Sau buổi cơm tối Hoàng Phi có ý định vào sảnh đường đọc sách như mọi tối, nhưng lòng vô ý chân bước ra thung lũng động Đông để đi một vòng tìm không khi tháng hai, ngoài trời đêm đã xuống, huyền đăng soi rọi sáng ngời thung lũng, chàng trực nhớ.

À hôm nay là rằm tháng hai, mình ở đây cũng đã khá lâu rồi nhá ? Trung tâm thung lũng quả là nơi treo đèn trời, tạo cảnh thế gian đẹp hơn, chàng chim ngưỡng những gốc cổ thụ, tùng bách với ánh trăng phản chiếu lọt qua khe lá, cành cây đẩy đưa lung linh, tạo ra tình trăng gió, cây cỏ cùng nhau múa dưới huyền đăng.

Chàng còn tưởng tượng có bóng người đang luyện võ công dưới gốc cổ thụ, từ lúc này tâm hồn chàng lạc phách thực hư, cảnh thần tiên cho chàng sống trong ảo ảnh đẹp chưa từng có trong đời, bỗng có tiếng cánh hạc trên lưng trời bay ngoài hoàng hôn, chàng nhìn thấy dăm ba đôi hạc bay qua động, gợi tính chàng đem lòng đùa trăng bắt hạc, hai chân nhót nhẹ đã phi thân lên đỉnh núi, chàng gọi hạc. Hạc kia ơi, đi về đâu sao không ở động này ? Chàng theo hướng hạc bay về đỉnh núi nam, thì ra hạc ở cùng dãy Thất Long, thế mà lâu nay chàng nào hay biết !

Trong đêm thanh vắng chàng không ngại đường xa, phi thân lên ngọn cây cao vút, vách núi cheo leo, chưa đầy ba khắc đã đến nơi hạc ở, chàng xuất một chiêu quyền bắt được hai con hạc nhỏ nặng tám mươi cân, chiều cao một thước, đem về động Lạc Việt, cột chân hạc lại cho chúng sống dưới thân cây tùng bách, gần bờ suối để hạc được tự do ăn cá, ếch, nhái.

Vốn, chàng yêu thương thú vật, chàng khuyên bảo hạc: Hạc ơi sống ở đây không cần làm việc thâu đêm, mà cũng có ăn. Hạc sẽ hài lòng, không buồn chán đâu, ý định của mỗ muốn chuyển cả làng hạc về đây định cư, hạc ơi sống với tình chân thực của mỗ đi ?

Sáng sớm, chàng ra suối, hạc thấy người là khiếp sợ, cả hai con hạc chạy tránh né, nhưng tránh làm sao được, chân mỗi con hạc đã có hai kiềng sắt lủng lẳng, có sợi dây gân dài thườn thượt. Những ngày đầu chàng bắt cá, bắt nhái cho hạc ăn, từ ấy hạc thân thiện với chàng, nay hạc tự bắt cá lấy, muốn ăn bao nhiêu tùy lòng, có những buổi trưa Hoàng Phi ngủ chung với hạc bên cạnh cổ thụ, tùng bách, lúc này hạc xem Hoàng Phi không còn xa lạ, hạc xem như đồng loại chỉ khác dung mạo, cách sống.

Hạc có tính ăn ở sạch thường chải chuốt bộ lông cánh thẳng thớm óng ả, đôi khi hạc đến gần xỉa tóc cho Hoàng Phi, không bao lâu chàng tháo kiềng sắt nơi chân cho hạc, hạc không phản ứng, sống bình thường, đi đi, lại lại xem Hoàng Phi như là bạn thân duy nhất ở cõi đời.

Hạc tự do tung tăng múa vui mừng trong thung lũng, đôi khi hạc bay ra khỏi động rồi lại bay về, rủ theo cả bầy vào động có lúc hơn năm mươi con hạc, nó tha hồ ăn cá, ếch, nhái lúc nào cũng có, hạc không còn lo đời sống vất vả thâu đêm như xưa, bầy hạc kéo nhau từ giã núi phía Nam, Thất Long, chọn Vân Sơn Đài làm nơi đất sống mới.

Hoàng Phi tiếp tục xuống đáy suối mỗi ngày, ôn lại nội ngoại công, bí pháp “Thiên Đế Cư”, lần này chàng tịnh luyện miệt mài võ học, vô tình chàng thả lỏng thân thể, vụt qua một khắc đã ra ngoài dòng nước chảy xiết, kỳ diệu thay điểm cuối cùng có dấu chỉ “Âm Dương Ngũ Bích Lạc Việt Phổ” sách đá chép năm võ học âm dương Lạc Việt. Hoàng Phi nghĩ ngay. Trên đỉnh núi ắt chắc phải có cái gì ấy khác lạ ? Mình đã trông thấy ngũ bích nhưng không để ý trong đó có những gì ? Liền thu tịnh luyện trở về động, phi thân lên đỉnh núi quả thực thấy mặt bằng rộng hơn một trăm thước, nền đá hình khối lăng trụ, bích ngũ giác đài thẳng đứng mười hai thước, lộ ra những phiến đá đồ sộ, trang trí thành ngũ phù điêu, chữ viết bằng tay ấn sâu vào phiến đá, ắt người nội công phi thường.

Hoàng Phi từ trên bích núi phi thân xuống nền đá phẳng phiu, đầu ngó ngược lên thấy rõ đây là kiến trúc hình thù ngũ giác đài không nắp đậy, đảo mắt một vòng mới lĩnh hội được trước mặt có ngũ bích đồ:

Nhất bích, Đăng kiếm, bát lý “Đăng Thiên Lĩnh Nam” Đèn trời treo Bát Quái Lĩnh Nam.

Nhị bích, Quyền năng, pháp đao “Công Quyền Lĩnh Nam” Pháp đạo võ học Lĩnh Nam.

Tam bích, Huyệt mục đạo đường “Huyệt Pháp Lĩnh Nam” Nguồn cội huyệt thể Lĩnh Nam.

Tứ bích, Mục khí môn trường “Mục Trường Lĩnh Nam” Tổ khí mục nội ngoại công Lĩnh Nam.

Ngũ bích, Tinh hoàn dược thảo “Dược Giới Lĩnh Nam” Trị liệu tinh cốt Lĩnh Nam.

Hoàng Phi, đề khí phi thân ra khỏi ngũ bích đài, trở về động để chuẩn bị kiếm và đèn hồng sáp, cho ngày mai lên đỉnh ngũ bích đài luyện tập.

Ngày thứ, Hoàng Phi trở lại đứng trước Nhất bích đồ, bái ba lần như thể ra mắt sư phụ “Đăng Thiên Lĩnh Nam” Chân tấn trụ, tay cầm đăng, tay cầm kiếm tự luyện theo hình đồ pháp bích đăng, khởi động xuất chiêu, thân pháp còn vụng về, tay chân tiến thủ không chuẩn, luyện đến một trăm hình đồ mới thấy thân pháp linh động, thân thể lay chuyển nhẹ nhõm, nhịp thở linh hóa nhập theo ánh đèn hồng sáp, chàng phi thân lên không trung, xuất ra trăm thức, bảy quyền “Đăng Thiên Hầu” trong “Đăng Thiên Lĩnh Nam” bao phủ một vòng tròn màu trắng thổi mạnh, tiếp theo tiếng động tứ bề “ầm ầm”, bạt một vùng cổ thụ, cây trốc gốc ngã rạp xuất đất.

Thế mà ngọn quang đăng vẫn đứng thẳng băng trước gió, kiếm đăng cùng xuất qua Tây, thủ Đông, cương Nam, nhu Bắc quang đăng cũng quyện thần tốc theo chiêu thức mà biến, xem chừng đăng hồng sáp đến lúc phải bị tiện nhẵn thành trăm mảnh, cuối cùng chàng thu đăng về chỉ thấy một luồng khói lam, bay ra mùi sáp.

Hoàng Phi nghĩ thầm, Đăng kiếm pháp quả là kỳ lạ, rồi chàng tiếp tục theo hình tượng mà dụng kiếm đăng, lúc này ngọn đèn lắc lư đến đâu thì kiếm theo đến đó, đăng hóa như kiếm chung thủy thành võ học tuyệt luân, từ từ thành dây kiếm liên hoàn gồm một trăm chiêu thức thừa. Còn lại bảy mươi hai hình tượng kinh dịch ở trong “Đăng Thiên Lĩnh Nam” đương nhiên phải có nghĩa lý của nó ? Chàng cũng tự hỏi tại sao không có chiêu số mà chỉ có những gạch dài ngắn đoản ?

Đúng là sáu mươi bốn quẻ dịch bao hàm tất cả các định luật của vũ trụ chi phối vạn vật. Nhưng lại có tám hình tượng đồ chiêu số, quả thực đây là bát quái đồ, gồm sáu mươi bốn quẻ dịch, điểm khởi đầu, bát quái chỉ vào Càn khôn, Lưỡng nghi, Tứ tượng, Thái cực, Ngũ hành, Vô cực là tám phép căn bản trong bát quái đồ, người ta thường gọi Càn, Ðoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn .

Hoàng Phi lại suy nghĩ tiếp, nếu đem kiếm “Đăng Thiên Lạc Việt ” mà so sánh lợi hại với kiếm “Tuyệt cao kỳ kiếm” “Phong tâm kiếm” và “Hoàng Kiếm” thì “Đăng Thiên Lạc Việt” cao diệu hơn trăm phần, cộng với kinh dịch biến hóa không biết đâu mà lường, ngoài ra còn có học thuật bát quái Lĩnh Nam bày pháp đồ trận.

Ngày thứ, Hoàng Phi đến Nhị bích “Công quyền Lĩnh Nam” cũng thi lễ bái ba lần. Chàng dụng theo hình pháp trong bích quyền thứ nhất, khởi động quyền “thần võ” hai chân tấn trụ che bộ hạ, tay trái nắm tròn như quả đấm, tay phải xòe ra thành một hư quyền bái tổ, khi chàng đấm để ngửa bàn tay biến thành một quyền chuẩn huyệt “Đơn điền” đến quyền “thanh ngưu” thân người gù xuống rồi thẳng lên, năm ngón tay trái và phải vận nội công biết thành con trâu rừng húc địch thủ, tay trái xuất ra nửa vòng tròn làm hư quyền, tay phải đưa vào nửa hư quyền biến thành quyền đã hổ. Tay trái, tay phải liên hoàn biến thủ, tấn công một vòng tròn, quyền tấn bảo vệ hạ bộ, chuyển quyền về bộ hô hấp, đấm tiếp vào hệ thần kinh thượng phế nội công của địch, chân phóng cước vào thần kinh bộ điền để phế võ công của địch thủ, cùng lúc chàng phi thân, hai tay xuất quyền thành một đe một búa, tùy ý đánh nơi nào địch thủ cũng bị trọng thương “Công Quyền Lĩnh Nam” như nước chảy không bao giờ cạn, như mây bay trên trời, hai tay chắp lại, xòe ra như cánh đại bàng tung mình vào không gian, phi thân đảo ngược đầu xuống hai tay quyền xoay nội công đâm thẳng xuống đỉnh đá, thân pháp vừa đảo ngược lên thì hóa thành một vùng trời mịt mù cát bụi.

Hoàng Phi trở về thế bình thường, đứng thấy cảnh vật gật đầu đắc ý thì ra năm quyền biến hóa mãi, năm thành năm mươi, năm mươi thành hai trăm năm mươi và một lần năm nữa thành một ngàn hai trăm năm mươi, chiêu thức vô cùng tận.

            Hoàng Phi chú ý luyện quyền quên cả trời đã về chiều, cũng đúng lúc đói bụng đành phải xuống động ăn cơm, đêm nay chàng ngủ một mạch đến sáng.

Hôm sau Hoàng Phi mở cửa Đông động ra thung lũng luyện tập lại “Công quyền Lĩnh Nam” và “Đăng thiên Lĩnh Nam” thấy tinh thần sảng khoái, trí tuệ nhẹ nhàn như sống trong ảo diệu.

Chàng tự suy nghĩ tiếp, chính nơi đây khởi cốt cho mình tận hưởng quả lành, nguyện mai này làm người hữu ích cho đời.

Chàng luyện tập thuần thục võ học mới, nhờ thụ hưởng căn bản sống gia đình từ thuở lên sáu. Ngoài ra còn được gia đình giáo dục tinh thần nhân nghĩa, khí, cương, nhu, trí, tín, vốn chàng thông minh truyệt chúng, cơ chất linh động, cho nên Hoàng Phi tiếp nhận võ học rất nhanh.

Chàng vào động đóng cửa lại, đem theo một bầu nước, đi thẳng lên đỉnh núi luyện tập cho hết ba pho võ học còn lại. Chàng đứng trước tam bích bái sư “Huyệt Pháp Lĩnh Nam” Nhìn vào bích huyệt thấy một người hình khắc chạm trổ công phu, những điểm chấm nhạt “cạn” đậm “sâu” trên khắp hệ thần kinh, những điểm chấm đen lớn nhỏ phân biệt yếu huyệt tử sinh, những điểm huyệt cạn quan trọng như huyệt thần kinh mê.

Hình đồ, đếm được tất cả ba trăm hai mươi bốn huyệt lớn nhỏ, đặc biệt ghi chú trên tượng hình cả thảy ba mươi sáu yếu huyệt tử, bảy huyệt sinh, bảy mươi hai yếu huyệt giải, mười hai huyệt phế nội công.

Chàng để lòng suy nghĩ, muốn biết hiệu quả thì mình tự thử nghiệm xem sao ? Liền thử các huyệt trên tay trái, như huyệt “Khúc trì” nới cườm tay, huyệt “Mạch môn” trong lòng bàn tay, huyệt “Hội tông” nơi mu bàn tay, huyệt “Tía quyết” tại cổ tay, huyệt “U cốc” ẩn trong khuỷu tay, và huyệt “Hỏa hầu” nằm sâu trong hai xương tay.

 Yếu huyệt “Hồn môn” tổng hối của các đường huyết mạch trên cánh tay, biến năng lực toàn thân bủn rủn, hóa thành vô dụng, quả nhiên cuộc thử nghiệm trên cánh tay thành công, Hoàng Phi lại có tưởng nghĩ mới, ngoài khả năng. Từ ấy chàng để hết tâm vào kỳ thư võ học tuyệt kỷ. Chàng tiếp tục thử nghiệm cánh tay phải, cũng nhận được cùng cảm giác, như cánh tay trái, tiếp theo những huyệt dễ dàng thấy được gồm có : Huyệt “Phục hổ” trên vế đùi, huyệt “Cự cốt” dưới đùi, huyệt “Dương tiền” tại bắp chân, huyệt “Vĩ long cốt” nơi mông, riêng huyệt “Hồ thanh ngư” để giải tổng hối đường huyết mạch khi bị trúng độc.

Chàng đã thử nghiệm hết tay chân, bây giời mới đến thân trước, gồm huyệt “Trung đỉnh” trước ngực, “Trung đỉnh” ở phía dưới “Đơn trung” điểm vào huyệt “Khuyết bồn” “Thiên khu” ở bụng dưới, nơi nách dưới huyệt “Vân đài”, sau cùng giải khai huyệt “Kiên trinh” và “Đại truy” để thân trước trở về bình thường.

Còn lại trên năm mươi yếu huyệt, Hoàng Phi không thể xem thường tự lấy thân thử nghiệm, lòng bồi hồi lo mãi, muốn thử nghiệm mạng mình để xem thế nào thì trực giác nhớ ra ý mới, tại sao mình không dùng một số dã thú để thử nghiệm, có như vậy thì mới thấu hiểu thuật “Huyệt Bản Lạc Việt” ? Hoàng Phi suy ra lý lẽ, người vật huyệt mạch khác nhau, nhưng chủ yếu là tập luyện điểm huyệt làm sao cho trúng những điểm cần biết để sau này có dịp thực hiện những cái biết của hôm nay !

Hoàng Phi liền phi thân xuống núi, một giờ sau tìm được một con nghé rừng đem về động, chàng thử nghiệm theo từng vùng yếu huyệt, chàng phóng huyệt từng điểm một vào hệ thần kinh toàn thân, như huyệt “Nê hoàn cung” ở đỉnh đầu, “Thái dương” ở trước trán, “Thiên tiền” “Thiên trụ” ở sau gáy, “Đại thủy” sau cần cổ, “Phong phù” sau lưng, “Trí đường” nơi sau lưng, “Huyết trợ” nơi ngực, “Trương môn” nơi dưới nách chỗ eo lưng, “Vĩ long cốt” nơi mông.

Đến vùng lưng và vai thì có huyệt “Phong phiến” huyệt “Chi thất”, sau lưng còn có huyệt, “Mạch môn”, “Hạ tam lộ” và “Thần môn thập”. Tam thức có huyệt “Trí đường” “Trương môn”, ở hai vai có huyệt “Phong trì” và “Phong thủ”.

Về phần hô hấp sau cần cổ có các huyệt “Đại thủy” và “Thiên linh”, ở giữa óc có huyệt “Phúc xà”, cương khí ở đơn điền huyệt “Bát lý”, hạ khí sinh lý huyệt “Khí môn”, trên ngực tim phế huyệt “Đỉnh môn”, ở giữa tim có huyệt “Tam thai âm”, trung tâm hô hấp có huyệt “Tam thai dương” những huyệt này có khả năng điều hòa nhập định, giải khai huyệt “Mệnh môn”, giữa lưng có huyệt “Kiên trinh” gần “Đại truy” và “Huyết bàn”, còn huyệt “Huyết trợ” có tác dụng gây hôn mê.

Hoàng Phi tập đi tập lại mấy lần như vậy, con nghé rừng chịu không nổi đành phải tắt thở vì hai huyệt chí tử “Nê hoàn cung” và “Thái dương”, nghé rừng lăn ra chết không kịp rống lên tiếng cuối cùng để từ giả Hoàng Phi. “Huyệt Pháp Lĩnh Nam” là bộ kỳ thư huyệt pháp võ học Lĩnh Nam, mà Hoàng Phi vừa mới thụ đắc. Chàng nhờ thiên phú tư chất cho nên tiếp nhận được bí quyết điểm huyệt, giải khai, ngoài ra chàng còn học trong “Huyệt Pháp Lạc Việt” ở phần chương cuối về phương pháp chế biến trị liệu tiên đơn, giải độc và chế biến độc liệu tinh vi.

Nói về võ học thì vô bờ bến, còn sự hiểu biết của con người lại hạn chế. Hoàng Phi tiếp tục khám phá trong hình đồ, chàng đếm được có ba trăm sáu mười lăm đốt xương, kết lại thành sườn thân thể, nhờ vậy con người di chuyển linh động, tương ứng với thời gian ngày tháng trong một năm, trong hình đồ còn ghi chú tỷ mỉ, người đàn ông có thập nhị xương sườn mỗi bên, bát trường, tứ đoản, người đàn bà có thập tứ xương sườn. Luận về huyết thống của gia đình, chồng, vợ, con hòa tan trong nước, còn người xa lạ không thể hòa tan được.

Đúng lúc Hoàng Phi suy nghĩ về xương, tự nói: Mình chỉ cần lấy vài đốt xương quan trọng trong thân thể thì kẻ ấy sẽ trở thành phế nhân, cũng như cứu người bằng một đốt xương tương ứng với con vật. Nghĩ đến đây chàng cần phải biết về bộ xương con người, theo hướng dẫn trong “Huyệt Pháp Lĩnh Nam” thì có những xương như bả vai, bàn chân, ống chân, ống chân phụ, cổ chân, gót, cùi chỏ, bàn tay, cánh tay nội ngoại, cổ tay, cườm tay, đòn gánh, bàn tọa, bánh chè, đùi, gò má, hàm, hông, mông, xương sống, sụn, sườn những xương này dụng ý để phế võ công của địch thủ. Ngoài ra còn có những xương để hủy một địch thủ như xương cổ, đỉnh đầu, màng tang, mỏ ác, ức, ót, xương trán, trong bích phổ có nói rõ, “Tùy tính thiện ác của địch thủ mà quyết định phế thân”.

Động Lạc Việt cho chàng thiếu niên một gia tài võ học, mà đã thất truyền cách đây hơn năm trăm năm, chỉ có những nguyên khởi hạnh tốt mới thụ đắc được những gì có trong động, ở đây cũng là không gian thanh bạch để người kiệt chúng dưỡng năng lực, luyện khí.

Trưa hôm sau chàng trở lại đáy núi để dầm mình xuống suối, chàng ngủ một lúc tám giờ dưới đáy suối sâu hơn hai mươi thước, khi thức dậy chàng trở lại điểm khởi đầu của “Âm Dương Ngũ Bích Lạc Việt Phổ” rồi đi theo dòng suối ôn tuyền ấm áp, đến một cửa đá hẹp chàng không ngại khó, đi vào cho biết, đi được tam khác thì phát hiện ra một lâu đài nguy nga lớn hơn sảnh đường tại động Đông, chàng kinh hoảng sợ người chủ động khiển trách, rồi tự lòng gọi lớn: Tại hạ xin bái kiến chủ gia, nhưng không thấy tiếng trả lời, chàng gọi một lần nữa: Hoàng Phi tiểu điệt xin yết kiến chủ gia, cũng không nghe tiếng trả lời, không thấy ai ra đón tiếp, chàng tự ý rón rén vào, đi hết một vòng tròn trong cung điện, rồi đi lại hai vòng cũng không thấy ai, chỉ duy chàng thấy ngọc, ngà, châu báu, ngân kim vô số kể, xếp đặt thứ tự, vật nào ra vật ấy, có đánh dấu số lượng vào bảng gỗ.

Chàng thừa biết đây là kho tàng, vì chàng vốn là con nhà gia tộc quý phái cho nên không xa lạ gì những thứ vật này, chính hiện trong người chàng cũng có một miếng ngọc bội gia bảo họ Hoàng truyền cho.

Hoàng Phi suy nghĩ ngay, nếu đây là thực không phải mộng du, thì kho tàng này đủ để xây dựng giang sơn Bách Việt, sự vui mừng khôn xiết. Chàng tự nói thành lời : Từ nay mỗ sung công kho tàng này vào việc “Hợp Việt Trừ Hán” thay vì “Hợp Việt Xuất Hán” hy vọng mỗ là đích tôn, gia trưởng của kho tàng này.

Hoàng Phi vui mừng cười “ha hà” rồi xúc động vừa cười vừa khóc, chàng quỳ xuống đất chấp hai tay hướng về Đông bấm ấn Tý ba lạy, mười hai gật đầu, niệm. Nam mô ông Trời ma ha tát. Thưa Người từ ngôi cao, cho đệ tử sử dụng gia tài này vào việc độ đồng sinh.

Chàng đứng dậy nghi lễ đã thành, rồi tiếp tục đi ra phía sau cung điện, thì thấy một ngõ ngách hướng đi lên, chàng cũng lò mò đi cho biết, đến ngõ đường cùng,  có bốn vách đá cao hơn ba trượng, rộng năm trượng, ánh sáng chiếu vào hiện hình phiến đá chữ nhật, chàng định thần hiểu ra đây chính là trên đỉnh núi “Âm Dương Ngũ Bích Lạc Việt Phổ”.

Chàng vận nội công xê dịch một phiến đá nặng hơn hai ngàn cân, lúc xê dịch mới biết phiến đá này là cửa đi xuống kho tàng, cùng lúc khám phá mặt trái phiến đá sần sùi hình như có viết chữ, lập tức tay đẩy phiến đá ra ngoài ánh sáng, chàng hiểu ngay đây chính là mật quyết của tứ bích mục “Mục Trường Lĩnh Nam” Chàng bước ra ngoài khép bích phổ lại như cũ, không vui mừng nào hơn chàng hít một luồng không khí sâu vào lòng ngực cho thoải mái tinh thần.

Chàng tiếp tục xoay chiều về phía trái của bốn phiến đá còn lại, miệng vui mừng chàng hô lớn ôi hay, tất cả bí mật võ học trên đỉnh Vân Sơn Đài nay đã lộ ra dưới ánh sáng mặt trời, đúng là đỉnh núi cổ động Lạc Việt. Chàng xoay lưng lại đôi mắt đã dán dính vào hai phiến đá tứ bích mục “Mục Trường Lĩnh Nam” và ngũ bích dược “Dược Giới Lĩnh Nam” mà chàng chưa học đến, chàng cười thành tiếng “ha hà” hẹn ngày mai đệ tử trở lại, lúc này trời đã sẩm tối, chàng bái biệt ngũ bích đài .

Sáng sớm chàng trở lại đỉnh ngũ giác đài, sương mù còn bao phủ dày đặc, chàng tiến đến trước phiến đá. Nhất bích đăng “Đăng Thiên Lĩnh Nam”, độc mật quyết, như có tiếng âm vang từ bích núi “Đây là ẩn dụ pháp Đăng Thiên Lĩnh Nam, người nhận lấy hưởng đắc hữu khởi” Hoàng Phi quỳ xuống tiếp nhận lòng ghi nhớ mật quyết.

Võ gốc nhu thủ cương xuất khởi nghiệp

Khí nương thu nhập khởi tiếp truyền ra

Công phu hương ngọc bay xa

chiêu thánh võ thần tôn gia tại lòng

Thượng sư dụng năng đồng phối hạc

Hạ phàm thụ cứu gác xe tiên

Kim thân tụ khí chân truyền

Chín từng võ khuyết thiên truyền minh tri

Lúc sở vọng gắng ghi đảo cáo

Vì thiên hạ bố báo phước lành.

Khi đọc lời mật quyết trong lòng cảm ứng tự giải, tay cầm đao chuyển pháp theo thần khí diệu biến. Cả ngày chàng công phu chuyển đăng nhập mật quyết vào thần võ học. Cùng lúc dụng khí hóa vào đơn điền, thu hút âm dương, tam khí biến “Tinh, Khí, Thần” hợp nhất. Vốn lòng chàng trong sáng, mới khai thông nguyên khí lục phủ ngũ tạng, võ học chảy vào tứ chi như suối reo mùa Thu, cùng cánh lá vàng rơi nhè nhẹ trên không gian.

Những ngày trước chàng đã luyện nội ngoại công, nhờ vậy mới biết sử dụng biến hòa cương, nhu, vũ, thuận. Chàng vận dụng nguyên khí đạt thành âm dương thông thoáng sự lý “kim, mộc, thủy, hỏa, thổ” và ngũ hành trong thân thể, như “tâm thuộc hỏa, phế thuộc kim, thận thuộc thuỷ, tỳ thuộc thổ, can thuộc mộc”. Xem ra chàng đả thông tất cả bát mạch, mười hai thường mạch “tim, phế, tỳ, can, thận” “ngũ tạng” cùng tâm bảo có sáu bộ phận thuộc âm. “đại trường, tiểu trường, đởm, bàng quang, tam tiêu” thuộc dương “âm kiểu, dương kiểu” Bát mạch bảo vệ âm dương, phối hợp đăng hành.

Huyệt mạch phát khởi hóa pháp thần kỳ, ngũ tạng thông hai yếu huyệt “Vân môn” và “Trung phủ” vào các huyệt nhỏ ở hai cánh tay, thành mười đầu ngón tay thép, huyệt hội hợp thiếu dương với “đới mạch” biến thiếu âm thành hai bàn tay sắt. Tay chuyển như đao xuất mọi vật tan vỡ. Sự miệt mài công phu đã ngoài khả năng ý tưởng tượng võ học của chàng. Hiện thời nếu có địch thủ, tay cầm bảo đao, hay bảo kiếm cũng vô dụng, địch thủ khó mà chạm vào vạt áo của chàng.

Phần ngoại công đao pháp của chàng cũng đã đến tuyệt luân. Tuy chàng được ân hưởng võ học vô sư, nhưng lúc nào cũng ghi nhớ ngũ bích phổ như sư phụ hiện hữu, chàng hành lễ nguyện: Đệ tử kính dâng trí tuệ, thể xác, linh hồn này xin sư phụ vô danh bốn phương, tuy nghi sử dụng nơi nào cũng được, đệ tử Hoàng Phi khắc cốt ghi xương, tạ ơn đê đầu tam bái.

Gặp lúc thời vận hóa sinh tuấn kiệt, trời phú trí mỹ cho tuổi thanh xuân, như Hoàng Phi võ khí dũng sinh, đó là mọi kết tụ nguyên do từ tinh linh. Nay xuất hiện một kiếp sinh, trợ người hèn kẻ yếu, phò nguy, định nhân quần, an xã tắc.

Đã là thiên phú tự lòng thúc dục, ngoài trời mới canh năm, chàng phi thân lên đỉnh núi, tinh sương mây mù phủ cả bầu trời, còn đó rét mướt luồn trong gió, chàng định thần chân đứng nhẹ trên ngũ giác đài, trước Nhị bích quyền “Công Quyền Lĩnh Nam” liền đọc mật quyết, tiếng thì thầm trong bích núi chảy vào lòng Hoàng Phi “Tại hạ là ẩn dụ pháp Công Quyền Lĩnh Nam, đến với người tinh minh mẫn, hãy nhận lấy hữu khởi” một lần nữa Hoàng Phi quỳ xuống tiếp nhận mật khẩu.

Biển trần võ đức mang mang

Ánh thái dương giọi bước phương đông

Tổ sư thái võ đức công

Xuất biến nội ngoại hiệp công phù đời

Trong võ giáo có lời chỉ dạy

Gốc một đồng nguyên phải thực lành

Âm dương khí thánh chỉ rành

Công quyền đã dặn, lòng thành thực nhơn

Phép võ học tu chơn vai gánh

Một thức sanh bao nhánh hợp nhau

Thân số ghi rõ tận lý sâu

Tại lòng trong sạch võ cầu tha nhân.

Mật quyết viết toàn ẩn dụ pháp, người tinh thông kỳ thư mấy cũng phải ngớ ngẩn trước những bao phủ lời học thánh. Hoàng Phi tay quyền tinh thông xuất chiêu, phi thân lên khoảng không đấm vào mé nghiêng triền núi, đang có sương mù bao phủ, chàng đọc luôn mật quyết “Biển Trần võ đức mang mang” “Ánh thái dương giọi trước phương đông” rồi xuất hai chiêu đến triền núi “rầm rầm” phát ra một ánh sáng tung bay khắp nơi, trong giây chốc triền núi trở nên thoáng khí, trong vắt không còn sương mù, liền xuất chiêu tiếp mười hai quyền “thần võ” phát ra hai tiếng “sẹt sẹt” cả một vùng quang thông ánh sáng trên trăm trượng. “Công Quyền Lĩnh Nam” biến hóa ảo diệu, chiêu quyền xuất ra mà lòng người thảnh thơi, không bận rộn, chân bước theo chiêu thức của quyền như người đằng vân, theo ánh sáng bước trên mây.

Xuất quyền như thể hóa nhập, diệu chiêu biến hóa năm mươi thức, hóa chiêu không ngừng biến năm trăm thức. Cứ thế mà hóa vô cực chiêu thức, đến khi nội ngoại công tăng tốc, không ai biết được nơi cùng tận của võ học, tuy chiêu số của chàng đã dừng lại, ấy mà nội lực để lại hậu chiêu cương hóa cũng phải bay theo bão táp “ào ào”, thế mới biết “Công Quyền Lĩnh Nam” đã ở ngoài giới phân định võ học.

Hoàng Phi mừng rỡ, quỳ xuống hai tay chắp lại bái. Lữ Tổ Bồ Tát. Đệ tử Hoàng Phi tạ ơn Người.

Từ nay Hoàng Phi sống theo lệ thường, mỗi sáng sớm lên đỉnh ngũ giác đài công phu quyền, chàng vén mây mù, sương lạnh đến tam bích huyệt “Huyệt Pháp Lĩnh Nam” đọc một lúc thuộc hết lời mật quyết, rồi ngồi đối diện “Huyệt Pháp Lĩnh Nam” tụ “Tinh Khí Thần” qua thân thể, tay xuất chiêu vào chín yếu huyệt “Nê hoàn cung, Thái dương, Thiên trụ, Đại thủy, Phong phù, Trí đường, Huyết trợ, Trương môn, Vĩ long cốt” đọc mật quyết vận vào hai tay phóng quyền “Châu thanh ngưu” hơn ba trăm hai mươi bốn hạt cát bay ra, nhưng chỉ dính đúng ba trăm hai mươi bốn yếu huyệt, phần còn lại rơi xuống đất.

Chàng không hài lòng lối công phu này, nghĩ ra một phương thức khác, chàng phủi tất cả hạt cát dưới nền đá qua một bên, rồi lấy ba trăm hai mươi bốn hạt cát dính trên hình nhơn, để luyện tập. Chàng xuất chỉ lần thứ nhất, mãi đến lần thứ năm thì đạt được như ý, ba trăm hai mươi bốn hạt cát dính vào diểm yếu huyệt không rơi ra ngoài một hạt cát nào, thế mới đúng như lời người “Phải duyên cơ thì dính như keo, trái duyên không dính học hoài bèo trôi”

Buổi hỗn độn võ khí Lĩnh Nam

Xuất kiếm chiêu thức chủ tể

Qui tinh khí thần nhất thể tập trung

Ốc đảo hường thân song thủ ngoại nội

Huệ đăng chiếu tuyệt

Phong tam thập lục quyền, chi quang minh

Võ pháp khởi trường lưu

Khai cửu thập nhị tào chi mê muội

Võ cao vô cực

Thụ khí thu hồn

Nhị nhứt trụ thu biên

Hóa kiếm thành xích

Nhi tam phân thác địa

Công tham thái cực

Phá nhứt khiếu chi huyền quang

Khí hiệp vô vi

Thống tam tài chi bí chỉ

Thần chí tại huệ

Võ vô đại dự

Võ tiên chánh đạo

Vô vi xiển đạo nam ban.

Tuy chàng đã thành công về điểm huyệt, nhưng Hoàng Phi chưa lấy làm đắc ý lắm, sáng hôm sau trở lại đem theo một bao cát lấy từ dưới suối trong động, đến đối diện tam bích huyệt “Huyệt Pháp Lĩnh Nam” cách xa mười hai thước, ngồi trước đống cát, tụ “Tinh Khí Thần” vào “Nê hoàn cung, Thái dương, Thiên trụ, Đại thủy, Phong phù, Trí đường, Huyết trợ, Trương môn, Vĩ long cốt” cho khí động lại Đơn-điền, đọc mật quyết, hai tay phóng quyền “Hoa linh xà” vào đống cát thì đúng ba trăm hai mươi bốn hạt cát bay ra, dính vào điểm huyệt, không có một hạt nào rơi xuống đất.

Chàng tạm hài lòng, xuất luôn chín quyền vào ba trăm hai mươi bốn huyệt hình nhơn, tổng cộng có hai ngàn chín trăm mười sáu hạt cát dính vào huyệt. Bấy giờ Hoàng phi mới thực sự hài lòng quyền “Hoa linh xà”, nhờ tâm huyết công phu võ học, với ý địnhh cao cả nhằm cứu nhơn độ thế, nên chàng nhập được tam bích huyết là duyên do này.

Chàng sử dụng tiếp “Hoa hồng xà” quyền, phóng ra hai ngàn chín trăm mười sáu hạt cát không sai một ly nào cả, lần này Hoàng Phi cao hứng sử dụng quyền “Kim tước xà” phóng gấp đôi số cát, rồi gấp ba vào huyệt, cũng không có một hạt cát nào rơi xuống đất, Hoàng Phi xem đây là thành công khổ luyện huyệt lý, nhân dịp này chàng cũng sử dụng quyền “Kim tước xà” phóng ra ba trăm sáu mươi lăm hạt cát vào điểm đốt xương rất chính xác. Lúc này chàng suy nghĩ thầm. Nếu như mỗ lấy được ba trăm sáu mươi lăm đốt xương trong cơ thể, thì địch thủ ấy như gà rút xương, hóa thành một đống thịt ư ? Chàng vui mừng quỳ xuống chắp hai tay bái. Cổ Phật Ðại Bồ Tát. Đệ tử Hoàng Phi tạ ơn Người.

Chàng đến trước tứ bích “Mục Trường Lĩnh Nam” quỳ xuống chắp hai tay niệm “Thái Thượng Ðạo Tổ Ma Ha Tát”. Lòng thành của đệ tử kính bái sư phụ, nay đệ tử Hoàng Phi đọc lời mật quyết xem như đã thấy sư phụ, xin sư phụ khai khiếu cho đệ tử.

Chàng ngồi vào vị trí thế chiêu số tinh linh, thư thái như một đạo sĩ, vừa vận khí vào “Nê hoàn cung” đến “Vĩ long cốt” có hai luồng khí rót vào rung động trên hai tay, chưa hiểu xuất chiêu ra hướng nào, vội vàng tay chắp ấn Tý chỉ lên không trung, âm dương gặp khí hóa nổ “bùng bùng” vang động cả bầu trời như sấm sét, mây đen tụ về như thể mưa đến, Hoàng Phi vận khí trở lại chiêu số khởi động theo bích đồ thứ hai, đọc mật quyết:

Lĩnh Nam khí hóa

Khai thái võ quân

Kiếm bất khả tri

Công bất khả nghị

Vô vi thái võ chi tiền

Hữu thỉ siêu quần chơn chi thượng

Chiêu cao nhứt khí

Diệu hóa muôn thanh

Tuệ hoán hư linh

Pháp siêu quần thánh

Nhị ngoạt thập ngũ

Phân tánh giáng sanh

Nhứt thân ức vạn

Diệu huyền thần biến

Tử khí xuất lai

Quảng báo võ đức

Lưu sa tai độ

Pháp hóa tướng tông

Kiếm khôn hoát vận

Nhựt nguyệt phổ quang

Võ pháp bao la

Ngưỡng kỳ võ thuận

Chí cực cao tôn

Hồi về chánh nhứt.

Mây đen từ từ hòa tan biến mất, bầu trời trở lại màu xanh biếc. “Mục Trường Lĩnh Nam” võ học hồi về nguyên khí, biến hóa nội ngoại công, cho nên thân thể phải chứa âm dương “kim, mộc, thuỷ, hỏa, thổ” cùng ngũ hành chuyển động  “Tâm thuộc hoả, phế thuộc kim, thận  thuộc thuỷ, tỳ thuộc thổ, can thuộc mộc”. Thì ra chàng mới hiểu sự vi diệu của pháp trong ấn Tý, nhờ đả thông hết tất cả thần kinh bát mạch như mười hai thường mạch “tim, phế, tỳ, can, thận” (ngũ tạng) với lục bảo là sáu bộ phận thuộc âm thì có: “đại trường, tiểu trường, đởm, bàng quang, tam tiêu” thuộc dương thì có “âm kiểu, dương kiểu” Sau khi thường mạch với thần kinh bát mạch không còn ngăn cách trong ngũ tạng, thì năng lực rót vào hai yếu huyệt “Vân môn” và “Trung phủ” tụ lại hai cánh tay và mười đầu ngón tay, huyệt đã hội hợp nơi “thiếu dương” có “đới mạch” đó là cửa vận dụng chỉ pháp “Mục Trường Lĩnh Nam” Hoàng Phi thu hết pháp vào thân thể, để tùy nghi biến hóa nội ngoại công, mỗi khi dụng chỉ pháp xuất như cơn bão tố cuộn lấy người, tinh thần trở nên minh mẫn biến hóa vô tư, pháp nhập xuất khôn lường, thể chất dù ở tuổi nào, nội ngoại lực cứng rắn, hay yếu mềm cũng chuyển động theo dương hóa âm, hay ngược lại, quyền pháp xuất phát từ ấn Tý theo tư tưởng điều khiển, như hóa lửa đốt đối phương, thanh kiếm đối phương bị cong lại, gẫy làm đôi. Hóa giá lạnh làm đối phương hóa thành băng tuyết cứng đờ, như cây nước đá trắng phếu ở vùng băng sơn miền Bắc-cực. Luyện được pháp này Hoàng Phi mở được cửu khiếu nhờ “Tinh, khí, thần” cũng như thông huyết, trí tuệ mẫn giác nhờ “âm dương”.

Chàng luyện đến đây chỉ còn duy ý Việt, bỗng trực giác nghe tiếng ân bố từ xa xa vọng lại: “Lão ban ân tứ Mục Trường Lĩnh Nam này cho danh túc, đây là một phép lạ chính thức gặp gỡ hữu khởi”. Chàng quỳ xuống chắp hai tay niệm: Thái Thượng Ðạo Tổ Ma Ha Tát. Nay đệ tử Hoàng Phi được sư phụ chan rưới huệ tính chói sáng, kính lễ tôn vinh, tạ ơn sư phụ. Đệ tử van xin yết kiến sư phụ, có âm thanh thì thầm vọng lại bên tai, chàng định thần độ tuổi sư phụ, có lẽ nay người đã ngoài trăm, chàng nhận được hương thơm từ thân thể của sư phụ xuất ra, hương thơm như gần mà xa, như xa lại gần, tuy vậy chàng cũng không biết ở hướng nào xuất ra hương thơm ấy. Có tiếng thì thầm:

― Lão là vô cực đạo tiên, cười “ha hà” rồi âm thanh cùng mùi hương thơm cứ mãi bay xa dần.

Chàng hiếu kỳ suy nghĩ : Đúng rồi người sư phụ thân thế võ nghiệp siêu quần, đều biết sử dụng tính dược thảo, mình đã công phu những pho võ học lộ thiên ở đây, nay được học thêm Ngũ bích dược “Dược Giới Lĩnh Nam” đây cũng là diệu dược để cứu sống hiền nhân, trừ khử những kẻ ác độc. Nghĩ thế chàng quỳ xuống chắp hai tay khấn: Đệ tử Hoàng Phi quỳ trước Thánh Sư Thạnh Thế Thiên Tôn, xin hứa dụng diệu dược cứu nhơn độ thế, cứu hiền tài, người khó kẻ hèn, cứu nhân lập đức, cả muôn loài cần đến đệ tử, trừ khử những kẻ ác độc, đệ tử kính tấu, tạ ơn sư phụ.

Chàng xem bích phổ, tường tận từng hình dạng động vật, thực khoáng vật, thổ nhưỡng, địa khí, phép nuôi trồng, phương thức chế biến, trị liệu. Lần đầu tiên chàng ý thức được muôn sự sống từ khi có nước. Chàng tranh thủ đọc mật quyết “Dược Giới Lĩnh Nam”:

Dược giới nội điền

Võ thỉ thượng cung

Cửu thập ngũ hồi

Chưởng thiện quả ư thi thơ chi phố

Bá thiên vạn hóa

Bồi quế thọ ư âm chất chi điền

Tự lôi trữ bính linh ư phụng lãnh

Chí như ý từ, tường ư ngao trụ

Khai nhơn tâm tất bổn ư đốc thân chi chiếu

Thọ quốc mạch tất tiên ư trí chúa chi trung

Ứng độ bảo sanh, Thùy từ mẫn khổ

Võ nhơn, võ thánh, võ hiếu, võ từ

Thần văn, thánh võ, hiếu đức trung nhơn

Vương tân sách phụ

Nội công khai hóa

Văn tuyển tư lộ

Hoằng nhơn quân thần

Trừng chơn chánh quang

Bửu Quang từ thể tôn sư.

Ba ngày sau Hoàng Phi đã học thuộc lòng hết hình đồ, cùng mật quyết “Dược Giới Lĩnh Nam”. Hiện nay trong động có một kho dược liệu thành phẩm và dược liệu nguyên chất, ghi chú thứ tự từng tên thuốc, trị liệu. Riêng ngoài thung lũng cũng có một khu vườn thực vật xanh, đặc biệt có những cây thuốc sử dụng gây mê. Hoàng Phi tiếp nhận được muôn nghìn kỳ diệu, tâm thần phát lộ phấn chấn, quỳ xuống chắp hai tay niệm tiếp: Thánh Sư ma ha tát. Đệ tử Hoàng Phi tạ ơn sư phụ.

Lúc này trên đỉnh núi đã tối, mây phủ xuống dày đặc, có những hạt tuyết nhỏ rơi thành chuỗi trắng bay lơ lửng, đỉnh núi nhả sương đọng lại trên đầu lá. Hoàng Phi vội rời khỏi ngũ giác đài để về Đông động dùng cơm tối. Thời gian trôi qua hai tháng Hoàng Phi chưa xuống đáy suối của núi, nay chàng phải làm một việc để bảo vệ kho tàng cho Lạc Việt.

Sáng hôm sau, chàng đi thẳng xuống đáy núi, lấp ngõ vào kho tàng, riêng ngõ lên đỉnh núi khúc khuỷu khó tìm, cũng khó vào bên trong được. Hoàng Phi nghĩ thầm, đối với người có bản năng như mỗ thì không khó, cho nên chàng lấy những tảng đá lớn lấp luôn ngõ lên đỉnh núi, từ nay chàng lên đỉnh núi lúc nào cũng được ! chỉ cần đề khí phi thân là đến nơi.

Chàng an tâm trở về Đông động để ăn trưa, thấy còn quá nhiều thời gian thảnh thơi, nghĩ ngay một cuộc sống tự lập cho riêng mình, chàng vào sảnh đường của động, đến kệ lưu trữ ngân kim lấy ba lạng bạc đi thẳng ra ngõ hẹp cửa động Đông, phi thân xuống núi đi về hướng nam tìm thị trấn mua vật dụng nhà nông, như hạt giống đa niên, hạt giống ngũ cốc ngắn ngày. Một giờ sau Hoàng Phi đến thị trấn Gia Nam thuộc tỉnh Tượng Quận, ba lạng bạc mua đủ thứ vẫn còn thừa. Hôm sau chàng phi thân xuống núi, đổi hướng đi về hướng đông mất hơn giờ, gặp thị trấn Tia Đàng thuộc tỉnh Quế Lâm, chàng mua da thuộc, như bò, trâu, ngựa, chàng nhờ chủ tiệm cắt ra từng mảnh ba tấc vuông, chàng đi mua trong hai ngày liền tính ra thì được trên năm trăm tấm da, lưu trữ để tẩm thuốc trị liệu và gây mê theo phương pháp “Dược Giới Lĩnh Nam”.

Nhân dịp có ba con hạc bị nội-ngoại thương khác nhau, Hoàng Phi đem sự hiểu biết về dược của mình vào thực dụng ngay, chữa trị cho con hạc bệnh gãy một chân.

Hoàng Phi lấy thuốc cứu, thuốc nghệ, phèn cháy, huệ cố tẩm với nước thành cao sền sệt, bỏ vào tấm da, rồi chàng bó lấy chân hạc, dùng hai nẹp cây thẻ mỏng, lấy dây buộc cho cứng, hai ngày thay đổi thuốc một lần, sau mười ngày con hạc đi lại được, hạc cất cánh bay thoải mái. Hạc thứ hai bệnh ghẻ lở loét thật to trước ức, cả ngày hạc nằm một chỗ, chàng thấy vậy đem hạc ra rửa sạch vết thương, dùng mã tiền, thuốc cứu, nghệ bịt vào mỗi ngày ba lần, vài ngày sau hạc tự động đi xuống suối tìm cá để ăn. Hạc thứ ba, bệnh nặng đã hơn nửa tháng thân gầy mòn từng ngày, không ăn uống, nằm trong bóng tối, sợ ánh sáng, đầu mình nằm sát đất, hai cánh bè ra, hơi thở thoi thóp chờ ngày chết. Hoàng Phi liền vào kho thuốc lấy ra ba vị thuốc Cam thảo, Gừng, Mía lau, thảo chi, chàng nấu mười phân nước, sắc lại còn ba phân thuốc, cho vào một ít mật ong, hạc uống ba lần trong ngày, thấy hạc tỉnh lại đôi phần, hôm sau thay đổi thang thuốc mới gồm có Nhục quế, Phục thần, Phòng sâm, nấu mười phân nước, sắc lại còn ba phân thuốc, cho vào một ít mật ong hạc uống ba lần trong ngày, hai ngày sau sức khỏe hạc phục hồi, tự động đi tìm nước uống, chàng thay đổi thang thuốc mới lần thứ ba gồm có Cam kỷ tử, Đại nguyên thục, Táo cùng một cách nấu thuốc, cho hạc uống liên tiếp ba ngày, hạc bình phục hoàn toàn qua khở cửa tử, hạc tung tăng khắp thung lũng, tự tìm mồi ăn thỏa thích.

 Chàng thấy hơn mười con hạc cánh bị xụ xuống chấm đất, thân ủ rũ có triệu chứng buồn, chàng vào kho lấy thuốc “Cao đơn tán”, lấy ngay năm mươi viên thành phẩm, trở ra thung lũng, đến trước bầy hạc búng vào ức mỗi con một viên thuốc. Những đôi cánh hạc trước đây bị xụ xuống, giờ này mới gấp lại bình thường, những hạc khác thân ủ rũ buồn, bây giờ tinh minh hơn, quả là tiên đơn rất công hiệu.

Sáng hôm sau bồi thêm cho mỗi con hạc một viên thuốc “Cao bách tán” bầy hạc mạnh khỏe, hơn xưa, thuốc này chủ yếu tăng cường sức mạnh cho cơ cốt cùng nội tạng cường tráng, vị thuốc này trị liệu bệnh truyền nhiễm.

            Chàng không gì vui bằng, nay thấy bầy hạc của chàng đã trở thành thần hạc. Chàng trực nhớ ngũ bích dược “Dược Giới Lạc Việt” Chàng vội phi thân lên đỉnh Ngũ giác đài, quỳ xuống chắp hai tay bái Thánh sư phụ. Đệ tử thay mặt cho bầy hạc đa tạ ơn Thánh sư phụ, vừa ngẩng đầu lên hai mắt thấy hình con hạc như mọi lần đã xem qua bích phổ dược giới, nhưng không để ý tại miệng con hạc, mà đã bao lâu nay tưởng rằng bụi bậm bám vào, khi xem kỹ thì thấy lạ. Chàng xem thật kỷ mật quyết mới biết nước miếng của hạc rất nóng và độc, ai trúng nhằm loại cỏ này là chết tức khắc, nhưng lấy độc trị độc thì công hiệu vô cùng. Chú thích rất rõ “Phía Nam núi Thất Long nơi ở của hạc đã hơn ba trăm năm, khi chúng ngủ nước miếng chảy ra tích tụ lâu ngày trên cành cây hay khe núi, hóa thành cỏ Hạc Chu Thảo, lá có nhiều điểm màu đỏ, cỏ sống từ một trăm đến ba trăm năm, độc trị độc nhơn cả đơn tiên” Chàng phi thân qua phía Nam núi Thất Long tìm cỏ, quả thật có vô số cỏ Hạc Chu Thảo. Chàng đem về động một túi cỏ đa niên.

Chàng về lại động, phi thân lên nơi hạc ở cũng thấy cỏ “Hạc Chu Thảo” nhưng nó chỉ mới lú nhú thưa thớt trên mặt đất, Hoàng Phi nói thầm từ đây “Hạc Chu Thảo” sẽ là độc trị độc.

Hoàng Phi thấy trời vẫn còn sớm, liền phi thân ra khỏi động, tìm được một con nghé rừng đem về động để thử nghiệm gây mê và rút vài đốt xương. Chàng nói với nghé rừng:

― Mỗ không phải là người ác độc, mỗ chỉ vì muốn cứu muôn loài độ thế, cho nên mỗ cần đến nhà ngươi một việc, xem ra rất khó cho mỗ, đó là thử thuốc gây mê và rút vài đốt xương, có thể đem đến sự nguy hiểm sống chết cho ngươi, mỗ biết ngươi sẽ khổ vì mỗ, bây giờ mỗ xin hứa:

― Nếu ngươi có mệnh chung gì thì mỗ sẽ chôn cất ngươi như bạn thâm giao. Tuy rằng người đời có nói mi “Ngu như bò” nhưng ở riêng mỗ không nói thế. Nghé rừng cũng hiểu được phần nào ý của chàng, nó hiểu theo ngôn ngữ của bò.

Lần đầu tiên nghé rừng được ăn cỏ trong động có mùi thơm đặc biệt, nó thích thú lắm, cất lên tiếng vui mừng “ngọ ngọ” nghé rừng chỉ cần đứng tại chỗ cũng không ăn hết cỏ chung quanh. Hôm sau Hoàng Phi ẩn mình trong Đông động cách xa ba mươi thước, không cho nghé rừng thấy. Chàng thảy ra một mảnh da tẩm thuốc gây mê với cường lực mạnh không động gió, chụp vào mặt nghé rừng lăn ra bất tỉnh hai giờ, sau nghé tỉnh lại tiếp tục ăn cỏ, xem như nghé trải qua một giấc mộng cỏ non thơm.

Hoàng Phi tiếp tục thảy ra một mảnh da tẩm thuốc gây mê cùng cường độ, chụp vào mặt nghé rừng lăn ra bất tỉnh, cùng lúc thảy mảnh da thứ hai để giải mê, con nghé tỉnh lại, tiếp tục ăn cỏ như thường lệ.

Qua ngày hai Hoàng Phi cũng ở vị thế ấy, cũng động tác đó, với thuốc gây mê tăng lên độ nồng mười lần, nghé rừng lăn ra bất tỉnh từ sáng đến chiều tối, nghé mới đứng dậy được.

Ngày ba cũng cùng nồng độ thuốc gây mê, chàng thảy mảnh da chụp vào mặt toàn thân nghé lăn xuống đất, nhân dịp thử nghiệm “Hạc Chu Thảo” cho vào miệng nghé, tức thì con nghé rừng đứng dậy khỏe mạnh, tiếp tục ăn cỏ. Hoàng Phi đắc ý reo lên “Dược thần công hiệu”.

Ngày tư chàng dùng nồng độ nhẹ hơn nhưng sức tàn phá khủng khiếp, thảy mảnh da chụp vào mặt con nghé lăn xuống đất, nước mắt nghé rừng ứa lệ, chàng thảy tiếp mảnh da “Hạc Chu Thảo” nghé trở lại sống bình thường. Lần này thay đổi cách thử nghiệm, chàng rút một đốt xương tại mỏ ác, tức thì con nghé tắt thở, chàng cảm động thở dài, biết rằng thử nghiệm thành công, nhưng rất thương con nghé rừng vô chấp.

Tuy chàng đã để ý chuẩn bị tháp lại đốt xương mỏ ác, cùng thuốc để cứu sống nhưng không kịp, vì nghé rừng đã mấy ngày bị thử nghiệm liên tục nên kiệt sức. Chàng đem con nghé rừng ra ngoài động chôn cất tử tế, trước mộ bia gỗ cắm xuống đất ghi “Hạnh nghé vô chấp, tình mỗ để trong chi mộ” miến võ học mảnh da này Hoàng Phi lấy ý từ mảnh da thú của Phùng Hưng ngày trước, để sáng tạo thành binh khí ngày nay.

Chàng ở trong động lâu ngày sợ thất nghiệp, cho nên chàng hết làm việc này là nghĩ ra việc khác để làm. Việc trong đầu chỉ bảo tay chân, làm mệt nghỉ. Chính chàng cũng ăn, ngồi không yên, do khối óc tinh thông hiếu động.

Chàng phi thân lên đỉnh núi vào kho tàng, chủ ý lần này ở trong kho tàng một ngày cho nên đem theo đồ ăn trưa, chiều. Chàng lục lạo tìm tòi tỉ mỉ, ngày trước chàng chỉ thoáng qua kho tàng mà đã hoa mắt, hôm nay vào thì cũng thế thôi nhưng ý muốn tìm hiểu tường tận, chính xác hơn, ba giờ sau chàng khám phá được kho tàng ngoài dự liệu, tất cả châu báu thấy được chỉ là mặt nổi, phần dưới của mặt nổi mới là chính, theo thứ tự của mỗi vật, trên mặt bàn châu ngọc thì ở dưới là hòm lớn bảy thước vuông vứt đầy ắp ngọc quí, trên mặt bàn ngân kim thì ở dưới cũng là hòm lớn ngân kim v.v…

Ngoài ra còn có một sảnh đường nhỏ chứa Thư pháp, Binh pháp, trên tường gắn giá có thập thất bửu binh khí, nặng nhẹ, dài ngắn, lớn nhỏ khác nhau, kèm theo mười bảy phổ binh khí. Thư pháp gồm có chín phổ, Binh pháp có mười bảy phổ. Chàng chọn Thư pháp độc trước, rồi ở luôn trong kho tàng mười ngày, miệt mài độc toàn bộ Thư pháp, như Phổ Ngũ Đế (Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Câu Tiễn) văn, thi, kiến trúc, tạo hình, bản khắc chữ, họa mộc bản, tuồng hát, niên lịch.

Phổ Cương Giới. Chép nguồn gốc Bách Việt từ Nam sông Dương Tử, Động Đình hồ đến miền cực Nam Á.

Phổ Lục Cốc. Đạo, lương, thúc, mạch, thử và tắc truyền thừa từ thời Thần Nông. Phổ nông điền ghi chép. Nông kỹ gồm Nông sản, Nông dân, Nông cụ, Nông mục, Nông chánh.

Phổ Tịch Bách Việt: Âu Việt, Điền Việt, Dương Việt, Mân Việt, Nam Việt, Lạc Việt, Môn-Khmer Việt, Giao Việt, Việt-Mường, Tày-Thái Việt, Mèo-Dao Việt, Tây Việt, Đông Việt, U Việt.

Phổ Canh Cư đồng Tương, Tượng Quận đồng Nam, Quế Lâm đồng Bái, Nam Hải đồng Thủy, Giao Chỉ đồng Phong Châu, Hải Nam đồng Vàng, Cửu Chân đồng Tỉnh, Nhật Nam đồng Hà. Ngoài ra còn vùng trú cư ở Trung nguyên như Quế Châu, Tứ Xuyên, Trùng Khánh, Hồ Bắc, Phúc Kiến, Giang Tây, Triết Giang, Giang Tô, Hà Nam, Thiểm Tây.

Sông ngòi: Bắc-giang, Đông-giang, Tây-giang, Dương tử, Bằng-giang, Kỳ-cùng, Châu-giang. Hồng Hà v.v…

Vùng biển có các cửa vịnh như Hổ Môn, Phiên Châu, Hợp Phố, Long Biên, Cửu Chân, Nhật Nam.

Phổ gia quốc, thành “Thủ đô” trấn “Miền” châu “Tĩnh” tộc “Huyện” hương “Họ”

Phổ Phong Hóa, tập tục căn bản từ Đế  Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hùng Vương, Mẫu hệ, thờ phụng đa thần .

Phổ Phong Thổ, Bắc hồ Động Đình, Tây Tượng Quận, Đông Nam Hải (lạnh) Giao Chỉ (ấm áp) Cửu Chân, Nhật Nam (oi bức) Hải Nam (ẩm thấp).

Phổ Nghi Lễ, Cáo Thánh Hoàng, Trời đất, đa thần, bát quái đồ, ngũ hành, hung họa phúc.

Chàng đọc hết chín phổ, mới am tường văn hiến thượng cổ Lĩnh Nam, chàng vốn con nhà văn-võ lưỡng toàn, Hoàng Phi được gia gia dạy võ-văn, mẹ dạy thêm văn bên ngoại, mười tuổi Hoàng Phi đã độc kinh thư Thái Thượng Lão Tổ, thời sơ khai Bách Việt, thời Lĩnh Nam, thời U Việt Câu Tiễn, thời Hùng Vương, thời An Dương Vương, riêng về Bát quái phổ có hai bộ cổ và tân, chàng lấy làm thích thú độc thuộc cả hai, tìm hiểu trong tám quẻ, càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn và đoài rất kỳ diệu, chàng đối chiếu cả hai phổ Bát quái đồ.

Hoàng Phi miệt mài đọc bộ Thư pháp như con mọt sách đi vào rừng. Hoàng Phi độc tiếp toàn bộ Binh pháp, võ học trong mười chín ngày:

Phổ Đồ Trận, Hỗn ngươn thiên, Hư vô thiên, Tạo hóa thiên, Phi tưởng thiên, Hạo nhiên thiên, Kim thiên, Xích thiên, Huỳnh thiên, Thanh thiên.

Ngoài ra còn có phổ bát quái đồ Bách Việt Luận, như các trận Thái dương, thiếu âm, Thiếu dương, Thái âm, Quẻ phục, Quẻ lâm, Quẻ thái mỗi quẻ có lục thức từ Thượng lục đến Sơ cửu.

Phổ Võ Học, Kiếm, Đao, Thương, Côn, Trảo, Cước, Song câu, Quyền, Lang nha bổng, Nha sản, Phi tiêu, Ám khí, Cầm nã, Đinh ba, Khinh công, Chùy, Phán Quan .

Hoàng Phi ra khỏi kho tàng mang theo kiến thức hoàn toàn mới, nhờ vùi sâu vào hai pho Thư pháp và Binh pháp, trong lúc độc Binh pháp mới phát hiện được hai bản chính võ học “Tuyệt Cao Kỳ Kiếm” và “Phong Tâm Kiếm”, độc kỹ mới thấy phần ghi chú, bổ túc từng chiêu thức mới, có đính kèm mật quyết, chàng đem hết vào lòng không bỏ qua chiêu thức nào, hay mật quyết nào .

Chàng ra khỏi kho tàng, luyện tập lại “Tuyệt Cao Kỳ Kiếm” và “Phong Tâm Kiếm” quả nhiên kiếm pháp vi diệu hơn trước trăm lần.

Hoàng Phi nhận định thì ra lục Hoàng Đức cũng có duyên lắm mới vào được động Lạc Việt, thừa hưởng được hai bộ phổ kiếm pháp, nhưng không được trọn vẹn, thế mà họ đã cho rằng đắc ý, vì vậy không đi xa hơn nữa, đó là lý do họ không khám phá được kho tàng châu báu bí mật trong lòng đỉnh núi.

Hoàng Phi trở về sảnh đường Đông động, lấy hai bản “Tuyệt Cao Kỳ Kiếm” và “Phong Tâm Kiếm” xếp vào kệ sách, còn những sách khác thì Hoàng Phi đã độc hết khi còn ở Giang Tô .

Hôm sau chàng phi thân lên đỉnh núi mở cửa bích “Mục Trường Lạc Việt”, chàng bước vào kho tàng cũng như mọi khi, độc lại Thư pháp, Binh pháp một lần nữa, lần này chàng tò mò tìm xem có gì lạ không, tìm mãi cũng vẫn thứ ấy ngọc ngà châu báu.

Bỗng dưng tay chàng đụng nhẹ cánh cửa thứ hai của thư phòng, cánh cửa bật ra, chàng thấy toàn là đại bào, tiểu bào, bào dày bào mỏng, vương niệm đính cẩn ngọc, kim cương, quần áo rất đẹp đúng là “Giọt châu thánh thót thấm báu” chàng liền tự bảo mỗ cũng cần quần áo để mặc, vì bộ bào của mỗ đem theo nay đã cũ rách hết.

Lòng chàng nổi lên táy máy tìm bào mỏng mặc bên trong, vài đại bào vừa ý mặc che thân ngoài, tìm được một đôi hài thêu hoa, cái mũ rất đẹp “vương niệm” mặc vào cảm thấy đẹp, chàng vui thích thú, chạy múa, hò reo khắp kho tàng.

Chàng từ thuở lên ba tuổi, đã thích chơi con Tu hú gỗ quay dây, để đùa giỡn với Tu hú ăn sâu bọ mía. Tu hú gỗ quay dây, nay trở thành vật gia bảo, lúc nào cũng để trong túi áo.

Chàng ở trong động đã lâu, cảm thấy hết việc để vui chơi, cùng lúc nhớ đến con Tu hú, chàng nẩy ý dùng con Tu hú gỗ để luyện tập bầy hạc, lúc trước mỗi khi gọi hạc, dùng miệng, huýt sáo là hạc tự hiểu tiếng người, hôm nay trái lệ thường, chàng gọi bầy hạc qua tiếng con Tu hú, bầy hạc nghe qua ngơ ngác nhưng rồi cũng quen, tập luyện được hai ngày cả bầy hạc mới thông làu những âm độ cao thấp khác nhau của tiếng con Tu hú, Hoàng Phi điều khiển bầy hạc rất tài tình, mỗi âm độ là một mệnh lệnh đặc biệt, thích nhất là mệnh lệnh tập hợp bầy hạc để nghe Hoàng Phi thổi sáo Tử trúc Nhật Nam.

Ngoài ra Hoàng Phi còn luyện tập nội công cho bầy hạc, đến nay được ba mươi con hạc có khả năng chuyên chở trọng lượng trên bảy mươi cân. Hoàng Phi dùng hạc bay vào mây xem toàn cảnh dãy núi Thất Long, quan sát động Lạc Việt .

Hoàng Phi thích thú công việc làm đã qua, mỗi ngày luyện tập kiếm pháp, đao, quyền, nội ngoại công, dược, phi thân, đọc lại thư pháp, binh pháp, rồi luyện tập hạc, làm thêm bốn gian nhà cho hạc ăn ở trên bốn hướng trên đỉnh động. Chàng ở đây đã lâu, hôm nay mới tản bộ đến ngồi trên tảng đá bên bờ suối, nhìn thấy thân thể vạm vỡ, có bắp thịt hơn trước, nước da hơi sẫm một ít, khuôn mặt hiện ra dưới mặt hồ, chàng la lên “ha hà” có việc làm rồi: Mỗ đi làm khuôn mặt nạ của thằng Hoàng Phi đây ! vốn chàng đã biết phương thức làm khuôn đúc kiếm của họ Hoàng, cho nên khi thấy mặt mình dưới mặt hồ mới nẩy ý đúc khuôn mặt nạ bằng da thú cho mình.

Chàng phi thân ra cửa động đi tìm đất sét, độ một chập tuần trà, chàng mang về một bao đất, ngồi trên tảng đá bên bờ suối, nhồi đất sét thật nhuyễn, rồi chia ra làm hai phần, chàng úp vào mặt của mình để làm khuôn mặt nạ, rồi chàng khoét hai lỗ mắt, mũi để thấy bên ngoài và để thở, hai giờ sau khuôn đất sét trên mặt mới khô, chàng lấy ra sửa lại mắt mũi, nền khuôn ngoài đã thành để vài ngày sau cho hoàn toàn khô, chàng lấy da trừu ngâm vào nước nóng cho mềm, thái thật mỏng, ngâm thêm vài ngày nữa mới cho vào khuôn, chàng lấy phần đất sét còn lại để trên da trừu thế là thành khuôn trong, đem ra nắng phơi khô hai ngày mới lấy ra, chàng đã sáng tạo được một mặt nạ, để mặt na như thật lấy chu hoàng đánh thật mỏng vào mặt nạ, thế là hoàn hảo. Tuy vậy khuôn mặt nạ giả vẫn không giống như thực, nhưng nó có thể giữ kín nét mặt thực, chàng mang mặt nạ vào đến bờ suối xem thử, chàng “à” lên một tiếng “rất hay rất hay” kể từ nay có hai thằng Hoàng Phi thực và giả như thực, tốt lắm mỗ có cách để dùng nó vào việc cần thiết “ha hà”.

Hoàng Phi tự nghĩ : Còn một việc mà bấy lâu nay có dự định vẫn chưa làm được, nhân dịp này phải làm gấp ! Mỗ đem tất cả các hạt giống cây ăn trái đa niên, như mãng cầu, soài, mít, mận, cam, bưởi, chanh, dừa, đào, đu đủ, thanh long, vú sữa, khế, quít, chôm chôm, nhãn lồng. Công việc trồng cây ăn trái của Hoàng Phi đến ba hôm sau là hoàn tất.

 Chàng vẫn chưa thấy lục Hoàng Đức trở về, trong lòng muốn đi Phiên Ngung thành một chuyến, cho nên lấy quyết định, bốn ngày nữa lên đường, trước khi lên đường chàng phải tìm bốn tảng đá lớn lấp trong và ngoài cửa động Tây, Nam lấy một tảng đá lớn chắn cửa động Đông làm một bình phong, khi chàng lấp cửa động Tây phát hiện ở dưới đáy suối sâu có một khe nhỏ người có thể chui được vào trong động, thì ra khe này mới là nguyên do cho lục Hoàng Đức vào được trong động, nhờ vậy mới học “Tuyệt Cao Kỳ Kiếm” và “Phong Tâm Kiếm” Chàng lấp cửa động, dựng trong động một cột lớn vạt theo hình thẻ bài, viết “Từ nay lục Hoàng Đức ra vào động, phải qua khe dưới đáy suối, không được mở cửa động Tây, động Nam” Công việc động đã chu đáo, Hoàng Phi lên đường với năm con hạc trung bình cao thước hai, chàng cùng hạc bay vào không trung hướng thẳng đến Thành Phiên Ngung .

Hồi 7

Không tài không đức hóa không thời

Huỳnh Tâm - Anh Hùng Nam Việt