Tan buổi họp Phượng Hoàng, trung sĩ Thân, trung đội trưởng thám báo chi khu, nói với tôi:

            – “Vợ thằng Tư Ngọc mấy bữa nay đeo vàng đỏ mình!”

            Tôi hơi ngạc nhiên, tính hỏi nhưng giả bộ làm thinh để coi thử trung sĩ Thân muốn nói chuyện chi. Tôi là dân sinh ra và lớn lên rồi đi dạy ở thành phố, đi đánh giặc ở miệt ruộng, nhiều khi lớ ngớ có biết gì đâu!

Tư Ngọc thì tôi biết, trưởng ban kinh tài xã Đức Phương của Việt Cộng. Vả lại, trong buổi họp vừa rồi, thiếu úy Ra mới báo cáo hoạt động của Tư Ngọc trong mấy ngày qua: Hôm trước thì chỗ nầy, hôm sau thì chỗ kia. Vạch một phóng đồ theo sự xuất hiện của y để phỏng đoán ý đồ thì rõ ràng y đang theo những cái máy cày đang cày trong vùng sâu để thu thuế. Còn về gia đình y, tôi không rõ.

            Trung sĩ Thân nói thêm:

            – “Thằng Tư Ngọc mấy bữa nay thu thuế máy cày dữ lắm.”

            Vậy là rõ. Vợ Tư Ngọc ở ngoài bờ kinh Rạch Giá – Hà Tiên, vùng quốc gia. Thằng chồng theo Việt Cộng ở trong rừng, thu thuế, lấy bớt đưa cho vợ. Con vợ giả bộ đi làm đồng, tiếp tế cho chồng, có tiền về mua vàng đeo chơi. Làm như thế khác chi “Lạy ông tôi ở bụi nầy.” Phe quốc gia, nhiều tay kinh nghiệm, muốn có tiền, cứ theo dấu bọn kinh tài mà phục kích, thế nào cũng có tiền tiêu.

            Việc trung sĩ Thân nói làm tôi nhớ lại một lần tôi tới nhà Tư Ngọc mà tôi không hay. Hôm đó tôi đi họp ở Rạch Giá về, qua khỏi xóm Vàm Rầy chừng 100 thước thì gặp xe thiếu tá Phúc, quận trưởng Kiên Lương, trung tá Thảo, quận trưởng Hà Tiên, cũng đi họp ở Rạch Giá về, đang dừng lại trước nhà vợ Tư Ngọc, lúc đó tôi không biết nhà ai. Nhà vợ Tư Ngọc là chủ vựa tôm, cá đồng (đánh bắt trong đồng, để phân biệt với tôm, cá biển). Tài xế trung tá Thảo là anh vợ Tư Ngọc, ghé lại kiếm ít con cá lóc về nhậu chơi. Sau khi Tư Ngọc bị bắn chết, tôi mới rõ chuyện nầy.

            Tình hình vùng nầy thường như vậy, theo Việt Cộng, theo quốc gia, đan chéo nhau, không phân biệt rõ Quốc Cộng như ở dinh điền Cái Sắn.

            Sau khi nói với tôi, trung sĩ Thân lặng lẽ vạch kế hoạch với chi khu, không cho cơ quan khác biết.

            Trời vừa tối, trung sĩ Thân dẫn trung đội thám báo chi khu xuống Vàm Rầy, ém trong đồn nghĩa quân ở đầu cầu. Hai giờ sáng, Thân dẫn trung đội lội tuốt vô rừng tràm. Tới bìa rừng, Trung sĩ Thân ra lệnh trung đội nằm im, chờ trời rạng một chút để dễ thấy mục tiêu.

            Ban ngày, Tư Ngọc cùng vài ba tên du kích lội trong ruộng, tìm tới từng máy cày, thu thuế. Chiếc nào chưa kịp đóng thì bị cảnh cáo, dọa bắt tài xế hay dọa đặt mìn phá máy cày, hoặc ít ra cũng gở con heo dầu, v.v… Đố ai không đóng tiền mà được yên!

            Tối lại, bọn chúng rút về rừng tràm. Chúng chủ quan đến độ không thèm rút sâu vô rừng, tới bìa rừng là treo võng, mắc mùng ngủ qua đêm, ngày mai, “công tác” tiếp.

            Trung sĩ Thân thấy mờ mờ bốn cái mùng vải, ba cái màu xanh lá cây, một cái màu trắng. Thân nghĩ bụng: “Thằng nầy ỉ i dữ, dám treo mùng trắng mà nằm.”

            Trung đội thám báo dàn thành vòng cung, vây bốn cái mùng vào giữa. Trời hừng sáng, thấy rõ mục tiêu, trung sĩ Thân ra lệnh nổ súng. Ba cái mùng, kể cả cái mùng trắng không thấy nhúc nhích. Cái thứ tư có một tên nhảy xuống võng, chạy tuốt vô rừng, không kịp mang theo cây súng AK. Vậy là ba tên của ba cái mùng kia chết ngay tại chỗ, không kịp phản ứng.

            Trung sĩ Thân báo cáo thu 3 súng Ak, một K -54, không thấy báo cáo thu được bao nhiêu tiền ở người Tư Ngọc. Anh ta không dại. Có cây K -54 đem về biếu thiếu tá Chi Khu Trưởng là ngon rồi. Hồi ấy, một cây K -54 có thể đổi cho Mỹ lấy cái tủ lạnh cỡ vừa xài chơi như không!

            Sau đó, ai có thân nhân ở ngoài vùng quốc gia thì đem xác về chôn, mấy du kích không có gia đình vùng nầy thì dân làm đồng chôn ở những cái gò đất trong rừng, đắp một cái nấm nhỏ, chẳng có bia gì hết. Biết tên họ gì mà làm bia! Vả, dân lo chôn cho xong, để phơi giữa trời thì “tội nghiệp”. Không phải họ ưa chi Việt Cộng, nhưng ông bà ta nghĩ rằng “Nghĩa tử là nghĩa tận”. Chôn cất người chết vô thừa nhận là làm việc phúc đức. Vậy là xong. Cơ quan huyện hay xã của Việt Cộng thấy dân chôn rồi thì khỏi lo, và cũng chẳng cần dựng bia “Tổ Quốc ghi công” làm gì!

            Nếu là bộ đội Cộng Sản, khi đánh nhau xong, ai chết, Việt Cộng kéo xác đi mất tiêu. Còn bọn du kích địa phương, nếu chúng không chôn, dân phải tự lo lấy.

            Sau đó ít lâu, có hai tên du kích mò ra đặt mìn trên lộ, chỗ quá ngã ba kinh Xà Tón và kinh Rạch Giá – Hà Tiên một chút để lấy lại “uy thế”, đồng bào phải sợ. Mìn là một trái đạn 105 bị tịt ngòi. Chúng đặt ngòi mới. Lớ ngớ thế nào, quả đạn nổ khi hai đứa còn chụm đầu bên trái đạn. Xác chúng nát bấy, văng tùm lum, dân chúng phải lấy tấm nylon (thường dùng làm áo mưa) lượm từng miếng thịt xương bỏ vào, hai đứa chung một bọc đem chôn.

            Sau cái chết của Tư Ngọc, Bảy Mốc, bí thư xã, không dám ló mặt ra xa rừng tràm để thâu thuế nữa. Do đó mới xảy ra vụ Nam Tu-Hú “thâu thuế giúp cho cách mạng”, bỏ túi tiêu luôn, mới bị “cách mạng bắt đền tội.”  Ấy là nói theo kiểu Cộng Sản.

            Chồng chết rồi, vợ Tư Ngọc không còn được ưu tiên đánh bắt cá trong rừng sâu nữa, nên bỏ nghề làm chủ dựa (vựa) cá đồng. Mất chồng, mất quyền lợi, cô ta cặp với một anh lính ở tiểu khu Rạch Giá, dọn nhà đi mất!

            Tới mùa khô năm sau (1974), cũng lính thám báo chi khu phục kích bắn chết Trần Chí Tài, Phó Bí thư kiêm Trưởng ban Kinh tài huyện Hà Tiên. So theo chức vụ thì ông nầy là cấp chỉ huy trực tiếp của Nguyễn Tấn Dũng, Truởng ban Quân y huyện đội Hà tiên.

            Cũng lực lượng thám báo chi khu theo mùa mà đánh giặc nên tôi có nói là “giặc mùa”. Mùa hè năm 1974, Phó bí thư kiêm Kinh tài huyện Hà Tiên là Trần Chí Tài đi thu thuế máy cày, thuế đánh cá đồng trong những cái đìa trong rừng Trà Tiên. Lực lượng thám báo chi khu lại giả trang Việt Cộng, cũng mũ tai bèo, súng AK, áo quần bà ba đen vô rừng phục kích tụi kinh tài.

            Hơn 10 anh thám báo chi khu lang thang trong rừng, tìm không ra Việt Cộng, bỗng thấy một cái đìa lớn, cá đặc “lền khên”. Mùa nầy nước rút, cá gom lại trong đìa, thấy mà ham. Vậy là mấy “thầy” thám báo chi khu bỏ súng trên bờ đìa, lội xuống bắt ít cá.

            Đang khi lính thám báo quần thảo với đám cá lóc, cá rô thì bất đồ Trần Chí Tài đi trờ tới. Anh ta ỉ i, chỉ đi có một mình, không có bảo vệ. Vả lại, anh ta cũng tính kỹ. Đi thu thuế một mình, đâu ai biết là anh ta thu được bao nhiêu. Mặc sức khai gian, mặc sức bỏ túi riêng.

            Đìa thì ở dưới thấp, lại sậy đế đã mọc cao, nên Trần Chí Tài không thấy đám lính chi khu đang bắt cá dưới đìa. Đi trờ tới thì Trần Chí Tài thấy họ, bèn quay ngang theo hướng khác. Xui cho Trần Chí Tài là khi anh ta quay ngoắt thì gió thổi lật ngược cái áo bà ba của y lên, để lộ cây súng y dấu dưới áo.

Đang bắt cá, lính chi khu thấy người đi tới có mang súng, biết là Việt Cộng, bèn la lớn: “Việt Cộng! Việt Cộng”. Thấy lính đông mà Trần Chí Tài chỉ có một mình, lại chỉ có cây súng nhỏ, biết khó chống cự, Trần Chí Tài bỏ chạy. Cả đám lính khoảng mười người mang súng đuổi theo, vừa đuổi vừa bắn. Một băng AK có 30 viên đạn. Mười cây súng, mười băng đạn. Vị chi là có 300 viên đạn bắn theo Trần Chí Tài. Vậy là Trần Chí Tài gục ngay trên đám sậy hoang. Lính chi khu tịch thu cây K-59 của Trần Chí Tài, còn tiền bạc thì không nghe nói.

            Việt Cộng cho đó là nợ máu, nhưng sau 30 tháng Tư, điều tra không ra ai giết Trần Chí Tài. Những người dính líu trực tiếp trong vụ bắn Trần Chí Tài thì họ “tan hàng” hết rồi. Ai về nhà nấy. Nguyễn Tấn Dũng tuy ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương, nhưng anh là trưởng ban quân y huyện đội, không dính dáng nên chẳng hỏi han hay điều tra ai đã giết sư phụ của anh ta./

hoànglonghải

hoànglonghải - Hương Tràm Trà Tiên