Hùng “móm”

Đt l sông bi:

Thứ Bảy vừa qua là ngày giỗ Hùng. Tính ra, năm 1972, năm Hùng qua đời, đến nay là 47 năm, gần nửa thế kỷ. Còn 3 năm nữa là đúng nửa thế kỷ. Nửa thế kỷ, một kiếp người lính đã khuất.

            Sau khi Hùng tử trận thì vợ Hùng tái giá – Điều đó dễ hiểu, cũng không ai trách cứ gì đâu. Cô ta còn trẻ, cũng chẳng có con cái chi với chồng, và cũng cần đi tìm tương lại. Phong tục như ngày xưa, người vợ cũng chỉ để tang chồng 3 năm là coi như xong. Huống chi đời bây giờ, xã hội “văn minh, cởi mở” hơn; đâu còn ràng buộc người còn lại như xã hội cổ hủ ngày xưa.

            Vả lại, trước khi qua đời, vợ chồng Hùng không còn sống chung vì lý do nào đó mà tôi không tìm hiểu – đời của Hùng mà – Có một lần tôi nói: “Coi lại thì cũng tội nghiệp cho nhà bác Cơ – tên ba vợ Hùng. Con trai lớn thì tử trận, con gái lớn chồng bỏ. Gia đình gặp nhiều chuyện không vui.” Con trai lớn là anh Đỗ Cơ Danh, khóa 20 Võ Bị, cố đại úy Biệt Động Quân, tử trận ở Rừng Sát, sau khi Chiếu Ánh – tên vợ Hùng lấy chồng chưa được một năm.

            Điều đáng buồn là sau khi đến Mỹ một thời gian, anh Tố, một người bạn của Hùng hồi còn học ở Võ Bị, báo cho tôi biết vợ cũ của Hùng cũng đã đến định cư tại thành phố tôi đang ở. Tôi cùng vợ tôi tìm thăm. Được ít lâu, nhân dịp giỗ Hùng, chúng tôi có mời Chiếu Ánh tới dự. Cô ta không tới và lơ là mỗi khi chúng tôi cố giữ mối quan hệ. Nhà tôi ngạc nhiên lắm, mà tôi cũng không hiểu lý do.

            Trước khi mất, Hùng có một “em gái hậu phương”. Chi –tên cô ta – cũng có về Huế dự đám tang Hùng, bụng mang bầu. Sau đó, chị Tư tôi đem Chi về nuôi, lo cho Chi đến ngày sinh xong một bé gái. Châu, con gái lớn chị Tư tôi đặt tên bé gái mới sinh là Cathy. Rồi Chi cũng đi lấy chồng. Sau 1975, đời sống khó khăn, mối quan hệ gia tộc cũng phai nhạt dần. Khi tôi đi tù cải tạo về thì coi như anh chị em mỗi người một ngã. Tôi với nhà tôi có đi thăm Chiếu Ánh, Chi nhưng mối quan hệ không thường xuyên và cũng không bền. Đời thật đáng buồn!

            Mấy năm tôi ở trong tù, chị Tư tôi lo giỗ cho Hùng. Lo giỗ có nghĩa là nhờ chùa làm một lễ cầu siêu, với chùa làm một mâm cơm chay cúng cho người quá cố. Vậy thôi, khó khăn của cuộc sống không cho phép chị Tư tôi làm hơn được gì.   

            Mấy năm nay, tôi lo việc kỵ giỗ cho người chết: cha mẹ anh em… cẩn trọng hơn, cũng như tôi lo giỗ cho nhà tôi vậy. Lễ giỗ tổ chức tại nhà, mời thân nhân hay bạn bè tới dự, theo đúng phong tục cổ truyền của người Việt Nam.

            Ngày giỗ Hùng vừa rồi nhằm ngày Thứ Bảy. Mấy hôm trước đó, tôi đã dặn con gái lớn lo chuẩn bị cúng quảy cho Hùng. Vậy mà tối Thứ Sáu, lúc 3 gìờ sáng, tỉnh giấc, tôi không ngủ lại được. Thương thân mình cô đơn trong gian nhà vắng thì không, nhưng thương cha, nhớ mẹ, anh chị, thương vợ, thương những người trong gia dình đã quá vãng thì nhiều lắm. Vì là ngày giỗ Hùng nên thương Hùng nhiều nhứt, nhớ những kỷ niệm anh em với nhau thời thơ ấu, thời niên thiếu, nói sao cho hết.

            Nhớ những kỷ niệm với Hùng là nhớ sông Thạch Hãn, sông Thạch Hãn về mùa Hè chớ mùa Đông, gió Bấc lạnh lùng thì có gì vui đâu.

            Năm 1972, khi tái chiếm cổ thành Quảng Trị, Hùng tình nguyện đi đầu. Hùng nói với cấp chỉ huy: “Tui tắm sông Thạch Hãn từ lúc ba tuổi, biết từng cục đất, cục đá. Cho tui đi tiên phong.”

            Nói như thế là Hùng nói thật đấy. Sông Thạch Hãn là của Hùng, hay Hùng là của sông Thạch Hãn cũng vậy thôi. Mùa Hè, sông cạn xợt, chúng tôi lội qua bên kia sông – làng ngoại tôi – để vui chơi là việc rất thường, gần như hằng ngày. Đến mùa lũ, nước sông lên cao và chảy xiết, mới hết lội qua sông. Các bãi cát hai bên sông là “sân bóng đá” của bọn Hùng – Hùng và các bạn – từ khi đá chân đất, banh bưởi, cho đến khi lớn lên, có giày và bóng da như người lớn.

            Từ thế hệ nầy qua thế hệ khác, nghĩa là từ thế hệ tôi cho đến bọn Hùng và các lớp sau nữa, không thiếu ai thường ra nằm trên những bãi cỏ bên bờ sông, để nghe hàng dương liễu bên bờ sông réo rắt triền miên những lời kêu gọi đi xa từ dãy Trường Sơn ngóng về hay biển Đông Hải nhắc lại. 

             Vậy rồi chúng tôi, trai cũng như gái, lần lượt bỏ quê hương mà đi hết. Cái sân ga nhỏ bé của thành phố Quảng Trị thành nơi đưa tiễn những đứa đi tuốt về phương Nam. Có đứa trở về và cũng nhiều đứa không về. Còn như Hùng thì về đấy. Năm 1972, Hùng về cùng Tiểu Đoàn 11 Dù của Hùng, và Hùng hy sinh tại đó, cách cái ga xe lửa, nơi Hùng chia tay cùng bạn bè ngày trước chưa đầy hai trăm mét.

            Bởi Mùa Hè Quảng Trị và tuổi trẻ của anh em chúng tôi, cùng bạn bè nên nhiều khi tôi đau lòng mà nghe “Đưa em vào hạ”:

            “Quê hương đau, nắng Hạ cũng buồn,

Nước sông ngăn đôi sơn hà,

Còn gì em? Còn gì đâu?!

Mùa Hạ qua mau!

Đi nữa đi anh!

Chỉ còn quê hương mịt mùng!

            Và còn tôi ở đây, mỗi năm làm giỗ cho Hùng và nhớ về Thạch Hãn, dòng sông lịch sử đau thương của Dân Tộc và quê hương thời thơ ấu của chúng tôi.

&

Trong “Mùa Hè Đỏ Lửa”, Phan Nhật Nam viết về Hùng “móm” như sau:

“Mầy đến ga, tiễn em đi được thì tao sau nầy mở sâm banh. Mễ dặn Hùng “móm” một lần chót trước khi “Thằng Quảng Trị” kéo quân đi. “Móm” dẫn “lùn” (Trinh ĐĐT 112) lên ga tiễn em;  em thứ dữ, em răng đen mã tấu, em đeo corset bằng đạn AK, em xách ví lựu đạn, …  “em” là đứa cháu cuối cùng của Bác: Sư Đoàn 325 Tổng trừ bị quân đội Nhân dân!

            Hùng gan dạ nhưng rất cẩn thận, đợi đêm men theo đường rầy xe lửa để đến ga tiễn “em”. Nhưng chẳng em nào muốn đi, em đòi ở lại, em bám đầy đường như hàu bám vào ghè đá. Hùng và Trinh cứ thay phiên nhau “tiếp” em. Đoạn đường xe lửa dài không quá 500 thước cặp Hùng Trinh phải “bò” mất 5 ngày, đúng ra là 5 đêm, Hùng dẫn đầu vừa đánh vừa chỉ chỏ – Cái ngã ba xa xa đó là đường Trần Hưng Đạo, đường đó đi vô chợ Quảng Trị, chỗ đó có cái nhà thương… chắc giờ nầy thành nhà “ghét” rồi, tụi nó thế nào cũng tử thủ chỗ đó… Mẹ cha hắn, nó đau “lậu” đâu mà nằm nhà thương kỹ rứa!”

            Hùng chưởi một câu thật buồn cười sau khi suốt ngày 11 cứ tìm cách vào “lấy thuốc đỏ”nhưng không được… Từ hăng hái vui vẻ của những ngày đầu trên đường về nhà, bỗng nhiên Hùng đổi tánh, la mắng lính như tát nước vào mặt… “Muốn chết phải không? Tại sao mi không đào hầm? Tao đánh cho mi chết hơn để Việt Cộng bắn vở sọ mi…!!!”

            Hùng nói những câu không bao giờ nói, Hùng đổi tánh một cách đáng ngại và thất thường… Điềm đi khuất! Chiến tranh thường có những sự kiện lạ như thế, người biết mình sắp chết và đổi tánh, biết mình sắp chết nên trối trăn. Hùng gọi máy nói chuyện với Liệu (y sĩ Tiểu đoàn) – Lấy được khẩu 54 nào thì tôi cho ông… Liệu ơi! Sao moa nhớ mẹ moa quá, hôm ở Charlie về có được mấy ngày phép lại không đi thăm bà… Hết cuộc hành quân nầy moa xin Mê Linh (Tiểu đoàn trưởng) vài ngày để đi Đà Nẵng… Còn 300 thước nữa là moa thấy cái nhà ở lúc nhỏ, vì thế cứ nhớ bà già!! Thảm thương chưa! Con chim kêu tiếng bi ai trước khi chết, con người linh thiêng hơn biết tìm chốn quê hương để về… Ngày 14 tháng 7 Hùng chết, chết cách sân ga 100 thước nơi thuở xưa Hùng đã nhiều lần đứng nhìn con tàu nám đen từ miền Nam đến để mơ ước chuyến đi xa. Hùng đã đi xa, đi quá xa đến cuối trời miền Nam, Hùng đã đến hang sâu, núi thẳm của miền Trung và bây giờ Hùng trở về. Người tuổi trẻ đi hết đoạn đường khổ nạn của quê hương yêu quí và trở về chết tại nhà xưa…”

Ngày thứ Bảy, tôi trốn phép từ Gò Công về Saigon thăm vợ con. Tới nhà, vợ tôi đi làm chưa về. Thằng con trai độc nhứt, mới sáu tuổi, còn nói ngọng, đứng chơi trên ghế xalông, thấy tôi nói ngay: “Chú (Gùng) chết dồi!” Tôi hỏi liền, vì con sợ con nít nghe sai: “Ai nói?” “Xím Ánh”. Thằng bé trả lời. Ánh là vợ Hùng. Thằng bé nói vậy là chắc rồi. Tôi ngồi xuống ghế, bưng mặt khóc thành tiếng hu hu. Từ khi khôn lớn đến giờ, tôi chưa bao giờ khóc thành tiếng. Đó là lần thứ nhứt.

Nhà tôi có 8 anh chị em. Đã có hai người chết trong cuộc chiến tranh trước: Chị cả chết năm 1947 khi đang tản cư. Cậu (ba tôi) qua đời ở chiến khu Ba Lòng năm 1948, anh cả bị Tây thủ tiêu năm 1949, khi ông mới 21 tuổi. Ba năm liên tiếp, mẹ tôi chịu ba cái tang liền nhau. Phải là người bản lĩnh lắm mẹ tôi vượt qua được ba cái tang đau đớn như thế! Và nay, năm 1972, tới Hùng, em út, mới 28 tuổi.

Anh em đông, mồ côi cha sớm, – hồi đó Hùng mới 5 tuổi -, con nhà nghèo, anh chị em chúng tôi quây quần dưới sự chăm sóc nuôi nấng của mẹ nên thương nhau lắm. Nghe tin Hùng chết có lẽ mẹ tôi rất đau khổ! Hùng là con út, con út không những được mẹ mà các anh chị đều cưng.

Hùng sinh năm 1942, tuổi Nhâm Ngọ. Mẹ tôi nói: “Nam nhâm nữ quí. Con trai sinh vào năm nhâm là tốt.” Không biết tốt như thế nào nhưng khi Hùng còn nhỏ, cả nhà biết Hùng “xạo”. Trước 1945, khoảng 2 tuổi, tối tối nằm với mẹ trong sân nhà, nghe ngoài đường người ta rao hàng, Hùng đòi ăn, nói là bệnh, trán nóng, để được ăn. Mẹ tôi biết tẩy nó, thường đùa: “Mua chè cho em ăn. Trán em nóng như nước lạnh.”  Ai cũng cười.

Những năm tản cư, tôi chỉ nhớ mỗi một kỷ niệm về Hùng – Trong gia đình, không ai gọi nó là Hùng móm, vì móm là nói nó giống mẹ – Khi gia đình tôi chạy giặc từ Vĩnh Linh về Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, tạm trú tại làng An Mỹ, cả gia đình ai cũng bị sốt rét, trừ ông anh cả. Sốt rét ngã nước, ngày một cử, lên cơn sốt thì lạnh lắm, đắp mấy cái mền (chăn) vẫn run. Người bệnh rên hừ hừ. Mỗi lần lên cơn sốt, Hùng rên nghe như tiếng chó con kêu. Ai cũng thương!

Năm 1948, hồi cư, niên khóa đầu 1948-49, Hùng còn được ở nhà với mẹ, chưa đi học. Là con út, Hùng thường được và tất cả anh chị em trong nhà cưng, nên anh ta cứ hay vòi vỉnh và hay khóc. Mẹ tôi mắng, con trai hay khóc là xấu lắm, và dạy con bằng câu tục ngữ: “Trai gì trai ốc trai rêu, trai nổi bâp bều cũng gọi là trai.” Lớn lên một chút, Hùng không bao giờ khóc. Cũng có thể nhờ đó sau nầy lớn lên, Hùng có tính tình cứng cỏi. Cũng từ đó, tuy anh em ở chung nhà, – ngoại trừ người anh cả đã qua đời -, ba anh em còn lại, anh Lợi tôi, hơn tôi hai tuổi, chơi đùa với tôi, một cặp, vừa anh em, vừa bạn học cùng trường. Hùng thua tôi những 6 tuổi, không chơi chung với nhau được. Nó thuộc về một thế giới khác.

Năm 1954, tôi đã trốn nhà đi học xa, lâu lâu về thăm nhà, anh em lại xa nhau hơn. Buổi tối, nằm ngủ bên nhau, chúng tôi không có gì để chuyện trò. Vả lại, hình như Hùng có cái gì riêng tư, cái tôi cho là “thế giới tưởng tượng” của Hùng. Nằm bên tôi, Hùng thường nói thầm một mình, nói cả tiếng đồng hồ, rồi cả hai anh em ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Sáng hôm sau dậy, tôi quên mất chuyện đêm trước. Vả có nhớ, cũng không bao giờ tôi hỏi chuyện nó nói gì suốt cả tối hôm qua.

Nay thì Hùng vĩnh viễn đi vào cái thế giới tưởng tượng của Hùng. Có lẽ cái thế giới đó vui vẻ lắm. Nếu không thì tại sao đêm nào nằm bên tôi Hùng cứ nói lầm thầm về những câu chuyện gì của nó mà nói một cách say mê cho đến khi ngủ quên. Biết đâu cái thế giới tưởng tượng của Hùng chính là niềm hạnh phúc của chính nó. Hạnh phúc đó dễ tan biến khi Hùng tỉnh dậy. Nhưng bây giờ, khi Hùng không còn tỉnh dậy nữa, thì Hùng sẽ được muôn đời sống trong cái thế giới hạnh phúc tưởng tượng của mình. Dù là điều tưởng tượng, ai không cho rằng đó cũng là hạnh phúc của riêng ta?

Ít khi Hùng kể tôi nghe chuyện nó học hành ở trường. Vả, nghỉ hè, dạy hè cho Hùng, tôi vẫn thường chê Hùng học dốt, thường bị tôi phạt quì cùng với chị kế của nó. Suốt cả mấy năm tiểu học, và mấy năm đầu trung học, Hùng chỉ kể cho tôi nghe có mỗi một chuyện vui. Năm lớp Ba, cả đám chúng nó, Hùng, Phạm Văn Tuấn – em chị Liễu -, Lê Văn Chính – tức nhà thơ Lê Mai Lĩnh, hiện ở Texas – Nguyễn Quảng, và Lê Thọ Giáo, giáo sư, hiện ở Boston – học với thầy Võ Lộc. Thầy Võ Lộc cũng là thầy giáo lớp Ba của tôi khi gia đình tôi mới hồi cư. Thầy hay đánh học trò nên bọn chúng sợ lắm, nhiều đứa sợ đái ra quần, trong đó có Phạm Văn Tuấn. Vì vậy, có lần nhắc tới Tuấn, chơi với Hùng rất thân – như hồi xưa tôi với Phạm Hữu Nhân, anh của Tuấn vậy – Hùng nhắc tới chuyện Tuấn đái trong quần mà cười.

Hùng không thi vào được Nguyễn Hoàng, phải học trường Bồ Đề Quảng Trị. Trước khi Hùng vào lớp Đệ Tứ niên khóa 1958-59, tôi nói với ông anh tôi đang ở Huế: “Cho nó vào Huế học đi, học ở đây không cách chi đậu trung học.” Tới lúc đó mẹ tôi mới chịu cho cậu út đi học xa. Trước khi nhập học, tôi nói với Hùng: “Cần học toán cho giỏi. Về hình học, mày phải học lại các bài đường song song, tam giác bằng nhau, tam giác đồng dạng. Năm tới học hình học không gian. Về đại số phải biết giải phương trình bậc nhứt, hệ thống phương trình. Năm tới học phương trình bậc hai. “Toán nhà lầu” không cần thiết, rảnh làm chơi. Cái chi không biết thì hỏi tau. Mấy năm trước tau học băng, có ai dạy cho tau đâu! Mày có tau là may!” Không biết nhờ thông minh hay vì tự ái, sợ tôi “chưởi” là ngu, – Hùng có hỏi bạn bè không thì tôi không biết – nhưng chẳng bao giờ hỏi tôi. Gặp môi trường thầy hay bạn giỏi, năm đó Hùng nổi tiếng học giỏi, đậu trung học một cách dễ dàng. “Đi thi như đi chơi.” Hùng khoe vậy!

Năm sau Hùng vào Đệ Tam Quốc Học là năm khó khăn cho tôi. Mấy năm trước vào học ở Huế, tôi làm précepteur, là giáo tại gia. Cơm ăn và nơi ở, gia chủ lo, tôi chỉ lo gõ đầu mấy đứa con nít học cho giỏi. Năm nay, tôi vừa đi học, vừa đi dạy, lại cõng thêm Hùng: Tiền nhà, tiền cơm tháng hai anh em, tiền áo quần, tiền xe… một mình tôi lo hết. Tôi lại còn ham chơi với với bạn học, bạn đồng nghiệp, sáng càphê, bún bò, vài buổi chiều đi ăn cơm gà. Thiệt là gay! Cuộc sống phải như vậy, không tránh được. Thành ra, ngày ngày tôi đi suốt, có khi đêm không về, chủ nhựt thứ bảy cũng có khi không về, Hùng thui thủi một mình ở nhà trọ, có khi Hùng khóc thầm. Có lẽ đó là năm buồn nhứt trong đời học trò của Hùng. Dù vậy, Hùng vẫn học giỏi và nổi tiếng giữ “gôn” hay của đội bóng trường Quốc Học. Hồi ấy, không ai gọi nó là Hùng “móm”. Bạn bè và giới thể thao gọi là “Hùng gardien” hay Hùng giữ “gôn”. Hùng đi thi tú tài 1 cũng “dễ như đi chơi.”

Năm sau, lớp Đệ Nhứt, bắt đầu sinh chuyện.

Vì giữ “gôn” giỏi, Hùng có một lô bạn: Bạn học, bạn đá bóng như Văn, Triệt, Hóa (Mai Văn Hóa, thủ khoa khóa 21 Võ Bị, tử trận ở Quảng Ngãi)… và “fan” của nó, thân thiết nhứt là Nguyễn Đức Định, sau ra đại học sư phạm, và Trần Viết Anh, sau ra dược sĩ. Tôi gọi đó là bộ ba “tướng sĩ tượng” không mấy khi thấy chúng nó rời nhau, nhứt là mỗi khi có trận đấu. Hùng chơi thể thao, người nở nang; giống cha mẹ, người cao hơn trung bình. Định và Anh nhỏ con hơn, không chơi thể thao. Có lần Định nói với tôi: “Trận nào thằng Hùng giữ “gôn”, cũng có em theo. Nó bay đẹp lắm!” Tôi đùa: “Ông đi theo giữ áo quần chớ gì?” Định toét miệng cười vui. Sau đó, không có Định, Hùng cự nự tôi: “Anh nói vậy nó tự ái!” Tôi cải bướng: “Bạn mày thì mày bênh. Nó có phải bạn tao đâu!”

Năm Hùng học Đệ Nhứt, vợ chồng tôi thuê hai căn phòng ở nhà sau của ông Jean Durand, đối diện Ciné Morin. Một phòng vợ chồng tôi và một phòng cho Hùng. Nửa đêm, tôi nghe tiếng người rên ư ử, ngâm thơ nghêu ngao phía ghế đá sát hàng rào mặt tiền. Tưởng là người điên đột nhập vào nhà, tôi qua phòng Hùng, có người bạn tôi là Nguyễn Văn Đáo ngủ lại bên đó, gọi Đáo dậy cùng ra với tôi xem thử chuyện gì. Đáo cầm cây then gài cửa, tôi đi sau. Tới nơi thì thấy cả Hùng và Định, không đứa nào ngồi trên ghế đá, mà nằm lăn trên con đường tráng xi măng đi lui nhà sau. Hùng ngủ say, không biết gì hết. Định thì lảm nhảm đọc thơ, đọc rất to như người điên. Đáo nói: “Trời ơi! Hai thằng em… trời đánh.” Chúng tôi khiêng chúng vào nhà. Người Định nhẹ, khiêng tương đối dễ. Hùng lớn con, nặng quá, khiêng không nỗi, bèn kéo lê mà đi. Bên cạnh ghế đá, cái chai xa xị trộn rượu đế còn một ít. Thứ nầy uống say lắm. Có lẽ hai đứa uống chưa hết thì đã say ngoắt cần câu!

Hôm sau, đi dạy về, vợ tôi nói: “Hùng về Quảng Trị rồi!” Tôi ngạc nhiên: “Đang đi học mà!” Vợ tôi trả lời: “Hùng thôi học!” Tôi nghe như tiếng sét đánh. Mẹ tôi rất coi trọng việc học của con cái, dù nhà nghèo, vẫn cố lo cho con cái học tới nơi tới chốn. Vậy mà Hùng, thằng út, mối hy vọng lớn nhứt của gia đình, lại bỏ học ngang xương. Năm tôi mới cưới vợ, vợ chồng tôi và Hùng đang ở chung tại đây, bỗng Hùng nói với chị nó, chị nó nói với mẹ tôi: “Ở chung với hai vợ chồng anh Hải bực mình!” Vậy là tôi vội cho vợ về Quảng Trị ở với mẹ tôi để tiện cho Hùng học hành. Thậm chí, bạn đồng nghiệp của tôi ai cũng biết rằng tôi coi trọng việc học của Hùng lắm, nên mỗi khi gặp Hùng, ai cũng hết sức tử tế, vui vẻ, giúp những gì Hùng cần. Vậy mà bây giờ nó bỏ học. Động trời! Quả là tin động trời! Một lúc, vợ tôi nói: “Hùng có để lại cái thư cho anh trên bàn.” Tôi liền mở ra xem. Thư xin lỗi. Hùng đã không làm tôi vừa lòng. Cả trăm cái thư như vậy cũng chẳng an ủi được tôi!

Tối hôm đó, tôi vào thành nội tìm nhà Định hỏi cho ra cớ sự. Té ra, mấy cậu quậy quá!

Gần tết, Định lấy một cái pháo, gắn dưới gầm bàn thầy giáo, gác ngang tim pháo một cây hương (nhang), dự tính cây hương cháy dần dần, vào tới tim, tim bắt lửa, pháo nổ! Thầy hoảng hồn chơi!

Hôm đó là giờ Pháp văn của ông Nguyễn Quới! Ông Nguyễn Quới hơn mười năm trong nghề cầm phấn bảng, lịch lãm trong trường văn trận bút và cả… ngửi mùi pháo nổ. Đang giảng bài, ngửi mùi nhang thơm. Ông biết ngay, liền hỏi: “Anh nào đốt phoáo” (Tiếng Quảng Nam!). Rồi ông cúi xuống gầm bàn lôi cái pháo và cây hương ra.

Định nói: “Em ngu quá! Phải chi em lựa cây nhang không thơm thì xong rồi!” Và Định cười. Tôi cũng… cười theo.

Định sợ xanh mặt! Phen nầy ông già đánh chắc chết! Hùng lì hơn, vả ỉ mình con út, ai cũng cưng, quá lắm là mẹ rầy, anh Lợi tôi nóng hơn, “chưởi” vài tiếng, còn tôi thì… thở dài. Hùng biết vậy nên mạnh dạn đứng lên, nhận dùm cho bạn: “Thưa thầy! Con!” Ông Quới giận tím mặt. Hùng cũng không phải là học trò cưng của ông Quới. Ông nói: “Ra khỏi lớp! Tôi đưa anh ra Hội Đồng Kỷ Luật, đuổi khỏi trường.” Hùng ôm cặp ra về. Định, Anh xin thầy đi ngoài rồi lặn luôn, theo Hùng về nhà. Tối đó, Hùng, Định mua một chai xa xị, hòa nửa chai đế, kéo nhau ra ghế cưa đôi. Cưa chưa xong thì hai anh chàng đã té xuống bất tỉnh nhơn sự.

Tôi đành ngậm ngùi chớ biết làm gì bây giờ. Tôi không trách Hùng nghịch. Tôi cũng là đứa ham chơi hơn ham học. Năm tôi học Đệ Lục, ham chơi mà bỏ thi đệ nhị lục cá nguyệt, phải thi lên lớp. Tôi không thi và bỏ trường vào Huế học băng Đệ Tứ, năm sau đậu trung học. Kinh nghiệm đi dạy làm tôi thích mấy đứa học trò nghịch. Bọn chúng vui lắm mà tôi thì ham vui. Vả lại, mấy đứa nghịch thường thông minh, chung thủy với thầy hơn mấy đứa ngoài mặt ngoan ngoãn.

Hơn một tuần sau, ông Tôn Thất Tắc, giáo sư vật lý của Hùng (trước đó ông cũng là thầy giáo môn vật lý của tôi), nay đang dạy một trường với tôi, gọi tôi tới, nói: “Anh bảo Hùng đi học lại. Tôi đã can thiệp với Hội Đồng Kỷ Luật rồi.” Té ra, ông Tôn Thất Tắc là người rất thích môn bóng đá, giáo sư cố vấn (đỡ đầu) cho đội bóng của trường Quốc Học đã hết sức bênh vực cho Hùng. Do đó, Hùng chỉ bị đuổi học một tuần, thay vì bị đuổi hẳn như đề nghị của ông Nguyễn Quới! Mấy hôm sau là nghỉ tết rồi. Ra tết, Hùng đi học lại bình thường. Hú hồn! Đá banh hay cũng có cái lợi!

Tôi không hiểu sao Hùng không có khiếu văn nghệ nào cả: Đánh đàn loạc choạc, không chơi đàn nào ra đàn nào, không chơi bài nào ra bài nào, nhưng rất thích những bài hát về lính: “Trăng Tàn Trên Hè Phố”, “Mấy Dặm Sơn Khê”. Năm vào đại học, Hùng thường hát: “Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng…” Nghe Hùng hát, tôi lo lắm, nghĩ: “Thôi rồi, thằng nầy chắc bỏ học đi lính. Chiến tranh càng ngày càng lan tràn, bọn trẻ không còn tinh thần ngồi ở lớp nữa, “thất phu” còn “hữu trách” huống gì chúng là sinh viên, chắc chúng “xếp bút nghiên” sớm thôi!

Vào đại học, cả nhà ai cũng muốn Hùng học y, nhưng Hùng học khoa học. Bây giờ vợ tôi lại phải bồng con về Quảng Trị ở với mẹ tôi, để tôi với Hùng ở Huế, cho tiện việc học của Hùng. Anh Tôn Thất Nam, trưởng ty thuế vụ Quảng Trị, mới mua một căn nhà cũ trên đường Phan Chu Trinh, bên bờ sông An Cựu, giao cho tôi và Hùng ở tạm để giữ nhà giùm. Đó là căn nhà cũ lắm, gần muốn sập, năm gian hai chái, nằm trong khu vườn rộng, cây cao bóng mát, nhiều gốc mai cỗi. Tôi thường gọi đùa nơi tôi ở là “trại Bồ Tùng Linh”. Một góc sân trước là quán may của anh Hậu.

Nhà rộng quá, tôi ở chái Đông. Chỗ nằm là một tấm cửa lót làm giường, trên để tấm nệm bông dày, mùng buông xuống cả ngày lẫn đêm, không bao giờ vén lên; mền (chăn) không bao giờ xếp lại. Tối, tôi chui vào ngủ. Sáng, chui ra là đi suốt ngày. Hùng ở chái Tây cùng với Đặng Văn Tương, em Đặng Hữu Xứng, Xứng bạn học cũ của tôi. Tương năm trước là học trò tôi. Năm căn nhà giữa bỏ trống, làm nơi Hùng, Tương học nhảy đầm. Hùng về Quảng Trị, lấy cái máy Tourne Disque hiệu Tépaz của anh tôi, mua mấy dĩa nhạc 45 vòng, lâu lâu tôi thấy hai đứa ôm nhau tập nhảy. Trong các dĩa nhạc của Hùng, có bài “Sad Movie” do Sylvi Vartan hát, tôi thích lắm. Phía chái của Hùng, tôi thuê ông Thạnh, thợ mộc của trường tôi, đóng một cái bàn chân xếp. Đóng chân xếp để hễ có dọn nhà thì mang đi cho tiện.

Ông Thạnh chưa đóng ghế kịp. Một hôm, về nhà, tôi thấy có một cái ghế sắt, kiểu Macadi, khá đẹp. Hùng không giải thích về cái ghế. Định đang ở chơi, cười nói:

  • “Thằng Hùng làm em đứng tim. Nó mượn ghế văn phòng ngồi học. Học xong, vác ghế về nhà luôn. Em sợ muốn chết! Người ta bắt được bị đuổi như không!”

Hùng và Định đang học MPC, lớp học là tại rạp Ciné Morin cũ. Sinh viên đông lắm, không đủ chỗ, thường qua văn phòng mượn ghế. Học xong, Hùng vác ghế từ Morin về nhà gần trên cầu Phú Cam, cười nói với Định: “Anh Hải khỏi kêu thợ đóng ghế, đỡ tốn tiền!”

Cuộc sống hai anh em tôi năm đó đúng là cơm hàng cháo chợ. Tới bữa thì xuống ăn ở quán cơm Hương Bình, gần Đập Đá, tới tháng tính tiền trả. Áo quần thì để ở thợ giặt, kế nhà thờ Nhà Nước. Đồ sạch mặc vào người, đồ dơ để lại, hôm sau đến thay. Ông chủ tiệm giặt giúp đỡ, dành cho hai anh em tôi cái tủ ở tiệm ông. Muốn thay áo quần, cứ mở tủ mà lấy.

Một hôm Hùng biểu tôi cho tiền đi hớt tóc. Tối đó, tôi thấy Hùng và Tương hai đứa loay hoay với lưỡi lame, lược. Tôi hơi nghi. Dám hai đứa hớt tóc cho nhau lắm. Trưa hôm sau, Hùng tới trường, xin tiền mua mũ béret. Tôi cười hỏi: “Hai đứa bây hớt tầm bậy, đầu như “chó liếm” nên mua mũ béret để che tóc phải không?” Hùng không nói, nhận tiền rồi cười bỏ đi. Tối hôm đó, tôi thấy hai đứa đội hai cái mũ béret giống nhau.

Gần tết, Hùng nói: “Em trả chiếc vélo cho anh Lợi, mua chiếc xe Goebel”.

Tôi hỏi: “Tiền đâu ngon vậy?”

Thay vì trả lời, Hùng nói: “Anh vay cho em 5 ngàn!”

Tôi hỏi: “Tiền đâu mày trả?”

Hùng cười: “Anh trả chớ em tiền đâu?!”

Tôi muốn cười mà không cười được. Chiếc velo cũng nên trả lại cho anh tôi. Tuy mua xe mới, nhưng Hùng phá xe cũng dữ. Anh ta dám chạy velo từ Huế ra Quảng Trị, đường dài 60Km, vừa chạy vừa nghỉ. Hè vừa rồi, anh chủ tiệm sửa xe Thùy Hoa, một người bạn học cũ, nói với tôi: “Tui sửa xe mười năm, chưa gặp người khách nào như thằng em của anh!” Tôi hỏi, anh ta nói: “Tuần rồi, nó đi xích lô tới tiệm tôi. Xe vừa dừng, nó nói: “Anh Thùy! Sửa xe cho tui kịp chiều tui về Quảng Trị!” Tôi hỏi: “Xe mầy đâu?” Hùng chỉ vào cái túi rết mang bên lưng: “Đây nầy!”  Té ra, để cho tiện, anh chàng tháo máy xe velo ra, bỏ vào túi rết, mang từ Quảng Trị vào Huế sửa!” Nghe chuyện, tôi cũng phì cười cho em mình.

Vay năm ngàn trả thành sáu, gần tháng lương, lấy đâu ra. Tôi đang gánh một món nợ “cay đắng”.

Nửa năm trước, H. Q. M. về đám ma ông già nó. Tôi học một lớp với nó nhưng không phải là bạn, hiện nó là đại úy hải quân. Đám ma xong, thiếu tiền mua vé máy bay đem vợ con vào lại Saigon. Lúc đó, Ng. T. H. bạn thân với tôi, chuẩn bị làm em rể M. nên nói với tôi: “Mày vay cho tao năm ngàn tao giúp thằng M.” Tôi làm liền. Tôi vay giúp bạn. Mỗi tháng nó đưa tiền tôi đi trả nợ. Thay vì trả, tôi tiêu luôn, hết càphê qua bún bò, vui cùng bạn bè, thành ra đang kẹt. Món nợ đó, mãi năm sau, khi vợ tôi theo vào ở chung, thu xếp trả cho tôi mới xong. Đúng là “Ở đời có bốn cái ngu” (1). Tôi cũng ngu một cái. Nay Hùng đòi tiền mua xe, tôi kẹt lắm. Nhưng rồi tôi cũng lo cho Hùng xong. Cậu ta đem xe về, chùi lau tối ngày.

Một hôm, nửa đêm, tôi đang ngủ, bỗng thức dậy vì có tiếng nói cười ngoài sân. Nhìn ra, thấy Hùng và Tương đang lên cơ. Hai đứa hỏi, cơ trả lời, nhắm bộ vui lắm! Thấy vui, tôi cũng ra sân với hai đứa, nhưng khi tôi ra tới nơi thì cơ “thăng” mất. Hùng nói: “Vía anh nặng, nó đi mất rồi.” Tôi bỏ vào đi ngủ lại, cơ lại lên, tụi nó chơi với nhau. Hôm sau, Hùng nói: “Cơ nói nó ghét anh lắm. Thấy anh, nó phải đi.” Tôi ít khi tin dị đoan nhưng câu chuyện Hùng chơi cơ ám ảnh tôi hoài. Năm Hùng tử trận cũng vậy. Vì chết trận nên thầy chùa phải tụng kinh gọi hồn về. Thầy lấy cái áo thun của Hùng, buộc vào một khúc cây ngắn làm môi. Thầy đọc kinh ngay ngoài ngã ba, trước nhà, chỗ làm đám ma Hùng. Tôi cầm môi. Thầy đọc kinh mãi mà môi không lên. Thầy bảo: “Thay người khác.” Đứa em con bà dì tôi liền vào thay. Cở 15 giây, môi nhập vào nó. Nó cầm cây môi đi vào nhà. Cái sân trước nhà quàng hòm người ta đến xem đông lắm. Thằng em cầm môi đi tìm mẹ tôi, lảo đảo như người say rượu. Gặp bà, nó cầm cây môi quẹt vào má mẹ tôi hai bên hai cái, như tỏ vẻ thương, rồi tới anh chị tôi, cảnh cũng diễn ra y vậy. Bỗng thằng em cầm môi đi quanh, như kiếm tìm. Mẹ tôi hiểu ý, kêu: “Hải đâu? Hải đâu?” Thường trong cảnh đông đúc, tôi hay lẻn ra xa. Nghe kêu, tôi đi tới. Thằng em cầm môi thay vì quẹt môi vào má như trước, nó lại đánh vào đầu tôi một cái nhẹ. Xong, nó đi vào chỗ để quan tài, quăng cái môi vào dưới cái hòm rồi lăn ra ngủ một chốc mới dậy.

Xóm tôi ở, có mấy cô con gái đẹp. Kề bên nhà có Trang, cháu ông Nguyễn Cao Thăng, bồ của Xứng, nổi tiếng hoa khôi Đồng Khánh, và phía đằng cầu Bến Ngự có B.D., người Trịnh Công Sơn đang theo. Hồi ấy T.C.S. chưa nổi tiếng. B.D., cũng là giai nhân trường Đồng Khánh, mỗi ngày đi học về, không đi ngã cầu Bến Ngự cho gần, thường vòng xuống ngã cầu Phú Cam, xa hơn một chút, nhưng lại đi ngang nhà T.C.S. Vì là giai nhân, nên mấy đứa bạn của Hùng biết cô ta. Thấy mỗi ngày cô ta dung dăng qua nhà Sơn, cả bọn nói với nhau: “Con nhỏ mới chừng đó mà đã học nghề Thúy Kiều.” Sát nhà tôi, bên kia hàng rào, là một căn phòng của mấy cô Quảng Nam ra học cán sự y tế hay nữ hộ sinh gì đó. Cả bọn hè nhau chọc quê mấy cô. Hễ thấy mặt mấy cô ló ra khỏi cửa, chúng nó mở ngay chương trình phát thanh Quảng Nam: “Chu choa mẹ ôi! Con réng kéng con thèng lèng.” Được mấy lúc, sợ quá, mấy cô dọn nhà đi mất. Bọn Hùng chưa biết yêu, chỉ biết chọc gái kiểu ba trợn như vậy.

Năm đó, Hùng tiếp tục giữ gôn cho đội bóng sinh viên đại học Huế, giữa năm, Hùng tham gia đại hội thể thao sinh viên toàn quốc, tổ chức tại Đà Lạt. Việc ăn ở, có ban tổ chức lo, vận động viên như Hùng chỉ cần mang theo tiền tiêu vặt. Mấy anh chị gom lại, cho Hùng được mấy ngàn. Trước khi đi, Hùng nói với tôi: “Một là anh có rất nhiều quà Đà Lạt, hai là không có chi hết!” Tôi hỏi: “Sao?” Hùng giải thích: “Đi C-47 của Không Quân, tụi nó tổ chức đánh bài phía sau đuôi. Hễ tui đánh ăn, tui mua quà cho anh. Còn thua thì coi như “cảm phiền.” Tôi biết Hùng ít vâng lời tôi nhưng tôi cũng cứ nói: “Mày đừng ham tào lao, để tiền mà tiêu.” Hôm Hùng về, thấy anh chàng chỉ mang có mỗi một cái xắc tay, tôi cười: “Vậy là cháy túi?” Hùng chưởi thề: “Đ. m. Cả tuần nay uống càphê chùa của tụi bạn không!”

Cũng thời gian nầy, Hùng gia nhập đội bóng Sao Mai – Huế, nên nhiều thứ bảy, chủ nhật, Hùng đi đá bóng, rồi đi chơi với bạn, ít khi có nhà. Tôi cũng không quan tâm vì nhớ câu mẹ tôi thường dạy: “Ai có đời nấy” hay “Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào.” Nhờ nghe lời mẹ, tôi ít can dự vào đời sống riêng tư người khác, dù anh chị em trong nhà hay bà con xóm làng. Dù vậy, nhiều lần đi xem Hùng đá banh, để ý tôi thấy trận nào đội bóng của Hùng thua sức địch thủ, nếu để lọt vào “gôn” hai hay ba quả bóng, Hùng ra sân để Mai Văn Hóa vào thay. Hóa là thủ môn phòng hờ của Hùng. Biết mánh của Hùng, có lần đang ăn cơm, tôi nói: “Chơi rứa mà chơi với ai. Ăn cùng vinh, thua cùng nhục, răng bỏ chạy làng trước anh em đồng đội.” Hùng cười, không trả lời tôi nhưng tôi biết Hùng chịu nghe tôi, sau đó không bao giờ Hùng ra sân nửa chừng nữa.

Năm đó, nhà Ngô sụp đổ, tình hình chính trị miền Trung lộn xộn lắm, học trò biểu tình, bải khóa hoài. Việc học, việc dạy chán lắm. Gần cuối niên học, Hùng bỏ về Quảng Trị.

Về quê, Hùng tiếp tục quậy nhiều chuyện khá buồn cười. Hùng yêu Thảo, một cô Nguyễn Hoàng khá dễ thương, thường được các thầy giáo trẻ lưu ý, “cua”. Thảo nói với Hùng, Hùng kể chuyện đó với tôi, nói: “Mấy thầy giáo dê!” Mấy hôm sau, Hùng lên chơi bàn bi-da của tiệm anh Thuận trên đường Trần Hưng Đạo, Quảng Trị. Thấy có mấy thầy giáo thường “cua” Thảo, Hùng đứng ngay cửa ra vào, hai tay chống qua hai bên cửa, nói to: “Ai muốn ra vào phải lòn dưới tay tui.” Thấy Hùng muốn kiếm chuyện, mấy thầy giáo nhìn nhau, e ngại. Lúc ấy, Ng. T. H., bạn thân của tôi, mới ra làm giám học Nguyễn Hoàng, thường coi Hùng như em, bèn kéo Hùng ra phía ngoài dàn hòa rồi rủ Hùng đi uống càphê. Nể người bạn của anh mình, Hùng chịu bỏ đi, nhưng nói với Ng. T.H.: “mấy thằng cha “cua” con Thảo, léng phéng có ngày tui đập cho một trận không còn cái răng ăn cháo”. Từ đó, Hùng đi chơi bi da ở tiệm cũ không còn thấy mấy ông thầy giáo “cua” bồ của nó nữa.

Nhà tôi có 4 anh em trai, về cách ăn mặc và ăn uống, ông anh cả và anh kế tôi giống nhau, áo quần lúc nào cũng tươm tất đàng hoàng, có thể gọi là diện nữa, ăn thì vào quán tiệm. Tôi và Hùng giống nhau, xuề xòa. Hùng có một bộ veston, may ở Lien’s tailleur, hiệu sang nhứt ở Huế, nhưng chẳng bao giờ thấy Hùng mặc. Thường ngày là cái quần Jean xanh, áo sơ mi ca-rô màu xanh biển, tay ngắn, bỏ ngoài quần. Bao giờ cũng vậy, có thay ra bộ khác cũng y như vậy. Chưa kể ăn xong, co chân lên, quẹt mồm vào đầu gối, vậy là lau miệng, xong. Những năm đang tuổi lớn, Hùng ăn không biết no. Cả nhà gọi đùa Hùng là “Nhà máy xay cơm”. Mẹ tôi rất lo cho việc ăn của Hùng. Phường tôi có rất nhiều người bán dạo như bún bò, cháo lòng, bánh canh, v.v… Hùng là khách quen của họ. Đang đi chơi với bạn giữa đường, đói bụng, thấy gánh hàng rong quen, Hùng gọi lại, cả mấy đứa xúm nhau lại ăn. Ăn xong, Hùng nói: “Về nhà mạ em (hay con, tùy theo người bán lớn hay nhỏ tuổi) lấy tiền”. Mẹ tôi thường trả những món tiền ăn bất thường như vậy, không bao giờ than phiền, có khi lại còn cám ơn người ta bán chịu cho Hùng để Hùng khỏi đói.

Tật ham đá bóng của Hùng vẫn không bỏ. Chiều chiều, Hùng tập họp mấy đứa bạn cùng phường ra đá banh ở bãi cát trước chùa Tỉnh Hội, gần nhà tôi. Lâu lâu, Hùng tổ chức đấu giữa các đội của các phường trong thị xã. Có lần, Hùng gom hết những người đá bóng khá, đấu với đội Đông Hà, Triệu Phong hay các thanh niên của các vạn đò Xuân Thành Chợ Sãi hay vạn đò Xuân An Chợ Quảng Trị. Mấy tay nầy vừa lớn con, vừa có sức mạnh, đá dữ, đá bạo. Nhiều trận Hùng bị trặc tay, trặc chân. Mẹ tôi lo, nhưng không ngăn Hùng được. Những trận đấu với thanh niên Vạn đò, Hùng gọi đùa là đá với “Thủy Quân Lục Chiến”.

Chuyện tình giữa Hùng và Thảo, tôi không có ý kiến gì cả. Hùng còn trẻ, chưa có sự nghiệp gì. Chuyện của Hùng chỉ là chuyện yêu đương kiểu “Hồn Bướm Mơ Tiên” khi người ta còn trẻ, dễ tan hợp lắm. Tôi không muốn hai đứa chúng nó tan nhưng tôi cũng không đặt thành vấn đề hợp. Anh kế tôi thì ngược lại. Anh ấy nhìn vấn đề thiển cận, theo cảm tính. Không biết nghe ai phê phán Thảo như thế nào đó, một bữa đang ăn cơm, anh tôi nói: “Chuyện con Thảo, mày bỏ đi, người ta nói nó là…” Rồi anh ấy kể một thôi một hồi những gì người ta phê bình một cô gái đỏng đảnh, hay đánh, la rầy em, thậm chí “ác” với các em… Tôi cũng thấy phiền huống chi Hùng. Mặt khác, bố của Thảo ghét Hùng dữ. Ông ta nói: “Bộ hết người tao gả con gái cho thằng đó.” Hai đứa sinh ra tuyệt vọng. Càng tuyệt vọng, Hùng càng quậy. Bố Thảo thường đi làm xa, cuối tuần mới về. Hùng chờ ông ta về, chọc tức ông ta chơi. Chờ khuya, Hùng leo cổng nhà ông ta vào. Có cây mận ông ta trồng, mới có quả, Hùng tuốt hết, chẳng còn một trái non. Canh chừng, tối ông thả con chó berger ra sân, canh thằng ăn trộm. Thảo có đứa em trai, hơn 10 tuổi, mê Hùng không thua gì chị nó chỉ vì Hùng đá banh hay. Không có trận đấu bóng nào mà không có thằng “đệ tử” nầy theo Hùng… giữ áo quần. Vì vậy, buổi tối khi bố Thảo thả con chó ra sân thì “đệ tử” nghe lời Hùng dặn, gần khuya đem chó nhốt vào buồng nó. Nhờ vậy, Hùng lại nhảy vào sân sau bẻ cổ vài con gà, xách về xóm, họp các bạn nấu cháo gà ăn chơi. Anh tôi làm dữ về những việc Hùng quậy như vậy, Hùng thôi, nhưng lại nhảy ra tham gia… tranh đấu.

Cùng với tính nghịch, quậy, Hùng có tính hay đùa. Bồ của Hùng tên là Thảo, hai đứa đi chơi, gặp bạn bè, người quen, Hùng giới thiệu bồ của mình tên là Thảo Bình. Thảo Bình là Cỏ Bằng, nói lái là Cẳng Bò. Vậy mà Thảo cười tít mắt lại cười khi nghe Hùng giới thiệu tên cô ta với những khác như thế. Có một lần, mẹ Thảo đi Huế, biểu Hùng tới nhà ngủ lại vì sợ nhà phần đông là con gái và trẻ con. Biết chuyện, mẹ tôi nói: “Để mạ cưới nó cho con cho đàng hoàng. Để bụng to mới làm đám cưới người ta cười chết.” Hùng không vui, nói: “Làm chi có chuyện đó.” Tôi cũng giựt e, dặn Hùng, Hùng nói: “Chuyện em với Thảo chắc không xong, lỡ rồi sau nầy có chồng, không còn là con gái thì tội cho nó.” Hùng nghĩ đúng đấy. Thế hệ tôi nửa quê nửa tỉnh, nhiều anh chàng đêm động phòng thấy vợ bị mất trinh thì người vợ khổ một đời với anh chàng “cổ lổ hủ” đó. Hùng biết vậy nên tránh cho Thảo. Vậy nên Thảo thương Hùng lắm, về sau, lấy chồng, sinh thằng con trai, gặp bạn bè quen biết, cứ chỉ thằng con trai bảo: “Con anh Hùng đó!” Ai cũng nghĩ vì thương Hùng quá mà nói vậy chớ chồng Thảo cũng thuộc hàng “cổ lổ sĩ” như tôi nói, nếu trao hết cho Hùng, làm sao Thảo sống yên thân với chồng được.

Sau khi hai đứa xa nhau, Hùng sắp đi lính, tình cờ tôi thấy trong tủ sách của tôi, một cái hộp nhựa nhỏ, màu đỏ, loại đựng nữ trang. Tò mò, tôi mở xem thì thấy bên trong có xác một con ve sầu, với mảnh giấy nhỏ: “Dành cho anh, mai nầy anh đi xa, anh ra trận, bao giờ cũng nhớ em”. Dưới ký tên Thảo. Hỏi Hùng, tôi biết ra đó chính là con ve sầu Thảo bắt nơi gốc mận Hùng thường nhảy hàng rào vào phá chơi. Tại sao không là con bướm như chuyện tình Lan và Điệp. Hay chuyện tình thời nay không phải là con bướm mà con ve sầu cho nó khác xưa. Hay chính con ve sầu là mối sầu của một người con gái mới lớn dành cho Hùng. Khi vào quân trường, có lẽ Hùng để con ve sầu lại nhà. Rồi chiến tranh, rồi “Mùa Hè Đỏ Lửa”, Quảng Trị mất vào tay giặc, Hùng tử trận, con ve sầu không biết có ai giữ giùm hay đã mất về đâu?!

Năm 1965, tình hình miền Trung càng lúc càng xáo trộn dữ. Ngoài thì Việt Cộng tăng cường đánh phá các nơi, trong thì địa phương xúi dân, xúi học trò biểu tình, bải khóa, bải thị chống trung ương. Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc được thành lập ở vài tỉnh miền Trung. Tại Quảng Trị, Hùng là Trưởng Ban An Ninh của hội đồng nầy. Từ Huế về, thấy Hùng tham gia đấu tranh, tôi ngại lắm. Tôi nói: “Hồi 1963 chống nhà Ngô vì vụ Phật giáo, đúng ra là nên tham gia, không thì thôi. Bây gìờ Hùng “nhào vô” người ta cho là mình có tham vọng.” Hùng gạt đi: “Anh thì lúc nào cũng ngại nên chẳng làm được gì!” Xong, nửa đêm Hùng lái xe cùng bạn bè lên Cam Lộ “bắt tụi Cần Lao” trên đó, như Hùng kể lại. Hôm sau, ông Hoàng Xuân Tửu, tỉnh trưởng, gọi Hùng lên gặp. Sau đó, Hùng kể lại: “Ông nội nầy khéo lắm. Em mới vào tới nơi, ông bắt tay, quàng vai, chuyện trò thân mật lắm.” Tôi nói: “Mày đừng đụng tới ổng. Ổng là anh của H.X. Đ., bạn tao, lỡ có gì mất lòng, tao khó ăn khó nói với bạn.” Hùng làm thinh, không nói gì. Mấy hôm sau, Hùng “bắt Cần Lao” họp tại nhà sách Văn Hóa. Bấy giờ anh chị Đình, chủ nhà sách đã phá cái nhà cũ, xây ngay địa điểm cũ một nhà lầu ba từng. Đảng viên Cần Lao họp ở tầng thứ ba. Được tin báo, Hùng tập trung ban An Ninh của Hội Đồng, trèo lên phía sau, đường Quang Trung, vây bắt cả đám, đem về nhốt bọn “phản cách mạng”. Hôm sau, họ được thả hết. Gặp anh Đình, anh Lợi tôi phải xin lỗi về việc làm của em mình. Do việc đó, tôi nói với anh tôi, nên khuyến khích Hùng đi lính đi. Thành phố Quảng Trị nhỏ quá, nhà nào không bà con thì cũng quen biết, rất nhiều người từng là khách hàng cũ của mẹ tôi (2), Hùng làm vậy, kẹt lắm.

Hùng cũng muốn đi lính, nói với tôi: “Không trước thì sau, rồi ai cũng đi thôi!” Nói xong, Hùng đọc một câu Chinh Phụ Ngâm, tác phẩm tôi thường dạy ở trường Áo chàng đỏ tựa ráng pha, Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.” Tôi nói: “Này! Không Quân, Hải Quân, kẹt lắm mới đi bộ binh nghe chưa!?” Hùng cười.

Ít lâu sau, Hùng khám bệnh đi Không Quân ở Đà Nẵng. Khám xong về, Hùng vui lắm, kể: “Tụi nó bắt ngồi trong một cái xe như xe con nít rồi thả chạy trên đường rây, từ cao đổ xuống ào ào. Xe chạy ngoằn ngèo, rất chóng mặt. Xe vừa dừng, tụi nó hô: “Đứng lên, chạy.” Đứa nào vừa đứng lên được là té cái rầm!” Tôi hỏi: “Hùng té đau không?” “Sức mấy!” Hùng nói. “Em chạy tới mấy vòng, tụi nó phục lăn.” Vậy mà Hùng không đi Không Quân được vì răng hư nhiều quá. Hồi nhỏ, mẹ cưng, cho ăn kẹo nhiều, răng hư lắm. Hùng chưa kịp chờ khóa Hải Quân thì vì chuyện buồn giữa Hùng với Thảo, Hùng tình nguyện đi khóa 20 Thủ Đức. Khóa đó, tôi cũng có lệnh gọi. Từ Huế về Quảng Trị nhận lệnh gọi, biết Hùng cũng đi khóa nầy, đang giữa bữa ăn, tôi cự nự: “Thủ Đức là của tao. Tao đi dạy, tao không chọn binh nghiệp thì Thủ Đức là của tao. Mày nam nhi chi chí vậy mà đi Thủ Đức sao được! Không đi Hải Quân, Không Quân thì Võ Bị. Vào Võ Bị nghe không. Một làm tướng, hai xong đời.” Rồi tôi nói câu mẹ tôi thường nói: “Một hóa long, hai xong đời.” – Anh Thạnh chết sớm, nhưng bạn bè bà con có ai chê anh ấy đâu! Tại sao mình không biết theo con đường đó.” (3)

Anh kế tôi làm đơn gởi bộ Quốc Phòng xin rút tên Hùng khỏi đi khóa 20 vì cả 3 anh em đều dính dáng tới quân đội. Sau đó, Hùng nhập Khóa 22, Võ Bị Quốc Gia. Khi Hùng đi Đà Lạt trình diện, tôi từ ở Trung Tâm Nhập Ngủ số 1 ở Đà Nẵng mới về vì được hoản 3 khóa Thủ Đức.

Vào Võ Bị, ban đầu Hùng cũng quậy. Nguyễn Quảng Thành, (4) bạn cùng khóa với Hùng, kể: “Mới trình diện, huynh trưởng đã bắt chạy quanh Vũ Đình Trường, nó không chịu chạy. Cả đám bạn bè xúm vào khuyên, nó mới chạy. Được hai vòng, nó chạy vượt nhanh hơn người ta rồi chạy thẳng vào Câu Lạc Bộ mua nước uống. Uống xong, Hùng lại chạy tiếp. Mọi người được nghỉ, nó cứ chạy một mình. Khuynh trưởng gọi vào nghỉ, nó giả bộ không nghe.”

“Nhưng rồi Hùng cũng mềm,” Thành kể tiếp, “Lò luyện người mà!”

Tết năm Đinh Mùi (1967), Hùng được về phép. Hết phép, mua vé máy đi Đà Lạt không có. Sợ trễ phép, tôi phải nhờ một người bạn xin với văn phòng tỉnh trưởng Thừa Thiên, ưu tiên dành một chỗ cho Hùng. Hùng đòi hai chỗ, một cho Hùng và một cho Thảo, bạn cùng khóa, cùng về phép ở Huế. Tôi không cách nào xin được 2 chỗ. Chỗ thứ 2 phải chờ một tuần sau. Hùng lên Đà Lạt, nhưng vì bạn, anh chàng thuê khách sạn ở, chờ Thảo lên để cùng vào trả phép một lần. Láng cháng thế nào, quân cảnh của trường thộp được anh chàng, đem về phạt kỷ luật. Cũng năm đó, sinh viên đi giữ vòng đai cho ngày bầu cử. Việt Cộng tấn công, Thảo chết ngay tại hố cá nhân của mình. Những sự việc đó, cùng kỷ luật khắt khe của trường làm Hùng nổi chứng, bỏ học ra ở khách sạn chơi! Quân cảnh lại thộp cổ đem vào, đưa ra hội đồng kỷ luật, bị đuổi khỏi trường, ra trung sĩ, đưa về Nha Trang. Được ít hôm, nhờ thiếu tá Trần Mộng Di là bạn cùng khóa Võ Bị Địa Phương với anh Lợi tôi can thiệp nhân dịp đại hội thể dục thể thao sinh viên các quân trường. Trường Võ Bị lại gọi Hùng về giữ “gôn” và cho tiếp tục học lại. Lại cũng nhờ đá banh hay, Hùng may mắn thoát nạn một lần nữa!

Khóa 22 của Hùng được chia làm 2 thành A và B. Khóa 22 A chỉ học 2 năm ra trường, như vài khóa trước đó. Khóa 22 B học thêm 2 năm nữa là 4 năm như những khóa 16, 17 khi tổng thống Ngô Đình Diệm mới chấn chỉnh việc đào tạo cán bộ hành chánh và quân sự khi ông lên làm tổng thống.

Hùng được học khóa 4 năm (B) nhưng anh chàng xin qua học 2 năm để ra trường sớm, vào cuối năm 1967. Cả nhà tôi ai cũng tiếc và lo. Chiến tranh càng ngày càng khốc liệt, nán lại trong quân trường được ngày nào hay ngày đó!

Trước khi mãn khóa, chọn ngành, chọn binh chủng, v.v… Anh rể tôi, Trần Thiện Hải, vốn rất thương vợ nên cũng rất thương Hùng, cậu út. Ông bèn từ Qui Nhơn về Saigon, nhắn ba má anh ấy dưới Bình Phước, Long An lên. Đồng thời ông cũng nhắn anh tôi ở Quảng Trị, mua vé máy bay cho mẹ tôi vào Saigon. Ý định của ông anh rể tôi là cả hai bên sui gia, vào nhà đại tướng Trần Thiện Khiêm, trong Bộ Tổng Tham Mưu để xin cho Hùng đi đơn vị không tác chiến. Thân sinh anh rể tôi, ông Trần Thiện Bì, thứ Tư, ông Trần Thiện Khiêm, trong gia đình ông thường gọi là “chú Mười Hai”.

Từ tư thất đại tướng TTK trong bộ Tổng Tham Mưu, gọi điện thoại lên trường Võ Bị gặp Hùng. Hùng đang chơi ở câu lạc bộ. Sinh viên trực chạy tán loạn kiếm Hùng vì điện thoại gọi từ tư dinh đại tướng. Khi Hùng ở đầu máy, anh rể tôi nói với Hùng:

  • “Hai bác, má và anh đang ở nhà đại tướng, hỏi Hùng muốn đi ngành nào để xin đại tướng giúp cho.”

Hùng trả lời:

  • “Anh thưa hai bác và má rán xin cho em đi… Nhảy Dù.”

Thấy anh rể tôi cười. Mẹ tôi nôn nóng, hỏi ông:

  • “Răng? Răng? Hắn nói răng?”

Anh rể tôi nói cho mọi người nghe:

  • “Cẩu nói xin cho cẩu đi Nhảy Dù.”

Ai cũng thở dài. Mất công toi. Nếu Hùng muốn đi Nhảy Dù thì anh rể tôi đâu cần phải làm một cuộc “hội ngộ Trung-Nam” như vậy, và cần chi phải làm phiền ông đại tướng.

Để an ủi, ông TTK nói:

  • “Võ Bị chỉ muốn đào tạo ra những con chim đại bàng, làm sao nhốt nó lại được. Nó còn trẻ, cho nó bay nhảy ít năm. Sau nầy cần thì anh Tư gặp tui cũng được.”

Ý ông muốn nói không cần phải tập trung nhiều người đi xin như vậy, làm phiền cha mẹ.

Nghe kể lại câu chuyện, tôi nói riêng với anh trai kế tôi: “Mũi tên đã bắn đi, không mấy khi quay lại; nó không phải là cái boumarang.” Tôi không nghĩ Hùng sẽ chịu trở lại xin đi ngành không tác chiến. Hùng tự ái lắm! Tôi cũng không nghĩ Hùng sẽ làm tướng và tôi cũng không nghĩ đến cái chết của Hùng.

Hôm ông thiếu tá Nhảy Dù lên Đà Lạt chọn sĩ quan đi Dù, trung đội của Hùng đang ở ngoài bãi. Khi ông thiếu tá nầy bước tới hỏi: “Ai muốn đi Dù?” thì đang ngồi trên bậc chót của bãi học, có những hàng ghế như trong sân vận động, Hùng nhảy từ trên cao xuống, băng qua đầu các bạn ngồi phía trước, đứng nghiêm chào ông thiếu tá: “Thưa thiếu tá! Em đi Dù.” Ông thiếu tá mở to mắt nhìn, một thằng ẩu tử mới nhảy như vậy. Dáng Hùng cao, da ngăm đen, miệng móm. Ông ta nói: “Tướng cậu mày trông cũng cô…” Ông kịp ngưng miệng lại, rồi nói tiếp: “Cậu nầy được. Thôi, đi Dù.”  Cả đám sinh viên sĩ quan reo hò mừng cho Hùng.

Thế là Hùng đi Dù. Học thêm khóa Rừng Núi Sình Lầy ở Dục Mỹ và khóa Nhảy Dù xong, Hùng được đi phép.

Tôi đang dạy ở trường thì Hùng về. Anh chàng mặc bộ đồ dù, loon thiếu úy mới toanh, đi từ đầu trường tới cuối trường, chào các thầy là bạn của tôi, nhưng chủ ý rằng “tui đã ra trường”. Anh ta đi ngang lớp tôi, cười rồi đi tuốt qua phố, không gặp tôi sau đó tại trường.

Giờ bải học, tôi đứng đầu cầu thang trông coi học trò đi xuống, ngăn chúng xô đẩy nhau nếu có đứa nghịch, bỗng có V.T., con nhỏ đang học Đệ Tam với tôi, nổi tiếng nghịch và bạo mồm, hay đùa, (6) vừa nói đùa với tôi vừa cười: “Thưa thầy! Thầy cho con làm em dâu thầy đi.” Tôi ngạc nhiên: “Nói cái chi?” Con nhỏ bạn đi bên cạnh V.T. cười nói: “Nó nhắm anh Hùng đó! Anh Hùng mới về.” Tôi nói: “Học thì lo học, chưa chi lo lấy chồng. Tau đập cho bây giờ!” Cả đám nữ học sinh cười ồ lên, bỏ xuống cầu thang. V.T. sau nầy là vợ một người bạn học của tôi, anh H.T.T.

Hùng mới ra trường, Tiểu Đoàn 11 Dù. Đơn vị đang thời kỳ huấn luyện thành lập ở Trung Tâm Vạn Kiếp thì đụng trận Mậu Thân. Việt Cộng tấn công vào đây, một số lính Dù tử trận. Trong phường tôi, Hùng được rất nhiều người thương. Gia đình đại tá Nguyễn Bé là cùng xóm. Chị Bé lúc đó đang ở Vũng Tàu, nghe người ta đồn lính Dù tử trận nhiều, bèn ra ngay bệnh viện, vào tận nhà xác xem thử “Chú Hùng có can chi không?” Chị ấy gọi điện thoại nói với mẹ tôi như vậy. Khi còn đi học, Hùng cũng là bạn thân với Nguyễn Bích, em đại tá Bé.

Chỉ mấy tháng sau, tôi cũng nhập ngũ, sau Tết Mậu Thân được vài tháng. Trước khi trình diện học quân sự giai đoạn 1 ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, vợ chồng tôi dự đám cưới Hùng. Đám cưới không như ý tôi muốn trước kia nên tôi hơi buồn. Hùng là con út, lẽ ra đám cưới Hùng phải đông người dự và thật vui. Hùng và Chiếu Ánh lo hết mọi sự. Bên phía gia đình tôi thì nhờ gia đình anh rể tôi lo liệu các món lễ để đem đến nhà gái như cau rượu bánh trái, v.v… Các cô em gái anh rể tôi biết chúng tôi từ ngoài Trung vào, không rành Saigon nên đứng ra giúp đỡ lo toan các điều như tôi vừa nói. Ngày đám cưới, chỉ có mẹ tôi, ông bà sui gia mẹ tôi, anh rể và chị tôi, và các em gái của ông. Anh ông, Trần  Thiện H., thuê giúp một chiếc xe và lấy xe hơi riêng của ông, đưa gia đình nhà trai đến nhà gái. Bên phía gia đình Chiếu Ánh, chỉ có cha mẹ và các em nhỏ. Anh trai cả, trung úy Đỗ Cơ Danh bận hành quân không về được. Chiều hôm đó là ăn tiệc ở nhà hàng Động Phát, ở đại lộ Hàm Nghi, Saigon. Tương đối khách đến dự đám cưới đông, nhưng hầu hết là bà con bên nhà gái và bạn hữu của họ. So lại, đám cưới tôi nhà quê hơn mà vui hơn. Nhà tôi phải dựng rạp trước sân cho đủ chỗ ngồi, heo gà phải làm lấy tại nhà, nấu tiệc tại nhà. Bà con nội ngoại từ Huế ra, từ làng nội, làng ngoại tới, các o dượng, cậu mợ, dì…các anh chị em bà con bên nội ngoại về đông lắm, vui thật là vui. Dĩ nhiên, tuy có làm heo gà nhưng không ngon bằng món ăn nhà hàng lớn Saigon.

Hùng chỉ nghỉ được có 3 ngày để về cưới vợ. Xong trở lại đơn vị, tiếp tục đi… hành quân. Như tôi kể, đơn vị mới thành lập, đụng ngay trận đầu ở Vạn Kiếp. Sau đó, ngay trong những ngày Tết, tiểu đoàn 11 Dù của Hùng cùng tiểu đoàn 5 Dù được lệnh về phòng thủ Bộ Tổng Tham Mưu. Trần Phú Trắc, cháu gọi tổng thống Thiệu bằng cậu ruột, tiểu đoàn 5 và Hùng quen nhau từ đó. Sau nầy, khi gặp tôi trong trại cải tạo, Trắc thường nhắc nhiều kỷ niệm về Hùng, nhất là lần Trắc bị thương, Hùng phải đưa Trắc vào quân y viện Đỗ Vinh, bệnh viện của Dù. Có lần Trắc nói: “Sau đó tôi về phủ tổng thống rồi qua Cảnh Sát, tôi không gặp lại Hùng. Nếu gặp, thế nào tôi cũng rủ nó chuyển ngành theo tôi.”

Hùng và Chiếu Ánh không có tuần trăng mật. Thời gian đó, Hùng hành quân liên miên ở An Phú Đông. Hồi đó, chưa có xa lộ Đại Hàn, vòng đai quanh Saigon nên Việt Cộng đột nhập vào An Phú Đông khá dễ dàng.

Ngay hôm Tết, Việt Cộng từ An Phú Đông qua ngã Xóm Mới, đột nhập vào Gò Vấp, tấn công vào cổng số 5 bộ Tổng Tham Mưu (trước Tổng Y Viện Cộng Hòa). Các đơn vị phòng thủ đẩy Việt Cộng ra khỏi khu vực nầy, và đơn vị của Hùng tiếp tục truy quét Việt Cộng ở An Phú Đông.

Ngày ngày, từ chỗ đóng quân ở Xóm Mới, Gò Vấp, Hùng đem lính qua lùng sục An Phú Đông, đuổi Việt Cộng ra xa hơn. Hành quân ở đây khá vất vả vì là vùng sình lầy.

Đóng ở Xóm Mới, Hùng cũng được vài cô Bắc Kỳ nho nhỏ chú ý, trong đó có Hạnh. Sau nầy Hạnh là cô giáo con gái đầu của tôi. Sau khi Hùng tử trận, có lần Hạnh nói với tôi: “Em rất tiếc, em với anh Hùng có duyên gặp nhau mà không có nợ.”  Tôi nói: “May cho cô giáo. Nếu có nợ thì nay cô đã thành góa phụ rồi đó.” Hạnh vẫn nói: “Em không sợ nếu đó là ý Chúa.” Khi yêu người ta cũng liều dữ.

Suốt mấy tháng tôi ở Quang Trung rồi lên Thủ Đức, anh em không gặp nhau. Mãi khi tôi về học khóa sĩ quan Thiết Giáp, thỉnh thoảng Hùng ghé lại nhà tôi thuê ở đường Cô Bắc, anh em rủ nhau đi uống caphê ở Mai Hương hay Pole Nord. Có lần Hùng ghé lại Tú Quỳnh mua một tập nhạc Trịnh Công Sơn. Tôi không thích việc làm đó của Hùng nhưng không nói ra. Người miền Nam có những cái thật lạ, khó hiểu. Đi lính thì cố đi cho được những đơn vị tác chiến lừng lẫy, Cọp Biển, Cọp Ba Đầu Rằn, Trâu Điên, Nhảy Dù nhưng lại ưa nhạc phản chiến, ưa nghe Chế Linh rên rỉ, ưa nghe Duy Khánh than vãn “Kẻ ở Miền Xa.” Có lần đi phố, hai anh em chúng tôi đều mặc đồ nhà binh. Hùng chỉ hình chúng tôi trong kính tiệm, nói: “Coi kìa, thằng đầu đen, thằng đầu đỏ, ngon lành không?” Hùng nói vậy vì nhìn vào trong kính, Hùng thấy tôi đội mũ Thiết Giáp, màu đen, còn Hùng nón Dù, màu đỏ.

Hùng đi hành quân liên miên, ít khi về. Phan Nhật Nam dùng câu “hành quân mút mùa Lệ Thủy” để mô tả cuộc sống đó của Hùng là đúng lắm, hết Tây Ninh, Long Khánh, tới Johnson City, Dambe, Snoul, Hạ Lào, Charlie.

Tôi đã dọn về ở cư xá trong Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp, trại Phù Đổng.

Các con tôi rất thích chú Hùng, nhứt là thằng con trai. Hùng thường đem nó đi xem đá banh. Lần đầu tiên đi xem đá banh về nó nói: “Đi với chú Gùng, sướng ghê!” Tưởng nó đã biết xem đá banh, tôi hỏi tới thì thằng bé nói: “Ăn cà-gem đã luôn.” Năm 1970, Hùng bị thương ở chân. Hùng đến thăm, chống gậy vào nhà. Mấy đứa nhỏ sợ chạy trốn, riêng có con bé mập chạy không kịp nên nhắm mắt lại để khỏi thấy chú Hùng chống gậy.

Được ít lâu, Hùng ghé lại nói: “Kỳ nầy chắc hành quân xa, không chừng ra Bắc cũng nên vì có lệnh chuẩn bị áo trấn thủ chống lạnh.” Lúc nầy Hùng đã làm đại đội trưởng 111 Dù.

Thế rồi Hùng tham gia cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào. Khi tôi từ Khe Sanh về Quảng Trị thì đơn vị Hùng đã rút về đóng ở cầu Bàu Vịt, bên kia cầu ga. Gặp tôi tại nhà, Hùng khoe: “Một mình em dẫn 5 đại đội từ Lào rút về Khe Sanh.” Ý Hùng muốn nói đơn vị Dù bị thiệt hại nặng, nhiều đại đội trưởng tử trận hay bị thương, Hùng được lệnh gom các đại đội thiếu người chỉ huy để rút về bên nầy biên giới. Hùng lại nói: “Lần hành quân nầy đã nhứt, uống rượu thả xăng.” Bạn Hùng là Trương Đá, trung úy quân vận Dù, thường lên xuống Khe Sanh – Quảng Trị, nhờ đó, các anh chị tôi cùng bà con bên ngoại, chuẩn bị sẵn thức ăn, đồ nhậu và rượu Mỹ (Hồi nầy quân Mỹ đóng ở Ái Tử nên Quảng Trị không hiếm rượu Mỹ) nhờ Trương Đá mang lên cho Hùng.

Đó là lần cuối cùng, ba anh em chúng tôi gặp nhau dưới “mái ấm gia đình”. Nói vậy cho văn vẻ, thực tế là dưới căn nhà của mẹ, nơi chúng tôi lớn lên thời thơ ấu và niên thiếu.

Thế rồi Hùng bị Việt Cộng bắt ở Charlie và trốn thoát được hồi tháng Tư/ 1972. Sự việc nầy, Phan Nhật Nam có thuật lại trong sách của ông. Hôm về thăm tôi, Hùng nói: “Em bị bắt ở Charlie, mới trốn về.” Tôi nói: “Thiệt không? Nghe “phong thần” vậy!” Hùng cố chứng minh: “Thiệt mà! Anh coi nì!” Rồi Hùng vạch chân tay cho tôi xem. Lau lách cắt rách da đầy cả. Tôi nói: “Trốn được là may. Thà chết còn hơn ở tù Việt Cộng.” Nói vậy là vì tôi nhớ tới cuốn “Trại Đầm Đùn” của Trần Văn Thái, “Về “Rờ” của Kim Nhật”, “Kẻ Nội Thù” của linh mục Raymond J. De Jaegher hoặc “Đêm Hay Ngày” của Arther Koestler. Ở tù Cộng Sản khiếp lắm! Vậy mà tôi bị Cộng Sản bỏ tù hơn 7 năm.

Thế rồi Hùng đem đại đội đi hấp, nghĩa là tăng cường quân số, trang bị và huấn luyện lại. Hùng than: “Lính tráng thì phải văn ôn võ luyện. Hành quân liên miên, chẳng còn thì giờ.” Đã lâu lắm, Hùng không còn đi nhảy “xô” như khi tôi mới vào Saigon.

Ngày 1 tháng 5 năm 1972, Quảng Trị mất. Tôi ra tới Đà Nẵng thì ở lại đó, không còn về Quảng Trị được nữa. Đồng bào Quảng Trị và Huế đổ xô nhau chạy giặc vào Đà Nẵng đông nghẹt thành phố. Ngày ngày tôi đi lang thang tìm bà con. Anh tôi và gia đình chạy tuốt vô Qui Nhơn ở nhà chị tôi. Gia đình bên vợ tôi thì tập trung bên Sơn Chà. Em gái tôi và gia đình chồng của nó ở Đà Nẵng. Tôi đến thăm. Em gái tôi tỏ vẻ lo lắng: “Nghe nói Dù ra Huế rồi. Chắc có Hùng trong đó. Lo cho nó quá!” Tôi trấn an: “Lo mẹ gì. Nó là lính đánh giặc, không đánh chỗ nầy thì đánh chỗ khác. Lần nầy về Quảng Trị, địa thế quen thuộc, vẫn còn hơn đánh nhau bên Miên, bên Lào.”

Em gái tôi nghe thế cũng yên tâm, không nói gì. Hôm sau, tôi gọi điện thoại cho chồng nó, đại úy Trương Đình Hiên, quản lý bệnh viện Nguyễn Tri Phương trong thành Mang Cá. Hiên nói: “Kỳ nầy Hùng về hành quân đây, có gì tui lo. Ưu tiên trăm phần trăm cho Hùng.”

Hiên hăng hái chuẩn bị lo cho em vợ, nhưng khi Hùng được đưa về bệnh viện Nguyễn Tri Phương thì đã tắt thở rồi.

Hùng chết! Cả gia đình đang chạy loạn. Hiên không biết làm đám ma Hùng ở đâu. Nhà ở Quảng Trị thì Quảng Trị đã bị giặc chiếm. Huế không có nhà. Hiên bèn hỏi ông cụ thân sinh:

  • “Thưa ba! Bây giờ không biết làm đám ma cậu Hùng ở mô? Không lẽ để ở nhà Vĩnh Biệt trong quân y viện.”

Ông cụ nói:

  • “Sao Hiên không đem về nhà mình. Trước sân nhà có cái rạp mộc của ba, mấy năm nay không hoạt động còn để trống. Hiên kêu người dọn dẹp cho sạch sẽ rồi đưa về đó.”

  • “Ba không ngại?” Hiên hỏi.

Ông cụ cười:

  • “Ba biết Hiên nói việc dị đoan, người chết bất đắc kỳ tử, theo phong tục không nên đưa về nhà chớ gì?! Ba không nghĩ như vậy. Tin là tin cái gì cho hợp lý, cho hợp với đạo trời. Những người hy sinh vì đất nước là có công ơn với đất nước, với chính mình nữa. Lo cho họ là tỏ bày lòng biết ơn với kẻ “vị quốc vong thân”. Vì vậy, ba không tin gì khác ngoài lương tâm của ba.”

Hiên mừng khi nghe cha nói vậy. Hiên vào bệnh viện chuẩn bị việc khâm liệm cho Hùng trước khi đưa Hùng về nhà, còn ông cụ thân sinh Hiên lái xe xuống trại hòm, tìm cho Hùng một cái quan tài tốt nhứt.

&

Nghe lời vợ Hùng dặn, sáng sớm hôm sau tôi nhờ xe trực của Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp đưa vào trại Hoàng Hoa Thám, có người dẫn tôi ra máy bay. Máy bay cất cánh sớm. Chiếc C-47 bay khá chậm, khiến tôi càng ngồi lâu trên máy bay, nghĩ đến Hùng, nghĩ đến gia đình đang tan tác chạy loạn, đến phận mình long đong, càng thêm buồn, dù tôi cố nín, nước mắt vẫn cứ tự nhiên tuôn ra.

Phi trường Phú Bài những ngày chinh chiến dữ dội như thế nầy, trông thật thê lương, chỉ thấy sặc một mùi chiến tranh, súng đạn. Tôi thấy một sĩ quan Dù đang đứng bên hông nhà khách “tấn công sát sạt” một cô gái, có lẽ là nữ học sinh. Cô ta thì cúi mặt cười, còn anh sĩ quan Dù dứng sát bên tán tỉnh. Tôi tiến lại thì ra bác sĩ Liệu, người mấy hôm trước Hùng gọi điện thoại nói chuyện trước khi bị đạn pháo qua đời. Bác sĩ Liệu biết tôi là anh của Hùng về đám ma, nói với tôi:

  • “Anh chờ chút. Anh cùng về xe với tôi.”

Xong, bác sĩ Liệu lại tiếp tục tán cô gái.

Đời chinh chiến thật buồn cười. Bạn mình chết thì cứ chết, mình còn sống thì cứ sống, vui được ngày nào hay ngày đó. “Ngày mai ra trận ta còn sống, Về ghé sông Mao phá phách chơi!” Biết đâu ngày mai, hay đêm nay, chiều nay, mình cũng sẽ ra người thiên cổ như bạn. Đối với một người bình thường như tôi, cái chết thật quan trọng. Với những người lính ngày đêm ngoài trận địa, cái chết nhẹ như lông hồng. Trong khi đứng chờ bác sĩ Liệu, lòng tôi nôn nóng muốn mau về nhà Hiên nhưng thấy cảnh Liệu đang tán cô gái, tôi nghĩ tới câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm:

Những người chinh chiến bấy lâu

            Nhẹ xem tính mệnh như mầu cỏ cây!

Từ mấy trăm năm trước, bà Đoàn đã nhắc lại ý nghĩa về cái chết của những người đi chinh chiến như vậy rồi.

Khi tôi về tới nhà Hiên thì mọi người đã về đủ: Mẹ tôi, các anh chị em tôi và bà con nội ngoại, đặc biệt có Lê Văn Tịnh. Mẹ Tịnh là chị con bà dì tôi. Nhà chị sát ngay cạnh nhà tôi. Mỗi ngày, rảnh rỗi, chị thường qua thăm mẹ tôi, còn các con của chị, với anh em chúng tôi tuy là cậu cháu nhưng tuổi tác cách nhau không bao nhiêu nên gần gũi vui chơi với nhau như anh em, bạn bè.

Tịnh nói:

  • “Cậu Hùng có tình bà con dữ lắm. Hồi nhỏ, tui đập bậy với Hồ Xuân Anh, bị nó đè ra trên cỏ, nó ngồi trên bụng. Cậu Hùng lúc đó nhỏ lắm, cũng xông tới đánh thằng Anh, vừa đánh vừa nói: “Mi đập cháu tau, tau đập mi.” Chuyện đó tui nhớ hoài.” Chị tôi và Tịnh đang ở Đà Nẵng, nghe tin Hùng qua đời, Tịnh lái xe đưa mẹ về Huế dự đám ma. Huế lúc đó đang bị Cộng Sản bao vây, đường Huế Quảng Trị coi như bị đứt ngang Mỹ Chánh, còn đèo Hải Vân thì Việt Cộng pháo kích ngày đêm, phục kích và bắn sẻ. Vậy mà Tịnh dám lái xe đưa mẹ về đám, gan thật. Phải là tình cảm thâm hậu lắm, thương Hùng lắm, bà chị tôi và Tịnh mới dám về.

Một người em là Hoàng Đá, gọi tôi bằng anh, con bà dì. Sau khi hồi cư, nhà tôi bị Tây chiếm, mẹ tôi dựng căn nhà tranh bên cạnh nhà dì, trong khu vườn bà ngoại tôi để lại. Do đó, Hoàng Đá và anh là Hoàng Thị học hành chơi đùa với chúng tôi từ khi còn thơ ấu, thương nhau như anh em ruột. Hồi năm 1966, Hoàng Thị đang làm cán bộ thông tin ở làng An Lộng, có việc lên chùa Tỉnh Hội, ghé lại thăm mẹ tôi thì nghe tin anh Lợi tôi bị quân Thiệu Kỳ bắt về tội tham gia tranh đấu. Thị ngồi bệt xuống tam cấp trước hiên nhà mà khóc, lo cho anh tôi. Tối hôm đó Thị về tới làng thì bị Việt Cộng phục kích bắn chết!

Hoàng Đá thương Hùng lắm vì hai đứa cùng tuổi, chơi với nhau từ nhỏ. Tôi thấy anh ta đưa mũi ngửi quanh nắp quan tài, xem thử hòm có bị xì hơi không, để trét lại cho kín. Thấy vậy, tôi nói với mẹ tôi: “Thằng Đá nó thương Hùng dữ.” Mẹ tôi nói: “Nó có vợ con rồi mà còn ngu ngơ, không biết có nuôi nỗi vợ con không.” Vợ Thị hôm đó cũng lên đám ma, và một bà cô của tôi, cùng đứa cháu nội từ làng Hạ Lang, Thừa Thiên về đám ma Hùng.

Mọi việc hai vợ chồng Hiên lo hết, tôi chẳng phải làm gì. Buổi chiều, tôi ngồi với mẹ tôi trước sân, phía ngoài nhà quàng. Gần tới 7 giờ 30, phát thanh tiếng Việt, tôi với tay lấy cái radio transistor của mẹ tôi để nghe đài BBC. Mẹ tôi ưa nghe cải lương, nhất là tối thứ bảy có chương trình cải lương của đài Saigon nên chị tôi mua cho mẹ một cái radio xách tay để đi đâu mẹ tôi xách theo cho tiện. Tôi thì nghe đài BBC đã quen từ mười mấy năm nay. Mẹ tôi biết ý tôi, nói:

  • “Đài BBC chỗ ni – tức là chỗ bắt tần số – để mạ bắt cho.”

Tôi ngạc nhiên hỏi:

  • “Mạ cũng nghe BBC?”

  • “Mạ nghe để biết tin tức đánh dau (nhau), theo dõi thằng Hùng. Ngày mô (nào) Nhảy Dù đụng trận lớn đài BBC cũng có nói.”

Nghe mẹ nói mà tôi muốn khóc. Mẹ tôi thương con lắm, bà con ai cũng biết. Tình mẹ thương con thật là vĩ đại. Một người đàn bà quê mùa, học hành ít ỏi như mẹ tôi vậy mà cũng biết bắt đài BBC để theo dõi con mình đánh giặc ở đâu! Tôi không nghĩ tới cái văn minh của thời hiện đại, mẹ theo con đánh giặc qua làn sóng của đài phát thanh. Cái đó người ta có thể mai mốt văn minh hơn, nhưng lòng mẹ thương con thì không thể là cổ xưa hay hiện đại. Muôn đời tình mẹ thương con bao giờ cũng vậy. Biển bao giờ cũng rạt rào muôn ngàn cơn sóng vỗ như đã có từ ngàn vạn năm.

Mẹ tôi còn kể mấy lần từ Huế ra Hòa Mỹ, chỗ Dù đóng bộ tư lệnh tiền phương để hỏi thăm tin tức Hùng và gởi cho con ít quà khô, gói càphê, chai rượu mạnh. Trên đường từ Hoà Mỹ về, mẹ tôi thường khóc một mình vì lo cho Hùng. Trong lúc ấy thì thành phố Huế, kể từ 1 tháng 5 khi Việt Cộng chiếm Quảng Trị, Huế đã vắng hoe.

Hôm sau, đại tá Lê Quang Lưỡng, tham mưu trưởng Sư Đòn Dù đến gắn lon cố thiếu tá và Bảo Quốc Huân Chương cho Hùng. Tới hôm đó, khi làm lễ, tôi mới thấy mẹ tôi khóc. Những ngày trước đó, mỗi ngày cúng cơm hai lần, các vị sư đến làm lễ đọc kinh cầu siêu, thằng con trai thứ hai của anh tôi, một thằng rất đẹp trai mặc áo đại tang đội sớ làm trưởng nam, vì Hùng không có con, tôi cũng không thấy mẹ tôi khóc. Người mẹ khóc con nhiều nên nước mắt đã cạn khô rồi chăng? Tôi nhớ năm 1949, khi anh cả tôi là Hồng Quang, làm chủ báo Ý Dân ở Huế, đấu tranh chống thực dân Pháp và bọn Việt gian Phan Văn Giáo bị chúng bắt thủ tiêu, ngày nào mẹ tôi cũng khóc. Tối không ngủ được, mẹ tôi phải uống chút rượu cho dễ ngủ. Khi đó mẹ tôi mới 45 tuổi. Sau đó, mắt mẹ tôi kém đi, trông không được rõ là vì khóc con. Vậy là trong hai cuộc chiến tranh, mẹ tôi mất hai người con. Trong cuộc chiến tranh trước, chống Pháp xâm lăng, mẹ tôi mất người con lớn. Trong cuộc chiến tranh nầy, chống Cộng Sản xâm lược, mẹ tôi mất người con út.

Hùng được đem chôn ở khu mộ phía trước núi Ngự Bình. Hôm kêu người làm bia, em gái tôi, vợ Hiên đề nghị chỉ ghi trên bia tên họ Hùng và ngày sinh, ngày mất, không ghi là cố thiếu tá. Anh tôi không chịu. Tôi làm thinh và nhớ tới biến cố Mậu Thân, anh Võ Thế Hiệp, học trò tôi kể rằng nhà anh ở miếu Đại Càng, sát nhà Hiên. Anh chạy xuống căn nhà lầu cách nhà Hiên không xa thì gặp ngay tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, có Hoàng Tranh, bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên, chỉ huy mặt trận, đang đóng tại đó. Cộng Sản bao giờ cũng sát bên lưng. Em gái tôi lo xa, sợ một mai Việt Cộng chiếm Huế thì chúng sẽ cho đập phá tất cả những gì còn dính dáng đến chế độ cũ. Sau đó, tôi nói với anh tôi: “Làm theo ý Lựu đi. Cách mạng triệt để thì chẳng cái gì còn đâu.” (Lựu là tên vợ Hiên). Rồi tôi đọc mấy câu thơ của Đỗ Tấn cho anh tôi nghe:

Ta sợ một ngày Cộng Sản

                   Về đây xé nát tâm tư

                   Chắn ngăn những dòng lệ nhỏ

                   Đời như chết tự bao giờ.

Đời còn chết tự bao giờ huống chi những tấm bia.

Buổi chiều đám ma Hùng xong, hạ sĩ nhứt Toán chào gia đình tôi để về quê ở Thuận An. Anh ấy đi theo Hùng từ khi Hùng bị thương, đưa về Mang Cá rồi về đây. Cả gia đình tôi đều cám ơn và cảm động trước tình cảm mặn nồng của một người lính đối với cấp chỉ huy. Cầm tay anh ấy, tôi hỏi:

  • “Khi mô về lại đơn vị.”

  • “Không! Em “đào” luôn. Em tính đào ngũ lâu rồi mà vì thương ông thầy nên em rán ở lại, thầy trò có nhau. Nay ông thầy đi rồi thì em cũng về nhà luôn.”

  • “Liệu về nhà ở có yên không?” Tôi hỏi.

  • “Yên thì không yên. Về nhà nghỉ ít lâu không yên thì em lại đăng vào Dù lại. Vào lính Dù, đi đánh trận là vô chỗ tận cùng rồi, không ai chặn mình đâu.”

  • “Lại vô Dù lại, không ngán súng đạn?” Tôi hỏi.

  • “Chính ở cái chỗ súng đạn đó, người ta mới thương nhau nhứt, không chỗ nào bằng.” Anh ấy cười trả lời tôi.

Tôi nói nửa đùa nửa thật:

  • “Chính nơi đó mới có tình thầy trò, mới có Huynh Đệ Chi Binh. Phải không?!”

Sau câu nói đó, chúng tôi cùng cười.

Vậy mà Hùng qua đời đã gần 40 năm. Đó là sự mất mát lớn của gia đình chúng tôi trong cuộc chiến vừa qua. Nhưng nhiều khi tôi tự nghĩ, trong cuộc chiến tranh dai dẳng 30 năm của dân tộc nầy, có gia đình nào, – dù ở Nam Quan hay Cà Mau, dù ngoài biển hay trên núi cao, dù chiến cuộc xảy ra ngay quê mình hay nơi khác -, mà không có một lịch sử về sự mất mát và đau thương, người nằm xuống, âm thầm ra đi hay hy sinh kiêu hùng, dũng lược. Nỗi khổ đau của gia đình tôi là một trong muôn triệu nỗi khổ đau của dân tộc. Điều đó thật bất hạnh. Có cái “… vạn cốt khô” (7) nào không là điều bất hạnh của dân tộc?!

Trong gần 40 năm đó, sau Hùng, gia đình tôi cũng có nhiều người đã ra đi. Mẹ tôi, anh tôi đã ra người thiên cổ. Những mất mát đó thật vô cùng to lớn. Cũng năm Hùng hy sinh, thành phố quê hương của anh em chúng tôi cũng không còn, cổ thành cũng vở vụn, nát tan. Nửa viên gạch cũng không còn nguyên, nói chi tới cả viên gạch, cả thành phố.

Trên thực địa, quê hương không còn, hình hài Hùng, mẹ và anh cũng đã nằm yên dưới mộ. Nhưng những gì còn lại trong tâm hồn tôi thì sao? Tàn một cuộc chiến chinh thì một cuộc hành trình viễn xứ lại bắt đầu. Và nhiều đêm bên nầy nửa vòng trái đất, hình ảnh những người thân yêu cũ, cùng với căn nhà yêu dấu thời niên thiếu của anh em chúng tôi, hiển hiện như những thước phim rõ nét, chiếu rọi từng góc cạnh mỗi người, mỗi cảnh. Dưới mái nhà ngói đỏ nhỏ nhắn, dưới dàn hoa giấy có những bông hoa màu tím nhạt và màu gạch đỏ tươi ở sân trước, bên cạnh hàng tường vi cao tới đầu người nở hoa thơm ngát mỗi độ xuân về, hình bóng mẹ, anh và em tôi hiển hiện, lui tới, chuyện vãn, nói cười.

Căn nhà ngó về hướng tây, nơi có dãy Trường Sơn xanh ngắt trùng điệp; núi chập chùng như muôn ngàn khổ đau không bao giờ dứt. Nhà tôi nằm bên bờ sông Thạch Hãn, mà sông thì muôn đời chảy xuôi mang theo nỗi nhớ nhung. Hàng dương liễu bên sông mãi mãi réo lên một điệu nhạc u buồn dù trong những ngày hè có gió Lào hay mùa đông gió Bấc lạnh lẽo.

Nỗi đau to như núi, nỗi nhớ dài như sông, nỗi buồn như liễu rũ. Ba điều ấy quyện vào nhau, xoắn chặt vào nhau, lớn dần lên mãi, chiếm ngự cả tâm hồn tôi nhỏ bé, nếu không biến thành những giọt nước mắt âm thầm thì cũng trở thành tiếng tôi thở dài trong đêm khuya thanh vắng./

hoànglonghải

Ca dao:            “Ở đời có bốn cái ngu,

Làm mai, hỏi nợ, gác cu, cầm chầu

(2) Từ giữa thập niên 1930, mẹ tôi làm chủ nhà hộ sinh duy nhứt ở thành phố nầy, khách nàng mẹ tôi rất đông. Theo phong tục Việt Nam, người ta rất trọng “bà mụ” nên mẹ tôi được nhiều người thương mến, giàu cũng như nghèo, kể các “thím” ở thị xã. Các “thím” là vợ các người Tàu ở đây. Mẹ tôi mới nghỉ hành nghề năm 1955, sau khi anh em chúng tôi khôn lớn và có công ăn việc làm.

(3)  Anh cả tôi tên là Hoàng Thế Thạnh, làm chủ báo Ý Dân ở Huế cuối năm 1949, lấy bút hiệu là Hồng Quang, chống Pháp và chống Việt gian. Nhân vụ tên Kock ám sát ông Hà Văn Lang, đổng lý văn phòng phủ thủ hiến Trung Việt, bọn chúng khủng bố, bắt anh cả tôi bỏ tù rồi thủ tiêu.

(4) Thành ở chung toán, chung trại tù cải tạo với tôi từ 1977 đến năm 1982. Năm đó, tôi được tha. Thành “thâm niên” hơn mấy năm, hiện ở Boston.

(5) Khai giảng khóa 16 Võ Bị Tổng Thống Ngô Đình Diệm lên Đà Lạt chủ tọa. Điều nầy rất có ý nghĩa. Nếu như ngày xưa, trong Phong Trào Đông Du, cụ Phan Bội Châu đưa du học sinhh sang Nhật học tại trường Đồng Văn và Chấn Võ, là để nhằm đào tạo cán bộ căn bản về hành chánh và quân sự cho Việt Nam một khi giành được độc lập. Cùng trong ý hướng đó, sau khi thành thập Đệ Nhất cộng Hòa, tổng thống Ngô Đình Diệm đặt trọng tâm vào việc đào tạo cán bộ hành chánh (chỉnh đốn trường Quốc Gia Hành Chánh) và cán bộ quân sự, chỉnh đốn trường Võ Bị Liên quân thành trường Võ Bị Quốc Gia. Kể từ khóa 16, khóa học kéo dài 4 năm, tốt nghiệp với cấp bằng cử nhân khoa học ứng dụng, mặc dù khóa nầy khi thi vào trường, thí sinh chỉ cần có chứng chỉ lớp Đệ Nhị.

(6) Vĩnh Tâm, em gái Trịnh Công Sơn, và Hoàng Tá Thích.

(7) “Nhất tướng công thành vạn cốt khô.” (Một ông tướng làm nên công mà vạn bộ xương phải phơi khô, có ý đau đớn vì cái họa chiến tranh – Đào Duy Anh – Hán Việt Từ Điển)

Đã xem 405 lần

Chúng tôi nhận thiết kế website hoặc hướng dẫn tạo website riêng với giá phải chăng.
Xin liên lạc Email: baotoquoc@hotmail.com

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.