Sao gọi là Con Đường “Ngọt Ngào”?

            Việc ấy sẽ nói sau!

            Hà Tiên là một thị trấn biên giới do ông Mạc Cửu thành lập. Muốn tìm lịch sử Hà Tiên cũng không khó. Sách sử nói thiếu gì! Việc ấy tôi không bàn tới. Tôi xin trình bày qua về tính cách chung của những thành phố biên giới như Tây Ninh, Châu Đốc, Hà Tiên. Nói chung, vì là những thành phố biên giới nên đó là những nơi buôn lậu hàng hóa giữa hai nước. Rõ hơn là hàng hóa giữa Campuchia và Việt Nam.

            Hà Tiên khác hơn.

            Suốt mấy năm chiến tranh, con đường Rạch Giá – Hà Tiên bị Việt Cộng phá dữ lắm, nào chôn mìn, đắp mô, phục kích, nào tấn công, bắt cóc… Xe cộ không đi lại được. Sau hiệp định Paris 1973, tình hình yên ổn, một phần là vì hiệu lực của hiệp định nầy, thứ nữa là vì chiến dịch Diều Hâu của các tướng Trưởng, tướng Nam.

Việt Cộng sợ, nằm im trong bưng, cục R (Rờ) trở thành cục “Rút”, rút tuốt qua Miên. Việt Cộng ở lại bên Việt Nam lạnh giò nên đường sá yên ổn, không còn bị Việt Cộng phá phách nữa, xe hàng chạy lui chạy tới, ban đầu xe Rạch Giá – Hà Tiên, rồi xe Hà Tiên – Saigon. Hàng lậu càng nhiều, khách buôn càng đông, hàng hóa càng lắm. Con đường buôn lậu hình thành, càng đông càng vui…

Hàng từ Việt Nam bán sang qua Miên không có gì. Hàng từ Miên qua Việt Nam thì gồm có thuốc lá Cheval (thuốc đầu lọc), Apsara (Không có đầu lọc, như Bastos xanh). Hãng Bastos của Tây có nhà máy sản xuất thuốc lá ở Saigon. Có lẽ Bastos hay một hãng nào đó của Tây, cũng có hãng thuốc lá ở Phnom Pênh (Nam Vang), bán rẻ hơn bên Việt Nam nên thuốc nầy được buôn lậu sang Việt Nam. Ngoài thuốc lá, Miên có gì “xuất khẩu” sang Việt Nam? Đường thốt nốt. Xứ Miên là quê hương của cây thốt nốt. Tới biên giới, Trảng Bàng chẳng hạn, du khách sẽ thấy bên thổ địa Miên mấy hàng thốt nốt chạy dài.

            Cây thốt nốt cho một chất nước ngọt như đường, gọi là đường thốt nốt. Người ta lấy một cây tre dài, đục thông các mắt tre, đầu vót nhọn đâm vào ngọn cây thốt nốt. Từ đó, một chất nước rỉ ra, chảy từ theo ruột cây tre. Phía dưới người ta hứng chất nước đó vào một cái thùng sắt tây. Nước đường đó dần dần quánh lại, trở màu, hơi đen, trông không được sạch và đẹp mắt lắm. Nhưng đường thốt nốt nhẹ hơn, thanh hơn đường mía. Số đường nầy ở bên Miên bán lậu qua Việt Nam, chở bằng xe đò nhỏ, đi cùng với khách. Số lượng ít, không đáng gì.

            Món hàng thứ ba từ Miên qua ở Hà Tiên là trâu (ở Tây Ninh là bò). Tôi không rõ trâu nầy tiêu thụ ở đâu, nhưng trâu chở qua Việt Nam, theo đường thủy thì phương tiện là trẹt, (một loại xà lan nhỏ) hoặc bằng xe tải. Mỗi con trâu đều có thẻ, nhận dạng bằng xoáy trâu. Dĩ nhiên, một cái thẻ trâu được xử dụng nhiều lần. Cứ cầm cái thẻ so sánh với xoáy trâu thì biết ngay rằng nó… trật lất. Có nghĩa rằng đó là trâu lậu. Tuy nhiên, người chủ chốt các vụ buôn trâu là đại úy Ngô Thành. Tr., đại đội trưởng QCTP Hà Tiên. Rút giây động rừng, rừng tư pháp của lính rất khó đụng. Ông nầy cũng thuộc hàng “nhanh chân, đầu trơn”. Gần tới 30 tháng Tư, ông cùng với xã trưởng, chủ tịch hội đồng xã Mỹ Đức, thị trấn Hà Tiên, trốn vô bưng với Nguyễn Tấn Dũng. Không biết bây giờ Nguyễn Tấn Dũng cất nhắc ông ta làm tới chức gì?!

            Nói cho đúng, hàng lậu vào Hà Tiên để chở về Rạch Giá, Saigon không phải là hàng Miên, mà chính là hàng Thái Lan.

            Hàng Thái Lan buôn lậu là nhằm vào thị trường Việt Nam, đem về Saigon, Cần Thơ, Rạch Giá tiêu thụ. Dân Việt ở bên nầy biên giới, dân Miên ở bên kia biên giới, nghèo lắm, làm sao có tiền để có thể tiêu thụ những thứ hàng đó được, mà với số lượng nhập vào rất lớn.

            Hàng Thái Lan nhập vào Hà Tiên gồm có: Nhiều nhất là đường cát (Loại thường dùng để uống càphê), vải để may quần, nhiều hơn loại để may áo, đồng hồ Movado, ghế xếp (khá đẹp, bọc simili và xi mạ sáng loáng), xách Samsonite do Thái Lan sản xuất, gàmèn nhôm, và bạch phiến.

            Hàng (phần nhiều là đường cát) từ Thái Lan chở qua bằng ghe. Ghe đậu ngoài xa, cách bờ biền Hà Tiên khoảng năm, ba ki lô mét, khi xa khi gần, do tình hình tàu Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa tuần tiểu ở khu vực nầy. Khi có tàu tuần, ghe buôn lậu Thái Lan dạt xa một chút, không phải để khỏi bị bắt, mà để tránh người ta… dị nghị. Ngang nhiên quá, đâu có được! Hoặc khi căng lắm, ghe Thái Lan dạt qua phía bên kia biên giới: Lãnh hải Miên. VNCH không có trách nhiệm, không vượt biên vì chưa có lệnh, không trách cứ Hải Quân được.

Khi tàu tuần lui xa về phía Rạch Giá thì ghe Thái Lan lại áp sát vào phía Việt Nam. Người mua hàng, phần đông là người Việt, dân Hà Tiên, chạy ghe ra (ghe nhỏ hơn ghe Thái Lan), cặp vào ghe Thái Lan, tay cầm một số vàng lượng đưa lên cho người Thái Lan (chủ hay nhân viên) thâu vàng đứng trên ghe. Sau khi đếm vàng và kiểm soát xong (vàng thật hay giả). Nếu xong rồi thì người Thái ấy ra lệnh cho “thủy thủ” của anh ta bỏ hàng xuống ghe cho người mua. Cứ một lượng (sau nầy khi Việt Cộng chiếm miền Nam xong rồi thì gọi là cây) là bao nhiêu tạ, tôi không rành. Tạ nặng 100Kg. Người mua chở vào bờ, phía đất Miên, chớ không phải bên phía VNCH. Tạ đường được chia thành nhiều bao nhỏ, mỗi bao 10Kg, đựng trong bao giấy, loại giấy giống như giấy bao ximăng. Xong, hàng từ bên kia biên giới, được thồ bằng xe đạp, mỗi xe trên dưới 10 bao, chuyển về Việt Nam, vượt biên giới, đi ngang qua ngã chùa Xà Xía của ông đại đức Công Xa Phanh (xin xem lại bài 6), rồi vào Hà Tiên, bày bán la liệt ở chợ, bến xe Hà Tiên.

            Người nắm chủ chốt công việc buôn lậu nầy là một người đàn bà nổi tiếng ở Hà Tiên, người Miên lai Tàu, thường gọi là đầu gà đít vịt, tên tục là “Bà Gái Đen” (1). Lai Miên, nên, dĩ nhiên, bà ta không thể trắng được. Gái là tên. Gọi bằng bà vì bà cũng hơi lớn tuổi, thuộc hàng “cự phách trong giới buôn lậu”.

            Được ít lâu, khi việc buôn lậu phát triển ngày càng lớn, bà được sự “tiếp ứng” của các xì thẩu Chợ Lớn. Các chú ba nầy hùn hạp vốn liếng hay đem vàng từ Saigon về cho bà Gái Đen như thế nào tôi không rõ, nhưng trên thực tế, tôi nghe (và đã thấy) mỗi lần mấy chú ba nầy từ Saigon về có mang theo mấy cô gái Tầu đẹp lắm, trẻ lắm. Mấy cô nầy, có cô ở lại trong nhà ông trưởng ty QT Hà Tiên, tên Ng. K. K. Việc chi xảy ra, đố ai biết?!

Dĩ nhiên, đây là hiện tượng được gọi là “Chảy máu vàng”. Vàng từ Việt Nam đi ra, đường từ Thái Lan tuồn vào. Dân Việt Nam thuộc loại “ngon”: Đem vàng đổi đường ăn chơi. Vậy mà tới 30 tháng Tư cũng còn 16 tấn vàng, chưa kịp đem đổi hàng, nên Việt Cộng đem đổi “giùm”!!!

            Khi được biệt phái qua Cảnh Sát Quốc Gia, tôi trình diện tại Bộ Tư Lệnh ở Saigon. Tất cả có 600 cái đơn xin biệt phái, vậy mà số người được cho chuyển ngành chỉ có 3 “ngoe”, mang “loon” thiếu úy:

-Trương Tâm Như (con trai đại tá bác sĩ Trương Khuê Quang, Giám đốc nha Xã hội, bộ Quốc Phòng, thời Tổng thống Ngô Đình Diệm. (2)

-Người thứ hai là Dương Trường Hội, em ông Dương Văn Hiếu, Trưởng đoàn Công tác Đặc biệt miền Trung của “cậu” Cẩn.

Hai anh nầy còn trẻ, đi lính khi vừa tới tuổi, còn người thứ ba, lớn tuổi hơn hai anh kia, chính là “tui”. Tui đi dạy 10 năm mới đi lính. Gặp nhau, hỏi thăm, ba đứa nhìn nhau và… ngao ngán: Cả ba đều bị đuổi cổ về miền Tây bằng sự vụ lệnh hẳn hoi.

Đám sĩ quan cấp trung úy, đại úy biệt phái thì đông hơn, phần đông là thương binh, ít nhiều sứt que gãy gọng. Đám nầy theo học một khóa Chỉ huy trưởng ở Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia Thủ Đức, còn ba ngoe chúng tôi, trước khi ca khúc “Có ai về miền Tây”, được gởi theo học một khóa “tào lao” gì đó, vui chơi, nhậu, phá hơn là học với các sĩ quan biệt phái thuộc quân khu 3 ở Biên Hòa. Trong số nầy có em út của cố đại tướng Đỗ Cao Trí là Đỗ Cao Thông. Xem ra, anh chàng nầy có “tư cách” hơn chúng tôi, ít ra là anh ta ít nói bậy, chưởi thề. Nhưng nhậu thì anh ta xếp sòng. Hết tiền mua rượu, anh chàng về nhà “chôm” rượu của “ông già”. Thứ rượu ông ta tự nấu lấy, uống vào cỡ một ly là… không còn biết trời trăng gì nữa, sau khi la to: “OK! đưa tao cái thau” (để ói vào đó).

            Trong số sĩ quan biệt phái cấp trung úy, đại úy tôi nói ở trên, có đại úy thương binh Nhảy Dù Nguyễn Văn Thành. Khi tôi về Kiên Lương thì ông Thành về Hà Tiên, hai quận gần nhau. Được ít lâu thì ông Thành bị “Việt Cộng giết” ở ấp Việt Nam 1- Thị trấn Hà Tiên.

            Tôi viết ở câu trên rằng “bị Việt Cộng giết”. Có người cải chính: “Bọn buôn lậu giết”. Có người nghi ngờ xa hơn: “Anh em mình chớ ai! Ông Thành chỏi với họ.”

            Kết luận, tôi nói: “Cho rằng ai giết cũng có lý cả.”

Tôi xin giải thích:

            Nhìn lên bản đổ biên giới Việt Miên ở Hà Tiên, người ta thấy loạn xa ngầu những “dấu hiệu kinh tài” và cơ quan dân sự, quân sự:

            Trên bản đồ, bên kia biên giới có gắn những dấu hiệu kinh tài (Nói nôm na là thâu thuế hàng lậu): Ban ngày thì có Khmer Lonol, ban đêm thì Khmer Đỏ, và dấu to nhất, có nghĩa là thu thuế mạnh nhất, nhiều nhất là Việt Cộng. Ba dấu hiệu nầy sát cạnh nhau.

Bên phía Việt Nam thì có dấu hiệu các cơ quan: Quan thuế, ban 2 Chi Khu Hà Tiên, Quân Cảnh Tư Pháp Hà Tiên, bộ chỉ huy Cảnh Sát QG Hà Tiên, pháo binh, các đơn vị quân đội VNCH có khi là thiết giáp, có khi là một trung đoàn của Sư Đoàn 9 hay sư đoàn 21. Bên phía Việt Nam dấu hiệu tuy không có dấu đồng ($), có nghĩa là không thu thuế hàng lậu, nhưng ai cũng có thể thu thuế dân buôn lậu được hết vì họ có súng, có quyền. Lẻ tẻ thì trên con lộ 80A, từ Kampot, – một thành phố nhỏ của Kampuchia cách Hà Tiên không xa –  qua, người Miên, không có tiền mua hàng lậu, không thuộc đường giây, họ đi thồ mướn cho chủ. Một anh lính chẳng hạn, sợ thiếu rượu nhậu hơn sợ cấp chỉ huy, bèn gọi anh chàng Miên chở thồ lại, biểu đưa vài chục xài chơi. Anh chàng chở thồ không từ chối được. Đó là nói “việc ngoài đường”. Còn bên trong các văn phòng, đố ai ở ngoài biết được!

            Đại úy Thành là một ông nhà binh chân chính. Có nghĩa rằng ông thi hành mệnh lệnh cấp trên một cách nghiêm chỉnh. Khổ nỗi, trung tá Nguyễn Ngọc Thiều, cấp chỉ huy trực tiếp của tôi và đại úy Thành, gốc Biệt Động Quân, dân Long Xuyên, thuộc loại “anh hùng Lương Sơn Bạc”. Ông chẳng ngán cấp trên của ông. Chính vì ông không ngán cấp trên của ông nên cấp dưới của ông thì lại rất sợ ông. Thành ra, có việc phải lo làm. Ông ra lệnh thì phải chấp hành nghiêm chỉnh. Đừng tin tưởng gì vào cái dù mình đang được che.

            Tôi không rõ đại úy Thành có cái dù nào không nhưng khi trung tá Thiều ra lệnh: “Không được cho hàng lậu về Rạch Giá”, thì ông Thành, ở chỗ đầu đường giây buôn lậu, thi hành ráo riết nghiêm chỉnh hơn ai hết nên ông bị chúng nó giết.

Chúng nó là ai?

            Những ai “bị mất quyền lợi” thì làm sao có thể “tha tội” cho đại úy Thành được. Người mất quyền lợi thì nhiều lắm, gồm có những người buôn lậu, như “Bà Gái Đen” (3), các chú Ba Tàu Chợ Lớn, và những ai nhận chia chác với bọn buôn lậu. Ai thu lợi càng lớn thì ghét đại úy Thành càng nhiều, càng dữ.

Vậy thì ai giết đại úy Thành? Rõ quá rồi còn hỏi chi nữa?! Cả bọn hè nhau lại “thịt” ông Thành. Ông chạy đường nào cho thoát? Trong truyện Kiều, Nguyễn Du viết “Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.” Câu nầy áp dụng ở đây cũng đúng vậy!!!

Khổ là ông Thành chết đi để lại một vợ 3 con. Thế Lữ viết cuốn truyện phiêu lưu mạo hiểm “Vàng và máu.” Đây là truyện buôn lậu, nên thêm vào chữ đường, cho đủ nghĩa: “Vàng+ Đường và Máu”.

            Sau khi về Kiên Lương, tôi đề nghị cấp trên cho dẹp trạm kiểm soát ở đầu thị trấn, ngay cầu Cống Tre. Muốn ngăn chận Việt Cộng đột nhập vào thị trấn, trạm kiểm soát đó làm được cái gì, chỉ giúp cho mấy “thầy chú” thu tiền mãi lộ mà thôi. Việc ngăn chận Việt Cộng, cần nhất là phải diệt cho hết đám giao liên, tụi nằm vùng. Việt Cộng nằm vùng ở ngay trong thị trấn thì cái trạm đó ở đầu thị trấn có ích lợi gì đâu! Dẹp trạm, là có thêm nhân viên tuần tiểu và theo dõi hạ tầng cơ sở Cộng Sản, ích lợi hơn nhiều. Tôi đích thân trình bày với “xếp” để được cho dẹp trạm.

            Tuy nhiên, trước khi dẹp trạm, thấy hai chiếc xe đò chở đầy Phật tử của một ngôi chùa nào đó ở Saigon đi hành hương ở Hà Tiên về, tôi ra lệnh chận xét, tịch thu tất cả số hàng lậu Phật tử mua. Độc giả thử tính coi, tính sơ mà thôi: Nếu mỗi người mua một bao đường 10kg, hai chiếc xe đò chở khoảng một trăm Phật tử hành hương, thì  trên hai cái xe ấy, có bao nhiêu đường?

Khi tôi vừa xuống xe ở chỗ hai chiếc xe bị bắt giữ, một ông thầy chùa, có lẽ là người lãnh đạo đám đi hành hương, tuổi cũng chưa cao lắm, cỡ một ông đại đức chớ chưa phải là thượng tọa, xăm xăm đi lại phía tôi. Có lẽ ông ta muốn can thiệp việc bị bắt hàng lậu. Biết vậy, tôi quay lưng đi sang hướng khác, để khỏi phải nói chuyện với ông ta. Một bà ngồi trên xe nói to lên: “Coi kìa, thầy tới mà ông ta bỏ đi, không nói chuyện với thầy.” Tôi nói nhỏ với thượng sĩ Năm Hùng đang đi bên cạnh tôi: “Ông thầy chùa nầy mở miệng can thiệp việc chở lậu, tui ghi băng rồi nhốt ông ta luôn cho biết mặt. Đi hành hương, hành tỏi thì lo hành hương. Còn chở hàng lậu!”

Năm Hùng cười: “Tôi làm việc ở đây hơn hai mươi năm, chưa thấy ai ngang bướng như ông.” Tôi cười, nói đùa với Năm Hùng: “Mười hai con giáp không có tuổi tui. Tui tuổi con cua.”

Khi tôi về văn phòng, một ông trong số người hành hương, xin gặp tôi, tự xưng: “Tôi là thiếu tá giải ngũ, muốn nói chuyện với ông.” Tôi nói ngay: “Giải ngũ hay không giải ngũ không quan trọng. Ông nghĩ rằng ông thiếu tá, loon to hơn loon tui, nên ông tính chuyện “lấy loon đè người” chớ gì? Xin lỗi, thiếu tá Bằng, tiểu đoàn trưởng 530 ở ngay nhà máy ximăng là học trò cũ của tui. Tui không phải là người đi lính kiếm cơm nên không sợ chuyện loon lá đâu!” Ông ta quay lưng đi ra, không thèm chào tôi một lời.

             Việc buôn lậu nầy, sau được giao cho tỏa Hành Chánh tỉnh Kiên Giang giải quyết. Ông Phạm Văn. Th, khóa 8 Quốc gia Hành Chánh (Khóa nầy, vì tình hình khó khăn tiền bạc, không ai chăm sóc cho hai đứa em của tôi, “Hùng móm” và chị nó, tôi trình diện học chưa được một tuần thì bỏ ngang, trở về Huế đi dạy học trở lại), phó tỉnh trưởng, than phiền với xếp của tôi: “Ở Hà Tiên hàng lậu bày bán ngang nhiên, ở Kiên Lương lại bắt.”

Đó là lời khiếu nại của ông thầy chùa với ông phó tỉnh trưởng. Kể lại chuyện ấy với tôi, Trung tá Thiều, “xếp” của tôi cười, khuyến khích: “Cứ làm dzậy đi, đừng ngán. Thầy hay cha, ông nào làm bậy cứ làm tới cho tôi.” Tôi hỏi: “Tại sao đại úy Lương không bắt?” Đại úy Huỳnh Ngọc Lương, nổi tiếng cầu thủ bóng đá hồi còn trẻ, có lẽ gia nhập ngành Cảnh Sát trước khi “Quốc trưởng hồi loan”. Xếp của tôi nói: “Ông ta kinh nghiệm hơn. Việc đại úy Thành chưa nguội.”

            Đây là dịp béo bở cho những người có trách nhiệm trên con đường Hà Tiên – Rạch Giá, nhưng quả tình nhiều khi các sĩ quan do tôi chỉ huy, khổ sở về việc buôn lậu nầy.

            Một hôm, cầu Vàm Rầy sập, mấy ngày xe cộ không qua lại được. Xe đò chở hàng tư Hà Tiên về tới Vàm Rầy thì dừng lại đó, hàng lậu phải chuyển qua sông bằng đò. Do đó, chỗ đầu cầu Vàm Rầy biến thành một cái chợ trời. Hàng lậu bày bán đầy hai bên đường, khách tới lui xôn xao, nhộn nhịp. Về tới nơi, đứng tại chỗ, tôi gọi thiếu úy Nguyễn Minh Chiếu, trưởng cuộc, hỏi mỉa: “Ông mở cái chợ trời nầy hồi nào vậy?”

            Thiếu úy Chiếu sợ hãi, nói: “Em có mở đâu. Họ ưng thì họ bày ra. Đông quá, dẹp không được. Vã lại, bên quan thuế có người từ Rạch Giá vô tới đây thâu tiền. Dân đóng tiền rồi, nên họ bày bán ngang nhiên.”

            – “Ông không thâu thuế thì ông dẹp đi.” Tôi nói.

            Thiếu úy Chiếu chỉ một người khoảng 50 tuổi, mập, đen, đang đứng xa chỗ tôi một chút, nói với tôi:

            – “Ông ấy là quan thuế từ Rạch Giá vô đây thu thuế,”

            Tôi nói với thiếu úy Chiếu:

            – “Anh tới gọi ông đó tới đây gặp tôi.”

Rồi tôi quay qua nói với Thiếu úy Kiệt, hôm ấy cùng đi với tôi: “Mấy thằng nầy phải còng nó lại dẫn ra cho biện lý, chúng nó mới chừa.” Bất ngờ lúc đó, xã trưởng Àn đi cùng ông phó quận trưởng Nguyễn Đức Nghiêm tới gặp tôi. Ông xã trưởng than phiền mấy bữa nay cầu cầu sập nên tình hình ở đây rất phức tạp, lộn xộn, ông ta không kiểm soát được mà cảnh sát thì bất lực. Tôi bàn với ông phó quận trưởng và ông xã trưởng tìm cách dẹp cái chợ trời nầy đi. Đang mãi mê nói chuyện, khi tôi quay lại hỏi thiếu úy Chiếu về tên nhân viên quan thuế đâu rồi thì tên ấy đã lủi mất, xuống đò qua sông trốn về Rạch Giá mất rồi. Bắt hụt tên thu thuế lậu, tôi bực mình cằn nhằn thiếu úy Chiếu những mấy lần.

Tôi ghi đầu bài là con đường “ngọt ngào”, vì nó chở đường lậu, nhưng trên thực tế nó cay đắng biết bao nhiêu. Muốn biết nó “cay đắng” như thế nào, xin đọc “hồi (bài) sau sẽ rõ”.

hoànglonghải

(1) Sau 1975, bà Gái Đen tổ chức vượt biên nhiều chuyến lớn, đi trót lọt. Chính Việt Cộng che chở cho bà Gái Đen. Vì việc nầy, bà càng nổi tiếng hơn. Trong số vượt biên, có một người bà con của tôi đi theo đường giây nầy, một chuyến là xong. Sau khi Nguyễn Quang Quýnh mất chức bí thư tỉnh ủy Kiên Giang, đường giây vượt biên nầy không còn. “Đàn bà dễ có mấy tay”.

            (2) Ông nầy vừa là bác sĩ riêng của Tổng thống, (hình như bác sĩ riêng của gia đình ông Nhu là bác sĩ Hoàng Văn Đức). Bác sĩ Quang còn là đệ tử của ông Trí Quang, ông nhận lệnh Tổng thống ra Huế gặp ông Trí Quang để dàn xếp, sau khi vụ đàn áp ở đài phát thanh Huế xảy ra đêm 8 tháng 5 năm 1963, việc bất thành.

            (3) Khi có chiến dịch chận bắt buôn lậu do lệnh của phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo, tôi nhận chỉ thị từ “xếp” của tôi, “một giọt đường cũng không qua lọt”. Bỗng nhiên có một người đàn ông từ Hà Tiên xuống, đến nhà tôi đưa 300 ngàn đồng. Vợ tôi – theo lời tôi dặn trước -, hễ ai tới nhà cho cái gì, phải gọi tôi về, để tôi xem lại đã. Thấy vợ tôi cầm máy gọi, người ấy sợ, chạy ra xe Honda dọt mất… Ba trăm ngàn là tôi nghe ông Tư Ngọc, bán vé xe ở thị trấn Kiên Lương thuật lại về câu chuyện người từ Hà Tiên xuống nhờ ông Tư nói giúp với vợ tôi.

Diễn Đàn Facebook
Advertisements

hoànglonghải - Hương Tràm Trà Tiên