Ánh sáng thiều quang vừa buông xuống, một giao hợp song tình hoàng hôn hẹn nhau mỗi buổi chiều tà, cảnh đẹp thanh vẻ mộng tơ hồng, làm chao đảo trời đất từng khắc giây, thi nhau đổi áo màu hồng rồi lại nhạt xanh, cũng có lúc tím rồi lại cháng mặc áo toàn thân đen cả phàn vũ trụ. Cứ thế ngày đêm chuyển đã ngoài Cửu ức niên thừa.

Đôi cánh hạc bay vào cương vực Quế Lâm, từ trên không trung nhìn xuống, Hoàng Hạc thấy toàn cảnh giang sơn lần đầu tiên, ông cảm xúc sự hùng vĩ của quê hương đất tổ, tuy Hoàng Hạc đã độc nhiều thi phẩm tả về đất Quế Lâm, nhưng không bằng chính mắt ông thấy, từ trên không trung ông đã cảm nhận được đất nước con người, nào là cái đẹp của tình cảm, phiêu linh không kết thúc mỗi cá tính lãng mạn, đây mới là thi ca rừng núi Ly Giang và đồng nội Quế Lâm. Sông núi một cặp uyên ương chung thủy thiên thu, không thể thiếu như Hoàng Hạc đang trống vắng một thứ tình yêu nào đó, ông cảm hứng miêu tả cuộc đời đã trải qua như Tình Ly Giang .

Xưa đi xa lòng Ly Giang

Mới hay sông núi bạt ngàn mênh mông

Có đi mới nhớ ruộng đồng

Bông hoa khoai sắn đôi vồng hàn huyên

Hương thơm bác ngác thiên nhiên

Mùa vàng lúa chín liên miên đổ về

Tiếng hò trai hội được kê

Khay trầu lễ sính đừng chê anh nghèo.

Thi ca đồng nội và núi sông Ly Giang, cho ông cảm tác chính mình nghe, đến hôm nay ông mới thấy phong cảnh sông núi Ly Giang quả thực là quê hương gấm vóc “danh bất hư truyền”. Hoàng Phi có suy nghĩ riêng, mỗi lần đi ngang qua Quế Lâm thấy núi rừng quyện thành sức mạnh sinh tồn Bách Việt, nhất là Ly Giang như con rồng thủy lộ, ôm cả dòng chảy trùng điệp, một thành quách tạo hóa sinh ra ban cho Lạc Việt, Ly Giang là sức sống của rừng, đất và muôn loài, người dân ở đây sống với sông núi Ly Giang như có ai đã an bài từ trước .

Lưu lượng dòng Ly Giang chảy mạnh, lòng sông sâu, hai bên bờ rộng, có mười bốn nhánh sông tự tạm biệt một khoảng đường rồi hẹn đến điểm hội ngộ đó là đặc thù của Ly Giang, địa thế sông núi Quế Lâm là hình ảnh đẹp, nó nói lên sự hợp tan, có và không chia tay và hội ngộ tránh cảnh thiên tai nước lũ. Núi rừng chạy dọc theo sông Ly Giang, ngày xưa có những hiệp khách khởi nghiệp từ đầu nguồn núi Quế Địa thuộc cụm núi Hộ Miêu Nham, Đoàn Hoa Giang, Nhiếp Thái Sơn.

Ngoài ra còn có những ngọn núi vang danh trong thi ca như Trung Tú Phong Tháp, Quế Liên Trạm, Tam Lý, Điển Quảng Trường, Kỳ Phong Lâm Lập.

Có ai lãng mạn tu tiên chọn một nơi làm mái nhà sống ẩn thì có núi Xuyên Sơn, Nam Khê Sơn, Thất Tinh Nhạm, Sách Tỷ Sơn.

Có những đa tình sơn thủy chưa chịu dừng bước chân, vì xa xa còn dãy núi Hiệp Linh Châu Vu, Tháp Sơn. Khác đa tình lại gặp Ly Giang, tính ra sông chảy dài hơn trăm cây số.

Phù sa của Ly Giang tạo thành một đồng bằng phì nhiêu rộng lớn, nối vào núi Quân Thiệp Tiêu Thủy, sông Ly Giang tiếp tục chảy qua núi Quán Nham U Động, Trổ Đế.

Núi sông là một thứ tình tri kỷ như Hoàng Bố Ảnh, Bán Cổ Trấn, Hưng Bình, Thư Đồng Sơn. Ly Giang tiếp tục trao tình với núi Ngư Lộc, Tuyết Thái, Sơn Bằng Nhật, Bạch Sa Xuân, Ly Giang chảy đến đâu cũng để lại một đứa con như núi Điền Viên tại huyện Túc Sắc, ở đây Ly Giang phân thân thành hai một chảy về hướng Tây với mối tình cuối là núi Mao Giá Phong và một hướng Nam, ở đây Ly Giang lại bước thêm một bước dài chảy đến núi Thư Đồng Sơn.

Trên không trung Hoàng Phi thấy dấu chân núi rừng còn trùng trùng điệp điệp, bao la cao ngút chân trời. Lúc này chàng mới thấy Ly Giang hiện thân chảy vào đồng bằng thị Nan Ninh, thủ đô tôn tộc Lạc Việt, đặc biệt Nam Ninh thị nằm trong thung lũng đồng vàng.

Núi sông là tình tự của Quế Lâm, nó cứ tiếp tục biến sinh cảnh đẹp trần thế, như núi Đoàn Hoa Giang mây phủ từ cao xuống thấy ẩn hiện một phù điêu tuyệt tác, còn có núi Nhiếp Thái Sơn quê hương của loài chim quạ trắng, Phong Tháp có động Trầm Chu khói đỏ hương thơm, Quế Liên cho quế trầm hương, Tam Lý điển quảng trường bút tích, mờ mờ lời kinh trên bích núi. Kỳ Phong danh lam thắng cảnh kỳ bí, có vòi nước nóng phun cao hai thước, Xuyên Sơn trong lòng có đường đi rất đẹp từ Tây qua Đông, Nàng Thu hùng vĩ nhiều động thạch nhũ, Thất Tinh Nhạm bảy hình tinh tú trong động không khí hơi lạnh. Sách Tỷ Sơn vách núi đá chồng chất như sách vở, theo truyền thuyết dân gian có một nho sinh bỏ sách vở chạy theo tiếng gọi con tim. Không xa lắm có Linh Châu Vu những nhà tu ẩn thường đến đây cầu Đại ngọc cơ xin thuốc trị bệnh và hỏi thăm thời thế. Tháp Sơn cao ngất xếp thành từng tầng, được xem là biên giới của hai tỉnh Quế Lâm và Nam Hải.

Quế Lâm cũng là nơi tụ hội của những đảng cướp, giáo phái, bang hội vì núi rừng ở đây có nhiều hang động thiên nhiên. Đến đây Ly Giang tạm biệt Quế Lâm chảy vào đồng bằng Nam Hải, những ai có đi qua mới biết Nam Ninh là thành trì kiên cố nhất của Quế Lâm.

Ông cháu họ Hoàng về lại quê hương đất tổ, chính là để thăm viếng tổ đình tôn tộc họ Hoàng, thúc phụ Hoàng Trung Nhất nguyên triều Quế Lâm Vương. Hôm nay cả họ tin mừng Hoàng Hạc về ai cũng hội lại, kẻ nhớ người thương, kẻ quen người lạ trong tôn tộc không biết Hoàng Hạc vì khi Hoàng Hạc đến Giang Tô từ thuở mười hai tuổi, cho nên kẻ xa người gần hiếu khách, tuy vậy ai cũng nghe danh Hoàng Hạc nguyên là Quốc sư Nam Việt, trong họ đua nhau thăm hỏi gia cảnh lập nghiệp Giang Tô và nay về sống Cửu Chân, cả họ muốn nghe Hoàng Hạc trình bày về đời sống mới và muốn biết điệt Phi vang danh hiệp khách trong giới võ lâm đương thời, những hiếu khách mỗi lúc hội về càng đông, sảnh đường Quế Lâm Vương trong ngồi chật ních như niêm, ngoài sảnh đường cũng không còn chỗ để đứng.

Quan trọng nhất là cả họ muốn biết mọi diễn biến trong thời gian đại hội tại thành Phiên Ngung. Quế Lâm Vương mở tiệc chiêu đãi cháu Hoàng Hạc tại tòa điện các vương phủ và cả họ nao nức ái mộ thiếu niên tuấn kiệt của họ Hoàng, mới xuất hiện đã được mời tham dự đại hội anh hùng Phiên Ngung.

Lúc mới đến họ tưởng Hoàng Phi là nhi đồng theo hầu hạ Hoàng Hạc, riêng Trịnh Bình và Nguyễn Trúc nguyên tướng quân Quế Lâm đã biết Hoàng Phi qua hình ảnh của Trịnh Trường ngày ấy.

            Hoàng Hạc trình bày tình hình cho Hoàng Vương nghe, về tình hình Quế Lâm hiện nay để phòng bị, ông nhắc nhở Hoàng Vương chú ý tờ lập tịch họ Hoàng. Cũng nhân dịp này Hoàng Hạc giới thiệu Hoàng Phi, chàng đang đứng hầu Tổ phụ, cả họ vừa thấy chàng đồng “ồ” lên tiếng vui mừng.

Tin đồn rất nhanh tuổi trẻ trong họ từ mười lăm đến hai mươi nghe có Hoàng Phi hiện diện tại sảnh đường Vương phủ, họ gọi nhau trai gái đến ngưỡng mộ Hoàng Phi, tay bắt, mặt mừng. Tổ phụ Hoàng Trung Nhất thấy vậy cũng đem lòng cảm kích, ông dành riêng một tiểu sảnh đường trong Vương phủ để Hoàng Phi tiếp xúc huynh, ty, đệ, muội trong ho và ngoài họ, có hơn hai trăm thiếu niên tham dự. Hoàng Phi đứng lên cúi đầu chào, một tràng pháo tay vang thật lâu, chàng thưa:

― Thưa quí hiền huynh, tỷ, đệ, muôi tại hạ họ Hoàng tên Phi, đến đây cùng Tổ phụ Hoàng Hạc, nhân dịp này tại hạ xin sơ giao bằng một bài Lĩnh Nam Ca vừa sáng tác để tặng quí hiền đất tổ Quế Lâm: Lĩnh Nam Ca.

Bách Việt một cõi bao la

Đi hoài vẫn thấy còn xa tít mù

Ai hỏi tình đã mấy thu

Chỉ biết đất Việt trường thu lưu đời

Lòng phơi phới bước chân người

Từ bắc xuống nam đất trời dọc ngang

Mắt thấy muôn triệu bản làng

Tây-đông già trẻ hợp bàng kiến minh

Thanh xuân ơi chí hùng binh

Cung kiếm dấy nghiệp thân chinh tỏ tài

Thi nhau thanh thế kiếm mài

Lòng lộng gió tay dựng đài Tổ-quốc.

Trong sảnh đường nổi lên tiếng vỗ tay háo hức như lời sông núi gọi, Hoàng Phi thuyết phục được trên hai trăm thanh thiếu niên, chính lời ca này trở thành huyết ca hùng tráng về sau, tiếng vỗ tay vang mãi tam khắc mới chấm dứt, bài Lĩnh Nam Ca chỉ thoáng qua một lần, thế mà toàn thể thanh thiếu niên thuộc làu lơi ca, ngay cả người lớn đứng ở ngoài sảnh đường cũng tán thành Lĩnh Nam Ca như khơi động hùng khí của tuổi trẻ. Có một thiếu niên phát biểu, ai cũng biết đó là đại gia họ Hoàng:

― Thưa quí huynh tỷ, tại hạ họ Hoàng tên Anh Tuấn, sau khi nghe lời gọi Lĩnh Nam Ca như mạch huyết cuồn cuộn, tâm hồn dâng lên hùng tráng, thân thể như có sức mạnh thôi thúc lên đường, như có tiếng gọi tập hợp trong lòng tại hạ, cũng là tiếng nói chung của toàn thể tuổi trẻ hôm nay, xin quí hiền huynh tỷ hãy làm gì cho non sông gấm vóc ngày mai. Tiếng vỗ tay vang lên tán thưởng lời phát biểu của họ Hoàng. Một thanh niên khác xin phát biểu :

― Thưa quí huynh tỷ, tại hạ họ Nguyễn tên Chung Kiệt. Lĩnh Nam Ca là huyết khí sức mạnh của tuổi thanh trẻ, tại hạ mạo muội xem Lĩnh Nam Ca chính là kim chỉ nam, lộ trình hành động của tất cả những anh hùng vì Nam Việt, Lĩnh Nam Ca thay lời phát biểu của quí huynh tỷ, cũng như ý chí hằng trăn trở của đời trai và tự hỏi mình hãy làm gì cho mai sau! Hôm nay Lĩnh Nam Ca cho một con số giải, vậy quí huynh tỷ hãy nắm tay nhau kết thành vạn hùng binh để trừ giặc Hán phía tây Quế Lâm. Tất cả đồng vỗ tay reo hò tán thành ý kiến của họ nguyễn. Một thiếu nữ khác xin phát biểu, ai cũng biết đây chính là muội muội của Anh Tuấn, cô nương này văn võ phi thường, đúng là nữ kiệt tương lai của đất Quế Lâm:

― Thưa quí huynh tỷ, bổn cô họ Hoàng tên Thanh Thủy. Vừa rồi nghe tam đại huynh Hoàng, Lê, Nguyễn phát biểu tình lời hữu lý, nhưng văn võ phải song hành, tuổi trẻ ngày nay muốn xây dựng đất nước cần phải hiểu biết tổng quát, nhất là sự thành hình của một tổ chức trên căn bản phải có văn hóa, hành động tốt, đó là nguyên nhân để thực hiện lý tưởng phụng sự tôn tộc Bách Việt, bổn cô nguyện đi đầu khi sự chưa thành, chúc quí hiền huynh như ý sẽ thành công. Tiếng vỗ tay vang dội trong và ngoài sảnh đường xắp xỉ ba trăm thanh niên, lần đầu tiên họ nghe một thanh nữ mạnh dạn bày tỏ ý kiến riêng, các cô cũng hãnh diện vì bạn mình có thực tài văn võ, còn các cậu rất thỏa mãn đã thấy được chân dung xinh xinh của nữ quí tộc, nhất là nàng hứa với giới nam cùng đi trên đoạn đường lý tưởng do tuổi trẻ thực hiện. Có một thanh niên khác thân hình vạm vỡ, vừa đứng lên là hai trăm đôi mắt đồng một hướng, quả vậy họ chưa bao giờ gặp người thanh niên khôi ngô tuấn tú tướng mạo như kẻ học cao hạnh, chưa phát biểu đã thuyết phục được người nghe:

― Thưa quí hiền huynh, tỷ tại hạ họ Lê tên Chí Nam, quê Giao Chỉ vừa đến Quế Lâm để tầm sư học văn lẫn võ. Vô tình thấy thanh niên, thanh nữ nhủ bảo nhau đến đây, tại hạ vì có tính học hỏi việc lạ, cho nên mạo muội cũng theo vào, hôm nay là ngày đầu tiên tại hạ đến trường đời, xem như đã học được văn lẫn võ, nhất là Lĩnh Nam Ca và những lời phát biểu của quí hiền huynh tỷ, tại hạ xem đây là những lời rất giá trị để suy nghĩ cho hôm nay và ngày mai, thảo nào Quế Lâm lắm anh tài, tuấn kiệt. Xin qui hiền huynh, tỷ cho phép tại hạ được phát biếu ý kiến thô thiển như sau.

Người trượng phu sống chết không hề tiếc rẻ thân phận, không phân biệt cao thấp trong xã hội, không phân tranh với bất cứ ai về đời sống, không duy quyền, duy lợi, duy danh cho cá nhân, nhưng họ chỉ có hai thứ duy để đam mê mà thôi, đó là duy phúc dụng võ vì xã tắc nhơn quần, duy đức dụng văn bảo cổ canh tân văn hiến Bách Việt. Tại hạ xét thấy quí hiền huynh, tỷ muốn làm một việc duy phúc, duy đức vậy, nhân đây tại hạ xin làm người hầu duy phúc, duy đức, còn hơn đi làm “Hàng thần lơ láo phận mình ra chi”. Chàng vừa dứt lời, tiếng vỗ tay không ồn ào lắm, như có âm sắc man man lời dạy thánh hiền, quả vậy trong sảnh đường có văn-võ đồng sinh thế cuộc hôm nay.

Hoàng Phi suy tư nhiều về những lời phát biểu vừa rồi, chàng nẩy ý phát động thành một điểm hẹn tuổi trẻ tại Quế Lâm, chàng tự thầm vậy mình phải có trách nhiệm với quí huynh tỷ ấy mới được, chàng đứng lên trịnh trọng phát biểu:

― Thưa quí huynh tỷ, tại hạ đa tạ lòng ưu ái của quí huynh tỷ qua bài Lĩnh Nam Ca, nhờ vậy mà hiểu được ý lòng của nhau. Thưa quí huynh tỷ hãy xem ngày hôm nay là điểm hẹn của hành động, tại hạ xin hứa giới thiệu với quí huynh tỷ hai nghĩa đệ văn võ song toàn đã từng tham dự đại hội anh hùng Phiên Ngung, chính nhị vị này đã ra tay tảo trừ Lê Vĩnh cùng đồng đảng. Cả hội trường đều mừng vui, tiềng “ồ…” kéo dài vang dội sảnh đường. Hoàng Phi phát biểu tiếp. Tại hạ đề nghị hôm nay ngày lành tháng tốt nên thành lập tổ chức lấy danh xưng là Thiếu Hiệp Quân. Tất cả thanh niên đưa tay lên đồng ý. Lê Chí Nam đề nghị:

 ― Thưa quí huynh tỷ, tại hạ đề nghị mượn Lĩnh Nam Ca làm bài hành quân ca, vậy huynh tỷ có đồng ý không ?. Tất cả xấp xỉ ba trăm thành viên cùng đưa tay đồng ý, bài Lĩnh Nam Ca được cất lên thành lời hành động, tiếp nối tiếng vỗ tay liên hồi như cuộc xuất quân ra trận.

Lần đầu tiên Hoàng Phi thuyết phục tuổi trẻ Quế Lâm ngoài ý dự trù trước. Tổ chức Thiếu Hiệp Quân thành hình, đề cử Hoàng Anh Tuấn làm quân trưởng, Lê Chí Nam quân phó đệ nhất, Nguyễn Chung Kiệt quân phó thứ hai và Hoàng Thanh Thủy quân phó nội vụ. Hoàng Phi thay mặc Hoàng Vương tuyên bố:

― Từ hôm nay tại hạ cung cấp binh khí và lương thảo về luyện tập văn võ thì ba hôm nữa có hai nghĩa đệ Trịnh Trường và Lý Bình Trung tuổi mười, tuổi chín sẽ cưỡi hạc đến đây. Tất cả nghe nói Trịnh Trường và Lý Bình Trung cưỡi hạc đến, đều vỗ tay vui mừng.

Hoàng Phi xin Tổ phụ Hoàng Trung Nhất cung cấp đất và phương tiện để lập trại, Quế Lâm Vương đồng ý ủng hộ, Hoàng Phi thay mặt Thiếu Niên Quân lạy tạ ơn Quế Lâm Vương, cùng lúc Hoàng Phi viết một bức thư ra lệnh hai con hạc đem tin, chở Trịnh Trường, Lý Bình Trung đến Quế Lâm.

Hoàng Hạc còn nhiều việc riêng của tôn tộc, ông ở lại vài ngày rồi về Cửu Chân.

Hoàng Phi chào tạm biệt Tổ phụ Hoàng Trung Nhất, Hoàng Hạc và cả tôn tộc họ Hoàng, riêng Thiếu Hiệp Quân tính đến giờ này tập hợp trên bốn trăm thanh thiếu niên. Hoàng Phi được Thiếu Hiệp Quân tiễn đưa một đoạn đường dài, chàng búng mình phi thân lên lưng hạc, vẫy tay chào, chàng tự nhủ lòng “Đi một quảng đàng, học một sàng khôn” hạc bay về hướng Nam.

Chàng cùng hạc đi thâu đêm, đã đến lúc cũng phải nghỉ ngơi một buổi để lấy lại sức khoẻ, rồi tiếp tục hành trình vào lúc chiêu dương.

Mỗi buổi sáng là dấu hiệu một ngày mới, chàng tiếp nhận cảm giác an lành dưới ánh sáng ban mai, cả không gian cũng theo đó mà sinh hóa thuận hòa. Chàng cùng ba con hạc ngủ trên cây cổ thụ, trong dãy Nam Khê Sơn thuộc Đại Tân, Giao Chỉ.

Khi chàng ngủ không trải mộng ảo, vì chàng là khối vô tư của mọi sự lành, cứ thế ngủ trong êm đềm trôi qua hơn giờ ngọ, tâm thần của chàng còn tương giao với âm dương, thủy hỏa tương tế, đó là phép luyện âm dương tương hỗ tương thanh hòa Tinh Khí Thần, tương sinh tương hợp hòa vào tinh thần mới có sảng khoái, thường tình chàng ngủ mà trong động có giác, vẫn đếm được tiếng mưa rơi và biết từng bước chân người đi tới, phân biệt được diễn biến chung quanh. Chàng bỗng nghe những tiếng chân chạy từ xa đến gần, một trước một sau như đuổi rượt.

Thì có một thiếu niên vừa nằm xấp xải dài xuống gốc cây cổ thụ, thiếu niên sau chạy đến cũng nằm dài tay ôm thiếu niên kia, tất cả đều ngất cả, thân liễm đầy máu tươi, trong suy nghĩ của chàng. Có thể là họ đang bị địch thủ truy kích, nội lực cả hai đều yếu đuối, không còn sức lực. Chàng áng chừng hai người này tuổi chỉ tám bảy, họ ôm nhau nằm bất tỉnh không cử động, nhìn thấy rõ trên thân thể của hai người này toàn là những vết thương đầy máu.

Thấy vậy chàng nhảy xuống đất, búng vào đỉnh môn, giữa tim và đơn điền của mỗi thiếu niên một viên “Cốt quỳnh đơn” thân thể từ từ động đậy, nhúc nhích mạnh mở mắt ra thấy Hoàng Phi, luôn tiện búng thêm cho mỗi người một viên “Cốt quỳnh đơn” Chàng lạ thay mỗi người bị địch thủ có móng vuốt điểm vào huyệt “Kiên trinh” huyệt “Đại truy” rất sâu.

Chàng thấy huyệt đạo có thể làm nguy hiểm đến tính mạng, cho nên chàng dụng chiêu giải khai huyệt “Đốt mạch” thế là hai thiếu niên đứng dậy được, hai thiếu niên đồng quỳ xuống bái sâu hai lạy:

Chúng đệ tử kính lạy Tiên ông ân sư cứu sống huynh đệ chúng con. Trong lúc hai thiếu niên nằm dưới gốc cây thần trí như đã chết, thấy một ông tiên hóa ra cứu sống, vì lẽ ấy hai thiếu niên lạy Hoàng Phi gọi là Tiên ông ân sư và chính mắt hai thiếu niên tiếp nhận được tiên đơn mới sống.

Chàng thấy bào phục của hai thiếu niên bị rác tả tơi, trên thân thể và mặt mày có nhiều vết thương, chàng vội phi thân lên cây, lấy nước từ lưng hạc xuống lau rửa vết thương và thoa thuốc “Hoàng Hổ Cao” máu hết liễm ra ngoài, nhân chàng có đem theo ba bộ bào phục mới, chàng bảo:

— Nhị đệ mặc bào phục này nhá. Hai thiếu niên cúi đầu có ý tạ ơn sư ân, chàng thấy hai thiếu niên tướng mạo tuy hai mà một, tuấn tú, khôi ngô, vai rộng, mắt sáng, ngoại hình vạm vỡ, rồi chàng phóng tâm không để ý nữa vì còn nhiều việc phải làm, cho nên cần phải đi gấp:

— Xin chào nhị đệ có duyên thì gặp lại ! Hai thiếu niên cầm tay Hoàng Phi ứa lệ, ý khẩn cầu xin khoan đi đã, cả hai đồng quỳ xuống:

— Nhị tiểu nhi, xin theo hầu ân sư đã cứu sống. Hoàng Phi có ý từ chối:

— Không được vì hoàng hôn xuống mỗ phải đi thôi. Hai thiếu niên thự lòng mời:

— Thưa ân sư từ đây đến hoàng hôn còn lâu lắm, vậy tiểu nhi mời ân sư về nhà để gia gia của tiểu nhi tạ ơn và hầu ân sư một buổi cơm chiều ! Hoàng Phi ngạc nhiên:

— Nhị tiểu đệ có phải song sinh không, từ đây đến nhà có xa không ?

— Thưa ân sư, đúng vậy huynh đệ tiểu nhi đúng là song sinh năm nay tám tuổi, còn một cặp song sinh nữa năm nay bảy tuổi tất cả là bốn trai. Đường về nhà chỉ tam khắc là đến.

Hoàng Phi thấy hai thiếu niên này cũng đem lòng mến, nghĩ thầm gia đình này kỳ lạ, đầu năm cuối năm sinh cùng lúc bốn người con trai, chàng nói tiếp:

— Thôi được, nhưng trước khi về nhà ra mắt gia gia của nhị đệ có thể cho biết sơ qua về đời sống và gia cảnh ở trong rừng núi này như thế nào đuợc không ? Ý của Hoàng Phi nghĩ hai thiếu niên này tuy có lòng tốt, nhưng mời mình về nhà để dùng cơm thì thấy là bất tiện, vì người ở rừng núi cuộc sống khó khăn, mình làm ơn mà mất một phần ăn của họ, như vậy không hay tí nào ! Nếu đem theo phần ăn của mình đến với họ, không biết họ nghĩ về mình ra sao. Hai tiểu nhi thực lòng, nói :

— Thưa ân sư, gia đình nội ngoại của tiểu nhi sống ở đây đã ba đời, tất cả là tám người sống ẩn hành nghề bắt thú rừng, cá suối để sống, lương thực thì tự túc, kể ra sống cũng thoải mái. Cách đây mươi ngày huynh đệ tiểu nhi đi gài bẫy kẹp bắt được một báo con mười cân. Hôm nay biết thế nào báo mẹ cũng đến tìm báo con, tiểu nhi chuẩn bị đã lâu và kỹ thuật bắt thú cũng chu đáo, gài bẫy cho bằng được bắt báo mẹ, nhưng không may bẫy chỉ kẹp được một chân báo, cho nên nó vừa thù, vừa hận nó phản công rất mạnh.

Huynh đệ tiểu nhi tuy có võ nghệ nhưng không hạ được báo, đại huynh của tiểu nhi bị báo vồ, cũng mat thân thể còn nguyên, về tiểu nhi thấy vậy cũng liều vào sống chết với báo để cứu đại huynh, báo xoay qua tấn công tiểu nhi, sức mạnh của nó không phải tầm thường, cuối cùng đại huynh và tiểu nhi kiệt sức đành phải bỏ chạy, báo cũng rượt theo, nhưng nhờ bẫy kẹp có dây lòi tói rắn chắc cho nên báo chạy không được xa, nỗi sợ kinh hoảng, huynh đệ tiểu nhi chạy về nhà nhưng chạy đến đây là ngất lịm, may nhờ có ân sư cứu mới sống được thế này. Hoàng Phi hỏi tiếp :

— Tại sao phải ba đời sống ẩn ở đây ?

— Thưa ân sư, đời thứ nhất Nội, ngoại, đời thứ hai gia gia, mẫu thân, đời thứ ba huynh đệ tiểu nhi, không biết nguyên nhân nào phải sống ẩn ở đây, nhưng gia gia cứ bảo tứ huynh đệ tiểu nhi luyện tập võ nghệ mà thôi, hiện nay mẫu thân đang bị bệnh “Thập tử nhất sinh” không biết Người đi ngày nào, tứ huynh đệ tiểu nhi rất thương mẫu thân ! Hoàng Phi nghe đến đây cũng chạnh lòng:

— Thôi, tạ hạ đồng ý theo quí hiền đệ về nhà thăm viếng gia đình. Hoàng Phi vừa đến nơi đã chào cả nhà và hỏi ngay:

— Cho phép tại hạ xem bệnh của thúc mẫu như thế nào ? Cả nhà ai cũng ngơ ngác, tự dưng có một thiếu niên lạ mặt thân pháp nhẹ nhàng, khôi ngô tuấn tú, vừa bước vào nhà đã hỏi bệnh nhân, cùng lúc cả nhà thấy hai đứa trẻ đi săn thú rừng lại mặc bào sang trọng.

Sự ngạc nhiên đem đến nhà, cho nên không ai dám giới thiệu họ tên, Hoàng Phi cũng không hỏi họ tên của hai huynh đệ, mà chính chàng giúp phục hồi sức khỏe cũng như chữa trị vết thương.

Hoàng Phi đi theo sau hai ông lão, một trung niên cùng huynh đệ của bốn tiểu nhi, vào phòng đứng chung quanh bên sập bệnh nhân. Hoàng Phi biết người trung niên này là gia gia của tứ tiểu nhi, chàng hỏi tự nhiên xem như người nhà:

— Thưa thúc thúc, hiện thúc mẫu bệnh đã bao lâu rồi ? Người trung niên trên khuôn mặt đôi nét buồn rầu:

— Thưa tiên sinh, nương tử của tại hạ bị bệnh đã hai tháng, mỗi ngày bệnh càng trầm trọng thêm, uống nhiều thuốc mà không gia giảm, khổ nhất là nương tử của tại hạ hiện đang mang thai, tính đến nay đã hơn ngày khai hoa nở nhụy, mạch lý rất yếu, hơi thở chỉ còn thoi thóp, còn chờ ngày… Ông thở dài, nói tiếp. Không còn hy vọng mẹ tròn con vuông!

Hoàng Phi suy nghĩ cần sử dụng phương pháp nào để cứu người được đây. Chàng suy nghĩ chần chừ một lúc, không dám thành lời chỉ độc đù nghe một câu ca dao “Nước xao trăng lặng, buồn ơi hỡi buồn” ý chàng chọn một không thể được hai đời sống, chàng nói thực lòng:

— Thưa bệnh này nan trị khó như ý, để tại hạ xem mạch lý thế nào rồi sẽ tính sau! Nếu cứu được song thai, mà không cứu được mẹ, theo ý của thúc thúc thế nào ? Hai ông lão rất ngạc nhiên mắt mở to hỏi :

— Thiếu hiệp tuổi còn trẻ mà đã hiểu y thuật quả là lương y tuyệt quần, mới xem mạch đã biết có song thai. Người trung niên đứng bên cạnh vì thương nương tử vội trả lời :

— Thưa tiên sinh nếu cứu nương tử của tại hạ được thì nên làm, còn mẹ thì còn con. sách có câu “Còn da, lông mọc” hay “Còn chồi, nên cây” Tiên sinh đừng ngại! Lão phu thứ nhất gầy cao, nhãn lực sáng phản đối :

— Mỗ biết, bệnh của nữ nhi dù có sống cũng vô dụng, tất cả lục phủ ngũ tạn đã phế thải hết rồi, nữ nhi còn thoi thóp được đến nay cũng đã là nhà có phước vậy! Hai nữa không thể để cả hai cùng tử! Nghĩa tế cứu song nhi cho mỗ trước đã, rồi tính đến nữ nhi của mỗ sau cũng chưa muộn! Mỗ quyết định như vậy, nghĩa tế không được sai ý mỗ!

Hoàng Phi tự trách mình vướng vào, rồi gọi trời làm chứng đời khổ. Nay cứu được mẹ thì bỏ con, cứu được con thì bỏ mẹ. Hoàng Phi ơi là Hoàng Phi tự nhiên mầy nhảy ra làm bà mụ vườn. Tuy chàng tự trách mình, nhưng tại lòng vẫn lấy quyết định cứu người không bỏ cuộc. Chàng ôn tồn nói:

— Đấng trời cao tùy lòng, ban hồng ân mẹ tròn con vuông, hay là lựa chọn một trong hai, sự sống nào cũng giá trị cả. Lão phu thứ hai thân hình lực lưỡng, nhãn lực huyền bí, trầm lặng, ôn nhu :

— Tiên sinh nói rất chí lý, nhờ tiên sinh tự nhiên quyết định, lão xin ân sư ra tay cứu độ cho song nhi. Hoàng Phi lấy trong túi áo ra con Tu hú gỗ chuyển động, một con hạc đáp xuống thung lũng trong động, chàng đi ra lấy thuốc, hạc bay lên cổ thụ. Chàng vào đến bên sập bệnh nhân nói :

— Thưa thúc mẫu, hãy bình an. Hoàng Phi xuất chiêu phóng vào huyệt “Kiên Trinh” một tiên đơn, thân thể của bà hơi tỉnh lại, trên nét mặt vui mừng, tuy nói không ra lời nhưng cử chỉ đôi mắt tỏ ý tạ ơn. Cả nhà thấy vậy, không ai bảo như có một tia sáng hy vọng, đồng khoanh tay cuối đầu tạ ơn Hoàng Phi. Chàng phóng luôn vào huyện “Cột hầu” một viên “Đơn hầu” người mẹ rùng mình, tiếp theo hai tiếng phát ra rất lớn “bục bục” tất cả người trong nhà mới biết song thai khai hoa nở nhụy, xem thật kỹ một trai, rồi đến một gái, đúng là song nhi chào đời. Người mẹ vận dụng nhãn lực nhìn hai đứa con vừa song sinh, nhãn lực của bà thu hết tàn lực xuất ra luồn tư tưởng hy vọng mai sao thành nhân viễn đại, với một nụ cười tình mẫu tử thiêng liêng, bà rất hài lòng hy sinh sự sống cho con bà, bà cũng không ngờ đây là hạnh phúc ở cuối đời. Trước đây một khắc bà đã thất vọng, vì hai tháng trôi qua trong ám ảnh lúc nào cũng tưởng mẹ không tròn, con không vuông, bà biết không còn sức khỏe để sinh nở, hơi thở mỗi ngày cùng kiệt, bây giờ bà cảm thấy trong người như bay bổng trên mây, không vui mừng nào hơn thấy được con chào đời. Trong hơi thở của bà nhẹ nhàng, sảng khoái, dễ chịu không vương vấn lo nghĩ, bà nói được đôi lời:

— Thưa gia gia, nữ nhi chưa báo công ơn sinh thành, nay nữ nhi nóng lòng chẳng biết bao giờ trả hết ơn sâu, xin gia gia tiếp ba lạy này ghi trong lòng nhờ dưỡng dục của gia gia. Bà nói tiếp, thưa gia ông, nữ nhi phận bạc không phụng dưỡng được gia ông, xin ba lạy này nghi ơn. Bà nhìn phu quân đôi mắt đổ lệ. Đào phu quân, tiện thiếp rất hài lòng tình nghĩa phu thê, sau khi tiện thiếp qua đời hãy chăm sóc lục tử thành người như phu quân nhá, nếu con hơn cha là nhà có phúc! Lão gia ông thấy con dâu bệnh, lòng ông không an, nói lên vài câu để an ủi :

— Tức phụ đối với gia gia rất là hiếu thảo, cứ nằm dưỡng bệnh, khi nào hết bệnh thì nghĩ đến phụng dưỡng, đâu có muộn gì. Trần Mẫn Trâm nói tiếp:

— Đào huynh tình nghĩa phu thê chưa trọn, nay đành để lại lục tử, mong tướng công dưỡng dục, thành nhơn hữu dụng, muội ra đi lòng ghi mãi hạnh phúc này. Bà nói tiếp, tứ hài nhi là tình thủ túc phải thương nhau, sống chết có nhau, hai đứa em mà mẹ vừa sinh ra, tứ hài nhi phải bảo vệ em nhá ? Mắt bà hướng về Hoàng Phi đa tạ tiên sinh đã cứu sống song nhi của họ Đào và Trần, ơn này ghi nhớ mãi mãi.

Bà thở một hơi dài thoải mái, một nụ cười gia đình hạnh phúc, trên môi mang theo hình ảnh bình an. Cả nhà nhận ra nữ hiệp Trần Mẫn Trâm đã từ biệt đi vào cõi hư vô. Tiếng thở dài tiếc thương của nhị lão Đào-Trần, tiếng thở than trống vắng của trung niên họ Đào và tiếng khóc trẻ thơ thương mẹ, Hoàng Phi cũng động lòng não nuột.

Tang sự đã yên, gia đình Đào-Trần trở lại sinh hoạt bình thường. Ba họ Đào, Trần, Hoàng tìm hiểu nhau duyên do hội ngộ. Lão họ Đào giới thiệu:

— Mỗ họ Đào tên Phụng Tiên, còn đây là thông gia lão họ Trần tên Bạch Phương, còn đây là hài nhi tên Phụng Hòa. Trần Bạch Phương giới thiệu tiếp:

— Tứ điệt nhi của lão Đào Phụng Tiên, tên là Đào Phụng Thương, Đào Phụng Hiệp, Đào Phụng Anh, Đào Phụng Châu, đặc biệt song điệt mới sinh ra chưa biết đặt tên gì! Nhờ tiên sinh đặt cho. Hoàng Phi lúng túng không hiểu lý do gì mình phải đứng ra đặt tên cho người xa lạ:

— Thưa quí đại hiệp, trước nhất tại hạ xin giới thiệu, họ Hoàng tên Phi, tại hạ không có cái vinh hạnh để đặt tên cho người ngoài họ và vì không công dưỡng dục, hay sinh thành, thì làm sao mà đặt tên cho người khác được, xin quí đại hiệp miễn thứ cho. Đào Phụng Hòa lên tiếng:

— Thưa tiên sinh, tuy không có công sinh thành, dưỡng dục nhưng có công cứu sống từ trong trứng nước mà ra, công ấy đâu phải nhỏ, mạng sống của song nhi họ Đào này rất lớn mới được tiên sinh xuất hiện bất ngờ cứu sống, không hẹn mà đến cứu người mới gọi là khởi đầu cho hai kiếp sinh. Mời tiên sinh đặt cho cái tên nào cũng được không bất nhất phải tốt hay xấu. Hoàng Phi thấy vậy cũng đành lòng, nghe theo:

— Thưa quí đại hiệp, thôi thì đành vậy, tại hạ nhận đặt tên cho song nhi nam tên là Đào Phụng Anh Hòa, nữ tên là Đào Trần Mẫn Trâm, tại hạ nhận song nhi này làm nghĩa tử, tương lai song nhi sẽ là nhơn chí thiện. Đào Phụng Tiên vui mừng cười:

— Mỗ và Trần huynh đây năm nay đã ngoài sáu mươi, sống trên giang hồ cũng được hai mươi năm, nay ở ẩn nơi này đã được hai mươi năm, không bóng người đến đây, chỉ trong gia đình mới biết lối ra vào, mỗ khao khát muốn biết duyên do nào gặp tiên sinh ở đây để rồi cứu nữ nhi mỗ.

Đào Phụng Thương, Đào Phụng Hiệp, kể lại từng chi tiết cho nhị vị tổ phụ, cùng gia gia nghe đầu đuôi câu chuyện, từ khi đi bắt báo ra sao, gặp nạn, ông tiên xuất hiện thế nào, cứu sống và chữa những vết thương, rồi cho bào phục mới mặc vào. Đào Phụng Thương, Đào Phụng Hiệp mời ông tiên về nhà dùng cơm, nhân tiện để gia gia báo ân, ông tiên từ chối không nhận ân, ông tiên chào tạm biệt còn hứa nếu có dịp thì gặp lại.

Cuối cùng ân sư nghe Thương nhi nói hiện nay mẫu thân đang bệnh “Thập tử nhất sinh” không biết Người đi lúc nào, ông tiên nghe nói mẫu thân bị bệnh mới chấp nhận về nhà. Trần Bạch Phương “ồ” lên:

— Thế thì chỉ một ngày mà tiên sinh đã cứu đến tứ tôn nhi của mỗ, quả là ân sâu vô tận. Hoàng Phi nói nửa đùa nửa thiệt:

— Có lẽ tại hạ cứu đến năm người một ngày cũng nên. Đào Phụng Tiên vội hỏi:

— Vậy tiên sinh còn đi cứu ai nữa ? Hoàng Phi đã thấy dung mạo của thúc thúc Đào Phụng Hòa cũng trúng độc như thúc mẫu, chàng trả lời:

— Tại hạ không cần đi xa, người ấy ở gần đây chỉ đôi bước thôi. Trần Bạch Phương, hỏi:

— Thưa tiên sinh người ấy là ai vậy ? Hoàng Phi ngó Đào Phụng Hòa. Đào Phụng Tiên và Trần Bạch Phương trầm ngâm suy nghĩ trong lòng thì ra Đào Phụng Hòa, vội hỏi:

— Hòa nhi thế nào bệnh chưa hết hay sao ? Đào Phụng Hòa miễn cưởng trả lời nhỏ nhẹ:

— Thưa gia gia, hài nhi bệnh chưa hết, mỗi ngày phải vận nội công chống lại từng cơn bệnh, không để lộ ra ngoài, vì sợ nương tử biết được sẽ đau khổ lắm! Hoàng Phi ôn tồn nói trong tinh nhà thân mật:

— Khi tại hạ vào đây là đã biết thúc thúc có bệnh rồi, nhưng không đến nỗi như thúc mẫu, bệnh này trị liệu không khó đâu, thúc thúc cầm lấy viên thuốc “Tiêu chướng phong” uống vào hiệu nghiệm liền. Hoàng Phi nói tiếp, thúc thúc mở bào phục trước ngực, tại hạ điểm tiên đơn vào huyệt “Trung Đỉnh” thế là trị được ám khí độc “Thu xa quỳnh” và “Thu xa châu” Không quá năm khắc Đào Phụng Hòa thấy khỏe khoắn, vận nội công thử vào lục phủ ngũ tạng thông đều, khí cũng hòa. Đào Phụng Hòa vui mừng “ồ” lớn tiếng:

— Gia gia, nghĩa phụ, quả là thuốc tiên, chỉ cần năm khắc mà thân thể của hài nhi đã bình phục, hình như còn tăng gia phần nội lực nữa là khác. Đào Phụng Hòa mừng quá quỳ xuống bái tạ ân sư. Hoàng Phi vội vã nhảy qua bên phải:

— Tại hạ không dám tiếp nhận, xin thúc thúc đứng lên, đừng làm như vậy xem như tại hạ thất lễ với thúc thúc. Đào Phụng Tiên thấy hoàn cảnh trong ngày diễn biến khôn lường:

— Trong cõi đời này có những lòng người xưng danh đạo cốt, nghĩa hiệp, anh hùng võ lâm giang hồ, khó mà tìm được người đắc ý để kết giao, chỉ thấy toàn là bá đạo, đâu đâu cũng có, bởi vậy sự đời như tuồng hát! Từ ngày sống ẩn chỉ có một cố tri là lão Trần Bạch Phương, ngày ngày ở động này chỉ biết luyện thương đao, kinh thư, mạch lý, dịch lý mà vẫn không trị bệnh được cho con của mình, hóa ra mỗ luyện để mua vui, hối hận nhất là để túc phụ hiếu thảo phải qua đời, nay mới biết tục ngữ có câu : “Đọc muôn vạn sách, không bằng đi một dặm đường” Nay may mắn thay gặp được thần dược, mỗ hân hạnh muốn kết nghĩa nhưng sợ người có hài lòng không? Hoàng Phi khiêm tốn biết người biết ta:

— Thưa tổ phụ, thay vì tại hạ kết nghĩa với tứ điệt nam như vậy hay biết mấy, còn so sánh tuổi tác thì Tổ phụ ba họ Hoàng, Đào, Trần kết nghĩa cũng hay vậy ? Trần Bạch Phương cười cũng nói theo:

— Tại hạ nghe lời nói của tiên sinh rất phải, quả là người đi muôn dặm đường lời nào cũng có tình lý, thế mới gọi là thần dược thời nay, mỗ cảm kích lắm, tuy vậy mỗ thực tình ái ngại, âu cũng có nguyên do không xứng đáng để tiên sinh bận tâm, mỗ hiểu được người cùng thân phận, rất tiếc tứ điệt nhi của lão yếu kém trí lự, như học văn thì không biết kinh sử, học võ thì không người để bái sư, học kinh doanh thì không có vốn, chỉ học được chăn bò mà thôi !

            Hoàng Phi cười không đồng ý suy nghĩ của lão Trần:

— Thưa nhị vị tiền bối, thúc thúc khi con người sinh ra là đã có trí lự, nhưng phát triển được hay không còn tùy hoàn cảnh, như hạt lúa rơi vào đất khô cằn thì không thể nào cho bông gié tốt, ngược lại rơi vào đất màu mỡ thì quí tiền bối nghĩ sao ? Nhị lão Đào-Trần đồng ý không thể luận thêm, lão họ Trần, nói :

— Thôi thì trước mắt tứ điệt nam họ Đào ra mắt sư huynh, làm lễ kết nghĩa trước tổ đường họ Hoàng, Đào, Trần, ngay từ hôm nay, đừng để chậm trễ, thần dược đổi ý!

Hoàng Phi hiểu được ý lão Trần muốn thử lòng mình trước khi để con cháu lão kết nghĩa:

— Thưa tổ phụ, Phi nhi không bao giờ đổi ý và không bao giờ phụ người, thà để người phụ mình. Nhưng ai phụ Bách Việt thì Phi nhi này không tha thứ, dù đó là ai cũng phải trừng trị. Trần Bạch Phương trong lòng đắc ý cười “ha hả”.

— Hiền điệt có chí khí lắm, nhưng mà thần dược không có miếng võ nào thì làm sao có khả năng trị kẻ phản nghịch Bách Việt, hiện nay có hai loại phản nghịch, một là dùng bút pháp thảo ra văn tự hại người, hai là bằng kiếm, đao, mã tấu phân thắng bại, muốn trừ phải có một trong hai yếu tố đó. Hoàng Phi thấy lão Trần có kiến thức sâu rộng, nhìn người trao của, chứ không phải sơ giao là được việc:

— Phi nhi đi tìm cả hai yếu tố văn võ để kết nghĩa, đó là cộng lực trừ kẻ làm phản Bách Việt, còn đối với đời sống bình thường gặp nhau thì trợ khó, cứu người hoạn nạn. Trần Bạch Phương hiểu được lòng người, nhưng ông đã khép kín tin người, dù già hay trẻ vẫn ông đền phòng là hơn, nay gặp Hoàng Phi ông cứng lòng để nắm phần chắc chắn không lầm người:

— Hiền điệt có chí khí lắm, nhưng đi tìm hay mua một sản phẩm nào đó phải có vốn liếng, nếu không có vốn mà chỉ có bọt nước miếng thôi thì ai trao sản phẩm cho mình, vả lại người có vốn liếng, có kinh nghiệm doanh thương, thế mà còn mua nhằm sản phẩm không giá trị. Hoàng Phi hiểu ý ông lão họ Trần muốn tìm cớ để thử thách lòng người, còn mỗ chỉ dụng chơn thật để sống với người, thực ra người cố chấp thì không thể nào khám phá được người mình muốn biết, chàng thưa:

— Tổ phụ à, tất cả những lời vừa rồi rất hữu ích, không sai. Nhưng sự thành công của một người cần biết tiếp nhận, lắng nghe, lý giải, biết hy sinh và lý trí để giải toả mọi trở ngại. Sao không sống trung thực và chấp nhận mọi hoàn cảnh, cho đó là thử thách để vượt qua một đoạn trường. Trần Bạch Phương hài lòng lý luận của chàng, nhưng vẫn chưa hoàn toàn mở ra cuộc hội ngộ này:

— Lý luận rất đúng, có vốn liếng văn tự nhưng đã chinh phục được ai chưa ? Hoàng Phi nghĩ trong lòng, quả là mỗ gặp cảnh khó xử, những lời lão nói cũng phải như người “Sa cơ nên phải lụy đò, thuyền buôn lỡ chuyến lững lờ đầu ghềnh” nhưng đó là thuộc hoàn cảnh của Đào-Trần, đã bị thiệt thòi quá nhiều trong đời sống đến nay không còn cách nào để giải toả được, Hoàng Phi muốn chấm dứt cuộc tranh luận này bằng dụng tâm lý, thưa tổ phụ:

— Phi nhi phải đi không được ở đây lâu, Trần Bạch Phương vội vàng khuyên bảo:

— Hiền điệt hãy ở lại dùng cơm đã, còn phải làm lễ kết nghĩa tình huynh đệ hai họ Hoàng, Đào nữa chứ, không nên đi vội, cả nhà xem hiền điệt như ân sư, sao không nhận ít lễ tình lòng với nhau ? Hoàng Phi thẳng thắn trả lời:

— Thưa tổ phụ, Phi nhi đã chinh phục được Tổ phụ rồi ư, hiện trong lòng của Tổ phụ rất bình an phải không? Trần Bạch Phương cười “ha hà”.

— Đúng vậy, kiệt tài xuất chúng thông qua tuổi tác, không cần xuất chiêu kiếm, đao, mã-tấu mà đã chinh phục được lòng người, mỗ cảm kích đáng mặt để tạc thù “ha hà”.

Lễ kết nghĩa huynh đệ với Đào Phụng Thương, Đào Phụng Hiệp, Đào Phụng Anh, Đào Phụng Châu đã hoàn tất, Hoàng Phi lớn hơn làm đại huynh. Hoàng Phi suy nghĩ một hồi lâu, rồi đề nghị:

— Nhờ Đào thúc thúc tiếp một tay, việc làm đầu tiên là dùng đậu nành với đậu xanh giã thật nhừ nhuyễn, vắt lấy nước cốt pha vào một ít nước lạnh, đem nấu khi nào nổi bọt là chín, để nước đậu nguội ấm, cho nghĩa tử Đào Phụng Anh Hòa và Đào Trần Mẫn Trâm uống thay cho sữa mẹ, mỗi ngày làm ba lần như vậy, cho uống bốn tháng sau rồi từ tăng lên sữa. Hiện nay thân thể của nhị nghĩa tử bầm tím, đến tháng thứ bảy thì hóa ra xanh, xem như bệnh tuyên giảm, sau đó da hồng lại.

Đúng ngày thôi nôi Phi nhi sẽ chữa trị phương pháp đặc biệt để cho cơ thể phát triển bình thường. Đào Phụng Hòa suy nghĩ, Hoàng Phi mới từng ấy tuổi mà đã biết y dược, mạch lý, lo toan mọi việc như thần.

Hoàng Phi xin tạm biệt, hẹn chiều mai sẽ trở lại. Trước khi ra đi, lấy trong túi ra con Tu hú gỗ, chuyển một tác động cả ba con hạc bay vào động hạ cánh xuống đất, Hoàng Phi lấy trong túi dết trên lưng hạc ra hai viên tiên đơn hồi lực, trao cho Đào Phụng Hòa, dặn dò đôi lời thuốc này uống vào giờ Tý, nhân tay điểm vào huyệt “Bách hội” nhằm trục hết  trược khí.

Ngoài trời hoàng hôn, Hoàng Phi cưỡi hạc, hai tay vẫy chào tạm biệt, chuyển tác động Tu hú gỗ, ba con hạc bay về hướng Nam, rồi chuyển qua hướng tây. Tất cả mọi người muốn biết lai lịch của Hoàng Phi rất khó, chưa tiện hỏi, vả lại những diễn biến như phép lạ trong ngày không còn thời gian để tìm hiểu người lạ mặt hào hiệp, tất cả cũng lạ người thiếu hiệp này cũng không cần biết mình là ai. Cừu hay ân, Trần Bạch Phương nhận xét qua hành động, cử chỉ và luận lý của Hoàng Phi để cho thông gia Đào Phụng Tiên, nghĩa tế Đào Phụng Hòa, cùng các cháu ngoại của ông biết.

Dưới mắt của mỗ nhận xét thiếu hiệp Hoàng Phi nhiều tình cảm, trợ khốn khó, cứu nguy nan, không phân biệt người. Nhưng rất nghiêm minh, sáng suốt trừng phạt những ai trái đạo đức. Làm việc nghĩa không cần biết lai lịch người khác, không tiếp nhận lễ tạ ơn. Không mượn miệng để quảng cáo cái tôi chính mình. Tuổi trẻ khí khái, không bao giờ cho mình hơn thiên hạ. Mỗi việc làm nào cũng có cái lý trí trong đó. Thiếu hiệp Hoàng Phi thừa biết khả năng võ học, y đạo của mỗ và lão đệ Đào Phụng Tiên cũng như nghĩa tế Đào Phụng Hòa. Nếu nói cho cùng thiếu hiệp Hoàng Phi là một nhân tài hiện nay không một ai sánh bằng về đức hạnh, thần dược. Riêng về võ học cũng thế, mỗ thấy tướng cốt, thân pháp cưỡi hạc cũng đủ chứng minh võ học siêu phàm. Ngày hôm nay cả nhà ta có duyên mới được diện kiến một nhân vật như thế. Khi thiếu hiệp Hoàng Phi trở lại thì phải xem như người nhà, thiếu hiệp này đáng để cho mình tạc thù. Đào Phụng Tiên suy nghĩ một hồi mới nói:

— Theo đệ nhật xét, lòng người thư thái như vậy, đứng trước mọi khó khăn làm được nhiều việc mà bao lâu nay cả gia đình đều bó tay, thiếu hiệp ấy xem gia đình mình như tình cốt nhục, gia đình chúng ta lấy tình chiêu đãi người, cách đó mới bồi đắp được tình người, sống như thế mới phải lòng nhau. Ông thở dài nói tiếp, lúc trước chúng ta bị hoạn nạn chính trong cốt nhục đem lòng nham hiểm làm hại cả nhà, chúng ta không quyết tâm trừ, thế mới gọi là chuyện đời đâu đâu! Từ ấy cứ thấy người trong nhà hay ngoài ngõ đều sợ giang hồ hiểm ác, bởi vậy sống ẩn ở đây đã mấy mươi năm không biết ngoài đời nay đã đổi thay thế nào!

Riêng vợ chồng Đào Phụng Hòa tuổi trẻ háo hức xuống núi lập nghiệp được mươi năm tuy  thành đạt, nhưng vợ con chưa được hưởng thì ra sự thế ngày nay! Võ nghiệp huynh đệ ta không hèn thế mà cả nhà phải bị bại trận ở cõi giang hồ. Bây giờ huynh đệ ta hãy thử vận hội cuối đời xem sao ? Đào Phụng Tiên đề nghi với Trần Bạch Phương đi lấy con báo mắc bẫy về làm cỗ cúng cơm cho Tức phụ, cũng để tỏ lòng thương tiếc Trâm nhi. Hai lão cùng gật đầu phi thân đi lấy con báo về.

Hoàng Phi về động làm một số việc, sáng sớm đi mua ngay một con bò sữa tốt ở huyện Tây Châu thuộc Quế Lâm, đem về nuôi ngoài động gần suối có cỏ, rồi dựng tạm một chòi trang, lập đồ trận “Trụ nham bình” để bò sữa không đi ra ngoài được, người không biết ở đây nuôi bò, có như vậy mới vắt sữa nuôi Đào Phụng Anh Hòa và Đào Trần Mẫn Trâm.

Hoàng Phi trở lại mang theo một thùng sữa bò tươi ba mươi cân đủ cho Đào Phụng Anh Tuấn và Đào Trần Mẫn Trâm dùng hai tháng với đậu nành, đậu xanh, một bầu rượu đa niên hai mươi cân cúng Trời đất và tặng Đào Phụng Tiên, Trần Bạch Phương, Đào Phụng Hòa, đem theo thuốc trị những vết thương cho Đào Phụng Thương, Đào Phụng Hiệp. Hoàng Phi còn đem theo tam sên, nhang đèn làm lễ nhất cửu, phần nhang đèn còn lại dùng đến lễ cửu cửu mới hết.

Hoàng Phi biết lễ cúng cho vong nhơn là nhờ tham dự lễ cúng Tỗ mẫu. Đây là lần đầu tiên Hoàng Phi tập làm người lớn, lo rất chu đáo cho người sống và người chết.

Cả nhà họ Đào-Trần, thấy Hoàng Phi đến đúng hẹn, ai cũng vui mừng, sững sờ ngạc nhiên và lạ mắt với năm con hạc lớn khỏe mạnh trên lưng nhiều đồ vật, mới hay những vật cần dùng mà chưa ai nghĩ đến. Ai cũng cảm động chào nhau như tình cốt nhục.

Hoàng Phi hướng dẫn những thứ nào dùng vào việc gì và dùng như thế nào cho đúng việc, hôm nay người vui nhất là tứ Đào đệ. Đào Phụng Tiên trầm ngâm suy nghĩ một hồi, mục đích là để tìm lời hỏi, biết lại lịch ân nhân:

— Theo mỗ nhận xét, hiền điệt ở cách đây không xa lắm, phải không ? Hoàng Phi thấy Tổ phụ này nhật xét rất đúng, nhưng Hoàng Phi không thể nào tiết lộ được nơi mình ở, Hoàng Phi cũng biết quy luật sống của người và vật khác nhau, chàng tự nhủ lòng:

— Thưa Tổ phụ, Phi nhi ở mãi Cửu Chân, di chuyển bằng hạc tuy xa cũng như gần. Đào Phụng Tiên trầm ngâm suy nghĩ xa gần, hỏi tiếp:

— Trừ ra thần thông mới đi nhanh lẹ như thế được. Hoàng Phi thấy kiến thức của tổ phụ này thông thái, nắm vững thời gian cũng không phải là người hèn kém lý trí, Hoàng Phi khó mà tránh được qua mắt người cao thủ tầm vóc lịch duyệt võ công, như núi cao chót vót đang nhàn tản rong chơi cõi đời. Hoàng Phi cuối đầu thi lễ Tổ phụ, trong lòng nẩy ý dùng bộ pháp để cho người không đi sâu vào đời sống riêng của mình:

— Thưa tổ phụ, di chuyển nhanh lẹ là nhờ có bộ pháp và hạc, xin Tổ phụ đừng cười chê để Phi nhi thi triển thử xem! Hoàng Phi đứng tại chỗ sử dụng “Du hành bất túc” trong “Thiên Đế Pháp” tức khắc biến dạng như hóa phép, uyển chuyển phi thân, từ bốn hướng rồi tám, rồi mười phương đều có tiếng nói của Hoàng Phi vọng lại và tiếng con Tu hú gỗ cao vút trên không trung, Đào-Trần không ai biết Hoàng Phi ở đâu, chỉ biết vừa phi thân và cuỡi hạc, cuối cùng Hoàng Phi hiện nguyên hình đứng nơi chỗ cũ, bộ pháp nhanh như vậy mà không thấy toát mồ hôi, cũng không nghe tiếng thở hổn hển, lời nói như nước mây trong hồ mùa thu. Đào Phụng Tiên khen thầm, thảo nào người đi nhanh như bay là phải rồi, thế mà mình cứ nghi ngờ người có ý riêng gì đó! hiểu ra mới biết già quá chấp, không phân biệt rõ ràng thân pháp như Trần huynh đã nhận xét, thôi thì già vẫn còn làm láo, xin lỗi trẻ là chính đạo:

— Hiền điệt, lão u mê cố chấp như thế thôi xin lỗi nhá, lẽ ra không nên để hiền điệt chứng minh qua thi triển bộ pháp mới phải, mong hiền điệt cảm thông. Hoàng Phi vui vẻ, cười đáp lại một cách vô tư:

— Thưa Tổ phụ, việc gì thấy nghi vấn, mình cần biết đen hay trắng, nhằm để tìm cho ra lẽ, đó là sự thường tình, khi giải được nghi vấn, tinh thần cảm nhận sự thoải mái nhiều hơn. Cũng có người trải rộng lý trí vào không gian, bỏ tất cả ý niệm nghi vấn để tìm cho mình một tâm hồn trong sáng. Đào Phụng Tiên sau khi nghe Hoàng Phi nói như vậy “à” lên một tiếng:

— Đúng thế bao lâu nay lão nhìn việc gì cũng màu đen tối, không ngờ nay gặp duyên ánh sáng hiện trở lại. Ông tấm tắc khen thầm, Hoàng Phi kiến thức lịch duyệt sâu rộng, quả hơn người, ông cười hồn nhiên, thoải mái, tinh thần như thời thanh xuân. Hoàng Phi tự nói với mình nghe, mỗ bôn ba trên giang hồ hơn năm trời, kiến thức đã mở rộng hơn trước nhiều, vẫn biết giang hồ lắm mưu nhiều quỉ kế, đâu đâu cũng nguy hiểm, gian trá mặc dầu biết vậy, mình không lầm một người tốt trong những người xấu. Chàng cảm thông nhị lão Đào-Trần, đã bao lần bị sập hầm bẫy xuýt tuyệt mệnh cho nên mọi việc đến bất ngờ đều nghi vấn, đó là lẽ tự nhiên. Đào Phụng Tiên nở lòng đắc ý, nụ cười đầy tính nhân ái, nói :

— Thưa Trần huynh, hiền điệt cùng cả nhà đã đến buổi rồi chúng ta hãy dùng cơm kẻo bị nguội. Cả nhà ngồi vào bàn cơm với thực đơn sơn kê nào là bò, heo rừng, hưu nai, báo, thỏ, tất cả hầm chung với hạt dẻ rường v.v…

Lần đầu tiên Hoàng Phi thưởng thức cơm sơn kê tuyệt vời. Nhị tổ phụ và thúc thúc nhâm nhi thịt khen rượu thơm ngon. Nhân dịp Hoàng Phi được nghe tổ phụ Đào kể lại những gian truân đã qua, nào là bị người cốt nhục lấy mất tài sản, hãm hại gia gia, mẫu thân cùng vợ và hai con cũng bị chúng giết chết, chỉ có ông mới thoát được thân, từ đó sống âm thầm cho đến nay.

Lão Trần cũng kể lại đời mình, nào là kết nghĩa nhằm những kẻ bất lương, đoạt vợ giết con, gia đình ly tán, thân ông phải bị vào tù oan trái hai năm về tội cướp của người, bởi vậy người đời có câu “Ngắn cổ bé miệng kêu không thấu trời” Khi ra khỏi tù đi tìm vợ con, không nơi nương tựa, gặp họ Đào cùng cảnh ngộ kết giao với nhau, mới biết ra nữ nhi Trần Mẫn Trâm, đứa con gái đầu lên sáu được lão Đào cứu sống và nhận làm con nuôi.

Cha con nhận lại nhau Trần Mẫn Trâm kể cho ông nghe, nhà mình bị người ta đốt cháy nội ngoại bị chết thiêu, mẹ và hai em trai bị nguời ta bắt đi đâu không biết, còn Trần Mẫn Trâm đang chơi bán hàng xén với những trẻ gái bên cạnh nhà, khi biết được thì tất cả gia đình mất hết, chỉ còn hy vọng gặp lai gia gia đang ở trong tù. Ông đã về thăm lại quê cũ huyện Đại Lộc thuộc Giao Chỉ, để tìm vợ hai đứa con trai mà ông thương nhất, tìm mãi ba năm trên đất Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Quế Lâm, tuyệt vọng xem như biệt tăm tích, mẹ con sống chết ra sao, đi về đâu ? cuối cùng ông về động này sống với họ Đào, từ ấy chỉ con Trần Mẫn Trâm là đứa con gái duy nhất trong đời ông.

Đào Phụng Hòa kể tiếp. Tại hạ cùng muội Trâm lớn lên trong gia đình có hai thế giới, hai lão già bi quan, hai tre lạc quan luôn luôn hướng về phái trước, hai ông già tâm sự đời buồn, còn hai trẻ tung tăng nhảy múa hát ca cả ngày, tại hạ cùng muội Trâm ngủ cùng phên, đôi khi nằm mộng mơ kể cho nhau trò chơi ngày mai, khi tại hạ lên tám, muội Trâm lên bảy, hai ông gìa bắt luyện võ nghệ, chúng tại hạ thích chơi nhiều hơn luyện võ, thế là cả hai bị đánh một trận, hai ông già hung quá từ ấy chúng tôi vâng lời luyện võ, từ lúc ấy tại hạ và muội Trâm lấy võ làm trò chơi, thường là tỷ đấu phân cao thấp nhờ vậy võ học tiến rất nhanh lẹ, đến khi tuổi đôi mươi chúng tại hạ vẫn còn thơ ngây, chưa biết yêu là gì, vẫn xem nhau là anh em ruột, một ngày ấy hai ông già bảo chúng tại hạ chuẩn bị lập gia thất, bấy giờ mới biết yêu nhau từ hai tiếng “gia thất” lễ thành hôn đánh dấu đời mình thực sự trưởng thành, nghĩa vụ lớn nhất là ước vọng chúng tại hạ phải làm việc gì đó để báo hiếu nhị gia gia, chúng tại hạ xin xuống núi để làm ăn sinh sống hướng về tương lai của họ Đào-Trần, vợ chồng tại hạ làm ăn nên ra, phát triển thành chuyển giao hàng hóa, rồi lập ra “Tiểu Hóa Bang” qui tụ nhiều hào kiệt vào cộng lực, trong nhà nuôi ăn ở trên trăm người.

Lần đầu Chuyết kinh sinh được song nhi, lần thứ hai cũng sinh song nhi toàn là trai, mỗi lần khai hoa nở nhụy, đều về động để hai ông già chăm sóc, khi Chuyết kinh có mang lần thứ ba hơn bảy tháng, tại hạ tự đi chuyển hàng hóa, vì hàng này không thể để cho người khác chuyển được, lộ trình lại xa ngày đi và về mất hơn tháng, khi tại hạ về đến nhà thì đúng lúc cảnh nhà tai biến, bị đảng cướp “Đường Tứ Khải” bức hiếp, khắc chế trong ngoài bang, Chuyết kinh bụng mang dạ chửa, tay kiếm đông tây hữu đột, còn những người trong nhà lâu nay miệng thường xưng danh hào kiệt, khi có lâm nguy thì người trở mặt làm ngơ, trong lòng họ gian hùng xuất hiện, họ làm phản phóng ám khí độc “Thu xa quỳnh” và “Thu xa châu” tại hạ phi thân vào lấy bào ngoài che thân cho Chuyết kinh rồi phi thân ra khỏi “Tiểu Hóa Bang” đưa Chuyết kinh về lại động để gia gia và nghĩa phụ chữa trị, cũng may trước khi đi chuyển hàng, tại hạ đem bốn đứa con trai về động, xem ra sự nghiệp vợ con chưa được hưởng thì bị giang hồ cướp mất, ước mơ phụng dưỡng gia gia và nghĩa phụ cũng theo mây khói. Chuyết kinh mỗi ngày bệnh nặng thêm vì cấn thai, nếu không có cấn thai thì không đến nỗi phải như ngày nay! Không ngờ tiểu hiệp đến đúng lúc cứu sống được song nhi, kể ra thì ở đời này trong cái ảo cũng có cái thực, tuy tại hạ mất Chuyết kinh nhưng được bù đắp năm trai một gái, dù sao tại hạ cũng còn an ủi phần nào, thấy mặt con như thấy Chuyết kinh và gia gia nghĩa phụ cũng thế, thấy mặt lục nhi như thấy hiền túc, nữ nhi hiếu thảo còn sống!

Hoàng Phi tự nghĩ thầm, quả thực cả nhà đã xem mình như người thân cho nên không giấu diếm một điều nào cả, họ mở hết cửa lòng để tâm sự cho mình biết. Hoàng Phi tự hỏi tiếp, tại sao gia đình họ không được hạnh phúc như mọi người, trước mắt mình thấy họ Đào, họ Trần mất tất cả người thân trong gia đình, và chính lục Đào tam song nhi cũng đồng cảnh ngộ như cha ông đã ba đời tan cửa nát nhà, hiện sống ẩn ở đây để tiếp tục chịu mãi cuộc đời này ư ? Đào-Trần gặp nạn giang hồ hiểm ác, vô lương tâm cướp mất hạnh phúc, cướp mất đời sống bình thường của người lương thiện, ta phải làm gì để lấy lại công bằng cho Đào-Trần chứ ? Hoàng Phi hỏi thẳng:

— Thưa nhị tổ phụ, thúc thúc từ đây Phi nhi xem như thân bằng quyến thuộc, Phi nhi muốn thực hiện một việc đem lại công bằng, hạnh phúc cho gia đình mình. Đào Phụng Tiên như có một tia sáng mới, tuy lòng có một khối lớn thất vọng, ông thở dài lấy lại hy vọng tương lai:

— Phi nhi à, đáy lòng khó ai dò tìm để thấy, nay chúng ta cứ sống chân thực thế này thì hay hơn! Ai cũng muốn hạnh phúc nhưng nó là thứ vô ảnh thì khó mà tìm. Hoàng Phi hiểu được ý của ông:

— Thưa tổ phụ, thúc thúc, Phi nhi thực sự muốn tiêu diệt tất cả những người nào đã làm tan nát hạnh phúc của nhị vị Tổ phụ, Phi nhi nhận xét những thành phần đó chính là thế lực quan trường, cho nên họ xem lưới trời không phán xét đến họ. Đào Phụng Tiên đồng ý xét đón:

— Phi nhi nói rất đúng, họ là những kẻ hà khắc thiên hạ, họ tự xem đất Mông Tự thuộc Giao Chỉ xa mặt trời, cho nên họ mới tung hoành như thế! Trần Bạch Phương cũng thở dài, nói:

— Phi nhi à, thất thế để lòng di hận muôn đời, biết làm sao bây giờ! Xã hội hôn mê không phải tùy thời sinh của chúng ta, dù có vẫy vùng cũng vô ích thôi, chúng ta sống như vầy cũng được rồi, sống trong nhân bản của người đúc hạnh, bởi vậy hạnh phúc trong ta là sự khổ đã đi qua, nếu mình không phải là kẻ miệng đỡ tay chân, thì đâu có ở ẩn thế này! Nói chi xa, gần đây thôi huyện Đại Tân thuộc Giao Chỉ có một ông trời nhỏ cũng đủ làm mưa làm gió rồi, dân ở đấy thán oán vua quan không mắt, đến anh hùng hào kiệt cũng cùng một phe! Thế cô như Phi nhi làm sao mà diệt họ được á Phi nhi sống ở đây đừng chạy bậy có thể bị sập bẫy đấy. Phi nhi bỏ ý định diệt chúng đi! võ nghiệp và trí lực như Đào-Trần đây mà phải sống trong hóc núi nầy mấy chục năm liền! Riêng vợ chồng thằng nhóc Đào Phụng Hòa mới ra thử lửa mười năm tưởng bở, cuối cùng tài sản mất, vợ cũng mất! Hoàng Phi bình thản:

— Thưa tổ phụ, thúc thúc, nếu phi nhi trị được họ thì tổ phụ có nhận gánh vác lập phúc an dân không ?

— Khả năng lập phúc an dân thì mỗ làm được, nhưng diệt bọn gian ác, tặc phỉ thì phải có nhiều nhân sự tâm huyết như Phi nhi và ít nhất võ nghiệp cũng như họ Đào-Trần thì may ra, bây giờ Phi nhi phải tập luyện võ nghệ cho đến mức nội công trác tuyệt, thủ pháp nhập thánh thì mới được, còn lời nói không chứng minh được hành động, hai nữa không có khả năng mà nói thì cũng như không! Hoàng Phi cũng muốn hiểu võ học của hai họ Đào-Trần, thưa tổ phụ, Phi nhi mạo muội xin, hỏi :

— Nhị tổ phụ, thúc thúc xuất chiêu, khẩu quyết, xem thử Phi nhi có lãnh hội được không. Đào Phụng Tiên, Trần Bạch Phương vẫn chưa biết võ học của Hoàng Phi cho nên hai lão thực tình xuất hai pho đao gia truyền của mỗi nhà, người như rồng, người như hổ, riêng Đào Phụng Hòa thì luyện tập cả hai pho đao họ Đào-Trần. Hoàng Phi khen thầm, xét về đao pháp đã đến tuyệt kỷ, nhưng chưa đến đỉnh cao hoàn hảo vì chiêu số còn khe hở và rất tiếc chí khí hai lão anh hùng không đất dụng võ. Hoàng Phi vui mừng:

— Thưa tổ phụ, thúc thúc Phi nhi và lục song nhi sẽ thực hiện được ước mơ của nhị tổ phụ, ngày không xa sẽ đến cửa quan đòi lại công lý, lập lại đời sống hạnh phúc cho dân. Hoàng Phi nói tiếp:

— Phi nhi đề nghị, nhị vị tổ phụ, thúc thúc cung cấp một danh sách, họ tên, bang, đảng, sào huyệt, địa danh, quan trường, khi có danh sách rồi Phi nhi xin hứa hai tháng sau sẽ bêu đầu họ ra trước chợ, để dân ăn mừng. Cả ba người không tin lời Hoàng Phi, nhưng nghe nói rất là nghiệm nghị, đành phải hứa:

— Muốn lập một danh sách cho thật chính xác phải mất ba tháng, muốn trừng phạt địch thủ kỵ nhất là nhầm lẫn người. Hoàng Phi cứng rắn:

— Thưa tổ phụ, đúng như vậy danh sách này không để lọt lưới những kẻ phản dân hại nước, nhất là các huyện, gia tộc vương quyền có dính ít nhiều cũng không tha thứ. Cả ba rùng mình tự hỏi, mình chưa đụng đến một thằng huyện nhỏ mà thân danh đã liệt, còn Phi nhi này lại dám lấy đầu các vương quyền thì quả thật là không sợ trời sập! Nhủ thầm thôi thì làm thử may ra dân tình được phước! Hoàng Phi thưa tiếp:

— Thưa tổ phụ, thúc thúc nếu không chê võ học của Phi nhi thì cùng tập luyện chung, mục đích là để diệt trừ bọn tham quan, bang đảng trộm cướp. Cả ba đồng ý, thực ra Hoàng Phi rất tế nhị, âm thầm điểm những khe hở trong đao pháp của hai lão Đào-Trần .

Từ ấy mỗi ngày Hoàng Phi đến đây luyện tập văn võ cho tứ Đào đệ, bảy ngày sau cả nhà võ nghiệp thấy tiến bộ hơn trước trăm lần, riêng chiêu số của hai lão và Đào Phụng Hòa cũng đổi khác mà không ai biết nguyên nhân.

Tiếp theo Hoàng Phi âm thầm chuyển nội ngoại công, trơ lực nhị lão. Hoàng Phi hướng dẫn kiếm thuật, đao số chàng không ngại khó, tiếp theo Hoàng Phi truyền bộ pháp, huyệt đạo. Lúc này nhị lão Đào-Trần, thúc thúc Hòa mới biết đích thực Hoàng Phi võ học phi thường, chính hai pho võ học gia truyền Đào-Trần có được hôm nay là do Hoàng Phi chỉ điểm những chiêu số đệm vào chỗ hở thành liên hoàn. Nhị lão Đào-Trần ở trong núi lâu ngày cũng sinh tính tình khép kín, nay gặp Hoàng Phi thay đổi khác hẳn, lòng người hoàn toàn mở rộng, còn nhờ Hoàng Phi chỉ điểm võ học, Từ khi gặp Hoàng Phi cả nhà như có một luồng hạnh phúc mới, hai lão nay lòng tính trong sáng. Hôm nay nhị lão mới nói thực đôi lời chân thành:

— Hai pho đao pháp của họ Đào-Trần có được ngày nay là do Phi nhi chỉ điểm, thế mà trước đây hai lão không biết Phi nhi có võ học siêu quần, tính người không khoa trương, khiêm cung, lại rất thông minh hướng dẫn người không cho người biết võ học của riêng mình, hai lão bái phục, đa tạ Phi nhi. Hoàng Phi cười cảm ơn :

— Nhị Tổ phụ nói như vậy thì Phi nhi chỉ biết vậy, chứ thực ra có thử đao kiếm mới biết sơ hở, khi biết mới sửa thì mới hóa ra liên hoàn, trong võ học có nói như vậy. Đào Phụng Tiên cười:

— Phi nhi nói đúng lắm, nhưng người điểm trúng vào chỗ hở mới là quan trọng, theo lão nhật xét, khi Phi nhi xuất chiêu toàn là ở chỗ hở của lão, lão giải được chỗ hở đó thì lòi ra chỗ hở khác, cứ thế mà giải hoài, nhờ vậy mới nhớ mãi ghi vào lòng, đúng là Phi nhi sư phụ của thiên hạ, lão lấy làm hãnh diện có được một người thân thuộc hợp tính với hai lão vô cùng.

Hoàng Phi hẹn mười ngày sau sẽ trở lại, chàng chào cả nhà, khi nghe Hoàng Phi báo tin như vậy cả nhà hình như bị trống vắng một thứ gì đó không thể thiếu được, Hoàng Phi lên lưng hạc tay vẫy chào.

Nhị vị tổ phụ, thúc thúc, cùng tứ nghĩa đệ tập luyện, mười ngày sau mới hội ngộ hy vọng chiêm ngưỡng đao kiếm, nội lực phát huy không ngờ trước được. Ngày tái ngộ sẽ có niềm vui hơn.

Ngày hẹn thập Cần Lĩnh Nam, cho nên chàng về động Lạc Việt, hạc bay về hướng Nam, rồi bay về hướng Bắc.

Thập Cần Lĩnh Nam. Phùng Hưng, Lữ Gia, Trịnh Đình Thao, Lê Trung Kha, Mạc Thu Tá, Hoàng Quốc Kỳ, Nguyễn Tào Đang, Lê Đạt, Trần Bình Thành, Võ Thu Hồ dừng thập tuấn mã tại tửu lầu Trà Luận Lầu thị trấn Giang Phả để dùng điểm tâm, lần này Phùng Hưng gọi tửu bảo cho mười hai bánh bao, lục hiệp đúng ý đồng ồ lên cười, còn tứ hiệp không biết chuyện gì, ngơ ngác vội hỏi ? Phùng Hưng vui cười tự nhiên:

— Chẳng có gì đâu, đây là nhớ lại chuyện ngày xưa sư phụ kết nạp huynh đệ lục Phùng, cũng vì mấy cái bánh bao này, nếu không có chuyện bánh bao thì không có ngày nay, cho nên mỗi lần ăn bánh bao thì nhớ sư phụ, từ bánh bao đưa lục huynh đệ đến với đời sống oai phong. Điểm tâm rồi Phùng Hưng thúc dục thập hiệp trả tiền lên đường, ông hỏi tửu bảo:

— Tại hạ xin gửi hiền đệ năm lượng bạc, nhờ hiền đệ nuôi hộ mười con tuấn mã cho thật chu đáo, mười hôm sau tại hạ trở lại tiếp nhận sẽ tặng thưởng cho. Tiểu bảo thấy số tiền này rất lớn vui mừng:

— Thưa khách quan, tiểu đệ nhận nuôi mười con tuấn mã, với năm lượng bạc này tính ra là rất hậu hỹ. Thập Cần Lĩnh Nam đứng ngoài động Lạc Việt thấy cửa động Tây và Nam đã bế môn, ngạc nhiên tự hỏi những tảng đá này người có nội lực phi thường cũng không tài nào chuyển đến cửa động được, dĩ nhiên phải có thần linh nào đó đứng ra bế môn cửa động.

Vừa lúc thấy Hoàng Phi xuất hiện đi tới thầy trò vui mừng, Hoàng Phi mời đệ tử chui vào động qua lỗ khám phá của ngũ Hoàng Đức ngày xưa, vừa chui vào trong động Thập Cần Lĩnh Nam thấy một cột lớn vạt theo hình thẻ và viết “Từ nay lục Hoàng Đức ra vào động, phải qua khe dưới suối, không được mở cửa động Tây và Nam” lục Hoàng Đức thấy cửa động bên trong cũng có những tảng đá lớn như ở ngoài động, tuy rằng có lệnh cấm mở cửa động, nhưng không có tài nào mở được, Phùng Hưng hơi lạ hỏi:

— Thưa sư phụ bế môn là do ai làm vậy ? Chàng không thể nói hết sự thật cho bất cứ ai biết về động Lạc Việt, cho nên bắt buộc chàng phải một lần nói dối với lòng, dù có nói dối cũng không hại ai ! Nói dối để bảo vệ kho tàng cũng là điều cần thiết:

— Chuyện này tại hạ cũng không biết, rất kỳ lạ, qua một đêm ngủ ly bì không biết mây trăng trời đất chi cả, sáng thức dậy thì thấy cửa động Đông, Tây, Nam có những tảng đá to đã bế môn, với sức nhỏ bé của tại hạ thì không làm cách nào được ra ngoài, tìm mãi mới phát hiện lỗ ra vào này đây, từ đó an tâm không sợ chết nữa, thời gian ấy tại hạ ở trong động tự luyện “Tuyệt Cao Kỳ Kiếm”, “Phong Tâm Kiếm” để bổ túc cho nhau, nhân tại hạ đã thông luyện võ học nhà họ Hoàng và bổ túc những chiêu thức mới, những lúc gần đây có dịp về nhà tại hạ cùng những cao thủ họ Hoàng tỷ võ mới phát hiện võ học luôn luôn đổi mới và chính vì thế tại hạ thích sống đơn độc để sáng tạo võ học rồi truyền thụ hết cho Thập Cần Lĩnh Nam, mỗi ngày phải mới và đi trước hơn địch thủ. Cần Lĩnh Nam hiểu được sư phụ để lòng thán phục, như đã thấy cách đây mấy tháng trước nếu không có chỉ điểm võ học thì làm sao mà đối đầu được với những mãi quốc cầu danh dễ dàng như vậy. Hôm nay Thập Cần Lĩnh Nam về đây để tiếp nhận lời sư phụ và tình hình sinh hoạt của Cần Lĩnh Nam, luyện tập võ học, truyền Thư pháp, Binh pháp cuối cùng làm lễ cáo Trời đất.

Sáng hôm sau thầy trò vào sảnh đường để nghe Phùng Hưng trình bày về nội bộ Cần Lĩnh Nam.

— Thưa sư phụ, toàn thể anh hùng Cần Lĩnh Nam đồng nhất ý. Xin dân thân xác, trí tuệ nhằm bảo vệ Lĩnh Nam, nay có quyết định lập ba phân bộ tự trị. Người đứng trên hết là sư phụ.

— Cần Lĩnh Nam, Bắc Tông. Hoạt động Bắc qua Đông, từ Trường Sa và Nam Hải, do Phùng Hưng chủ quản.

— Cần Lĩnh Nam, Trung Tông. Hoạt động Tây qua Trung, từ Tượng Quận đến Quế Lâm, do đại huynh Vũ Thư Minh chủ quản.

— Cần Lĩnh Nam, Nam Tông. Hoạt động toàn vùng phía Nam Giao Chỉ đến Nhật Nam, do đại huynh Hoàng Biên chủ quản.

Vật chất của Cần Lĩnh Nam, Bắc Tông. Nay đã trang trải đều nhau cho Trung và Nam Tông, nhân lực Trung Tông hiện nay có phần tương đương với Bắc Tông, nhờ có Thiếu Hiệp Quân, các giáo phái, đảng bang qui tụ về một mối. Về nhân lực Nam Tông mới thành lập cho nên rất yếu, tuy nay có sư thúc Trịnh Trường và Lý Bình Trung, hy vọng có sư phụ hỗ trợ. Hoàng Phi tiếp được báo cáo  sinh hoạt của Cần Lĩnh Nam, chàng hỏi Phùng Hưng:

— Tổ chức như vậy rất tốt, không có điều gì phải lo nữa, nhưng tất cả sinh hoạt của Cần Lĩnh Nam đã trình tâu lên Hoàng thượng chưa ? Phùng Hưng thưa:

— Thưa sư phụ, từ lúc đổi tên đến nay chưa trình tấu lên Hoàng thượng, theo đệ tử biết việc này nhờ uy tín của sư phụ tấu về triều. Hoàng Phi xem đây là việc khẩn cấp, không thể để lâu sinh sự rồi lời ra tiếng vào không ổn:

— Việc này sẽ tấu về triều hôm nay, riêng có một số việc của Bắc Tông thay đổi nhân sự ngoài ý muốn, nhưng là Lạc dân phải tuân chỉ triều đình. Hoàng Phi lấy ấn chỉ triều đình đưa ra, Phùng Hưng vội quì xuống tiếp chỉ:

— Thưa sư phụ tuân chỉ. Cần Lĩnh Nam Bắc Tông đề cử nhị đệ vào triều một làm tướng quân Hộ Thành, một Cơ Mật Viện kiêm tướng quân Ngự Lâm Quân. Thế thì vị nào vào triều để tiếp nhận ba chức vụ trên. Đến đây tự hiểu ý nhau không một ai chịu vào triều, thời gian im lặng trôi qua hơn một khắc, không một tiếng phát biểu nào, ai cũng biết một khi vào Hoàng cung thì không còn sinh hoạt như trên giang hồ, phải sinh hoạt theo khuôn phép cứng ngắc của triều đình và không ai muốn ra làm quan. Hoàng Phi thấy không khí căng thẳng chàng hiểu được tâm trạng tình huynh đệ của Cần Lĩnh Nam, chàng lấy quyết định:

— Tại hạ nghĩ chuyện ra làm quan hay sinh hoạt thoải mái trên giang hồ, cần phải xác định phục vụ cho ai đã, như Cần Lĩnh Nam dù ở môi trường nào cũng làm tròn sứ mạng Lạc Việt, đã là đệ tử của tạ hạ thì phải đứng ra nhận trách nhiệm này, nếu không ai chịu thì tại hạ chỉ định. Cuối cùng Hoàng Phi chỉ định Hoàng Quốc Kỳ làm Hộ Thành, Lữ Gia làm Cơ Mật Viện kiêm nhiệm tướng quân Ngự Lâm Quân. Được Hoàng Phi chỉ định cả hai tuy không hài lòng nhưng không dám phản đối quyết địch của sư phụ. Hoàng Phi nói tiếp, một khi dưới quyền Nam Việt Vũ Đế thì cắt đứt mọi liên hệ với Cần Lĩnh Nam. Cả hai muốn rơi lệ không biết chuyện gì trong tương lai, Hoàng Quốc Kỳ, thưa:

— Thưa sư phụ, nếu như vậy thì không thể vào Hoàng cung được, vì tình huynh đệ đã thề chết sống có nhau, mà nay sư phụ lại nói cắt đứt mọi liên hệ, như vậy coi sao được, lời thề khi trước nay để đâu rồi! Hoàng Phi ôn tồn:

— Lời thề của quí đệ tử vẫn còn nguyên, tình huynh đệ không thay đổi, nhưng phải để tất cả trong lòng, có như vậy Cần Lĩnh Nam mới an toàn. Quí đệ tử phải biết rằng quan trường cũng là chốn giang hồ, nó có luật chơi riêng, bản lãnh của họ còn gay go hơn giang hồ, cho nên tại hạ chỉ định hai đệ tử là vậy, cắt đứt hoàn toàn liên lạc có nghĩa là để bảo vệ cho Cần Lĩnh Nam không bị giới quan trường ganh ghét, hay để ý đến, quí đệ tử phải tạo cho mình một uy tín riêng, kết giao quan trường liêm khiết, có chí khí anh hùng, hoài bảo vì tôn tộc Bách Việt trên hết. Hãy an tâm vào Hoàng cung sinh hoạt một thời gian rồi sẽ quen, riêng Hoàng Quốc Kỳ tại hạ tặng hai cây bảo kiếm họ Hoàng, Lữ Gia một đoản bảo kiếm Phi Thần Long còn Trần Bình Thành theo sư phụ về Giao Chỉ. Phùng Hưng ngạc nhiên hỏi:

— Thưa sư phụ, như vậy hiền đệ Trần Bình Thành cũng không còn trực thuộc Bắc Tông. Hoàng Phi trả phán:

— Đúng vậy, Trần Bình Thành thông thạo Giao Chỉ. Nhân đây cũng nhắc lại tất cả tài sản hiện có trong động này sẽ chuyển giao cho Nam Tông, tại hạ tạm cung cấp hai con hạc nhỏ cho mỗi Tông để đưa tin tức, riêng phần tại hạ sử dụng hạc lớn, tại hạ xin công bố kể từ hôm nay phế bỏ hai lời thệ năm xưa của đệ tử Phùng Hưng và Trịnh Đình Thảo, bơi nguyên là Cô trượng của tại hạ, có như vậy tại hạ mới dễ xưng hô, còn một điều quan trọng nữa sau khi ra khỏi động Lạc Việt chính tại hạ phá hủy nơi này, tại hạ từ đây hạ lạc ở dãy núi Mao Gia Phong gần thị trấn Chung Du, Giao Chỉ.

Sinh hoạt trong động Lạc Việt đã đến ngày thứ chín, thầy trò Hoàng Phi cũng vừa luyện tập phần bổ túc trong hai pho kiếm “Tuyệt Cao Kỳ Kiếm” và “Phong Tâm Kiếm”. Cùng lúc điểm võ học họ Hoàng cho Hoàng Quốc Kỳ. Hoàng Phi khuyên dẫn đệ tử:

— Phần mới bổ túc của hai pho kiếm “Tuyệt Cao Kỳ Kiếm” và “Phong Tâm Kiếm” được xem là đỉnh cao nhất, không được phổ biến ra ngoài, đặc biệt chỉ được truyền thụ cho những đệ tử truyền nhân, phần võ học cũ được phổ biến rộng rãi cho Cần Lĩnh Nam và toàn dân Bách Việt ai muốn học cũng tiếp nhận không từ chối, những pho võ học khác thì truyền tự do.

Sáng sớm Phùng Hưng lập bàn thờ làm lễ cáo trời đất, Hoàng Phi đứng trước bàn còn mười Cần Lĩnh Nam lớn nhỏ đứng sau: Phùng Hưng bào phục trịnh trọng:

— Từ lâu nay quí huynh đệ cùng sư phụ chưa làm lễ cáo trời, nhân ngày bãi hội ở đây không biết bao giờ hội ngộ, bởi thế lập lễ cáo Trời đất để sư phụ chứng đàng, mời quí huynh đệ chuẩn bị. Phùng Hưng thay mặt thập Cần Lĩnh Nam, nói tiếp. Theo lời của sư phụ trình bày đã là lý đạo, lời đức âay huấn riêng để quí huynh đệ thực hiện tinh thần Cần Lĩnh Nam, quí huynh đệ có gì lo ngại không?. Thập Cần Lĩnh Nam đồng ý làm lễ cáo Trời đất. Phùng Hưng hỏi từng huynh đệ một.

— Còn tứ huynh đệ Nguyễn Tào Đang, Lê Đạt, Trần Bình Thành, Võ Thu Hồ thế nào? Nguyễn Tào Đang thưa:

— Việc làm lễ cáo Trời đất là một việc phải đạo, chúng đệ hoàn toàn đồng ý. Hoàng Phi nói thêm để đệ tử hiểu lễ cáo Trời đất là gì, nó có giá trị nào đối với sư phụ đứng làm chủ lễ:

— Hôm nay đối với Trời đất người đứng chủ lễ rất quan trọng, tại hạ không ép buộc quí hiền đệ tử, dù có chấp nhận thụ lễ Trời đất hay không cũng được truyền thụ võ học như nhau, cũng không phân biệt đệ tử trước và sau, sở dĩ tại hạ nói như vậy là tôn trọng tự do của cá nhân. Nguyễn Tào Đang là trưởng huynh trong tứ hiệp Giao Chỉ phát biểu:

— Đệ tử đồng ý làm lễ cáo Trời đất. Phùng Hưng mời:

— Mời thập Cần Lĩnh Nam, quì xuống trước bàn hương án, mỗi đệ cầm ba cây hương làm lễ, mời sư phụ chứng đàng. Phùng Hưng đọc sớ cầu nguyện:

Sớ cáo Trời Đất

Bách Việt Muôn Dân Trăm Họ Quy Nguyên

Thời Duy

            Nhựt ngọ thời kiết hiện tại Nam Việt Quốc, tôn tộc Bách Việt, phương Lĩnh Nam. Động Lạc Việc cư trụ .

       Động Lạc Việc chi trung, kim hữu đệ tử thọ thiên ân Hoàng Phi, cùng cộng đồng Thập Cần Lĩnh Nam Phùng Hưng, Lữ Gia, Trịnh Đình Thao, Lê Trung Kha, Mạc Thu Tá, Hoàng Quốc Kỳ, Nguyễn Tào Đang, Lê Đạt, Trần Bình Thành, Võ Thu Hồ đồng đẳng, quì tại điện tiền thành tâm trình tấu.

Huỳnh Kim Khuyết Nội Huyền Khung Cha Trời Thiên Tổ.

Đất Mẹ Vô Cực Sinh Thành Thiên Tổ.

Thập phương chư đấng vạn chưởng chư Thiêng Liêng, liên đài chi hạ.

Kim vi Vọng, nhựt lương thần.

Phục mệnh sư phụ Hoàng Phi.

            Thiên phong hiệp giữ, thập thiện hiền Cần Lĩnh Nam đệ tử đẳng, nghiêm thiết đàng tràng, hương đăng hoa, trà, quả thanh chước duy nghi thành tâm hiến lễ.

        Thánh từ quảng bố đại khai hồng ân, xây cơ chuyển thế vận mạng Nam Việt, tôn tộc Bách Việt kỷ đắc độc lập toàn dân thống nhứt, dân chúng cộng hưởng hòa bình, hạnh phúc, an ninh.

Phục vọng Kim bàn Trời là Cha, Mẹ là Đất phát hạ hồng ân khai cơ kiến thiết, tự tạo sản nghiệp Nam Việt tảo đắc viên thành, toàn thể Tôn Tộc Bách Việt hiệp trí hòa tâm tinh thần qui nhứt, vĩnh sùng chánh quốc Nam Việt giải quả tiền khiên hạnh hưởng thiên ân tứ phước.

Tại hạ là sư phụ Hoàng Phi chứng lễ cho thập đệ tử không sanh cùng năm, cùng tháng cùng ngày, nhưng được xem cùng chí nguyện, được đồng sống đồng tử.

Hoàng thiên, hậu thổ chứng giám lời này. Đứng trước sư phụ Hoàng Phi, thập đệ tử không được bội nghĩa, sẽ bị trời tru đất diệt.

Thành tâm khấn nguyện cúc cung bá bái thượng tấu.

Dĩ Văn.

            Phùng Hưng đứng lên khuyến cáo:

— Hôm nay làm lễ cáo Trời đất của thập Cần Lĩnh Nam, huynh đệ mới thấy lễ này còn quan trọng hơn lễ tôn vinh sư phụ, từ đây mỗi Cần Lĩnh Nam có bổn phận phụng sự Nam Việt.

Thập hiệp hết lòng quyết tâm thực hiện lý tưởng Cần Lĩnh Nam, cứu khốn phò nguy, trên dưới đệ tử đồng tuân lời ân đức sư phụ ban lệnh, chung lòng báo đáp Nam Việt, dưới giúp yên bá tánh. Hậu thổ chứng giám lòng. Ai bội nghĩa bị trời tru đất diệt.

Lễ đã thành thầy trò Hoàng Phi phân ngôi thứ, vào hậu sảnh đường uống trà. Hoàng Phi răn bảo:

— Tốt lắm, vậy hôm nay khởi đầu tâm huyết lưu truyền trong sinh hoạt Cần Lĩnh Nam, võ nghiệp của quí huynh đệ đã tiến bộ hơn trước nhiều lắm, hy vọng thập Cần Lĩnh Nam tuyển chọn nhiều nghĩa hiệp đạo đức, không phân biệt tuổi tác, hiểu biết Cần Lĩnh Nam cùng chuyên luyện tập thì võ nghiệp tinh nhuệ, Mạc Thu Tá có ý định phân ban thứ tự:

— Thưa sư phụ, lời dạy bảo của sư phụ như thế cũng đã rõ ràng, đúng ý nguyện đệ tử và nhân đây mời quý huynh đệ, tìm ra một đại huynh đức độ. Tất cả đồng đề cử Phùng Hưng đệ nhất sư huynh, Trịnh Đình Thao đệ nhị sư đệ, còn lại theo thứ tự như cũ đã định, riêng Lữ Gia, Hoàng Quốc Kỳ, Trần Bình Thành, không còn sinh hoạt trong Cần Lĩnh Nam Bắc Tông. Hoàng Phi răn bảo thêm:

— Hôm nay là ngày lành tháng tốt, xem đây là ngày hội đồng tối cao của Cần Lĩnh Nam Bắc Tông, thực hiện mục phiêu công bình dân quyền của Bắc Tông, lấy sơn hà xã tắc làm trọng, xả thân không ngại khổ vì trường tồn Bách Việt, tất cả không vì duy danh, duy quyền, duy lợi mà đoạt chúa, xưng vương, nay sư phụ ban ra tất cả đệ tử lấy đó mà hành sử.

Nhân dịp này tại hạ muốn thấy võ học của quí huynh đệ Cần Lĩnh Nam đã phát triển đến đâu rồi, mời tất cả ra thung lũng xuất chiêu để tại hạ xem thế nào. Tất cả đồng ra thung lũng, Phùng Hưng xuất kiếm trước, thứ tự thập phẩm Cần Lĩnh Nam cùng nhau xuất võ nghiệp, đao pháp, Hoàng Phi đứng lượt võ học nhận thấy.

— Phùng Hưng đã xuất chiêu võ học kiếm pháp “Tuyệt Cao Kỳ Kiếm” và “Phong Tâm Kiếm” đến nội công, cước pháp, phi tiêu đã đạt đến đỉnh cao.

— Trịnh Đình Thao, Lê Đạt, Lê Trung Kha, Mạc Thu Tá, Võ Thu Hồ cũng không kém hai pho kiếm “Tuyệt Cao Kỳ Kiếm” “Phong Tâm Kiếm” xuất thần nhập thánh bộ pháp, phi tiêu, phóng chùy, phóng ám khí cũng không thua gì Phùng Hưng.

— Trần Bình Thành sở trường đao pháp, ẩn hiện “Tuyệt Cao Kỳ Kiếm” “Phong Tâm Kiếm” một hiệp khách mãnh hổ, nội lực phi thường. Lê Đạt sở trường cầm nã thủ pháp tinh diệu, Võ Thu Hồ sở trường quyền pháp như rồng. Ngoài ra thập Cần Lĩnh Nam còn có luyện võ học thương pháp, trượng pháp, côn pháp, quyền thuật.

Hoàng Phi luôn bổ túc phần tinh diệu cho Cần Lĩnh Nam, bây giờ huynh đệ Phùng Hưng xem lại hai bộ kiếm và quyền v.v… Thấy tiến bộ hơn trăm lần trước khi mới vào động, ngày nay ai cũng biết hết những võ học do Hoàng Phi truyền thụ, nhưng cũng còn tùy người tiếp nhận, chuyên cần luyệt tập và thông minh, nếu kém trí nhớ mài miệt luyện tập cũng được như ý, võ học cao thấp chỉ cần qua vài chiêu là biết được tài năng, đúng là trời cho ai nấy hưởng. Hoàng Phi tâm có ý riêng:

—  Tháng sau sư phụ về Cửa Chân lấy bộ thư pháp và binh pháp tặng thập đệ tử nhằm luyện tập cả hai, riêng về binh khí thì từ đây Cần Lĩnh Nam mở lò đúc binh khí, dùng tài chánh lập kho thu mua thép, mua chiến mã, lương thảo, tăng cường an ninh cho Bắc Tông.

Ngoài ra nếu tài chính Cần Lĩnh Nam thiếu hụt thì cho tại hạ biết để xin Tổ phụ bổ sung, điều cuối cùng mỗi Cần Lĩnh Nam là một anh hùng của Nam Việt cho nên ai cũng được chu cấp đầy đủ từ cá nhân cho đến gia đình. Thập đệ tử đồng lên tiếng:

— Dạ. Huynh đệ Phùng Hưng biết ý của sư phụ trẻ, họ luôn luôn theo ý ngôn của Hoàng Phi, họ chưa bao giờ nghe Hoàng Phi nói trái lòng của họ. Riêng huynh đệ của Nguyễn Tào Đang ngày trước gặp Hoàng Phi xem rất thường rồi sau đó họ kính phục võ nghiệp của Hoàng Phi mới chịu xin bái sư phụ.

Hôm nay họ mới biết đích thực sư phụ Hoàng Phi chính là nhà binh pháp, văn võ song toàn, tuy vậy họ cũng có nhiều mối lo riêng, cho nên Nguyễn Tào Đang, thưa :

— Thưa sư phụ, chúng đệ tử sinh thành sống đất Âu Lạc như vậy cũng có ít nhiều không cảm tình với Nam Việt Vũ Đế, như vậy Cần Lĩnh Nam phải thờ Vũ Đế hay là thờ Bách Việt? Trịnh Đình Thao độc nhiều thư pháp, thông kinh hiểu sử có những nhận định khá sáng lý :

— Ngu đệ cảm thấy cần phải có một câu hỏi, Nam Việt Vũ Đế cùng An Dương Vương ai là cùng tôn tộc Bách Việt? đôi bên ở Tây-Bắc cùng là vương, nhưng sự hệ trọng là thống nhất Bách Việt, cho nên hai nhà đánh nhau, dĩ nhiên có kẻ thắng người thua, khi An Dương Vương tử tiết, thì cả Bách Việt lên án Triệu Đà, cho rằng người Phương Bắc, nhưng ít ai thấy rộng để khẳng định Triệu Đà đã có công lớn thống nhất toàn cõi tôn tộc Bách Việt như ngày nay, lấy Phiên Ngung làm thủ đô, lập Nam Việt, xưng Triệu Vũ Đế. Đến nay Nam Việt Vũ Đế trị vì hơn sáu mươi năm, khai phá, kết hợp Lĩnh Nam hòa mục tôn tộc Bách Việt.

Triệu Đà nguyên là tướng quân trẻ ngoài mặt trận phía Nam. Lúc này Tần Thủy Hoàng đã thấy có một cản trở tiến quân xuống Lĩnh Nam, cho nên ông nói “Trẫm trao tướng hùng, binh mã trùng điệp, lấy được chư hầu lập đại Hán, Vạn Lý Trường Thành trẫm còn xây dựng được, nhưng không thu được đất Lĩnh Nam, duy chỉ có Triệu Đà không qui thuận, nếu y là dòng máu Bách Việt thì Lĩnh Nam thống nhất, khi ấy trẫm khó thu Lĩnh Nam vào đại Hán”

Lúc bấy giờ Tần Thủy Hoàng đã ban chỉ dụ diệt toàn chủng tộc Bách Việt. Tần Thủy Hoàng đã gồm thâu lục quốc vào một tay, thuở ấy nếu không có Triệu Đà cản trở thì huynh đệ không còn ngồi đây để tự hào con dân Bách Việt, vĩnh viễn không ai gọi đến tên Bách Việt. Nay nhà Triêu lập ra Nam Việt xưng hiệu Vũ Đế, theo đệ nghĩ một triều đại nào cũng vậy, rồi theo năm tháng thay đổi, Vũ Đế cũng hòa tan vào Bách Việt, đồng đứng chung trong vận mệnh thăng trầm, trôi chảy như dòng sông Dương Tử, để bảo vệ phần đất Lĩnh Nam, đó là yếu tố sống còn của Bách Việt, nay Bách Việt nguyên khối muốn trường tồn cần phải biết bảo vệ nhau, không ai can đảm tách rời một Việt ra khỏi khối Bách Việt và ngược lại không để phương Bắc thôn tính Bách Việt, nếu có đổi thay một Việt tách rời không khác nào gọi mời nhà Hán tiêu diệt Bách Việt, từ xưa nay phương Bắc tìm trăm phương ngàn kế để thôn tính Bách Việt mà không thành. Hôm nay và mai sau cương giới Lĩnh Nam, cũng như thành Phiên Ngung không để bàn tay ngoại nhân hay gian tế phá nát, hy vọng tôn tộc Bách Việt tránh trước đề phòng sau con cá mập phương Bắc, nó lúc nào cũng chuẩn bị nuốt chửng Bách Việt. Hoàng Phi, xem đây là câu giải đáp đúng lúc, chàng khuyến cáo:

— Phải đề phòng từ bây giờ đừng để tương lai Bách Việt hao mòn một chữ Việt! Lữ Gia nói câu nào hay câu đó vì không còn bao lâu nữa từ giả sư phụ và huynh đệ:

— Sư phụ nguyên người Lạc Việt sinh ở Giang Tô hải ngoại, thế mà hiểu nghĩa lý tôn tộc Bách Việt, còn thông thái hơn huynh đệ trăm lần, quả là sư phụ vì Bách Việt chứ không vì một ông vua, đề nghị huynh đệ bỏ xuống những hẹp lòng, có như thế mối yêu được tôn tộc Bách Việt, may cho huynh đệ được sư phụ soi sáng, chứ không thì lòng mình u minh mãi mê. Hoàng Quốc Kỳ thưa:

— Đệ tử đa tạ sư phụ đã soi sáng được lòng. Tất cả thập Cần Lĩnh Nam đồng đướng lên và quì xuống đất:

— Chúng đệ  tử đồng bái sư phụ. Hôm nay xin đem hết tất lòng bảo vệ giang sơn Bách Việt. Hoàng Phi lòng như mở hội:

— Có như thế mới là người Bách Việt. À nhớ ra rồi có một vũ khi rất lợi hại lắm, để tại hạ vào kho lấy ra biểu diễn xem thử thế nào nhá. Thập Cần Lĩnh Nam rất ngạc nhiên, không hiểu vũ khí gì, một chập Hoàng Phi đem ra hơn năm trăm mảnh da bò, ngựa, trừu mỗi mảnh da có hai mặt màu đen độc dược hay thuốc gây mê tùy theo phân lượng lúc xuất chiêu, màu xám thuốc giải độc, rồi bảo Phùng Hưng:

— Cô trượng, đứng cách xa lục trượng, nhớ cẩn thận nhá đây là thuốc độc đấy, khi tại hạ xuất chiêu thì phải tránh né mảnh da, hoạt đẩy mảnh da ra hướng khác, chú ý không cho chạm vào người, cũng có thể tay lấy mảnh da này mà không nguy hiểm, đây là mảnh da mặt đen, xin đỡ:

— Vâng. Phùng Hưng nghĩ thầm, trò chơi này là của mỗ, sư phụ làm sao chơi lại, hai nữa mỗ đứng xa như vậy thì làm sao mà mảnh da chạm vào người được. Phùng Hưng tuy lòng suy nghĩ nhưng tay chân vẫn thủ, mảnh da mặt đen đã đến khi nào không ai thấy, chỉ thấy Phùng Hưng nằm lăn cù xuống đất, năm khắc sau Hoàng Phi bảo chín đệ tử:

— Hãy xem mặt da màu xám này. Hoàng Phi xuất chiêu chậm rãi để chín đệ tử thấy rõ mảnh da bay ra, tuy vậy tốc độ nhanh và kình lực mạnh đã ụp vào mặt Phùng Hưng.

Phùng Hưng lò mò đứng dậy tự hỏi:

— Không biết tại sao mà mảnh da đen đến nhanh như vậy, đệ tử không thấy để phản ứng, tại sạo đệ tử phải lăn ra đất, bây giờ mới lò mò đứng dậy, kỳ quái thật, mảnh da thảy ra thì phải có tiếng gió “vù vù” chứ, mảnh da mặt đen và xám vẫn còn trên tay của sự phụ kia mà. Phùng Hưng ngạc nhiên. Hoàng Phi gọi:

— Cô trượng lại đây tại hạ nói cho mà nghe, mảnh da đen và xám lấy ý từ hôm ăn bánh bao, đúng thế không ?

— Dạ đúng vậy.

— Lúc ấy Cô trượng thảy mảnh da để lấy bánh bao, thì hôm nay là vũ khí, khi thảy ra là bắt được một địch nhân, sự sống chết do thuốc độc nhiều hay ít, còn mặt da xám là để giải độc, thảy mảnh da thì có chiêu số riêng tùy theo loại da, bò, ngựa, trừu khi xuất chiêu đừng để đối thủ nghe được tiếng gió động, muốn thảy được thì phải biết ba chiêu này, dụng một ít nội công, quí đệ tử thảy mảnh da thử, trước khi tại hạ hướng dẫn vũ khí này tên là “Tinh thông bào ảnh” thập Cần Lĩnh Nam thảy thử mảnh da bay xa ba trượng là đã hết nội lực. Hoàng Phi thấy vậy hướng dẫn thảy da bò trước:

— Muốn thảy da bò thì chuyển một thành nội lực vào da cứng phồng lên và xuất quyền xoay mạnh, đẩy mảnh da vào mặt địch thủ, khi da chạm vào mặt rồi nó tự hồi về tay mình, trò chơi này gọi là “Nhất ý” trong “Tinh thông bào ảnh” da ngựa thì hai thành nội lực gọi là “Nhị ý” da trừu dụng ba thành nội lực gọi là “Tam ý” quyền xuất như da bò. Thập đệ tử luyện tập lần đầu là thành công liền.

— Dạ. Thập đệ tử làm liền, quả nhiên thành công, sư phụ và đệ tử vỗ tay, còn nói hay tuyệt. Hoàng Phi nói tiếp :

— Đây là vũ khí bắt sống địch nhân, sư phụ tặng thập Cần Lĩnh Nam năm trăm mảnh da, tuy nghi sử dụng miễn có lợi cho Nam Việt thì hành.

— Chúng đệ tử đa tạ sư phụ. Những ngày sau thập Cần Lĩnh Nam lo luyện tập võ học từ sáng đến chiều, mười ngày trong động Lạc Việt sư phụ và đệ tử chung sống luyện kiếm, nội công, quyền pháp tiến triển mau lẹ.

Mười ngày trong động bằng mười năm ngoài đời, ngày cuối cùng thập đệ tử tạm biệt không trở lại động Lạc Việt. Mười một người chui qua lỗ cửa động ra ngoài, Hoàng Phi lấy một tảng đá lớn bít cửa động lại, rồi cùng đi với thập Cần Lĩnh Nam đến thị trấn Giang Phả lấy tuấn mã. Phùng Hưng mời sư phụ về Tượng Quận để thăm gia đình, nhất là vấn an gia gia Phùng Nam. Hoàng Phi xin cáo từ:

— Thưa Cô trượng, Phi nhi phải về Cửu Chân vì gia gia đang cần có việc, hẹn nửa tháng sau gặp nhau tại vịnh Hổ Môn, cho tại hạ gửi lời thăm lệnh nghiêm, lệnh từ chúc bình an. Phùng Hưng không dám trái ý:

— Vâng, đa tạ sư phụ, chúc thương lộ bình an, cửu Cần Lĩnh Nam đi về hướng bắc Tượng Quận, Hoàng Phi và Trần Bình Thành đi về hướng Nam, đi được hai mươi trượng Hoàng Phi bảo Trần Bình Thành:

— Đệ tử ở đây chờ sư phụ nhá. Chàng trở lại động Lạc Việt dùng quyền đánh vào núi lấy một tảng đá lớn lấp lại phần ngoài cửa chui vào cửa động.

Thiều quang của một buổi chiều, Hoàng Phi trở lại động Nam Khê Sơn cùng đi có Trần Bình Thành. Chàng gọi mười con hạc từ động Lạc Việt bay đến một khe suối trên đường đi, hạc chở theo nào là lương thực, sữa bò tươi, rượu Hổ phách và thuốc trị liệu. Hoàng Phi bảo Trần Bình Thành:

— Đệ tử lên hạc tiếp tục hành trình bay về hướng Nam, không bao lâu đến động Nam Khê Sơn.

Hoàng Phi chuyển động Tu hú báo tin đã đến đúng hẹn, cả nhà Đào-Trần mừng vui khôn tả, nhìn lên trời thấy mười con hạc chuẩn bị đáp xuống đất, lần này có một thanh niên tuấn tú trạc tuổi như Đào Phụng Hòa cùng đi theo, phụ lấy đồ vật trên lưng hạc theo lời dạy bảo của Hoàng Phi. Trần Bình Thành miệng xưng hô:

— Dạ có đệ tử đây sư phụ, tay chân bộ pháp bay như gói phất qua phất lại, hình ảnh phong cốt tiên bay, cả nhà Đào-Trần thấy vậy cũng khen thành lời:

— Thảo nào sư phụ, đệ tử nhà họ khác mình là vậy, vì họ đi như bay, lòng họ rộng bao la, tính nghĩa hiệp như thần, họ còn cưỡi hạc không khác nào là tiên ở trần thế.

Mười ngày đêm trong nhớ Hoàng Phi thật là dài, nay đem đến Đào-Trần một niềm hạnh phúc khôn tả cạn lòng, dù có trăm ngàn bút nghiên mực cũng khó thành văn. Tuy vậy chỉ cần gặp mặt với những nụ cười thân thương, đầy tình người qua đôi mắt, là diễn đạt hết ý tưởng, còn hơn độc một tuyệt tác mà vẫn phân vân ý.

Trong sảnh đường vui nhộn họ Đào-Trần Hoàng phân ngôi chủ khác, chúc tụng sức khỏe với nhau, cả nhà thấy người thanh niên vẫn đứng khoanh tay sau lưng Hoàng Phi, Đào Phùng Hòa thấy vậy mời ngồi:

— Kính mời đại huynh an tọa vào chiếc ghế này nhá. Trần Bình Thành vẫn đứng tại chỗ, Hoàng Phi cũng bảo:

— Đệ tử đừng hầu nữa, hãy ngồi vào đây mỗ giới thiệu để rồi cùng cả nhà biết nhau, đây là Tổ phụ Đào Phụng Tiên, tổ phụ Trần Bạch Phụng, thúc thúc Đào Phụng Hòa và tứ Đào hiền đệ, Trần Bình Thành khi nghe giới thiệu đến tên Trần Bạch Phụng thì trong lòng như thể có sức hút của huyết thống chàng tự hỏi. Đây có lẽ nào là gia gia của mình, hay là trùng họ tên Trần Bạch Phương chăng, tại sao lại ở đây ? Hoàng Phi giới thiệu tiếp:

— Đây là đệ tử Trần Bình Thành người đất Giao Chỉ, chàng thanh niên khoanh tay lại cúi đầu chào hai tổ phụ Đào-Trần và cả nhà. Trần Bạch Phụng cũng có những suy nghĩ như Trần Bình Thành nhưng không ai nói ra lời, vẫn giữ thế chủ nhà và khách. Hai người họ Trần cùng nhau hồi lại hình ảnh trong ký ức. Hình ảnh Trần Bình Thành trong ký ức của Trần Bạch Phụng vẫn là một ấu nhi, nếu đây đích thực là hài nhi thì ở phía sau vai trái có hai chấm son đậm bằng ngón tay cái, một tròn một méo, còn hình ảnh Trần Bạch Phụng trong ký ức của Trần Bình Thành rất tiếc là quá ít, trước mặt chỉ thấy một ông già râu tóc bạc phơ, một mẫu người khổ hạnh, trước kia gia gia mình thân thể cường tráng mạnh vô song. Hoàng Phi thấy hai họ Trần có những điểm hao hao, cho nên chàng mới đưa Trần Bình Thành đến đây để tìm gia gia và giúp Trần Bạch Phương tìm một phần còn lại trong tung tích của gia đình.

Trần Bạch Phụng khao khát mấy mươi năm trời, chỉ còn một hy vọng mong manh ngày nào đó sẽ tìm lại vợ con bị thất lạc, bởi vậy khi ông nghe Hoàng Phi giới thiệu, ông vào đề ngay, hỏi lý lịch của Trần Bình Thành, tất cả những gì ông hỏi không sai, cuối cùng ông đề nghị :

— Mỗ có một người con trai cũng trạc tuổi như thiếu hiệp, nếu đích thực là hài nhi của mỗ thì ở phía sau vai trái có hai chấm son đậm bằng ngón tay cái, một tròn một méo, đề nghị thiếu hiệp có thể cho xem được không ? Trần Bình Thành cúi đầu chấp nhận đề nghị trong lòng hơi xúc động suy nghĩ. Mình có bao giờ để ý sau lưng có hai chấm son ấy đâu, ừ nhỉ nếu để ý cũng không xem được, thôi mình cởi áo để an ủi người, nếu thực sự là gia gia âu cũng do duyên xoay tròn trái đất gặp nhau càng hay, mình cũng tự hào còn gia phả như ai, chứ không phải sinh bờ đẻ bụi.

Trần Bạch Phụng “ồ” lên một tiếng:

— Quả thực ở phía sau vai trái của Trần Bình Thành có hai chấm son đậm bằng ngón tay cái, một tròn một méo. Hai cha con ôm nhau khóc sướt mướt, cả nhà ai cũng động lòng. Hoàng Phi vừa vui mừng, đôi mắt hơi đẫm lệ. Chàng nói với Trần Bình Thành:

— Nay đệ tử đã tìm được gia gia rồi, tại hạ cũng vui lắm, vậy đệ tử thay mỗ luyện tập võ nghiệp cho cả nhà, nhớ đem hết những gì mình biết trao hết cho thân nhân mình nhá. Tháng sau mỗ trở lại, bây giời thì tại hạ chúc cả nhà nhiều sức khỏe và chăm sóc song nghĩa tử cho tại hạ, chào cả nhà. Trần Bạch Phương vội nói:

— Tiên sinh đi chi mà vội thế, ở lại đây rồi sáng hãy về nhá, cha con của mỗ chưa tạ ơn tiên sinh mà. Hoàng Phi từ chối:

— Thưa tổ phụ, lại tạ ơn nữa rồi, nếu tại hạ phải tiếp nhận ơn đền nghĩa trả thì phải ở đây cho đến già mới về nhà sao. Có đệ tử Trần Bình Thành ở đây cũng như tại hạ vậy, cả nhà an tâm sinh hoạt sẽ gặp nhiều niềm vui, thôi tại hạ cáo từ. Hoàng Phi và hạc bay vào không trung biến mất.

            Trần Bình Thành thuật lại từ đầu đến cuối cho cả nhà nghe, ai cũng khóc nhất là tiếng khóc của Trần Bạch Phương rất là thê lương, não nề, vì nay ông biết vợ và em của Trần Bình Thành đã qua đời, riêng Trần Bình Thành được sống ngày nay là do hiệp khách Giang Thành Phước cứu sống, rồi uỷ thác cho người bạn họ Hoàng nuôi, nhưng họ Hoàng này cũng trên đường giang hồ không thể mang theo được, lại ủy thác cho một người khác ở Giao Chỉ trước khi đi ông có gửi lại một trăm lượng vàng cho họ Nguyễn Tiết Lồ và ông bảo nuôi mười năm, ngày ông trở lại phải là một thiếu niên tuấn tú nhá.

Đúng mười năm sau họ Hoàng trở lại để tiếp nhận hài nhi, họ Hoàng thất vọng nội công và võ học của hài nhi, rồi ông dẫn hài nhi đến núi Ngũ Bình cũng thuộc Giao Chỉ nhờ người bạn họ Hà tên Vang Lâu nuôi, ông đưa năm mươi lượng vàng, người bạn không chịu nhận, họ Hoàng nói “Có phải các hạ chê ít phải không?” họ Hà nói lại “Tại hạ nhận nuôi không nhận vàng đem về đi, tại hạ khinh mỗ hả” họ Hoàng vứt vàng xuống suối, thế là hai người xuất kiếm đao đánh nhau từ sáng đến chiều không phân thắng bại, lúc ấy mới chịu hòa, hài nhi ăn học ở đây cho đến ngày sự phụ Hà Vang Lâu bảo “Hôm nay hài nhi xuống núi tìm cho được họ Hoàng mới trở về, bằng không đừng trở lại” nhân dịp xuống núi sư phụ bảo “Hài nhi xuống suối lấy năm mươi lượng vàng làm lộ phí, sư phụ tặng hài nhi, nếu biết sử dụng nó thì thành công, bằng không sẽ vô dụng” lúc ra đi hài nhi có hai ý định tìm gia gia và người họ Hoàng nhưng tuyệt vọng, về núi cũng không được sống nay đây mai đó vô gia cư.

Ngày nọ gặp cướp, hài nhi phải bảo vệ số vàng, một đánh đến ba mươi, tình cờ có ba người trẻ cùng trang lứa nhảy vào trợ lực, ba mươi tên cướp chết hơn nửa, cướp thua bỏ chạy. Tàn cuộc hài nhi mới tâm sự hoàn cảnh, sau đó được ba người Nguyễn Tào Đang, Lê Đạt, Võ Thu Hồ kết nghĩa huynh đệ, rồi lấy số vàng đó tụ nghĩa giang hồ Giao Chỉ, Nhật Nam, Cửu Chân rất thành công. Ngày nọ đụng độ với lực lượng Hoàng Đức rất mạnh họ chủ trương “Hợp Việt Xuất Hán” họ không đánh huynh đệ hài nhi, họ chỉ thuyết phục, cuối cùng huynh đệ hài nhi đồng thuận hợp thành một mối, sư phụ của Hoàng Đức chính là Hoàng Phi ngày nay, ông sư phụ này rất trẻ võ học phi thường, chính sư phụ Hà Vạng Lâu cũng được người chỉ điểm võ học, đặc biệt không ai biết sư tổ của sư phụ là ai! Khi hài nhi gia nhập Hoàng Đức mới tìm được ông họ Hoàng chính là Hoàng Chỉnh gia gia của sư phụ ở hải ngoại Giang Tô, hiện nay đã về ở Cửu Chân. Trần Bạch Phương thương con cảm động, cười ra nước mắt cho cuộc đời này lắm gian truân:

— Có lẽ cả nhà Đào-Trần thăng trầm đến đây là hết, mưa đã tạnh trời khô nắng tốt, cây cỏ phải vươn mình lên thôi.

Hoàng Phi về đến động Lạc Việt còn sớm, ra thung lũng dùng quyền đánh vào bích núi lấy một tảng đá lớn lấp lại phần trong cửa dưới suối, từ đây chỉ một mình Hoàng Phi mới có khả năng ra vào động, tuy vậy chưa an tâm, chàng lập đồ trận “Bao thành phủ pháp” cả trong lẫn ngoài động. Từ đó dãy núi Thất Long không còn thấy ngọn Vân Sơn Đài, Hoàng Phi hướng dẫn bầy hạc ra vào động Lạc Việt mà không bị cản trở bỏi đồ trận hạc tự do sống trong động, không ai biết hạc sống ở đâu cũng như từ hướng nào bay đi!

Mười ngày Cần Lĩnh Nam sinh hoạt trong động không nghe một tiếng hạc, đúng là bầy hạc cũng biết cắm trại ở luôn trên ngọn núi cửa Tây và Nam, lúc này bầy hạc xuống thung lũng sinh hoạt bình thường.

Hoàng Phi tiếp tục đào sâu ba đáy suối cửa Tây, cửa Nam và suối Tây-Nam, bỏ chà cây cho cá trú mát cũng để cá sinh đẻ, cùng lúc chàng làm lỗ thông nước rất nhỏ chỉ vừa để cá lớn chui lủi vào trong mà không ra được, ngoài ra chàng còn gieo hạt trồng cây ăn trái đa niên như Lê, Xoài, Đu đủ, Chuối, Cam, Mận, Dâu, Chôm chôm, Ổi, Vải và một Lê hoắc khác, đây là lương thực xanh cho hạc ăn.

Không bao lâu nữa thung lũng của động Lạc Việt trở thành vườn cây ăn trái. Hoàng Phi dạy bầy hạc vào động lấy lương thực khô, công việc trong động xem như bí mật hoàn chỉnh, không một ai vào được trong động. Hoàng Phi trở về Cửu Chân thăm gia đình và đi Trường Sa.

            Cả nhà Đào-Trần đoàn tụ sinh hoạt trong động Nam Khê Sơn trở nên náo nhiệt hơn, không còn màu u ám như xưa, ai cũng miệt mài với võ nghiệp. Trần Bình Thành ngoài giờ luyện võ còn phải thay sư phụ trông nom Đào Phụng Anh Tuấn, Đào Trần Mẫn Trâm. Cũng chính trong động này Trần Bình Thành được họ Đào trao bí quyết bắn cung Sam, loại cung này quan trọng nhất là ở phần đầu mũi tên có gắn đuôi con Sam, khi bắn trúng người hay vật thì chết trăm phần không thuốc nào chữa được.

Họ Đào cũng truyền bí quyết bắt con San ở biển, đem về nhà lấy phần đuôi làm vũ khí, rất lợi hại khi sử dụng mũi tên Sam vào trường hợp nguy biến, họ Đào xem mũi tên Sam là bùa hộ mạnh, họ Đào tự hào đã có đến hai truyền nhân. Trần Bình Thành luyện cung Sam chỉ tam nhật đã bắn chính xác, còn chuẩn hơn họ Đào.

Trần Bình Thành ở trong động lâu ngày đôi lúc cũng nhớ đến sư phụ trẻ tâm hồn thảnh thơi, lòng bao dung, đời sống dày dạn gió sương, hào hiệp với tha nhân, mưu trí sĩ dũng hơn người, bầu nhiệt huyết đối với tôn tộc Bách Việt phi thường, còn hơn cả sư Tổ Hoàng Hạc. Trần Bình Thành, xin gia gia đi thăm sư phụ:

— Thưa gia gia cho phép hài nhi đi thăm sư phụ. Trần Bạch Phương ngạc nhiên hỏi:

— Ủa, sư phụ của hài nhi ở xa lắm mà, như vậy hài nhi bao giờ về động ?

— Thưa gia gia sư phụ ở không xa lắm gần trấn Giang Phả. Trần Bạch Phương vui mừng:

— Thế thì Đào-Trần đi cùng hài nhi được không ? gia gia cũng nhớ sư phụ hài nhi lắm.

— Thưa gia gia như vậy cùng đi cũng được. Ba người song hành lên đường đến thị trấn Giang Phả, rồi đi theo đường rừng vào dãy Thất Long, đi mãi chỉ thấy suối mà không thấy ngọn Vân Sơn Đài. Trần Bạch Phương cũng không thấy ngọn Vân Sơn Đài, ông hỏi:

— Hài nhi có nhớ đường vào Vân Sơn Đài không ?

— Dạ, thưa gia gia chính con đường này hài nhi và cửu huynh đệ Cần Lĩnh Nam đã đi qua mà! Ba người vòng quanh hết dãy núi Thất Long gần một ngày, cuối cùng không tìm được phải đi về lại động Nam Khê Sơn. Trong lòng Trần Bình Thành cho rằng mình không am tường địa lý cho nên tìm không ra, còn lão Đào đã từng biết Thất Long có ngọn Vân Sơn Đài nhưng lâu lắm không đi qua đây, lão Đào nghĩ rằng:

— Có lẽ ngọn Vân Sơn Đài đã bị động đất từ lâu, cho nên chỉ còn trụ dãy Thất Long. Mọi ngưới về đến động xem như nhớ nhung Hoàng Phi mà lòng chỉ mong đến ngày hội ngộ. Sáng hôm sau có một con hạc của Hoàng Phi đem thư đến báo tin:

— Đệ tử Trần Bình Thành thân. Sư phụ nhờ đệ tử lập lại “Tiểu Hóa Bang” và lấy nhân tâm thu phục đảng cướp Đường Tứ Khải nếu họ chống lại thì không tha thứ, thẳng tay tiêu diệt, lấy thủ cấp những kẻ trước đây phản thúc thúc Đào Phụng Hòa. Khi thành công đệ tử đuổi cổ đảng cướp Đường Tứ Khải rồi thành lập chi “Cần Lĩnh Nam, Nam Tông” còn Tiểu Hóa Bang do thúc thúc Đào Phụng Hòa quản trị. Ký tên Hoàng Phi.

Trần Bình Thành tiếp nhận được thư này, cả nhà bàn thảo, cuối cùng quyết định Đào Phụng Hòa cùng Trần Bình Thành đi thảo phạt. Vào lúc chín giờ sáng Trần Bình Thành, Đào Phụng Hòa đi thẳng vào Tiểu Hóa Bang đụng mặt Giang Bá kẻ phản nghịch nay lên làm bang trưởng, Đào Phụng Hòa chào:

— Mỗ xin chào bang trưởng, thế nào khỏe chứ, độ này làm ăn thế nào?. Giang Bá rất ngạc nhiên tự hỏi, Sao hôm nay hắn mới xuất hiện có lẽ muốn lấy lại Tiểu Hóa Bang ư:

— Mi đến đây để xin ăn phải không, hay là xin thuốc để chữa bệnh ám khí “Thu xa quỳnh” và “Thu xa châu” vừa nói đến đây ngũ tướng phó bang của Giang Báo phi thân ra thị oai.

Trần Bình Thành xuất chiêu sáu mảnh da bò bay ra, cả sáu lăn cù xuống đất. Từ phòng bên cạnh phi thân ra bốn người, cũng bị bốn mảnh da bò bay tới, cả đồng bọn lăn xuống đất, tất cả người trong nhà hơn trăm người vừa thấy Đào Phụng Hòa là quì xuống kẻ khóc người van xin tha tội, người thì mừng vui gặp lại chủ cũ. Đào Phụng Hòa ra lệnh trói mười tên “nuôi ong tay áo” đem ra sân hành quyết, còn những người theo phe Giang Báo mời đứng bên tay trái, tổng cộng sáu người. Đào Phụng Hòa, hỏi:

— Còn ai nữa không, nếu không ra thì đừng trách tại hạ, Mã Phục Khánh bước ra, một lần nữa còn ai không, Đinh Chi bước ra. Ai là người chế ra ám khí “Thu xa quỳnh” “Thu xa châu” và thuốc giải “Linh cù” cất ở đâu ? Đinh Chi khúm núm, nói:

— Thưa bang chủ, chính tiểu tử và Mã Phục Khánh chế ám khí “Thu xa quỳnh” “Thu xa châu” và thuốc giải “Linh cù” hiện có mười hai hộp ám khí màu xám, thuốc giải hai hộp màu vàng, cất trong hộc bàn của Giang Báo. Đào Phụng Hòa hỏi tiếp :

— Hai mi đã truyền ám khí này cho ai ? Mã Phục Khánh, thưa :

— Thưa bang chủ, ám khí này chỉ truyền cho bang chủ Đường Tứ Khải, Đào Phụng Hòa xen lời hỏi:

— Tốt lắng mỗ khen mi, hiện hay trong Tiểu Hòa Bang có bao nhiêu người bị phải ám khí của mi ?

— Thưa bang chủ, hầu hết đều bị cả và đảng chúng của Đường Tứ Khải cũng như vậy. Đào Phụng Hòa mắt trợn lên, gằn mạnh:

— Như thế là chế phục được tất cả mọi người, rồi phải không ?

— Thưa bang chủ đúng như vậy. Trần Bình Thành bảo:

— Mã Phục Khánh và Đinh Chi đến bàn lấy ám khí và thuốc giải ra để trên bàn này cho mỗ xem. Mã Phục Khánh, Đinh Chi vâng lời đi lấy, như được dịp để phản công, liền phóng “Thu xa quỳnh” “Thu xa châu” vào mình của Trần Bình Thành, Đào Phụng Hòa.

Thực ra Trần Bình Thành tìm độc chiêu của giới giang hồ, một lối gài bẫy dụ địch đễ có cớ chính đáng tiêu diệt đối phương, ám khi chưa kịp xuất từ trên tay của hai kẻ ác đã bị Trần Bình Thành búng hai luồng gió điểm vào “hầu huyệt” bốn cánh tay xụi lơ, trên tay còn cầm “Thu xa quỳnh” và “Thu xa châu” Trần Bình Thành khen:

— Hai mi khá lắm, tuy bốn bàn tay đã xụi lơ nhưng vẫn còn mở được hộc bàn lấy ám khí và thuốc giải kia mà mau lên, lần này hai tên Mã Phục Khánh và Đinh Chi thực sự nghe theo mệnh lệnh, lấy ra để trên bàn. Trần Bình Thành mời:

— Tại hạ mời tất cả quí huynh tỷ bị trúng “Thu xa quỳnh” và “Thu xa châu” đến đây nhận thuốc giải, mời Đinh Chi giải hộ cho, tổng cộng trên trăm người được giải độc, đồng đa tạ bang chủ Đào Phụng Hòa. Trần Bình Thành, an ủi :

— Tuy chất độc đã hết nhưng trong người rất là uể oải, không được hăng hái lắm, mỗ mạo muội búng vào mỗi huynh tỷ một viên “Chu dược sa” thì lấy lại toàn lực như xưa.

Chưa đầy hai khắc ai cũng thấy bình phục như lời của Trần Bình Thành nói, bang chúng đồng quì xuống tạ ân sư, từ đây mạng sống chúng đệ giao hết cho bang chủ tùy nghi sử dụng. Đào Phụng Hòa ra lệnh:

— Đem “Thu xa quỳnh” và “Thu xa châu” bỏ vào thùng cây đốt hết chỉ để lại thuốc giải “Linh cù” nhân đây đem Mã Phục Khánh, Đinh Chi cùng sáu người đồng đảng đem ra hành quyết. Đào Phụng Hòa ra lệnh :

— Tấn công vào sào huyệt của Đường Tứ Khải, Đào Phụng Hòa bắt được đảng trưởng Châu Tri Tham, hai đảng phó Trịnh Cương, Đỗ Mạch Đang, cùng mười tên từng kết nghĩa với Đào Phụng Hòa, đem ra pháp trường hành quyết.

Bảy ngày sau hạc báo tin cho Hoàng Phi biết, đã lập lại được Tiểu Hóa Bang hiện nay do Đào Phụng Hòa tiếp tục quản lý có trên trăm người bang chúng sống an vui, còn những kẻ phản phúc mười tám người đem ra hành quyết, còn Đường Tứ Khải do Đào Phụng Tiên, Trần Bạch Phương chưởng quản trên năm trăm người, tiêu diệt trưởng đảng đến phó đảng mười ba người. Đào Phụng Tiên, Trần Bạch Phương, khai tử đảng trộm cướp của Đường tứ Khải chuyển đổi tên mới Thương Nhân Bang. Họ Đào-Trần lấy hoàn chánh nguyện đem thân còn lại phục vụ đời sống cho dân thịnh vượng. Toàn Thương Nhân Bang trở lại ổn định mở ra những khu chợ kinh doanh, huấn luyện bang chúng thành người hữu dụng. Trần Bình Thành về động Nam Khê Sơn.

Hồi 10

Mấy Phen Điểm Xuyết Sơn Hà

Huỳnh Tâm - Anh Hùng Nam Việt