Sau đợt bắt bớ, mặc dầu nhiều người được tha, chỉ có một mình Sáu Chơn bị giải giao cho Ủy Ban An Ninh Tỉnh, thái độ dân chúng đối với chính quyền Quốc Gia cũng đổi khác, hợp tác nhiều hơn vì không còn sợ Việt Cộng như trước. Bọn Cộng co cụm lại, không dám ngang nhiên hoạt động. Rút sâu vô rừng tràm, chúng không còn lập trạm sát gần ngoài kinh Rạch Giá – Hà Tiên mà tuốt ở trong xa để cấm hoặc thu thuế người vào đốn tràm.

Tình hình lắng dịu một thời gian.

Một hôm, thiếu tá Khánh, chi đoàn trưởng một chi đoàn thiết giáp thuộc Thiết Đoàn 16 Kỵ Binh, gặp tôi ở Vàm Rầy, hỏi:

– “Tôi muốn đi tắt về Châu Đốc, ông liệu tôi có thể đi dọc theo kinh Xà Tón mà về trên ấy được không?”

Tôi giải thích:

– “Không nên! Trước hết, không chừng ông phải đụng tụi nó. Ít thì tụi nó chỉ có mấy tên du kích; có thể chúng nó chém vè! Lỡ khi có đơn vị từ Kampuchia qua, ban ngày dừng chân trên kinh Kháng Chiến, để tối lại di chuyển tiếp thì ông mệt với chúng nó. Bây giờ, ít khi chúng di chuyển ít người, phải cở tiểu đoàn trở lên. Bọn nầy phần đông là từ ngoài Bắc mới vô, trang bị đầy đủ.”

 – “Được rồi, tôi sẽ liên lạc với biệt khu để biết tình hình chúng nó. Tôi muốn biết địa hình?” Thiếu tá Khánh nói.

– “Không cách chi đi được. Xe M113 của thiếu tá một là chạy trên đất cứng, hai là lội nước. Vùng nầy toàn sình lầy, không có nước để lội, cũng không có đất cứng để chạy, xe M113 bám vào đâu mà chuyển.”

 Thiếu tá Khánh lại hỏi tôi:

– “Ông có bị rồi?”

Tôi cười:

– “Không. Tôi đoán chừng. Vã tôi học bài “lội nước” ở cầu Rạch Chiếc, khi lên bờ nhằm chỗ lầy, mắc kẹt luôn, phải gọi Wrecker đến kéo về. Lần ấy tụi tôi bị thiếu tá Thương chưởi một trận dữ nên lấy đó làm kinh nghiệm. Nếu muốn biết kinh nghiệm sình lầy vùng nầy, nên hỏi “Đường Sơn Đại Huynh”. Bây giờ mà gặp ông cũng khó lắm”. (1)

Sau khi liên lạc với Biệt khu, thiếu tá Khánh nói với tôi:

– “Một đơn vị lớn của tụi nó đang di chuyển phía biên giới, chuẩn bị xâm nhập Hà Tiên. Thôi, tôi đi đường vòng cho xong.”

Đường vòng là ông phải cho chi đoàn đi qua ngã Rạch Giá, Long Xuyên rồi mới tới Châu Đốc, đường dài gấp 4 hoặc 5 lần.

Mấy ngày sau, thiếu úy Kiệt nói với tôi rằng có một đơn vị “Bắc Việt xâm nhập” đang dừng chân trong kinh Kháng Chiến, có lẽ chờ đêm tối di chuyển về Tà Keo, vượt cây Số 15 để về Chương Thiện.

Tôi hỏi:

– “Dân họ mới báo?”

– “Vâng!” Thiếu úy Kiệt trả lời. “Nón cối, không có nón tai bèo. (2) Nói toàn Bắc Kỳ. Dân họ báo vậy. Tui báo cáo cho chi khu và biệt khu rồi.”

Tôi đi gặp trung tá Hồ Đàn, (Khi còn ở BCH- Thiết Giáp, tôi từng làm việc với ông, khi ấy ông còn mang loon đại úy), thiết đoàn trưởng Thiết Đoàn 16, ông đang nhậu ở quán TL, Chợ Tròn. Nghe tôi nói chuyện Cộng Sản chuyển quân, ông nói:

– “Tôi biết rồi. Chút nữa anh đi với tui xuống Vàm Rầy. Tôi chụp cho bọn nầy một trận.”

Chưa có kinh nghiệm việc nầy, nhưng tôi không hỏi, để thử coi ông ta làm gì.

Nửa tiếng sau, khi tôi cùng Trung tá Hồ Đàn tới Vàm Rầy thì pháo binh đã đặt hai cây súng 105 ly sẵn bên bờ kinh, kế một quán chạp phô của người Tàu. Trung tá Hồ Đàn và tôi vào quán càphê, trãi bản đồ ra, xem tọa độ chỗ đang đóng của quân Cộng Sản Bắc Việt xâm lược. Tôi loay hoay, không nắm rõ chúng nó đóng ở đâu! Một lúc sau, tôi gọi Ngô Văn An, trung sĩ Cảnh Sát xã Đức Phương, con ông xã trưởng Ngô Văn Àn tới, hỏi:

– “Anh có bết rõ chỗ tụi nó đang đóng quân không?”

An nói:

– “Dạ không! Dân họ báo tụi nó đông lắm, treo võng nằm trong rừng tràm, balô với súng máng trên cây.”

Tôi biết bây giờ tới “mùa nước nổi” (nước đang lên), chẳng có chỗ nào đất liền nên chúng phải treo võng nằm. Tôi hỏi An:

– “Ai rành trỏng?”

– “Dạ! Chín Đực, để em đi tìm Chín Đực.”

Chín Đực vừa là truởng ấp Vàm Rầy, vừa là cựu hồi chánh viên, khi theo Việt Cộng, anh ta hoạt động trong ấy, nên rành đường.

Một lúc Chín Đức tới, tôi hỏi:

– “Anh có biết dân họ báo tụi nó ở đâu không?”

Chín Đực cho biết chỗ của chúng ở quá ngã tư kinh Xà Tón và kinh Kháng Chiến cỡ một cây số, trong rừng tràm. Tôi tìm rừng tràm trên bản đồ, thường có màu xanh lá cây, gần ngã tư hai con kinh nói trên. Tôi gọi Chín Đức tới, ngó sát bản đồ, chỉ cho anh thấy đường vẽ kinh Kháng Chiến, đường vẽ kinh Xà Tón, quá kinh Chủ Ry và kinh Thầy Ban một khoảng, phía bên tay phải là khu rừng tràm. Chỉ vào khu rừng tràm, tôi nói:

– “Chỗ xanh xanh nầy là khu rừng tràm. Anh có nghĩ là chúng nó đóng ở đây không?”

– “Dạ đúng! Chắc chắn chỗ nầy.” Chín Đực trả lời.

Nãy giờ Trung tá Hồ Đàn ngồi im, theo dõi tôi trao đổi với An và Chín Đực. Tới khi nghe Chín Đực trả lời chắc chắn, ông ta cúi xuống. Sát bên cái đầu của ông là cái đầu của tôi. Chúng tôi khoanh vùng rừng tràm, chấm tọa độ bốn phía. Xong, Trung tá Đàn gọi anh lính mang máy truyền tin tới.

Mười phút sau, hai cây đại bác 105 ly bắt đầu nhả đạn. Tôi và trung tá Hồ Đàn bước ra sân, ngó về hướng rừng tràm. Chưa được nửa phút sau, đạn nổ phía trên các ngọn cây tràm. Ban ngày, không thấy lửa, chỉ thấy khói tỏa ra từng chùm như đám mây cuộn, khá đẹp. Tôi nói với trung tá Đàn:

– “Trông như pháo bông!”

Trung tá Đàn nói:

– “Tôi cho nổ chụp, như người ta chụp nơm, từ trên chụp xuống, chạy ngã nào cho thoát.”

– “Ban đêm có thấy pháo nổ trên trời như vậy không, Trung tá?” Tôi hỏi.

– “Trông như đốt pháo bông. Đẹp lắm!” Trung tá Đàn giải thích.

Tôi nói đùa:

– “Không chừng người ta bảo rằng mình đốt pháo bông chào lính cụ Hồ.”

Trung tá Đàn lại cười:

– “Đốt pháo chào kiểu nầy chết cha tụi nó luôn!”

Chín Đực đứng phía sau tôi, nói:

– “Ngay chóc rồi ông thầy. Đúng là chỗ tụi nó đang đóng quân.”

Trung tá Đàn nói:

– “Đánh giặc kiểu Mỹ nên “lấy của che thân”. Anh cứ tìm tin tức, chỗ nào có tụi nó, mình cứ đốt pháo bông mà chơi. Bị trận nầy, chúng khó chuẩn bị kịp lực lượng để đánh mình, tối ngủ yên.”

Khoảng nửa tiếng sau, thôi bắn. Hai cây súng đại bác được kéo về Kiên Lương, Trung tá Đàn cũng về theo. Trời còn sáng, tôi nán lại một chút, về sau. Đang khi đứng gần chợ, ông già Tàu chủ tiệm chạp phô, mặt mày thảm não, có vẻ sợ sệt, nói với tôi:

– “Ông “xầy” ơi! “Pể” kiếng của tui hết zồi!”

Chưa hiểu chuyện gì, thì xã trưởng Àn đi tới, giải thích:

– Súng để trước tiệm ông, tiếng súng dội làm bể hết cả chục tấm kiếng cái tủ trong nhà, ông ta khiếu nại với tui, tui biểu đến gặp ông.”

Tôi nói:

– “Pháo binh bắn chớ tui có bắn đâu! Hồi nãy sao không nói ngay với ông Trung tá?”

– “Ông ta sợ, không dám nói, chỉ nói với tui.” Xã trưởng Àn nói.

– “Nói vậy chớ có nói với ông Trung tá, ông cũng chẳng có tiền mà đền. Thôi! để tôi nói với ông phó Nghiêm. Ông làm tờ trình với ty Xã Hội, may ra được chút đỉnh.” Tôi an ủi.

Ông chủ tiệm nghe nói cũng an tâm. Vã ông có đi kiện cũng không biết kiện ai, ở đâu. Biết ông xã trưởng thì nắm áo ông xã trưởng. Ông xã trưởng đẩy qua cho quận, quận đẩy lên tỉnh, may ra được chút an ủi chớ biết bao giờ mới được đền, và đền bao nhiêu cho đủ.

Sau đó, ông phó Nghiêm nói với tôi theo nguyên tắc, ty Xã Hội không bồi thường cho những trường hợp lẻ tẻ như vậy. Chỗ nào có đánh nhau to mới có “bồi thường chiến tranh”. Thành ra ông già Tàu chủ tiệm chạp phô chẳng được chút tiền nào. Tuy nhiên, cũng nhân dịp Việt Cộng đánh vào xã Đức Phương, tuy không có nhà nào bị cháy, bị sập để được “bồi thường” bốn chục ngàn và hai chục tấm tôn lạnh (tôn của Úc Đại Lợi) như thường lệ, nhưng ai ai cũng được Ty Xã Hội cứu trợ, cho lãnh gạo và thức ăn đóng hộp. Nhân dịp đó, xã trưởng Àn có “chiếu cố” cho ông già Tàu chút ít. Gặp tôi, ông ta lại cám ơn rối rít. Tôi nghĩ thầm: Lãnh chưa tới hai giạ gạo, có gì mà ông ta mừng lắm vậy?!

Dân miền quê họ có một kinh nghiệm về bầu bán. Năm ngoái, bầu hội đồng tỉnh. Có ông giáo sư dạy ở trường trung học Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá ra ứng cử, thầy trò đi vận động, thấy cảnh tượng rộn ràng, cũng vui, nên tôi nói chuyện với một gia đình người Miên ở ấp Xà Ngách, sao không bầu cho ông thầy giáo, ông có học, biết luật lệ, biết đấu tranh cho đồng bào. Bầu lại một kỳ nữa cho ông hội đồng Lâm Văn Chà, ông không có trình độ, biết lo gì cho dân!?

Bà vợ nói:

– “Tui bầu cho người ở đây thôi! Có chi tui tới ông cho gần. Ông thầy giáo ở xa, đi gặp ông mệt lắm!”

Đó cũng là cái tâm lý ông chủ tiệm chạp phô gặp ông xã trưởng khi ông muốn khiếu nại về việc pháo binh bắn súng làm bể kiếng nhà ông.

Sáng hôm sau, tôi lại xuống Vàm Rầy coi thử tình hình hôm qua như thế nào!

Vào quán càphê xong, tôi biểu nhân viên gọi Chín Đực tới uống càphê với tôi, mục đích để nghe ngóng việc hôm qua như thế nào. Chưa kịp ngồi xuống, Chín Đực nói:

– “Bữa nay dân đốn tràm thả giàn!”

– “Sao vậy?” Tôi hỏi.

– “Trận hôm qua, tụi nó chạy trối chết, trốn đâu mất tiêu.” Chín Đực giải thích. “Bữa nay, du kích canh gác cũng không. Tụi nón cối di chuyển hết, nhưng có lẽ bị thương và chết cũng nhiều. Có bao nhiêu chúng chở xuồng ngược lên Trà Tiên (3). Nhiều cái võng còn mắc trên cây, đạn xuyên như tổ ong. Balô, nón cối vất lung tung.”

Uống xong nửa cái “xí nại” (4), Chín Đực nói nhỏ với tôi: “Tui có cái nầy cho ông thầy!?

– “Cái chi?” Tôi hỏi.

– “K-59. Ngon lắm. Cấp cao mới có súng nầy.” Chín Đực nói.

– “Đâu vậy?” Tôi hỏi.

– “Tư Gà lượm trong đó chớ đâu!” Chín Đực giải thích.

Tôi nhớ ông Tư Gà nầy. Ổng bị què một chân, hai con nhỏ, vợ chết. Ông ta chuyên đi giăng lưới bắt cua trong đồng sâu, món hàng nầy bán được giá hơn. Và ông ta cũng bị bắt vì tội làm “giao liên.” Thấy ông ta thương tật, vợ chết, lại có con nhỏ nên bị giam hai hôm thì được tôi tha về, sau khi làm tờ cam kết không hoạt động cho Việt Cộng nữa. Về cái chân què, ông ta khai là bị trực thăng bắn lầm, nhưng tôi biết chắc là trong một lần đụng độ với quân đội VNCH, ông bị thương khi ông làm du kích trong kinh Kháng Chiến, vợ ông ta cũng chết trận đó. Dân Vàm Rầy thương tình nuôi giúp hai đứa con, còn Tư Gà, sau khi xuất viện ở Rạch Giá, bỏ không theo Việt Cộng nữa, lo đi làm nuôi con. Biết thì biết vậy nhưng cũng coi như ông ta “chiêu hồi”, để yên cho ông ta nuôi con. Khui quá khứ của ông ta ra, bỏ tù, ai nuôi hai đứa con của ổng, phiền lắm! Tránh đi một chuyện phiền cho nó khỏe bụng, tôi nghĩ vậy. Không ngờ nhờ vậy mà ông ta nhớ ơn, lượm được cây K-59 trong rừng tràm, lén giao Chín Đực đem biếu tôi. Nghĩ lại, ông ta cũng dại. Tại sao ông ta biết K-59 là loại quí, phải chỉ huy cao cấp mới có. Tại vì ông ta từng theo Việt Cộng nên ông ta biết vậy chớ gì! Vậy mà ông ta khai gian là bị trực thăng bắn lầm, không phải vì vì theo Việt Cộng mà bị thương. Cho tôi cây súng, khác chi “Lạy ông tui ở bụi nầy”. Ông ta khôn mà chẳng ngoan chút nào cả. Đúng là dân nhà quê thiệt thà!

Cây súng ông ta cho, tháng sau tôi đem đổi cho đại úy Vương của Trung Đoàn 16 lấy cây Titan nhỏ bằng bàn tay, lận vô túi quần ra Rạch Giá chơi, gặp Philip Đạt, anh ta tước mất. Đòi lại, anh ta bảo là đem biếu cho Tướng Nam rồi. Không biết việc Philip Đạt nói thiệt hay giả. Ông nầy cũng “ba trời” lắm!

Việc đốt pháo bông, sau nầy Trung tá Đàn và tôi “bổn cũ soạn lại” một lần nữa, khi nhận tin Việt Cộng đóng quân ở cuối kinh Lình Quỳnh, gần cửa sông. Khi đại tá Biếc về làm tư lệnh khu chiến thuật, ông cũng lại biểu tôi “lấy của che thân”. Ghi nhận tin tức Việt Cộng đóng ở đâu, gởi cho chúng nó “ít chục quả làm quà”, như lời ông ta nói. Đến hồi Trung tá Trần Xuân Hải thì gặp tai nạn. Thay vì đạn vô tới mục tiêu mới nổ thì một quả nổ ngay trên nhà dân ở ấp Ngã Ba, trên bờ kinh đi Hà Tiên, cả nhà bốn người bị thương lúc còn đang ngủ. Đang đêm, trung tá Hải phải xin trực thăng tải thương thật gấp. Mọi việc lặng lẽ êm xuôi, cố dấu không cho ai biết, chớ không thì ông ta bị kiện tụng lôi thôi lắm, nhất là lỡ khi mấy chả dân biểu đối lập hay hội đồng tỉnh muốn kiếm phiếu trên cái đau khổ của của những người khác!

Hú hồn.

hoànglonghải

(1) Tiếng lóng trong giới thiết giáp ở miền Tây thường dùng để gọi Trung tá Lý Tòng Bá, khi ông làm Thiết Đoàn Trưởng thiết đoàn 9 ở miền Tây. Khi xe bị lầy, đứt xích phải thay, ông cùng làm với lính, mặc dù xe đang ở giữa đồng lầy, nên các ông sĩ quan trẻ chẳng ai dám “chắp tay sau đít”. Qua tinh thần đó, binh lính, sĩ quan mới gọi ông một cách thân mến là “Đường Sơn Đại Huynh”. Trước 30 tháng Tư – 75, ông lên loon chuẩn tướng, làm tư lệnh sư đoàn 25. Trong một buổi học chính trị tại L3-T3 Trảng Lớn, một cán bộ Cộng Sản “lên lớp”, gọi ông là tên “ác ôn”, hoàn toàn ngược lại với quan điểm binh sĩ từng biết hay phục vụ dưới quyền ông.

(2) Quân đội Bắc Việt xâm lược từ miền bắc vào thường đội nón cối. Bộ đội địa phương như tỉnh đội, huyện đội thì đội mũ tai bèo. Dân chúng căn cứ vào đó để phân biệt.

(3) Trận nầy, có lẽ bệnh viện huyện đội Hà Tiên của Nguyễn Tấn Dũng khẳm lắm, thương binh để đâu cho hết!

(4) Càphê sữa, tiếng Tàu của người miền Tây.

Diễn Đàn Facebook

hoànglonghải - Hương Tràm Trà Tiên