ có kết nghĩa với hai hiền đệ tên là Trịnh Trường và Lý Bình Trung, hiện giờ cũng có nhẽ đã đến sơn trại Hoàng Đức rồi, nhờ quí hiền đệ tử tạo điều kiện công phu võ học cho nhị đệ của mỗ nhá ? mỗ thay mặt nhị đệ đa tạ trước. Phùng Hưng biết ông sư phụ trẻ có tính thương hiền đãi sĩ:

— Thưa sư phụ, việc ấy thì chúng đệ tử sẽ lo liệu chu toàn, đây là bổn phận, sư phụ đừng nhọc tâm, bây giờ chúng đệ tử kính xin tạm biệt sư phụ, ngày đãi vọng không xa.

Vào lúc trời canh hai, ngũ Hoàng Đức thẳng hướng đến vịnh Hổ Môn, kẻ đi người ở chạnh lòng thương nhau.

Hoàng Phi sống một mình trong động, ngày cũng như đêm chỉ có quạnh quẽ, tịch liêu làm bạn, tuy vậy chàng không để lòng, chỉ lo luyện tập võ học kiếm pháp, nội công, cùng lúc luyện Ngọc Thanh kiếm pháp, mà chàng đã học lóm được ở Phong Lưu lầu, ngoài ra còn luyện các môn võ học của họ Hoàng như “Mục bạch kim” quyền, huyệt đạo, Hoàng kiếm, Hoàng thư.

Lần đầu tiên chàng sống cô độc, cảm thấy ngày dài vô tận, đêm ngắn chỉ một canh, vài ngày sau chàng sống bình thường với không gian đã định, rồi đâu cũng vào đó sự bình yên thấm vào lòng người.

Chàng để ý xem xét cảnh vật trong động, trên đỉnh đầu là một không gian nhỏ, mặt trời không có hoàng hôn, bóng chiều tà, chỉ biết ánh sáng đó là một ngày trôi qua, nỗi lòng hiện lên nhớ câu ca dao của cô mẫu Hoàng Lữ Trinh thường ru mỗ ngủ vào buổi chiều tà “Chiều chiều ra đứng ải vân, Chim kêu gềnh đá, gẫm thân thêm buồn” trong lời ca quả là bốn bề im lặng như tờ. Màn đêm buông xuống cảnh núi rừng lúc ấy mới thật là âm u ghê rợn, chỉ thấy một màu đen dày kịt, lâu lâu nghe hạc đi ăn đêm cất tiếng kêu rời rạc, tiếng côn trùng âm diệu liên hồi, có tiếng vọng lại từ xa của dã thú.

Đêm hôm sau bầu trời sáng âm không thấy bạch thố đi qua Vân Sơn Đài, mới biết “Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời”, xem ra còn vài ngày nữa là rằm tháng chạp. Hoàng Phi tự nhủ thầm thì ra nay đã giữa mùa đông, chuẩn bị vào đầu xuân tết đoan ngọ, mỗ được mười một tuổi rồi đó !

Mỗ còn nhớ, ngày mồng chín tháng giêng đầu mùa xuân này, đại hội anh hùng Bách Việt khai mạc tại thành Phiên Ngung, cả nhà thân thuộc đếu tham dự vào ngày đó, lòng mỗ ray rức không yên, nhớ tất cả mọi người nhất là mẫu thân, nghĩ đến đây lòng động, nước mắt tự trào.

Chàng trực nhớ mình không còn là trẻ bế bồng của mọi người thân nữa, nay chính mình phải can đảm để tập làm người lớn, hay một ông cụ sống ẩn cũng tốt. Hoàng Phi vung người đứng dậy tự nói, đúng vậy có khổ mới biết đời khổ, có gian nan mới biết đường đời khó khăn. Mỗ là Hoàng Phi chưa biết khổ, chưa biết gian nan mới ở trong động này hơn tháng mà nước mắt rơi lệ ư ? Mỗ chẳng phải là kẻ hèn, mỗ phải tự lập chí từ hôm nay ! Có xá chi cái cảnh u huyền này chứ.

Trong đêm Hoàng Phi tay cầm kiếm nhảy ra thung lũng, xuất chiêu số bạt kiếm, xuất quyền ào ạt, một hồi lâu tinh thần sảng khoái đầy ấp nghị lực, chàng vào động ngủ một mạch cho đến trưa hôm sau.

Từ ấy Hoàng Phi là bạn đời của thiên nhiên, cả ngày luyện tập tất cả các môn trong võ học đã biết và tự sáng tạo những chiêu số trong võ học họ Hoàng như kiếm, Mục bạch kim, Quyền pháp, Huyệt đạo v.v… Tuy chàng là tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt, nhưng ở vào hoàn cảnh này, chàng cảm nhận sự sống có những gì thôi thúc tính trẻ vươn vai vào đời.

Chính trong động này cho chàng một cuộc sống đổi thay hoàn toàn mới, có thế nói đắc ý nhất của sự tự do. Những tuyệt chiêu “Kiếm pháp phá kiếm pháp” cũng tự do xuất ý mà đường kiếm thâm diệu hơn trước nhiều. Bổn tính của chàng nhờ trí tuệ phát khởi, biết dụng ưu việt của võ học để phát năng, vốn Hoàng Phi đã có căn khí thông minh, cũng như tính hiếu động mạnh không bỏ lỡ cơ mỗi khi mắt thấy, tai nghe. Tính cũng khác thường tự ý lục lạo, tìm tòi để cần biết mọi sự trước mặt, chàng không bao giờ ngại khó.

Sinh hoạt của chàng ngày và đêm chỉ có công phu võ học, độc sách, ăn cơm, lục lạo trong động. Hoàng Phi thích thú nhất là sục tìm khắp nơi trong cửa động Đông, trong động có rất nhiều ngõ ngách kỳ lạ, như to rộng sâu thẩm, ngắn dài, đường cùng.

Hoàng Phi suy nghĩ thầm rất tiếc phải chi có thêm một hay hai bạn cùng tuổi với mình tổ chức trò chơi cút bắt thì vui biết mấy, thôi thì mình chơi một mình cũng được vậy ! Mỗi khi chàng đi qua một ngõ ngách để lại dấu vết bằng số, nhằm để chỉ lối trở về. Chàng khám phá được ngõ xuống đáy núi có một dòng suối ôn tuyền, khí hậu thoáng, thời gian xuống đáy mất hơn hai khắc, hôm sau khám phá được đường lên đỉnh núi chỉ mất một khắc, đứng tại đây mới thấy hết đường chân trời, ở phía trong là một gian nhà ngũ giác không có mái, rộng hơn trăm thước.

Lần sau Hoàng Phi xuống đáy núi để xem xét kỹ lưỡng, tìm thử dấu vết tiền nhân, nhưng không thấy gì cả, ngoài dòng suối ôn tuyền trong veo. Nhãn lực của chàng thấy kỳ lạ hiện ra bảy hình tượng, bốn hình tượng tọa tĩnh ngồi, ba hình tượng tọa tĩnh nằm. Hoàng Phi hiếu kỳ tò mò, tự làm theo hình tượng thứ nhất, chàng tĩnh tọa, trước mặt hiển hiện thấp thoáng bóng mật ngữ nhất pháp “Thiên Đế Cư”. Chàng luôn miệng độc:

“Ðại la võ đế

Hóa dục quyền sinh

Thống ngự vạn vật”

Trong người của chàng có dấu hiệu biến hóa thành chuỗi khí liên kết, thân thể bất động, nội ngoại tâm phóng được ý tạp. Cửa “Nê hoàn cung” hấp thụ khí dương chảy vào thần kinh, động tinh khí đưa đến “Thái hư” từ ấy chảy vào “Thiên tiền” xuống đường xương sống đến huyệt “Phong phù”, rồi hồi về “Nê hoàn cung” hóa khí âm xuất ra ngoài thân.

Gọi là nhị khí hội tụ “âm dương” trong cơ thể, chàng nhận rõ ràng trong đường xương sống ấm áp, từ “Nê hoàn cung” đến huyệt “Phong phù” kết quả luyện tập hình đồ, thuộc lòng khẩu quyết thứ nhất. Trong khi luyện tập diệu dụng được nhị khí “âm dương” thân thể tự nó bay bổng là là trên mặt nước, toàn cơ thể thoải mái, ấm áp lãnh hội được huyền ảo. May cho Hoàng Phi lúc trước khởi nguyên luyện thập pháp tĩnh tọa, vận khí, năng công với tổ phụ. Đúng là “Ngẫm cơ hội ngộ, để dành hôm nay” chàng tiếp tục công phu nhị bí pháp “Thiên Đế Cư”.

“Nguy chiêu thượng bách vô kinh ”

Nhược thiệt nhược hư

Bất ngôn động háo biến thiên hóa

Vô dịch bách dịch chơn quần linh”

Chàng nghe văng vẳng bên tai như có tiếng người:

— Phi nhi mở cửa “Nê hoàn cung” hấp thụ khí dương bên ngoài chuyển vào cửa “Nê hoàn cung” dụng thần kinh chuyển khí dương đến huyệt “Thái hư” từ ấy chuyển vào “Thiên tiền” xuống đường xương sống qua “Phong phù” vào huyệt “Trí đường” rồi hồi về “Nê hoàn cung” xuất khí âm ra ngoài, đã thành công một tọa tịnh mới rồi đó.

Chàng tiếp nhận sự tập luyện đến cùng, khí âm dương ấm áp tại “Nê hoàn cung” đến huyệt “Trí đường” rồi chuyển trở về “Nê hoàn cung” hóa khí âm xuất ra, kết quả lần thứ hai, một vòng tròn hơi ấm theo tứ chi xuất ra ngoài, thân thể bay cao khỏi mặt nước, thần lực như sức mạnh phi thường. Chàng tiếp tục luyện tập tam bí pháp “Thiên Đế Cư”.

“Tịnh hành bất tức

Khí phân tứ tượng

Hoát triền vô biên

Càn kiện cao minh”

Văng vẳng bên tai chàng tiếng nói thì thầm, nhờ có nhĩ lực tuyệt hảo mới nghe được: Phi nhi mở “Nê hoàn cung” hấp thụ khí dương chuyển vào, dụng thần kinh chuyển khí dương qua “Thái dương” từ đó chuyển đến “Thiên tiền” cho qua đường xương sống “Phong phù” vào huyệt “Trí đường” rồi “Huyết trợ” hối khí về “Nê hoàn cung” hóa âm đề khí nhẹ thật nhẹ xuất, đề khí “âm dương” nổi lên nóng đến lạnh từ “Huyết trợ” hồi về “Nê hoàn cung” xuất ra, như một tảng băng tuyết ngàn cân. Đệ tử đã thực hành điều lý như ý.

Hoàng Phi vẫn ở thế tĩnh tọa, nhưng thân thể đã bay ra khỏi cửa động Đông tự bao giờ, rồi tự ý của pháp đưa chàng trở về điểm tĩnh tọa như cũ, thân thể trải qua biến hóa thần diệu. Tiếp tục luyện tập, tứ bí pháp “Thiên Đế Cư”.

“Trung ứng niệm tướng bách phân

Thượng chưởng tam thập lục thiên”

Lần này Hoàng Phi nghe từ trong “Nê hoàn cung” phát ra tiếng nói. Phi nhi hấp thụ khí dương chuyển vào “Nê hoàn cung” dụng thần kinh hóa nhị khí âm dương chuyển đến “Thái hư” “Thiên tiền” đưa xuống đường xương sống cho khí vào “Phong phù” rót nhẹ khí huyệt “Trí đường” rồi qua “Trương môn” hồi về “Nê hoàn cung” hóa nhị khí âm dương xuất, sẽ tiếp nhận tứ hướng một vòng tròn ánh sáng xanh, vàng, đỏ. Khí âm dương tụ lại “Trương môn” xuất ra “Nê hoàn cung” đó là sức mạnh của biến hóa vô hình, đệ tử hành đúng không sai.

Chàng vẫn ở thế tĩnh tọa, ấy mà thân thể đã bay vào không trung, biến hóa mười hai vòng khí, rồi tự trở về điểm tĩnh tọa, như đang chứa một hấp lực khí của trời đất, thần khí thoải mái. Chàng tiếp tục công phu, ngũ bí pháp “Thiên Đế Cư”:

“Xuất ý thiên thiên

Kim xuân cổ ngưỡng

Diệu nhựt nguyệt khí thần hỏa quang”

Lời nói từ mênh mông vô hạn của không gian, rót vào nảo căn của Hoàng Phi gọi rằng: Đệ tử hãy mở cửa “Thái hư” hấp thụ khí dương chuyển vào “Nê hoàn cung” dụng thần kinh chuyển khí dương vào “Thiên tiền” cho đi qua đường xương sống đến “Phong phù” và huyệt “Trí đường”, “Trương môn” đến “Vĩ long cốt” hồi về “Nê hoàn cung” hóa nhị khí âm dương xuất, cùng lúc mười đầu ngón tay có tiếng “xịt xịt” khói trắng mỏng bay ra là đà trên mặt nước.

Tiếng xịt chỉ có Hoàng Phi mới nghe được, dù người ở gần có nội lực kỳ tài cũng như kẻ điếc, hay nhĩ lực như những nhạc sĩ tài ba cũng không thể nào nghe thấu. Lúc này thần khí âm dương của chàng như gió thổi qua “Vĩ long cốt” hồi về “Nê hoàn cung”. Thân thể Hoàng Phi chìm xuống đáy nước, thế mà bộ phận hô hấp vẫn bình thường, cứ thế theo dòng nước trôi mãi đến điểm cùng mới dừng lại.

Hoàng Phi đọc tiếp, lục bí pháp “Thiên Đế Cư”:

“Khai tịch trường nghiêm

Biến hóa vô cùng”

Hoàng Phi nghe trong tâm thức nói:

- Đến đây đệ tử tự công phu lấy. Hoàng Phi hấp thụ khí âm dương mở cửa “Nê hoàn cung” dụng thần kinh chuyển nhị khí vào “Thái hư” từ ấy chuyển vào “Thiên tiền” xuống xương sống “Phong phù” rót khí vào huyệt “Trí đường ” qua “Trương môn” đến “Vĩ long cốt” hồi về “Nê hoàn cung” xuất ra âm dương khí. Bỗng có âm khúc đưa vào tai chàng:

Linh oai biến trắc,

Vô cực, vô thường”

Ý bảo Hoàng Phi: Đọc kỷ hai câu mật quyết, rồi vận khí tại huyệt “Vân đài”, sau đó mới hồi nhị khí về “Nê hoàn cung” xuất ra nhị khí âm dương, có như thế mới thành công.

Hoàng Phi vui mừng: Ôi hay thật thân thể lại chìm xuống vực thẩm không bờ bến, tự động đứng dậy đi dưới nước như đi trên mây. Thân thể tiếp tục đi theo dòng nước rồi dừng lại điểm cuối của bờ mênh mang. Hoàng Phi đọc tiếp, thất bí pháp “Thiên Đế Cư”

Ðại sáng, đại tạo

Huyền vi võ thượng tôn”.

Hoàng Phi chờ một chập lâu, không nghe tiếng vô hình dạy bảo, chàng tự tâm thức bảo đọc kỹ thất bí pháp, rồi mở cửa “Nê hoàn cung” hấp thụ khí âm dương bên ngoài chuyển vào, dụng thần kinh chuyển khí dương ra “Thái hư” từ ấy chuyển vào “Thiên tiền” xuống đường xương sống “Phong phù” rót vào huyệt “Trí đường” qua huyệt “Trương môn” qua huyệt “Vĩ long cốt”, qua huyệt “Vân đài” cuối cùng đến “Đại truy” hồi về “Nê hoàn cung” hóa khí âm dương xuất ra, thì nghe từ mênh mông nói:

- Bây giờ ngươi nghe kỹ khẩu quyết giải huyệt trừ độc, chỉ thoáng qua một lần không bao giờ trở lại:

Khai thiên cung,

Thiếu thương đại lăng

Tam đại huyệt khí

Tẩu đơn điền

Đến đây Hoàng Phi tự thấy toàn thân biến đổi từ thạch tượng rồi nhẹ như bông vải, sức khí âm dương trong thân thể tiết ra làm dòng suối nóng như lò đúc kiếm, hai chân đi như bay trên mặt nước chảy xiết, với thân hình phơi phới ngũ sắc, hương hoa ngào ngạt, cảnh đẹp bao la hóa hư thực trước mặt trần gian.

Chàng phát hiện chân hỏa chạy khắp huyệt đạo, trong đường xương sống bốc lên “Nê hoàn cung” chạy tới đâu biết đến đó, khí âm dương đã hỗn hợp được Thiên-nhân, tam khí hợp nhất mở hết huyệt đạo “Tinh khí thần” hợp nhất. Chàng luyện được nội ngoại công đã thành, thế mà nào hay biết để sử dụng khả năng biến hòa phép thuật cương bỏ, nhu lấy hay cương vũ, nhu dịu cũng tuỳ biến hóa ngược lại, đó là phép phi thân đang ẩn tàng trong thân thể của Hoàng Phi.

Ngoài ra trong phép phi thân còn có phép nội ngoại công như một kho năng lực diệu kỳ, chỉ cần khám phá là sử dụng không hết nội ngoại lực. Lần đầu tiên chàng vận dụng nguyên khí cho nên chưa hiểu hết âm dương trong ngoài vũ trụ.

Chàng chính là kho tàng nguyên khí của “kim, mộc, thuỷ, hỏa, thổ” về ngũ hành thì có “Tâm thuộc hoả, phế thuộc kim, thận thuộc thủy, tỳ thuộc thổ, can thuộc mộc”, tuy chàng đả thông hết tất cả kinh kỳ bát mạch gồm có mười hai thường mạch “tim, phế, tỳ, can, thận” (ngũ tạng) cùng lục bảo thuộc âm. “đại trường, tiểu trường, đởm, bàng quang, tam tiêu” thuộc dương “âm kiểu, dương kiểu”.

Bát mạch này không thuộc hệ chính kinh âm dương, không phân biệt biển lý phối hợp hay đạo kỳ hành, nên mới gọi là kinh kỳ bát mạch. Sau khi thường mạch với kinh kỳ bát mạch không còn ngăn cách, những âm độc nằm trong ngũ tạng xem như tụ hóa. Còn lại hai yếu huyệt “Vân môn” và “Trung phủ” những huyệt nhỏ ở hai cánh tay, ngón tay là nơi hội tụ thiếu dương, cùng “đới mạch” thì tất cả chất độc trong người tự nó hóa giải, đúng là gặp may, vô sư tự luyện mà thành đạt thượng thừa nội ngoại công.

Những ngày đầu chàng xuống đáy núi, lên động cũng mất bốn khắc, bây giờ xuống, lên chỉ một khắc thời gian .

Sáng sớm chàng mở cửa động Đông ra thung lũng luyện tập nội ngoại công đã học được ở dưới đáy núi, quả nhiên nội ngoại công ứng hóa thay đổi thể pháp, từ thế tĩnh tọa ngồi ra đứng, vận nội ngoại công cùng lúc càng tinh diệu, thân hóa càng biến chuyển linh động, luyện tập cả ngày thân thể vẫn thoải mái, từ đó chàng thích thú đời sống trong động.

Vài ngày sau chàng khám phá thân thể có khả năng đằng vân, chàng thử nghiệm quả thực thành công, chỉ một khắc chàng đã đi khắp đỉnh núi Vân Sơn Đài.

Tính hiếu kỳ cho chàng một suy nghĩ táo bạo. Hôm sau chàng đứng tại cửa động Đông, dụng hết nội ngoại cộng, đằng vân xuống núi rồi phi thân về lại động một cách diệu dụng, lòng chàng mở cờ vui mừng vô tả, sáng nào chàng cũng công phu phi thân, đến lúc chàng nhận ra: Không cần phải dụng hết nội ngoại lực nữa, chỉ đề nhẹ khí là phi thân lên xuống núi, như chim đi tìm mồi, bay về tổ.

Hồi 6

Động Lạc Đâm Chồi Hoa Việt

Huỳnh Tâm - Anh Hùng Nam Việt