Về miền Tây, người ta dễ thấy sự trù phú của đất đai Nam Bộ.

            Nếu không có chiến tranh, nếu cải cách hoặc làm cách mạng nông nghiệp, làm “Cách Mạng Xanh” như ở Mỹ, người Việt làm sao đói được. Trước năm 1945, diện tích làm ruộng chưa lớn lắm mà đã có gạo xuất cảng.

            Trước 1975, chỉ có những vùng tạm yên mới làm ruộng được. Đó là khu vực dinh điền Cái Sắn, kể cả ruộng hai bên Liên Tỉnh lộ 8-A, từ Ngã Ba Lộ Tẻ tới Rạch Giá.

            Đi theo Liên Tỉnh lộ nầy, bên tay trái, là khu Thạnh Đông. Khu nầy chỉ có thể làm ruộng kể từ lộ đi vào chưa tới 10Km mà thôi. Vô sâu hơn nữa, vùng Việt Cộng, chúng nó cấm dân lui tới, không làm gì được cả. Cũng phía nầy, hết Thạnh Đông là Thạnh Tây, giáp ranh với vùng Cờ Đỏ của quận Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên, ruộng bị hoang hóa, chẳng canh tác gì.

            Tôi nói hoang hóa là vì Cờ Đỏ, trước 1945 là “dinh điền” của chủ Tây. Tây mộ nông dân, phần đông là người Bắc vào làm ruộng. Vì chiến tranh, Tây bỏ đi, nông dân cũng tứ tán vì thiếu an ninh, ruộng bị bỏ hoang. Cảnh cũ còn lại là mấy ngôi nhà dài, lợp ngói, trước là kho lúa.

            Khi ông Ngô Đình Diệm cầm quyền, chăm lo cho dinh điền Cái Sắn, chưa kịp với tay qua phía đó thì ông đã bị giết mất rồi.

            Phía bên phải con lộ nầy là dinh điền Cái Sắn. Dinh điền nằm dọc theo Liên tỉnh Lộ 8-A, kể từ xã Vĩnh Trinh thuộc quận Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên là dân địa phương, còn dinh điền, phần đông là người Bắc di cư, thì kể từ kinh H nguợc lại kinh A, rồi tiếp là kinh 1 tới kinh 5, khoảng gần một trăm cây số là ruộng và kinh ngang. Kinh ngang là kinh nối từ kinh Long Xuyên – Rạch Giá với kinh Núi Sập, hai kinh chạy song song với nhau ra hướng biển. Kinh ngang dài 12Km, có nghĩa là dinh điền Cái Sắn bề ngang 12Km, toàn là ruộng. Dân chúng ở đây giàu có, tôi sẽ kề về sau.

            Bên kia kinh Núi Sập là đồng Huệ Đức, thuộc quận Huệ Đức, tỉnh Long Xuyên. Đồng Huệ Đức là “đồng chó ngáp”, nhưng toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long nầy, so ra cũng chưa ăn thua gì với những cánh đồng thuộc lưu vực sông Mississippi của Mỹ. (1)

            Nói tới việc so sánh chuyện nầy, tôi thấy buồn cười khi nhớ lại câu chuyện giữa tôi với Tư Sang, tôi đã kể trong một bài trước: “Chuyện tình con gái Tư Sang.” (2)

            Tuy vậy, đồng Huệ Đức tuy rộng như thế nhưng cũng chưa canh tác hết vì tình hình an ninh không có. Ở xã Tân Hội, thuộc quận Kiên Tân, tỉnh Kiên Giang, nhiều người nhờ làm ruộng ở đồng Huệ Đức mà giàu có như Bảy Quẹo, xã trưởng, tôi đã kể trong bài trước, Huỳnh Văn Vè (tự Mười Vè, nhà ở Rạch Giá), làm ruộng có tỉnh trưởng Kiên Giang hồi đó góp vốn (góp miệng mà thôi), đều có máy cày. Còn Võ Văn Minh, tự Út Giàu thì phải sắm GMC (loại của quân đội) để chở lúa từ trong đồng ra. Nếu hòa bình, yên ổn cho dân chúng làm ăn, việc làm ruộng ở đây sẽ phát triển lắm!

            Dọc theo Liên Tỉnh Lộ 8-A, đoạn từ Rạch Giá đi Hà Tiên, kể từ xã Mỹ Lâm là xã của Nguyễn Tấn Dũng, vô tới khu vực núi Trầu, Đông Hồ, thì một là vùng bị hoang hóa, nghĩa là trước 1945 đã làm ruộng nhưng vì chiến tranh, bị bỏ hoang, hoặc hai, là vùng chưa khai thác tới. Vùng ruộng của ông chủ Ri, thầy Ban cả ngàn mẫu, bị bỏ hoang đã mấy chục năm. Kể từ bờ biển tính ngược lên phía Bắc, tới sông Hậu, tôi ngồi trên máy bay Cessna của nhà máy ximăng Hà Tiên, bay ngang qua vùng nầy, nửa tiếng đồng hồ chưa hết vùng đất hoang. Nếu tính tốc độ Cessna, cũng tương tự như L-19, là 120Km/ giờ thì bề ngang vùng nầy không dưới 60Km. So ra cũng đúng với thực địa: Đoạn đường từ Ngã Ba Lộ Tẻ vô tới Rạch Giá, thẳng đuột, cũng dài 70km.

            Như tôi có kể trong một bài trước, ông chủ Ri đưa bàn tay tuy gầy nhưng to lớn của ông, chụp lên bản đồ, chỗ kinh Chủ Ri của ông ngày trước, nói: “Ruộng của tui là chỗ nầy nè!” Mấy tiếng “chỗ nầy nè” tính ra là cả ngàn mẫu. Tiền truất hữu của ông như thế là “khẳm lắm”.

            Chủ ruộng thì được tiền bồi thường truất hữu, còn nông dân thì được cấp cho cái bằng khoán, được chính quyền Quốc Gia xác nhận là ruộng “của mình.” Có ông chủ ruộng nào nhận tiền mà không vui. Có ông nông dân nào lãnh bằng khoán mà không sướng?!

            Tuy nhiên, tôi phải kể lại đầu đuôi việc điền địa ở phía Nam.

            Thời Ngô Đình Diệm tuy có chương trình “Cải Cách Điền Địa” nhưng không chú trọng lắm vào việc truất hữu. Một phần, Tổng thống Diệm chú tâm và bỏ tiền đầu tư cho các dinh điền và khu trù mật được thành lập nhiều nơi.

Công việc nầy có ba tác dụng lớn: Một là ổn định việc định cư cho gần một triệu dân di cư từ ngoài vĩ tuyến 17 vào Nam. Thứ hai là phát triển nông nghiệp. Thứ ba, những địa điểm dinh điền hay khu trù mật đều có tính cách chiến lược, ngăn chận hoạt động, di chuyển và thành lập mật khu của Việt Cộng.

            Vả lại, việc truất hữu, phải bồi thường cho điền chủ. Số tiền bồi thường đó lớn lắm. Chế độ Việt Nam Cộng Hòa chưa vững mạnh, làm sao có đủ tiền bồi hoàn cho chủ điền. Phải có Mỹ viện trợ mới được. Tuy nhiên hồi đó, tôi không nghe có chương trình viện trợ Mỹ nầy, ngoại trừ Mỹ hỗ trợ cho việc thành lập các khu trù mật, dinh điền và Nông Tín Cuộc (Cho nông dân vay tiền làm ruộng). Ở Long Xuyên, tôi nghe nói thời ông Ngô Đình Diệm, ông Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ bị truất hữu nhiều ruộng lắm mà không được bồi thường. Ông “hy sinh” cho dân, chẳng khiếu nại chi cả.

            Từ đâu mà Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có đủ tiền bồi hoàn cho chủ điền để thực thi chương trình “Nguời Cày Có Ruộng” của ông.

            Năm 1945, khi chiến tranh xảy ra, không ít chủ điền bị Việt Minh giết, thủ tiêu, nên họ hè nhau chạy lên Saigon hay thành phố lớn lánh nạn. Ngay như ông Chủ Ri ở Vàm Rầy (xã Đức Phương) cũng vậy. Ông là người được dân địa phương kính trọng và mang ơn. Mấy năm “Thổ dậy”, tức là phong trào người Miên cầm chà gạc, gươm, dao tấn công vô các xóm người Việt “Cáp Duôn”. (Cáp là chặt đầu, Duôn là người Việt – tiếng Miên). Ông Chủ Ri, người vừa có máu Miên, máu Việt lại lai Tây, nhà ở Vàm Rầy, có cây súng săn. Hễ thấy người Miên ùn ùn kéo tới xóm người Việt, ông cầm cây súng săn, ra đứng giữa đường, chặn người Miên lại. Ai không nghe, ông chỉ cây súng lên trời, bắn một phát, người Miên sợ bỏ chạy cả. Nhờ vậy, tình hình địa phương yên ổn, ai nấy làm ăn bình thường. Năm “Nam Bộ Kháng Chiến”, người em út của ông, cũng có máu lai như ông, cầm súng đi theo Việt Minh chống Pháp. Vậy mà Việt Minh không để cho ông Chủ Ri ở yên. Ông phải đem vợ con chạy về Rạch Giá, theo Tây để khỏi bị Việt Minh giết. Cả ngàn mẫu ruộng của ông bỏ hoang từ hồi đó.

            Khi mấy ông chủ điền bỏ chạy về thành phố, ruộng để lại, ai đem theo được?! Nông dân cứ tiếp tục trồng lúa, ai có sức làm được bao nhiêu thì làm. Những vùng hơi yên, hoặc những năm tình hình hơi yên ổn, các ông chủ điền về thâu tô. Ai nghĩ tới tình nghĩa chủ cũ thì đóng, ai không đóng cũng thôi, làm gì được nông dân! Có người, như ông Chủ Ri, thầy Ban ở Vàm Rầy, coi như mất trắng. Ruộng bỏ hoang, chẳng ai làm.

            Vậy rồi bây giờ bộ Canh Nông của Tổng thống Thiệu gọi chủ điền tới, hỏi có bao nhiêu ruộng khai ra, tính bao nhiêu mẫu để “bồi thường”. Mấy ông chủ điền coi như trúng số: Một ít trả bằng chi phiếu, một ít trả bằng công khố phiếu. Trả bằng gì cũng được, có còn hơn không. Mỗi ông chủ điền, có ông lảnh vài triệu, có ông lảnh vài chục triệu, hí ha hí hững, không quên “trà nước chút đỉnh” cho mấy thầy làm giúp giấy tờ truất hữu cho. Trong số đó, có anh Bửu T. kỹ sư canh nông là bạn với “Hùng móm”, em út tôi, kể lại cho tôi nghe. Anh ta chỉ làm giúp giấy tờ chớ không làm khó dễ ai cả, cũng được trà nước “chút đỉnh”. “Chút đỉnh” nầy đủ cho anh ta mua căn nhà ở gần khu Bàn Cờ. Còn công khố phiếu, đâu có thành tiền được, dù tới 30 tháng Tư – 75 cũng vậy, coi như mất luôn.

            Còn nông dân, ngày 10 tháng 3 năm 1970, Tổng thống Thiệu về tận Cần Thơ làm lễ cấp phát bằng khoán cho nông dân. Một số nông dân, trình diện trước tổng thống, vừa mừng vừa hồi hộp, vừa run, nhận cái bằng khoán từ tay ông tổng thống đưa cho, lại còn được tổng thống bắt tay, chúc mừng, sướng lên tới trời xanh.

Sau đó, ông tổng thống còn đi một vòng xe đạp trong sân, biểu diễn một ông “tổng thống bình dân” cho nông dân xem, có tướng Nguyễn Vĩnh N. chạy theo vịn yên xe, sợ tổng thống bị té. Hoạt cảnh trông thật buồn cười!

            Có bằng khoán, nông dân chẳng được cấp thêm ruộng đất gì cả. Nó chỉ là một tấm giấy in khá đẹp, vẽ rồng rắn, có tên ông nông dân trên đó, xác nhận miếng ruộng ông ta đang canh tác trên ấy là ruộng của ông ta, không ai được tranh giành gì cả, không phải đóng tô cho ai, dù trước đó, ông ta có đóng tô hay không đóng tô, chủ điền cũng đành chịu thua mà thôi.

            Thế rồi sau 30 tháng Tư, “chính quyền Cách Mạng” bắt đem ruộng vô hợp tác xã hết. Ai không vô thì coi như “phản động”. Sợ đi “học tập cải tạo”, nông dân “hăng hái tham gia”, coi như mất tiêu đám ruộng đã từng được Quốc Gia trao cho.

            Từ ông nông dân không có ruộng cày, khố rách áo ôm, nhờ ông chủ điền cho tá canh, có được cơm ăn áo mặc; lại nhờ Quốc Gia trao cho cái bằng khoán, trở thành tiểu nông, có ít ruộng làm của. Bây giờ “Cách Mạng” vô rồi, cốt khỉ lại hoàn cốt khỉ. Vậy cũng chưa ức lòng.

Lại đến khi khoán sản phẩm, đổi mới, v.v… ruộng trả lại cho nông dân thì chính quyền đem ruộng tốt của ông A trả cho ông B vì ông B là người bà con, là người chịu “thủ tục đầu tiên,”. Ông A không có bà con gì với ông chủ tịch, ông bí thư, lại không trà nước chi cả thì được trả cho một đám ruộng xấu, ruộng phèn, cấy xuống cây lúa nào, cây lúa đó chết queo.

Ức lòng thì ức lắm nhưng biết kêu ai bây giờ. Kêu Phật thì phật đã vô quốc doanh, kêu Chúa thì Việt Cộng bảo rằng “chúa đã đi Guam” hồi tháng tư – 1975(3); kêu Trời thì Việt Cộng nói xã hội chủ nghĩa vô thần, không có trời, chỉ có đảng mà thôi. Kêu tới đảng thì cũng… bằng không. Nông dân mất ruộng, biết kêu ai bây giờ./

hoànglonghải

            (1) Mississippi với các phụ lưu là sông  Missouri, sông  Arkansas, sông Ohio, v.v… tạo thành bình nguyên Mississippi, rộng 3.225.000 Km2, trải qua 31 tiểu bang (trong số 48 tiểu bang của lục địa Mỹ). So ra, diện tích toàn cõi Việt Nam chỉ mới  312.000 Km2 với 25% đất đai trồng trọt được.

            (2) Tư Sang nói:

            – “Dạ thưa, ông nói vậy thì tui hay vậy, chớ ai mà không đốn được tràm, không bắt được cá thì đói lắm. Với lại họ tuyên truyền nghe hay lắm, làm như mình tưởng là thiệt vậy.”

            – “Họ tuyên truyền cái gì mà hay, ông Tư nói thử coi.” Tôi hỏi.

            – “Dạ, họ nói giúp “cách mạng chống Mỹ cứu nước”. Nước mình rừng vàng biển bạc nên Mỹ đem quân qua cướp lấy.” Tư Sang giải thích.

            – “Rừng vàng biển bạc” là cái gì? Là mấy con cá phân ở ngoài hòn Ngang, hòn Heo. Rừng vàng là rừng Trà Tiên nầy chắc? Phải không?” Tôi hỏi.

            – “Dạ, họ nói vậy đó. Trà Tiên gỗ to nhiều lắm, lại vô số tổ ong, lấy mật.”  Tư Sang xác nhận.

            Tôi cười to:

            – “Tui nói thiệt với ông Tư, tụi Mỹ nó chẳng cần gì cái rừng tràm nầy đâu. Ngay cả vùng châu thổ sông Cửu Long nầy nó cũng chẳng thèm. Ông có biết lưu vực sông Mississippi của nó rộng lớn như thế nào không? Tụi Mỹ gieo hạt bằng máy, phun thuốc trừ sâu bằng máy bay, gặt có máy kéo. Tụi nó thèm gì cái rẫy của ông Tư ở Lung Lớn mà tụi nó đem quân qua đây, để ông gọi nó là “đế quốc Mỹ xâm lược”. “Ếch ngồi đáy giếng”. Cả cái đám chóp bu Việt Cộng cũng chỉ là đám ếch ngồi đáy giếng. Nói Mỹ xâm lược nước ta vì mấy đám ruộng phèn ở Kiên Giang nầy thì buồn cười quá! Ông Tư nói ra, người ta cười cho thúi đầu!”

            (3) Trong thời gian vô tù gọi là “học tập cải tạo”, cán bộ giảng rằng năm 1954, mấy ông linh mục miền Bắc nói với tín đồ rằng” Chúa đã vào Nam.” Con chiên hãy đi Nam theo Chúa. Cũng thời gian đi tù đó, người miền Nam di tản qua Guam đông lắm, cả trăm ngàn người. Như vậy có phải người ta đi Guam theo Chúa. Vì vậy, trong trại tù có câu ca dao chọc quê mấy anh bạn theo đạo Thiên Chúa nhưng không di tản hồi 75:

                        “Ngày xưa Chúa đã vào Nam,

                   Bây giờ Chúa lại đi Guam mất rồi.”

            Thật ra, dù Chúa có ở lại, mấy ông bạn Thiên Chúa giáo của tôi trong trại tù cũng không được Việt Cộng cho phép đọc kinh cầu nguyện Chúa!

hoànglonghải - Hương Tràm Trà Tiên