Sau hiệp định Paris tháng Giêng năm 1973, tới mùa hè năm đó và năm sau nữa, tình hình an ninh khá hơn, nên việc làm ruộng phát triển. Vùng kinh Xà-Tón, tên Miên, còn gọi là kinh 1 Tri Tôn, kinh nầy nối từ Châu Đốc xuống kinh Rạch Giá – Hà Tiên rồi đổ ra biển, trong chiến tranh, là vùng hoang hóa.

            Vùng nầy ngày xưa ruộng tới hàng ngàn mẫu, phần nhiều là ruộng của ông chủ Ry và thầy Ban. Hai ông nầy có đào kinh để làm ruộng, một kinh bên trái kinh Xà-Tón tên là kinh Chủ Ry, bên phải là kinh Thầy Ban. Trên bản đồ quân sự, còn giữ tên hai con kinh nầy.

Ruộng bỏ hoang mấy chục năm chiến tranh, nay dân chúng, ai có khả năng thì cứ vào phát hoang, đốt đồng, trồng lúa. Ngoài vùng hoang hóa, một số vùng đất mới cũng được dân chúng khai hoang thêm.

Bề rộng, vùng làm ruộng kéo dài từ kinh Rạch Giá – Hà Tiên vô tới gần kinh Kháng Chiến mà thôi, nghĩa là gần tới ranh giới hai tỉnh Kiên Giang – Long Xuyên, không như trước kia, qua tuốt tới vùng Thất Sơn bên Châu Đốc.

Vùng dọc theo kinh Kháng Chiến, như tôi đã có lần trình bày, là đường giây 1-C của Việt Cộng nên Việt Cộng không cho dân vào. Chúng sợ bị lộ. Bề dài thì từ vùng Nam Thái Sơn, kế cận kinh Ba Thê – Núi Sập, vô gần tới núi Trầu, xã An Hòa, gần Nhà Máy Ximăng Kiên Lương.

Toàn bộ đất đai vùng nầy tốt lắm, người ta gọi là vùng than bùn, nghĩa là do lá cây rừng chết biến thành than hay đất phù sa của sông Hậu đọng lại đây. Về mùa hè, có khi vì sét đánh hay hỏa hoạn, lửa cháy ngầm dưới đất, người ta đi trên mặt đất mà không hay biết gì cả. Bỗng tới chỗ mặt đất mỏng, sức nặng bước chân làm người ta sụp chân xuống, trong khi lửa đang cháy bên dưới, bị bỏng là chuyện dễ như không!  Việc đã từng xảy ra nhiều lần, dân chúng từng có kinh nghiệm, không phải là chuyện bày đặt nghe cho thêm lạ lùng, hấp dẫn.

            Hồi xưa, vùng đất mênh mông nầy, người ta cày ruộng bằng trâu. Ai có đọc “Mùa Len Trâu” của Sơn Nam hay đã xem cuốn phim cùng tên thì rõ. Theo dân Vàm Rầy kể lại, ông chủ Ry nuôi tới những hai trăm con trâu, vừa để cày ruộng cho ông, vừa cày thuê cho người khác.

            Ngày nay, (1973) nông thôn miền Nam đã văn minh, không còn cày bằng trâu như hồi Pháp thuộc, mà dùng máy cày để cày ruộng.

            Máy cày nầy hầu hết là loại nhập cảng: John Deer, Ford, Someca, Renault, v.v… Máy cày Ford, John Deer là nhiều nhứt, nông dân thấy loại nầy thích hợp với đồng ruộng ở đây, nhiều nơi còn sình lầy, máy cày dễ bị lún. John Deer là loại máy cày mạnh, khi cần người ta móc giây xích sắt vào hai bánh sau, vượt qua được các chỗ sình lầy một cách dễ dàng.

            Không như vùng Tân Hội, là nơi nông dân địa phương tự sắm máy cày lấy, cày cho nhau. Ở đây, dân làm ruộng là từ các nơi khác tới, rất nhiều người ở thị xã Rạch Giá, Rạch Sỏi hay Hà Tiên, chớ nông dân Vàm Rầy (xã Đức Phương) thì nghèo lắm, tiền bạc đâu mà làm ruộng nỗi. Ai khá giả một chút như Tư Trạng, nhân vật tôi đã trình bày trong bài trước, làm năm bảy chục công, một trăm công là nhiều lắm. Phần đông những nông dân khác trong xã thì đi làm thuê như sạ lúa, làm cỏ hay gặt, v.v…

            Ai muốn làm ruộng, cứ tới ngay ông quận xin giấy phép, chấm một vùng đất có tọa độ ngang dọc như thế nào đó, rồi vào trỏng mà làm ruộng. Việc xin giấy phép không có gì khó khăn. Đất là đất hoang, ruộng bị hoang hóa, ai giữ làm gì mà không cho nông dân làm ruộng. Việc xin giấy phép có trà nước gì không thì tôi không rõ. Tuy nhiên, việc xin làm ruộng, chỉ mới bắt đầu, chưa có hoa lợi gì, những người có quyền biết vậy nên hình như không gây khó khăn gì. Khi nào tới mùa, thu hoạch xong, có gì thì, như người ta thường nói: “kẻ ăn cơm, người ăn cháo”, còn bây giờ là mới bắt đầu, tiền ra thì có mà tiền vô thì chưa, giỏi lắm người ta biếu chai rươu mạnh hay chầu càphê. Vậy là xong thôi!

            Tới mùa cày, cả vùng Kiên Giang đâu có nơi nào máy cày rảnh mà đi cày thuê. Máy cày đến cày thuê ở đây gốc gác từ Tây Ninh. Xe máy cày từ Tây Ninh xuống đây vài khi chạy từng đoàn năm, mười chiếc. Khoảng đầu năm 1974, hay cuối năm 1973, Cao Đài Tây Ninh có dựng một ngôi nhà, chiếm một vùng đất để làm ruộng và cho thuê máy cày ở gần ấp Lung Lớn, xã An Bình, trên ranh giới hai tỉnh Hà Tiên và Rạch Giá cũ, (ranh giới thời Pháp thuộc). Có lần đi ngang, thấy lạ, tôi ghé vào thăm thì mới hay có ông đạo (Ông ta mặc áo quần ta màu trắng, như mấy ông ông đạo ở Tây Ninh) (1) là người chỉ huy ở đây.

            Sau vụ Tư Ngọc, trưởng ban kinh tài xã Đức Phương bị bắn chết – Tôi sẽ kể trong một bài sau – Việt Cộng không dám ngang nhiên thu thuế máy cày nữa. Chúng nó biết các lực lượng như Thám báo Chi khu, Cảnh sát Đặc biệt, Võ trang Tuyên truyền Chiêu hồi, Thám Sát tỉnh, v.v… theo dõi, bám sát để “giải hóa hạ tầng cơ sở Cộng Sản”, (danh từ Phượng Hoàng) nhất là cán bộ kinh tài Việt Cộng đi thu thuế máy cày nên chúng nó sợ, tránh mặt, nhờ nông dân địa phương thu thuế máy cày dùm.

Đó là trường hợp Năm Tu-Hú.

            Một hôm tôi xuống Vàm Rầy, đang ngồi trong một quán hủ tiếu, uống càphê, thì có ông quận trưởng Nguyễn Đình Phúc ghé lại cùng uống càphê với tôi. Được một lúc, ông ta bỏ đi, chỉ ít phút sau, ông ta trở lại, đứa cho tôi xem mảnh giấy xé từ trong tập vở học trò, viết nghệch ngoạc mấy chữ: “Tới sau lưng nhà Năm Tu-Hú, sẽ thấy vật lạ.”

            Thấy tôi đọc xong, quận Phúc nói với tôi:

            – “Anh thấy không?! Chỉ có tui làm quận dân mới thương như vậy thôi! Tui biết dân thương tui lắm mà!”

            Ngồi bên cạnh tôi là thiếu úy Hồ Văn Ra, trưởng cuộc Cảnh Sát xã Đức Phương (Vàm Rầy), cũng đọc tờ giấy đó, bèn nói với tôi:

            – “Sáng nay có chiếc xe hàng từ Rạch Giá lên, chạy ngang Cuộc, có đưa cho tôi miếng giấy như vầy!”

            Tôi hỏi:

            – “Ông báo cáo chưa?”

            – “Chưa.” Thiếu úy Ra trả lời.

Thấy mất mặt với quận Phúc, tôi chưởi thầm: “Làm ăn như con c. Mấy đứa nầy chỉ lo đi kiếm tiền!” Rồi tôi hằm hằm bỏ đi ra xe tôi đang đậu bên kia đường.

Thiếu úy Ra đi theo tôi. Tôi hỏi:

– “Ông biết nhà Năm Tu-Hú không?”

– “Dạ, biết!” Ra trả lời.

– “Ông đi với tôi chỉ nhà.” Ra lên ngồi bên cạnh, tôi lái xe.

Tài xế và “tà lọt” ngồi phía sau.

Tôi chạy xe xuống gần Đồn Giữa, ranh giới hai xã Đức Phương và Tín Đạo (thuộc Kiên Giang). Thiếu úy Ra chỉ nhà, bên phía bờ kinh Rạch Giá – Hà Tiên. Nhà Năm Tu-Hú giống như nhiều nhà khác, hầu hết là nhà tranh, vách lá, mặt quay ra kinh, lưng quay ra lộ.

Tôi vừa tắt máy xe thì nghe tiếng xe quận Phúc ngừng ngay sau xe tôi. Tôi nghĩ bụng: “Ông nầy nghĩ chắc có gì ngon, sợ tôi lập công một mình.” Từ ngoài lộ, tôi đi thẳng vào nhà Năm Tu-Hú, trong nhà không có ai. Tôi đi quanh các nhà bên cạnh, cũng chẳng có ai, người ta đi “làm đồng” hết rồi, ngoài một thương binh VNCH, mất một chân.

Hỏi thăm anh thương binh vài lời xong, tôi đi ra vườn sau nhà Năm Tu Hú, một cái vườn nhỏ, mỗi bề chưa tới 10 mét. Cỏ hôi mọc um tùm, lên gần tới ngực. Tôi vạch cỏ, đi sâu vào vườn, vừa đi vừa tìm. Thấy một gói giấy trắng nằm trên đầu cây cỏ hôi, tôi nói to: “Đây rồi!” Quận Phúc nhắc chừng tôi: “Coi chừng chất nổ.” Tôi nhẹ tay cầm gói giấy ném xa ra đường. Gói giấy không nổ. Tôi đi ra chỗ gói giấy rơi xuống, lần nầy yên tâm hơn, mở sợi giây buộc. Trong gói có 3 chai péniciline, một gói bột ngọt, và một cái thư. Thư Việt Cộng khen ngợi Năm Tu-Hú đã có công “đóng góp” và “phục vụ cách mạng”. Quận Phúc nói: “Tôi biết mà. Tôi biết mà. Thằng Năm Tu-Hú nầy là thằng Việt Cộng.”

Tôi không nói gì, trở lại quán càphê cũ, thắc mắc: Thuốc Tây, bột ngọt, là thứ hàng đưa vào trỏng cho tụi nó. Thư là từ trỏng gởi ra, tại sao lại để chung?” Có “cái gì” đây!

Trước đây một tuần, nửa đêm, Việt Cộng tới nhà Năm Tu-Hú, bắt y đem ra giữa lộ, gần Đồn Giữa, bắn. Súng vừa nổ thì Năm Tu-Hú đứng lên được, bỏ chạy về phía Đồn Giữa. Y vừa chạy vừa la cầu cứu. Đồn trưởng Đồn Giữa, lính Nghĩa quân, không nhớ tên, từng ăn nhậu với Năm Tu-Hú nhiều lần, nổ súng báo động, mở cổng cho Năm Tu-Hú vào, chăm sóc vết thương cho y.

Bọn Việt Cộng thấy phản ứng của Nghĩa quân trong đồn, bèn rút lui. Đạn Việt Cộng bắn trúng bộ dái của Năm Tu Hú, bay mất. “Thằng nhỏ” còn lòng thòng, nhưng dái không còn, thì cái ấy chỉ còn xử dụng vào việc tiểu tiện mà thôi. Sáng sớm, đồn trưởng đón ghe tắc-ráng đưa Năm Tu-Hú về điều trị tại bệnh viện Quân Dân y Rạch Giá.

Tại sao Việt Cộng xử bắn Năm Tu-Hú?

Năm Tu-Hú thuộc hạng dân địa phương gọi là “trời thần đất lỡ”. Y đi lính rồi đào ngũ nhiều lần, ít ra có gần chục KBC (Khu bưu chính của đơn vị quân đội VNCH). Y giao thiệp rộng, nhậu lai rai với Nghĩa quân, với Cảnh sát, Xây dựng Nông thôn, ai có quyền thế thì y dúi cho ít tiền uống càphê chơi. Y có vài ba vợ, có năm bảy đứa con, nhưng chỉ ăn chơi, chẳng lo gì cho vợ con cả, vợ con sống sao thì sống. Y như con chim tu-hú, không làm tổ, khi đẻ trứng thì đẻ vào tổ chim cu. Chim cu ấp, nở ra con, cu lo kiếm mồi nuôi con. Đến khi đủ lông cánh, tu-hú bay mất, lại trở thành những con chim tu hú đẻ bậy, không ấp trứng, nuôi con bao giờ.

Cái tên Năm Tu-Hú của y do dân trong xã đặt cho, là do câu chuyện như vậy.

Do đâu mà y có tiền? Như tôi nói ở trên, Việt Cộng sợ Quốc Gia phục kích, nhờ y thâu thuế máy cày giúp. Bản chất y không ngay thẳng, thâu mười, y đóng lại cho Việt Cộng bốn năm mà thôi, còn lại bao nhiêu, tiêu xài thả xăng. Mỗi chiếc máy cày đóng thuế cho Việt Cộng ít nhứt là 30 ngàn. Y thâu cả chục cái máy cày như thế, vậy y có bao nhiêu tiền? Đâu phải số tiền nhỏ! Lần hồi Việt Cộng biết y “chơi cha” trên đầu chúng, bèn nửa đêm về bắt y đem ra xử tử.

Biết chuyện rồi, tôi nói với quận Phúc: “Việt Cộng muốn nhờ tay Quốc Gia diệt thằng Năm Tu-Hú đây! Mưu nầy còn thấp lắm, khó qua được bọn mình. Có cho vàng thằng Năm Tu-Hú cũng không về nhà ban đêm, Việt Cộng làm gì nó?” Xong, tôi giải thích sự việc cho ông ta nghe. Quận Phúc không vui, nói: “Thôi! ông muốn làm gì thì làm.”

Tôi bảo thiếu úy Kiệt, phụ trách Cảnh Sát Đặc Biệt: “Ông ra Rạch Giá tìm thăm thằng Năm Tu-Hú, giải thích sự việc cho Năm Tu-Hú nghe. Xong, ông dụ hắn khai hết những gì hắn biết. Nếu hắn không khai thì ông dọa nó, bảo nó thâu thuế cho Việt Cộng, có thể mình cho nó vào tù ngồi chơi. Phen nầy chắc dớt (vớt) thêm một đám giao liên nữa đấy.”

Năm Tu-Hú khai hết, ai đóng thuế cho Việt Cộng, ai làm giao liên, chỉ điểm, báo cáo, v.v… Kết quả chỉ thêm nhức đầu, nhiều chuyện… Ông Tư Vịnh, con chiên của linh mục Lương Công Đại, ở thị trấn Kiên Lương, xuống Vàm Rầy làm ruộng, dính vô tội làm “giao liên” cho Việt Cộng, bị điều tra. Sợ ở tù, ông ta nhờ cha Đại nói giúp với chính quyền. Hôm cha Đại mời tôi tới ăn cơm tối, nói chuyện Năm Tu-Hú, cha nói:

– “Năm Tu-Hú làm như cướp cạn. Làm như thế là không được.”

Tôi góp ý:

– “Anh ta hứa thu thuế giúp cho Việt Cộng, rồi lợi dụng tình thế mà ăn chận của chúng. Nếu không vì lăng kính chính trị, cha cho làm như thế là thiếu chữ tín, là cướp cạn. Thật ra, mấy thằng Việt Cộng ở trong bưng, lấy cái thế có súng đạn trong tay mà bắt dân đóng thuế thì bọn chúng cũng như tướng cướp Phong Lai trong Lục Vân Tiên vậy. Tựu chung, cũng là bọn ăn cướp cả.”

Cha Đại nhìn tôi cười, không nói gì, nhưng tôi biết chắc cha đồng ý về nhận xét của tôi.

Sau vụ Năm Tu Hú, một số bị bắt nhưng hầu hết được tha, dân chúng yên tâm hơn và hợp tác với chính quyền nhiều hơn, nhờ vậy, chúng tôi biết rõ và nhiều tin tức hơn các cuộc di chuyển quân của Việt Cộng trên đường 1-C.

Hôm làm phiếu đề nghị lên “loon” cho thiếu úy Kiệt, ký giấy tờ xong, tôi nói với ông ta:

-“Hai năm nay mình “vớt” được nhiều vụ ngon lành: Ông đạo Sáu, Ba Nhân, Sáu Chơn, Tư Ngọc… Tôi vui vì nhờ có ông.”

Kiệt hỏi:

-“Đại úy liệu có kết quả không?”

-“Được chớ sao không. Hôm họp với “xếp”, ông ấy nói với tôi ông là người làm việc có kết quả nhất so với các ông phụ tá ở các quận khác. Còn ông Giúp, lần nào về Rạch Giá lại chẳng đi nhậu với cả đám ngoài ấy, đâu có riêng ai. Tui nghĩ tui nói được. Ông nói một tiếng với thiếu tá Ẩn, chắc cũng dễ thôi. Khó là ở Khu, mấy cha trên đó tệ lắm!

Một lúc sau, tôi nói:

-“Đời nghĩ cũng buồn cười: Kẻ lên người xuống. Có Ông Đạo Sáu vô tù, có Năm Tu Hú vô tù thì mình mới lên “loon”.

Kiệt nói, không vui:

-“Cùng người Việt Nam cả đại úy à! “Nồi da xáo thịt” mà thôi.

Nghe Kiệt nói, tôi hiểu tâm trạng anh ta. Anh là người ngoan đạo, có ăn chay và đi chùa. Tôi nói:

-“Cứ vô tư như Năm Tu Hú lại sướng. Ai sao mặc ai, cứ “vui chơi ba ngày xuân”.

-“Nó không vô  “tư”. Nó chỉ “tư” tiền, chẳng “tư” gì tới vợ con cả.” Kiệt nói.

-“Tui sinh ra, lớn lên ở một vùng nghèo khổ, cái ăn cái mặc của vợ con là nỗi ưu tư hằng ngày, vô tư làm sao được!”  Tôi nói.

Nghe tôi nói tới “vùng nghèo khổ”, Kiệt nói:

-“Việc định cư cho dân Quảng Trị của đại úy chạy loạn tới đâu rồi?”

-“Hôm Trung tướng Đôn về họp ở đây, tui có trình bày, đề nghị một vài điều. Ông Đôn đồng ý xử dụng khu “rừng cấm” ở Vàm Rầy làm khu định cư, nhưng không “đem con bỏ chợ” được. Vùng nầy còn cả ngàn mẫu đất hoang. Nhiều công trình phải được xây dựng trước khi đồng bào của tui đến ở. Trước hết là giao thông: Đường bộ, đường kinh. Hai là khu thị tứ, có chợ, có bến xe để dân chúng mua bán, trao đổi. Ba là khu bệnh viện, trường học, khu thể thao cho thiếu niên, nhà máy nước, nhà máy điện… Bốn là khu văn hóa, có phòng thông tin, đọc báo, có chùa có nhà thờ. Nhà thờ với chùa hơi xa nhau một chút, để tín đồ mỗi bên khỏi ngó qua nguýt lại mà sanh chuyện. Kinh nghiệm tui ở Cái Sắn đấy!”

-“Dinh điền Cái Sắn thì sao?” Kiệt hỏi.

-“Nhìn chung thì được, cũng nhờ mấy ông cha, tuy chưa hoàn chỉnh về trường học, y tế. Tui nghĩ về căn bản cũng tương tự như vậy, nhưng phải làm nhiều hơn, đầy đủ hơn.

-“Về an ninh?” Kiệt hỏi.

-“Chính quyền Quốc gia có một quan niệm chứng nhắc về an ninh. Cho đóng đồn là xong. Làm vậy đâu có “Bảo vệ Dân chúng” như bài học Phượng Hoàng đâu! Vấn đề là giữ dân, không cho Việt Cộng “đụng tới dân”. Đằng nầy, đóng đồn. Tối lại, hè nhau rút vô đồn ngủ, bỏ mặc dân chúng cho Việt Cộng. Nếu bảo vệ dân thì Năm Tú Hú không thể bị Việt Cọng xách đầu  ra giữa lộ bắn bỏ. Tụi nó chưa vô tới ấp thì mình đã nổ súng rồi. Vậy mới “Bảo vệ Dân chúng” chớ!”

Kiệt nói: “Ai cũnh lạnh giò”.

-“Dân chúng cũng lạnh giò vậy. Muốn khỏi lạnh giò thì Việt Cộng bảo gì nghe nấy, biểu gì làm nấy. Đánh giặc kiểu nầy, một trăm năm nữa cũng chưa xong.”

-“Vậy mà người ta hát “Yên giặc anh sẽ về”. Kiệt cười cười nói, nhắc tới một câu hát.

-“Ông biết không, hồi mới ký Hiệp định Paris, khi còn ở Cái Sắn, nhân vụ hai thương phế binh cầm lựu đạn tới cướp nhà trưởng ấp, bị trưởng ấp bắn chết tại chỗ, tôi có nói chuyện với ông thiếu tá Huỳnh Đầm Sắn, cứ như vầy, mai mốt lính giải ngũ về là phiền lắm. Mỗi tên ra về lén cầm theo một trái lựu đạn, nhậu nhẹt phá xóm phá làng là chết người ta.”

-“Đại úy không nghĩ chúng nó cũng lo làm ăn sao?

-“Lo làm ăn gì! Vừa lớn lên, chưa kịp quen với ruộng rẫy đã bị lôi ra khỏi nhà, dí vào tay chúng nó cây súng, tập chúng nó bắn giết. Bây giờ trả chúng nó trở lại quê, khó mà quen cầm cái cày, sau khi đã quen cầm súng. Biểu chúng nó ở yên, làm ăn làm sao được? Chính phủ phải có chương trình gì đó, cho chúng nó tập quen với đời sống dân sự, thôn quê, cũng như ngày trước đưa chúng nó vô quân trường tập bắn súng, đánh giặc vậy.”

Kiệt nói: “Nói thì dễ làm cho được bộ đại úy tưởng dễ lắm hay sao!?”

-“Khó cũng phải làm, không có cách nào khác!” Tôi nói, cương quyết. Khó nhất là ở miền Tây nầy. Ông biết tại sao không?”

-“Không.” Kiệt nói.

-“Tui lưu lạc từ vĩ tuyến mà vào đây, thấy làng xã mỗi nơi mỗi khác. Làng ở vùng Bắc bộ, mìền Trung, thành lập từ lâu đời, có hàng trăm hàng ngàn năm, có lề thói, có phong tục, có lệ làng, phép vua còn thua lệ làng. Làng ở trong Nam, nhất là miền Tây, khác nhiều, chỉ mới thành lập có một vài trăm năm. Kinh tế chưa “định hình” làm sao văn hóa, phong tục vững chắc. Tụ tập về đây là lưu dân, từ thời Chúa Nguyễn, Tây Sơn. Lưu dân thì có máu giang hồ phiêu bạt, lính tráng thì có máu ngang tàng, phá phách. Cả hai cái đó tồn tại nơi đám thanh niên giải ngũ ra về. Nếu không có cách kềm giữ, giáo dục, hướng nghiệp, họ dễ sinh giặc vì đói khổ, hoặc tụ họp cướp đường cướp chợ. Tên nào chỉ nhậu mà phá xóm phá làng, xem ra là đỡ lắm rồi.

-“Nghe nản quá!” Thiếu úy Kiệt nói.

-“Còn một điều nữa. Ở lính, khỏi lo ăn lo mặc. Tới tháng có ít tiền lương đi nhậu. Giải ngũ rồi, không có chi hết, phải tự lo hết mọi thứ cần thiết, lại không có tiền lương, dễ làm cho chúng nó đi ăn cướp để mau có tiền./

hoànglonghải

(1)- Biết ông ở Tây Ninh về, tôi hỏi thăm một người quen, ông đại úy Khanh (đại úy Cao Đài hồi 1950), một người cùng quê, tha phương cầu thực, lưu lạc vào Nam. Qua ông đạo, tôi được biết ông Khanh làm lớn trong Cao Đài Tây Ninh.

hoànglonghải - Hương Tràm Trà Tiên