Cây Số 15 thuộc ấp Hòa Bình, xã Mông Thọ, là một đoạn đường trên LTL 8A, cách Rạch Giá 15Km, thuộc xã Mông Thọ, quận Kiên Tân, tỉnh Kiên Giang. Từ hướng Long Xuyên đi về Rạch Giá, bên phải Cây Số 15 là ấp Tà Keo, xã Mỹ Lâm, quận Kiên Thành, bên trái là Kinh Nước Mặn, kế xã Giục Tượng, cũng thuộc quận Kiên Tân. Việt Cộng sau khi vượt qua Cây Số 15, theo Kinh Nước Mặn, đi về hướng Kiên Bình, xuống Miệt Thứ (Xin xem lại trong bài Chị Sứ – Hòn Đất), về hướng quận Hiếu Lễ, về U-Minh, mật khu Việt Cộng.

            Như tôi đã nói trong bài trước, quân Cộng Sản Bắc Việt từ Kampuchia qua mật khu Trà Tiên, di chuyển dọc theo kinh Kháng Chiến, tới Tà Keo thì dừng lại, chờ tình hình thuận tiện sẽ vượt qua Cây Số 15. Tiến trình chuyển quân nầy chỉ có đi mà không về, có nghĩa là quân từ Kampuchia qua, bắt buộc phải vượt Cây Số 15 để tiến về U-Minh. Chúng không thể dừng lại ở Tà Keo lâu vì rất nguy hiểm, có thể bị quân đội Cộng Hòa tấn công, bị pháo kích và nhất là thiếu tiếp tế, không đủ cơm gạo để trú ẩn lâu dài.

Khi quân Việt Cộng về đông, những gia đình có liên hệ với Việt Cộng ở xã Mỹ Lâm, ở Nam Thái Sơn được vận động nấu bánh tét để tiếp tế cho bộ đội. Nhà nào nấu bánh tét nhiều mà không có kỵ giỗ gì cả, có nghĩa là nấu bánh tét tiếp tế cho Việt Cộng. Việc nầy, chỉ có thể nhờ đồng bào (Tình báo nhân dân) báo cho biết. Những gia đình nấu bánh tét, họ không cất dấu trong nhà. Họ buộc bánh tét lại với nhau rồi dòng xuống kinh, vừa che mắt Quốc Gia, vừa giữ bánh tét cho được lâu vì dưới đáy kinh, nhiệt độ thấp, lạnh, bánh khỏi bị hư. Tập kết ở Tà Keo ít hôm, rồi Việt Cộng cố sống cố chết vượt qua Cây Số 15, hướng về U-Minh.

            Trước khi quân Mỹ tham chiến (Cũng như sau nầy khi Mỹ đã rút quân), Hải quân VNCH chưa phát triển (Sau hiệp định Genève 1973, có phát triển cũng bằng không vì bị hạn chế dầu, tàu bè nằm ụ một chỗ), Cộng Sản Bắc Việt tiếp tế vũ khí, đạn dược cho U-Minh bằng đường biển.

Ghe Bắc Việt giả dạng như ghe đánh cá miền Trung (Cũng thường vào đánh cá ở vịnh Thái Lan), từ ngoài bắc vào quanh quẩn ở hải phận quốc tế. Khi tình hình ở U-Minh yên ổn, không có quân đội Cộng Hòa hành quân, không có tàu Hải quân tuần tiểu, Việt Cộng ở đây, bằng phương tiện của họ, “báo cáo lên trên”. Vậy là đài phát thanh Hà Nội cho phát ra một bản nhạc đã qui định trước. Ghe Bắc Việt khi nghe bản nhạc đó liền từ từ tiến vào bờ. Trên bờ biển U-Minh có cả chục cửa sông. Theo dấu hiệu, ghe vào bờ và cho chuyển hàng hóa xuống. Đây chỉ là con đường vận chuyển hàng hóa quân sự, còn vận chuyển người, phải theo đường giây 1-C.

Đường giây 1-C có từ cuộc chiến tranh trước (1945-54). Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (1960-75) con đường nầy thay vì đi xuyên qua Dinh Điền Cái Sắn thì phải bẻ ngoặt xuống hướng xã Mông Thọ, vượt qua LTL 8A ở Cây Số 15. Chỗ nầy, Cây Số 15 là chỗ thắt họng quân Việt Cộng.

            Khi tôi về phục vụ ở Cái Sắn, cứ vài đêm lại nghe báo cáo Việt Cộng vượt qua Cây Số 15, từ hướng Tà Keo, về xã Giục Tượng. Trách nhiệm là trách nhiệm chung: Tiểu khu, Chi khu, Cảnh Sát Đặc Biệt, Võ Trang Tuyên Truyền, Thám Sát Tỉnh… hơi đâu mà lo!

            Thế rồi có lệnh khiển trách của Tướng Nam ít lâu sau khi Tướng Nam thay Tướng Nghi: Tại sao để cho Việt Cộng vượt lộ ở Cây số 15?

Việt Cộng muốn vượt qua lộ, phải có giao liên. Vậy trước hết, phải quét cho sạch giao liên, Việt Cộng sẽ gặp khó khăn. Vậy là các cơ quan an ninh có trách nhiệm họp bàn, lật hồ sơ nghiên cứu: Hồi chánh viên, Cựu can phạm, gia đình có thân nhân thoát ly ở trên đoạn Cây Số 15, ai bị hồ nghi là “vớt” về, điều tra, khai thác. Nhất là trong chiến dịch F-6, sau khi ký hiệp định Ba-Lê 1973, “vớt” không ít người vì chỉ cần có một bản tin là đủ, không cần phải có đủ ba bản tin như thường lệ.

Vậy mà Việt Cộng cứ qua sông. Bên nầy sông, phía lộ, không nhà nào treo đèn, ra dấu hiệu có hay không có Quốc Gia phục kích thì bên kia kinh, Việt Cộng đâu dám qua. Vậy mà nó vẫn qua. Lạ nhỉ?! Thế rồi một đêm Việt Cộng vượt qua ngay nhà anh Hiển, tài xế của tôi. Vậy là tài xế nầy Việt Cộng nằm vùng, hoặc gia đình nó làm giao liên cho Việt Cộng. Xem đi xét lại, không thể, không thể có chuyện đó. Không phải vì nó là tài xế của tôi mà tôi bênh nhưng các bên có trách nhiệm cũng suy nghĩ như tôi. Chỉ có thể có một kết luận: Tụi nó liều mình vượt qua Cây Số 15.

            Một bữa lính tôi đi phục kích. Thay vì phục ngay Cây số 15 thì trung đội trưởng cho dịch lên phía trên một chút. Ấy là đã đi phục kích mà còn sợ đụng địch. Tránh xa một chút để “Quân ta rút lui hoàn toàn vô sự”. Nhằm bữa đó, Việt Cộng cũng vượt lộ dịch lên phía trên một chút, tránh ngay Cây Số 15 để khỏi đụng với Quốc Gia. Ấy là “Thiên bất dung gian”, hai bên “Tao Ngộ Chiến”. Nửa khuya, một anh lính tôi đang nằm trên võng, mơ mơ màng màng, bỗng có một bóng đen đầu đội nón cối tới sát bên, cúi xuống hỏi: “Sao đồng chí…” Chưa dứt câu thì lính tôi nổ súng vì anh ta đã mở khóa an toàn sẵn và đang kẹp súng bên hông. Tên Việt Cộng ngã xuống và rồi súng hai bên nổ như bắp rang. Việt Cộng vừa bắn hoảng vừa chạy qua lộ. Lính tôi thì rải đạn như mưa, bất phân trúng trật, miễn sao thời gian qua cho lẹ rồi rút quân về. Tên Việt Cộng bị giết, ngã xuống tại chỗ, để lại cây AK báng xếp. Súng bị quân ta tịch thu. Trung đội trưởng yêu cầu tôi đề nghị thượng cấp ban khen cho anh lính lấy được súng. Thấy câu chuyện có vẻ khôi hài, tôi bèn nói:“Chuyện nầy như chó ngáp phải ruồi, phải chi gan lì mới hay! Không lý tôi ghi trong phiếu trình rằng anh ta “chiến đấu anh dũng, kiên cường dũng mãnh” nên lập được chiến công.” Tuy nói vậy, tôi cũng nói với ban nhân viên lập phiếu đề nghị khen thưởng cho anh ta.

            Trước khi tướng Nam làm tư lệnh quân khu, việc ngăn chận quân Việt Cộng qua lộ 15 chỉ thực hiện tà tà. Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, Cảnh Sát, Võ Trang Tuyên Truyền thỉnh thoảng phục kích kiếm công tác. Hễ lực lượng Việt Cộng ít hơn, ngang bằng, “ăn” được thì nổ súng. Hễ tụi nó đông quá, cấp tiểu đoàn hay hơn thì nằm im, chém vè, v.v… Tôi cũng có lần “nằm im” chịu trận như vậy.

Trong các lực lượng phục kích ở đây, trung đội Võ Trang Tuyên Truyền của Ty Chiêu Hồi hoạt động tương đối có kết quả vì phần đông họ là “dân chiêu hồi” nên rất rành rẽ phương hướng, cách thức di chuyển, hoạt động của Việt Cộng. Do kinh nghiệm đó, họ có những chiến thuật, cách phục kích rất hữu hiệu. Tuy nhiên, so với lực lượng Thám Sát Tỉnh (Prou), họ còn thua.

Một hôm tôi gặp Ba Hà ở Dàm Rầy, ông ta đang ngồi uống caphê, chờ ai đó… Ba Hà là đại úy đồng hóa, chỉ huy Thám Sát Tỉnh. Thám Sát Tỉnh là một lực lượng ăn lương Mỹ, được Mỹ trang bị vũ khí và khí cụ quân sự khá hiện đại, nhưng thuộc hệ thống Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát tỉnh.

Kể về kinh nghiệm chống Cộng thì Ba Hà khó đứng sau thiên hạ. Thời tổng thống Ngô Đình Diệm, ông ta là xã trưởng xã Đức Phương (Vàm Rầy), quê hương ông chủ Ry và chị Tư Nết. Từ đó, ông ta đi dần lên, chỉ huy đơn vị Thám Sát Tỉnh, đồng hóa “loon” đại úy nhưng không bao giờ ông ta đeo “loon” hay mặc quân phục. Thám Sát Tỉnh là lực lượng hầu hết là Việt Cộng hồi chánh, còn trẻ, gan dạ, kinh nghiệm như binh lính bên Trung Đội Võ Trang Tuyên Truyền nhưng đánh giặc chì hơn, ngon hơn.

Biết nhau từ những lần họp hành, gặp Ba Hà, tôi hỏi:

– “Anh tính lang thang vô đây mần tụi nó hay sao?”

Ba Hà cười:

– “Chỗ nầy không ngon. Tui cho lính tui vô tuốt trỏng.”

Vừa nói, Ba Hà vừa đưa tay chỉ về hướng đông bắc, hướng Tà Keo.

Ba Hà cho lính vào Tà Keo thật. Không cần đông, chỉ năm bảy lính. Họ giả trang Việt Cộng, mặc bà ba, mũ tai bèo, mang hồng ngoại tuyến, mìn claymore, v.v… Nhờ hồng ngoại tuyến, họ thấy và tránh xa những điểm gác của Việt Cộng, rồi lẻn vào tận bên trong.

Cả đám nón cối, nón tai bèo đang mắc võng nằm ngủ (Dưới đất toàn là nước và sình). Thám Sát Tỉnh gài mìn claymore, gài giờ nổ, rồi rút ra xa ngồi chờ. Thế rồi bên trong mìn nổ ì xèo, bọn Việt Cộng canh gác phía ngoài thấy bên trong bị tấn công cũng chém vè, chạy luôn. Ngày hôm sau, Thám Sát tỉnh ngồi chờ dân đi làm đồng về báo cáo cho hay: Áo quần, mũ nón, balô bay tung lên ngọn tràm, võng không kịp tháo, máu me tùm lùm. Việt Cộng phải rút ngược về kinh Kháng Chiến, chờ ở đó vì Tà Keo, điểm tập trung đã bị động ổ. Có lẽ trận nầy, Ba Dũng (Nguyễn Tấn Dũng) cũng hoảng hồn, chạy trối chết.

Sau nầy tôi còn gặp Ba Hà một lần nữa, tại Đức Phương. Ba Hà và tôi đọc bản đồ, chấm toạ độ chỗ Việt Cộng đang dừng quân trong rừng tràm để cho đơn vị Thám Sát vào quấy rối hoặc báo cho Biệt Khu 42 Chiến Thuật cho pháo chụp.

Ba mươi tháng Tư /75 Ba Hà kéo vô rừng, thế chỗ Việt Cộng, không chịu đầu hàng theo lệnh Dương Văn Minh. Ông ta cùng lính tráng, hợp với lực lượng của trung tá Thảo Hà Tiên, quần nhau với Việt Cộng mấy trận nữa. Có người nói với tôi khi bọn Khmer Đỏ tấn công nhà máy Ximăng Hà Tiên, có mặt Ba Hà trong lực lượng chúng. Điều nầy không chắc lắm, nhưng kể từ khi Cộng Sản Việt Nam tấn công qua Phnom Pênh năm 1979 thì ở Kiên Giang không ai còn nghe tin tức gì về Ba Hà và cả trung tá Thảo nữa.

Trở lại chuyện Cây Số 15, khi không còn hạ tầng cơ sở, không còn giao liên, Việt Cộng liều mạng vượt qua lộ. Bấy giờ bọn chúng không di chuyển ít người, dễ bị Quốc Gia phục kích. Hễ mỗi lần vượt lộ là chúng vượt hàng trăm, ít thì vài ba trăm, nhiều thì năm bảy trăm. Nhìn dấu ghe in trên mặt lộ khi chúng kéo ghe qua lộ có thể đoán lực lượng địch hôm qua di chuyển qua đây là bao nhiêu bởi vì vùng nầy là vùng nước và sình, Việt Cộng phải di chuyển bằng ghe. Tụi nó cũng khôn, trước khi vượt lộ, chúng trải một tấm nylon lớn từ bên nầy qua bên kia mặt lộ. Qua xong, cuốn tấm nylon đem cất, không để dấu vết làm sao biết chúng đông ít. Dễ thôi, không nhìn trên mặt lộ thì nhìn hai bên bờ lộ, chúng cũng để  lại dấu tích vậy. Không phải Việt Cộng để dấu ghe lại một chỗ mà nhiều chỗ, trên một đoạn đường dài. Cứ nhìn dấu một chỗ mà đoán bao nhiêu ghe, mỗi ghe khoảng năm bảy tên. Cứ thế mà nhân lên.

Khi đơn vị Cộng Sản Bắc Việt tới Tà Keo và chuẩn bị vượt lộ, chúng phải theo sự hướng dẫn của du kích, hạ tầng cơ sở xã Mỹ Lâm, dĩ nhiên trong số có Ba Dũng. Khi tới bờ kinh Cái Sắn, phía bên kia, du kích chia làm hai toán, mỗi toán khoảng ba bốn tên. Chúng cởi quần bà ba, nhúng ướt làm phao để bơi qua kinh, rộng khoảng 30 mét. Một toán bơi lên phía trên làm nút chặn phía trên, toán thứ hai ở phía dưới. Nếu thấy êm, chúng ra dấu hiệu cho “đại quân” vượt qua lộ ào ào, phải nhanh chớ không thì nguy hiểm.

“Quân ta” phục kích, thấy Việt Cộng đông quá thì nằm im. Nhưng chờ khi chúng qua xong thì gọi máy báo về chi khu Kiên Tân. Chi Khu đoán chừng Việt Cộng đang di chuyển ngang qua đâu thì cho pháo chụp. Không ít lần chụp trúng ngay đầu chúng. Một lần hoảng quá, Việt Cộng chạy tán loạn, một toán chạy vào trốn ở nhà thờ Kinh 7, thuộc xã  Thạnh Đông, gần xã Giục Tượng. Buổi sáng sớm, trời chưa rạng, giáo dân đi nhà thờ, đang cầu kinh thì Việt Cộng vô chiếm nhà thờ. Bọn chúng không bắt ai hết, chỉ kiếm… cơm ăn. Thế rồi quân ta kéo tới, bao vây phía ngoài lộ LTL 8A, để hở phía Thạnh Tây cho Việt Cộng rút lui. Vây kín quá, “ngựa tới đường cùng, đá ngược”, hao quân! Đồng thời cho pháo binh bắn cầm chừng, khủng bố tinh thần chúng. Linh mục kinh 7, ông nầy còn trẻ lắm, từ nhà thờ kinh 7 lội ra, than phiền rằng nhà thờ bị pháo, “hư hết!” Hư hết là nói thêm vào để nhà thờ đừng bị pháo chứ hai cây súng 105 ly đặt ở kinh 8 đã được lệnh chỉ pháo vòng ngoài nhà thờ,  phía ruộng mà thôi.

Tôi nói với ông linh mục trẻ: “Ông tỉnh trưởng đang ở ngoài lộ. Cha ra khiếu nại với ông đi! Ty Xã Hội sẽ “bồi thường chiến tranh” cho.”

Hồi đó, Mỹ có cho Ty Xã Hội quỹ “bồi thường chiến tranh”, ngon lành lắm. Hễ nhà nào bị pháo kích hư hại, không cần biết bên ta hay bên địch bắn, Ty Xã Hội sẽ bồi thường 40 ngàn và 20 tấm “tôn” lạnh, loại của Úc. Nhà dân còn thế, huống chi nhà thờ, chắc sẽ bù cao hơn. Ông linh mục chỉ có lời, không có lỗ.

Cũng vì việc “bồi thường chiến tranh” kiểu nầy mà ghế trưởng ty Xã hội bị người ta tranh nhau dữ và vài ba ông trưởng ty bị mất chức. Ở Hòn Chông (Chùa Hang) thuộc xã Bình Trị, chẳng hạn. Ty Xã Hội và xã trưởng Bình Trị (Hòn Chông) Nguyễn Vĩnh Xương phát tiền bồi thường chiến tranh cho dân. Thay vì 40 ngàn thì người dân chỉ nhận có 35 ngàn, trừ 5 ngàn để phái đoàn “ăn trưa và giải khát.” Dĩ nhiên người dân ký nhận 40 ngàn và cũng OK vì tiền nầy coi như tiền trên trời rớt xuống. Thay vì 20 tấm “tôn” lạnh thì dân chỉ nhận 16, hoặc 17 tấm vì “tôn chưa về kịp”, để “dịp sau” phát tiếp. “Dịp sau” cũng tương tự chuyện “Mai Ăn Khỏi Trả Tiền” trong sách 100 bài tập đọc lớp Nhì lớp Nhất hồi học ở Tiểu Học.

Dĩ nhiên, hôm đó, nửa khuya, Việt Cộng rút đi. Thế mà cũng chưa xong. Vài tháng sau, họp “lượng giá ấp” ở tỉnh. Ấp Kinh 7 thuộc xã Thạnh Đông, quận Kiên Tân đang từ loại A (không có Việt Cộng, không có chiến trận), bỗng tụt xuống loại D, hạng bét, xã Thạnh Đông bị mất điểm.

Diễn Đàn Facebook
Advertisements

hoànglonghải - Hương Tràm Trà Tiên