Buổi chiều ngày 14 tháng 12 năm 1973, tôi đứng giữa sân, xem trung sĩ Cẩn xây lại bệ cột cờ.

Cột cờ nầy dựng từ lâu, bằng sắt. Mấy thầy chú của tôi, lái xe ẩu, mấy lần đụng nghiêng cột cờ, bị tôi cự nự. Dị đoan hay không, làm đổ cột cờ là điều không nên!

Để ngăn ngừa mấy thầy chú lái ẩu, tôi không dời cột cờ đi nơi khác. Người ta kiêng việc ấy. Hồi tôi còn đi dậy, trung tá TĐT Thiết Đoàn 7, đóng ở Trường Bia, cạnh chân núi Ngự Bình, nói với tôi chuyện ông ta dời cột cờ. Tháng sau, một chi đoàn của ông đóng ở La Vang, bị đặc công chui hàng rào vào tấn công, đốt cháy mấy xe, đại úy S., Chi Đoàn Trưởng bay chức. Đó là một kinh nghiệm, nên tôi chỉ củng cố chân cột cờ cho vững, xe không đụng được, không dời cột cờ.

Tôi vẽ kiểu, biểu thượng sĩ Hai điếc liên lạc với thầy Xinh, hiệu trưởng trường tiểu học Kiên Lương, chủ lò vôi, xin một ít đá vôi trắng, và xin nhà máy xi măng Hà Tiên ít bao xi măng về thực hiện công việc. Trung úy Qui đi học bổ túc ở Học Viện về, đem theo môt ít hột giống bông cúc tây vàng, rải trồng quanh cột cờ. Bông đẹp lắm.

Bỗng nhìn ra đường, tôi thấy một chiếc xe Taxi, sơn màu xanh trắng, hiệu Renault, “quatre cheveaux”, dân Saigon thường gọi là “Rờ-nô cách” (Renault quatre) chạy qua. Trên xe có một người lái và một người ngồi bên cạnh. Cả hai đều là đàn ông. Tôi tự hỏi, xe Taxi Saigon về đây làm chi? Xe về quận tôi hay đi Hà Tiên?

Nghĩ vậy xong, tôi gọi thiếu úy Kiệt. Ông nầy làm việc chăm chỉ, nhưng thường thiếu kế hoạch. Vạch kế hoạch rồi, giao cho anh, anh làm hay lắm!

Môt chốc, thiếu uý Kiệt tới, tôi hỏi:

– “Ông có thấy chiếc xe Taxi mới chạy qua không?”

– “Có, tui có thấy chạy qua?” Thiếu úy Kiệt trả lời.

– “Ông có nghi gì không?” Tôi lại hỏi.

– “Nghi gì?” Thiếu úy Kiệt hỏi lại tôi.

– “Thì xe Taxi Saigon về đây làm chi? Coi thử có chi khác thường không?” Tôi nói. Thiếu úy Kiệt không trả lời.

Một lúc, tôi lại nói:

– “Gọi “thổ công” Năm Hùng đi. Hỏi cha nầy coi.”

Thượng sĩ Năm Hùng tới, không biết chuyện chiếc xe Taxi nên đứng ngó tôi. Tôi nói:

– “Mới có chiếc xe Taxi chạy qua đây, chắc đi Hà Tiên. Anh có suy nghĩ gì không?”

– “Chắc người ta đi vía Bà.” Thượng sĩ Năm Hùng trả lời.

– “Vía Bà ở núi Sam. Phải không?” Tôi lại hỏi.

– “Núi Sam bên Châu Đốc.” Thượng sĩ Năm Hùng trả lời.

– “Bên Châu Đốc qua đây làm chi?” Tôi lại thắc mắc.

– “Có khi người ta đi vía Bà bên đó rồi qua đây chơi!” Thiếu úy Kiệt trả lời.

– “Vía Bà tháng mấy?” Tôi lại hỏi.

– “Vía bà tháng sáu hay tháng bảy gì đó.” Thượng sĩ Năm Hùng trả lời.

– “Bây giờ là tháng 12. Cái nầy nhắm bộ không xong!” Tôi nói.

Tôi đi vào văn phòng. Hai người ấy đi theo. Tôi ngồi xuống ghế ở phòng khách. Hai người kia ngồi đối diện. Tôi nói với họ:

– “Tui vẫn chưa hết thắc mắc xe Taxi nầy. Mình cố tìm câu trả lời cho ra.”

Thượng sĩ Năm Hùng, vốn nhiều kinh nghiệm, nói với tôi:

– “Dân Hà Tiên nhiều người lên Saigon làm ăn, có thể họ chạy Taxi. Ở nhà có đám cưới hay đám ma gì đó, họ về dự.”

– “Thôi cho người theo đi, cho chắc ăn.” Tôi nói.

Nghe tôi nói vậy, thiếu úy Kiệt hỏi:

– “Cho ai theo bây giờ?”

– “Bên anh có anh chàng nào người Hà Tiên, cấp cho nó giấy phép đi Hà Tiên thăm nhà, đừng làm sự vụ lệnh, giao việc theo dõi cho nó.”

Thượng sĩ Năm Hùng nói:

– “Phan Thành Long nhà ở Hà Tiên, sai anh ta đi. Tay nầy trẻ, lanh lợi, chắc được việc.”

Vậy là Phan Thành Long được gọi tới. Trong khi thượng sĩ Bảy Hùng làm giấy phép cho Long, tôi cùng thiếu úy Kiệt, Năm Hùng ngồi nói chuyện với Long. Sau khi thiếu úy Kiệt thuật chuyện chiếc xe Taxi xong, tôi nói với Long, anh ta đang đứng bên cạnh thiếu úy Kiệt.

– “Không biết chắc chiếc xe Taxi về Hà Tiên làm chi! Dã dụ vài dự kiến như về đám ma hay đám cưới. Vậy khi em lên Hà Tiên kiếm nó, thấy nó đang đậu trước nhà ai, trong nhà đang treo đèn kết hoa làm đám cưới, hoặc nhà ai đang chuẩn bị giỗ kỵ, thì em chỉ cần hỏi qua cho chắc. Vậy là được. Mình chỉ cần đề phòng Taxi lợi dụng đám lễ để buôn lậu mà thôi. Còn như em thấy gì khác, có gì nghi ngờ thì sáng mai về đây cho sớm, đi chuyến xe đầu Hà Tiên – Saigon, về đây báo cáo cho tôi hay để tôi liệu cách. Còn trường hợp gấp lắm, không có cách nào nhanh hơn thì em vô bộ Chỉ Huy Hà Tiên, gọi máy về đây cho tôi. Nhớ kín đáo ghi số xe. Đừng cho Hà Tiên biết là em lên công tác trên đó. Tới lãnh thổ người ta làm việc mà không báo cáo, không phối hợp, nó chưởi cho mà nghe! Tôi cấp giấy phép đi nghỉ cho em là vì vậy. Nghe rõ không?”

– “Em nghe rõ, đại úy.” Long trả lời tôi.

Vừa xong thì thượng sĩ Bảy Hùng đem giấy nghỉ phép qua cho Long. Anh ta ra đón xe đò đi ngay Hà Tiên.

Sáng hôm sau, ngày 15 tháng 12 năm 1973, – ngày sinh nhật đứa con gái thứ nhì của tôi được 10 tuổi -, khoảng hơn 6 giờ sáng, mùa đông trời còn tối lắm, tôi vừa thức thì nghe tiếng xe đò ngừng lại cách trước nhà tôi không xa. Nghĩ rằng Phan Thành Long xuống xe, tôi thức dậy, đứng sát cửa, mở khóa nhưng chưa mở cửa. Tôi nghe tiếng chân đi vội vào sân nhà tôi, rồi qua khe cửa, tôi thấy vạt áo Long hiện ra phía ngoài. Tôi mở cửa cho anh ta vào, tay kia bật “công-tắc” điện.

Long vào nhà, tôi chưa kịp đóng cửa, thiếu úy Kiệt vào tiếp sau. Té ra ông Kiệt cũng lo việc. Khi nghe tiếng xe đò ngừng, đoán là Long về, thiếu úy Kiệt tức tốc qua nhà tôi. Chỉ ghế cho Long ngồi, tôi hỏi: “Sao?”

– “Xe Taxi không ghé nhà ai hết. Hôm qua, xe đậu ở ngoài bến tàu. Trên xe chỉ có môt mình ông lái xe. Còn ông kia đi đâu không biết! Tới 12 giờ đêm, lang thang ngoài bến xe không tiện, em về nhà ngủ. Sáng nay, khi em ra bến xe về đây thì chiếc Taxi vẫn đậu ở chỗ cũ. Ông tài xế còn ngủ, ông kia cũng chưa về.”

Tôi cười:

– “Ô-kê! Vậy là tốt, xem như em xong việc, về ngủ đi. Để đó tui với thiếu úy Kiệt lo.”

Trời còn sớm. Tôi nói với thiếu úy Kiệt: “Tui chuẩn bị kế hoạch xong rồi, mình đi uống càphê!”

Bảy giờ sáng, tôi về văn phòng, bảo tuyền tin gọi thiếu úy Chiếu, trưởng cuôc Cảnh Sát Dương Hòa, theo trục lộ thì ở phía đầu trên bộ chỉ huy của tôi, và thiếu úy Bạch, trưởng cuộc An Bình, ở phía đầu dưới, lên cho tôi gặp ngay.

Khi thiếu úy Chiếu tới, tôi dặn:

– “Ông cùng hai nhân viên, mặc đồ dân sự, mang theo máy truyền tin, dấu máy, không cho ai thấy, ra ngồi ở miếu Bà Chúa Xứ, giả làm như khách đi cúng Bà. Hễ ông thấy chiếc xe Taxi sơn màu xanh trắng, từ Hà Tiên chạy về thì báo ngay cho tôi. Nhớ xem trên xe có bao nhiêu người. Tôi ngồi trong hầm truyền tin chờ tin ông. Nghe rõ không?”

– “Nghe rõ, đại úy.” Thiếu úy Chiếu trả lời.

– “Thôi, ông về ngay cho kịp, lỡ chiếc xe ấy xuống sớm.”

Xong, khi thiếu úy Chiếu ra sân, tới chỗ chiếc xe Honda của ông, tôi dặn với: “Đừng để vuột xe là không được đâu nghe!” Thiếu úy Chiếu “Dạ” rồi lên xe phóng đi.

Khi thiếu úy Bạch lên tới, tôi dặn:

– “Ông về mang hia đội mão, loon lá đàng hoàng, cùng thêm với một vài nhân viên nữa, chọn ai lanh lợi. Nhớ mang máy truyền tin theo. Trực trong văn phòng, đừng đi đâu. Hễ tôi gọi máy xuống, bảo gì, ông làm ngay. Nghe rõ không?’

– “Dạ! Nghe rõ, đại úy.” Thiếu úy Bạch trả lời.

Khi ông ta ra sân, sắp lên xe Honda, tôi cũng dặn với:

– “Thường trực ở văn phòng nghe không, không đi đâu, tôi gọi có liền. Nghe không?”

Thiếu úy Bạch “Dạ” rồi cũng lên xe phóng đi.

Tôi gọi trung sĩ Phan Chánh Tiêm, truyền tin, nói:

– “Tui ngồi đây. Anh trực trong đó, không được bỏ máy. Thiếu úy Chiếu hay thượng sĩ Chuẩn ở Dương Hòa gọi về thì báo cho tôi ngay.”

Trung sĩ Tiêm “Dạ” rồi đi vào hầm truyền tin.

Khoảng gần 10giờ rưởi, thiếu úy Chiếu gọi tôi lên đầu máy:

– “Báo cáo đại úy. Xe Taxi mới đi ngang em.”

– “Trên xe mấy người?” Tôi hỏi.

– “Hai người, hai người đàn ông.” Thiếu úy Chiếu trả lời.

– “Coi chừng xe chạy vô Chùa Hang mà không về đây. Nếu vậy thì ông theo ngay. Gọi cho tui.” Tôi dặn.

Vì thiếu úy Chiếu dùng máy FM-1, di động, nên tôi nghe không được rõ lắm, nhưng cũng không có chi trở ngại. Tôi gọi ngay cho thiếu úy Bạch:

– “Có chiếc Taxi từ Hà Tiên về, vừa qua khỏi chỗ ông Chiếu. Nó sẽ đi về phía ông. Ông mang hia mão, ra đứng ngay trước cuộc của ông, chờ xe đi tới thì chặn xét, vừa xét vừa báo cáo cho tôi hay. Ông đề phòng. Có thể chiếc xe không đi ngang trụ sở của ông. Nó đi vòng phía sau, theo ngã cư xá. Nhớ canh chừng từ xa. Hễ thấy nó vòng vô cứ xá là ông lên xe Honda phóng theo ngay. Gọi cho tôi ngay.”

 Tôi nghe tiếng thiếu úy Bạch “Dạ” trong máy. Xong, tôi ra ngồi ở cửa sổ, tránh phía Hà Tiên về cho tài xế Taxi khỏi thấy, chờ chiếc xe đi qua. Tôi nghĩ thầm trong lòng: “Nếu mày chở hàng quốc cấm thì có chạy đằng trời!”

Một chốc, khi xe Taxi đi qua xong, tôi vào ngồi hẳn trong hầm truyền tin chờ thiếu úy Bạch gọi máy.

Mười phút sau, thiếu úy Bạch gọi cho tôi:

– “Em đang xét xe.”

– “Xét thật kỹ.” Tôi dặn.

Một lúc, thiếu úy Bạch gọi:

– “Em không thấy gì hết.”

– “Lật nệm xe lên.” Tôi nói.

– “Rồi! Không có gì hết.” Thiếu úy Bạch lại gọi.

– “Xét kỹ mui xe. Gõ mạnh vào.” Tôi nói.

Một lúc, lại nghe thiếu úy Bạch nói:

– “Cũng không có gì hết.”

Tôi nghĩ thầm, không lý xách một chiếc xe từ Saigon về, ngủ một đêm ở bến tầu, rồi lại về không. Tôi lại gọi thiếu úy Bạch:

– “Ông xét cốp xe chưa?”

– “Chỉ có máy xe, đại úy ơi!” Thiếu úy Bạch trả lời tôi.

Tôi nói:

– “Xe Taxi máy nằm ở phía sau. Cốp xe ở phía trước. Ông xét kỹ cho tui.”

– “Không có gì hết!” Một chốc, thiếu úy Bạch lại trả lời.

– “Có bánh “xơ-cua” không?” Tôi lại hỏi.

– “Dạ có!” Thiếu úy Bạch trả lời.

– “Xem có dấu gì trong đó không? Lấy cây gõ mạnh xem. Gõ đều quanh bánh.” Tôi dặn.

– “Chắc không có gì trong đó.” Lại có tiếng thiếu úy Bạch.

– “Không có gì? Không có gì hết trơn hay sao?” Tôi hỏi, hơi gay gắt.

– “Dạ, có hai khung hình.” Thiếu úy Bạch nói, giọng hơi run vì nghe tôi hỏi gắt.

– “Khung hình mỗi bề bao lớn?” Tôi hỏi.

– “Mỗi bè cỡ bốn năm tấc!” Thiếu úy Bạch đáp lại.

– “Dày mỏng?”  Tôi lại hỏi.

– “Dảy cỡ hơn lóng tay.”  Thiếu úy Bạch nói.

– “Có thể dấu cái gì trong đó được không?” Tôi lại hỏi.

Thay vì tiếng thiếu úy Bạch trả lời, tôi lại nghe giọng nói xã trưởng Tạ Phước Thiện. Ông nầy là cháu nhà văn Sơn Nam, gọi bằng cậu. Thấy chuyện lạ, ông ta tò mò chạy ra xem, luôn dịp cầm máy truyền tin trả lời tôi:

– “Dám lắm, đại úy!”

Tôi nói:

– “Mở ra xem!”

Có tiếng thúy úy Bạch:

– “Khung hình làm bên Thái Lan, dán đẹp lắm, mở ra lỡ không có gì, người ta đền.”

Tôi bực mình vì cái nhát của thiếu úy Bạch, nói to, gần như nạt:

– “Ông cứ mở ra đi, không có gì tôi đền cho!”

Một lúc, thiếu úy Bạch gọi tôi:

– “Đại úy ơi! Em thấy có chất bột gì trắng, như bột giặt.”

Biết là bạch phiến, tôi vụt ngay ống nghe xuống, tức tốc phóng ra sân trước. Xe tôi đi công tác chưa về. Quay lui, thấy thượng sĩ Năm Hùng đang theo tôi, tôi hỏi to:

– “Xe ông đâu?”

Thượng sĩ Năm Hùng vội dắt xe Honda của ông từ garage  ra. Tôi ngồi lên, luống cuống, đạp tới lần thứ ba xe mới nổ. Nhìn lui thấy thượng sĩ Năm Hùng ngồi phía sau. Tôi phóng hết ga xuống chỗ thiếu úy Bạch. Sau nầy, thượng sĩ Hùng kể lại: “Ổng phóng như bay, y như đua xe trong ciné. Tui ngồi sau cũng hết hồn!”

Xuống tới nơi, tôi biểu đưa người và tang vật vào văn phòng, lập biên bản. Hai người đàn ông trên xe, chỉ còn một người. Tôi hốt hoảng hỏi thiếu úy Bạch, giọng thật to:

– “Còn đâu một người nữa?”

Thiếu úy Bạch lúng túng chưa biết trả lời sao thì thấy thượng sĩ Tô Minh Tăng, mặt mày đỏ gay, sừng sộ với người thứ hai do ông ta đang dẫn vô.

Thượng sĩ Tăng nói:

– “Thằng nầy bỏ trốn sang ngã Cư Xá. Tui chạy theo rút súng dí vô đầu nó, dẫn về. Nó tưởng qua được tui!”

Tôi cười vui mừng vì bắt lại được tên chạy trốn và cũng thấy buồn cười cho mấy ông nhân viên Nam bộ của tôi. Nóng nảy, dữ dằn vậy nhưng tốt bụng lắm.

Khoảng hai mươi phút sau, thiếu úy Kiệt đứng sát bên tôi, nói nhỏ, có vẻ ngại ngùng:

– “Tụi nó chịu chạy để tha. Đại úy nghĩ sao?”

Tôi nói ngay:

– “Không được. Không được đâu. Này, ông xem.” Tôi giải thích với thiếu úy Kiệt: “Vỡ lỡ ra, một là tù. Tù nầy nhục nhã lắm. Hai, tứ đổ tường (1), tui không chơi được; gốc tui là thầy giáo dạy Công Dân Giáo Dục mà. Ba, “Ăn khế trả vàng.” Bốn, cháu chắt tôi cả đống ở Saigon. “Gieo nhân gặt quả.” Tui tha cho đi, bạch phiến lên tới Saigon, cháu chắt tôi hút. Hại còn quá cha cái lợi. Bên quân đội người ta đánh giặc ngày đêm. Mình đỡ lạnh giò hơn, còn ăn hối lộ bạch phiến. “Đâm sau lưng chiến sĩ”. Mà dao nầy đâm mạnh lắm! Thôi ông ơi! Người ta chưởi cho mà nghe. Không xong, việc đó không xong.”

Thiếu úy Kiệt làm thinh. Đứng yên. Được một lúc, cũng có suy nghĩ về việc chạy chọt, chắc là món tiền to, tôi hỏi:

– “Tụi nó chịu bao nhiêu?”

– “Ba triệu!” Thiếu úy Kiệt nói.

– “Úi trời! Bao giờ mình mới kiếm được ba triệu!” Tôi vừa nói vừa cười. Một lúc tôi lại nói với thiếu úy Kiệt:

– “Ba ký lô bạch phiến, ít ra mình cũng được Ủy Ban Bài Trừ Ma Túy Trung Ương thưởng khoảng hơn hai triệu. Hai triệu nầy “an toàn xa lộ” hơn. Khỏe re! Ăn ít một chút mà khỏe re!”

Một lúc, thiếu úy Kiệt nói với tôi:

– “Tính xa tính gần như đại úy, tôi cũng thấy an tâm, khỏe.”

Tôi cười, nói với vẻ vui sướng:

– “Nhiều cái khỏe lắm ông ơi! Dã như mình đớp ba triệu, bể ra, mai mốt tụi nó về điều tra, hạch xách đủ điều. Có khi ba triệu mình nhận không đủ đút vô mõm chó tụi nó. Còn như bây giờ, sợ gì chúng? Tụi nó đàng hoàng, không hoạnh họe, mình đãi chúng nó ra nhà hàng ăn chơi. Đứa nào cà chớn, để cho tụi nó đói rã họng, ra giữa chợ Tròn mà ăn cơm lao động. Tôi nhớ khi tôi còn nhỏ, mẹ tôi thường nói: “Có tội bú dái không tha, không tội chưởi cha không sợ.” Mắc mớ chi mình đi bú dái ai. Mình không tội thì “Làm gì được nhau?”

Rút kinh nghiệm vụ bắt thuốc phiện ở Kiên Tân hồi trước, tôi gọi thượng sĩ Hai Râu làm báo cáo gởi về ngay cho Rạch Giá, yêu cầu cho người vào ngay.

Năm tôi về Kiên Tân, bàn giao chức vụ xong mấy ngày, tôi dọn dẹp đồ đạc giấy tờ trong các hộc bàn làm việc. Tôi lôi từ trong ngăn tủ bàn giấy, bên phải, một cái giỏ lớn, cỡ năm sáu kýlô, một thứ thuốc đen như thuốc tể người ta hay dùng. Tôi gọi thượng sĩ Lê Đức Vũ, trưởng ban hành quân, hỏi. Ông ta nói:

– “Bắt được hồi năm kia, ban đầu tưởng là thuốc phiện, sau xem lại thì không phải. Hàng bị tịch thu, người được tha.”

Tôi cười, nghi ngờ:

– “Nếu không phải thuốc phiện thì trả hàng cho người ta. Sao lại giữ hàng. Cái nầy có phải là hàng cấm đâu!”

Thượng sĩ Lê Đức Vũ không trả lời, chỉ nhìn tôi cười.

 Thấy vậy, tôi nói:

– “Thuốc tể mà thành cứt dê! Hay thiệt. Người ta có phù phép biến hóa.”

Xong, tôi bảo thượng sĩ Vũ đem bỏ thùng rác. Việc xong rồi, còn giữ “tang vật” làm chi. Mấy ngày sau, thượng sĩ Vũ nói chuyện ấy với thiếu úy Rớt: “Ông người Huế nầy tinh lắm.” Nghe thiếu úy Rớt kể lại chuyện ấy, tôi nói đùa:

– “Tui dân Quảng Trị, “Miền hỏa tuyến” nên tới đâu cháy đó!”

Bạch phiến, sau khi bắt phải thử mới biết chắc. Tôi sợ lỡ khi thử không phải thì người ta sẽ nghi tôi tráo hàng để ăn tiền. Do đó, tôi bảo thiếu úy Kiệt xuống cửa hàng chú ba Tầu Mao Thạch Thành mượn cái cân Roberval, để hai bao bạch phiến lên cân, rồi chưng ngay tại văn phòng Hội Đồng Xã, sát cửa sổ cho mọi người xem. Lỡ khi phòng tư pháp ở Rạch Giá cử người vào, xét không phải là bạch phiến thì thiên hạ làm chứng cho tôi. Giữa thanh thiên bạch nhật, giữa văn phòng Hội Đồng Xã, đồng bào hai ba lớp chen nhau đứng xem, tôi tráo hàng thế nào được?

Tôi muốn mọi việc rõ ràng để tránh tiếng, nhưng đó là một thất bại.

Khoảng hai giờ chiều, Rạch Giá gởi vào mấy người, gồm có ông thiếu tá Lê Văn Thao, chỉ huy phó tỉnh, trưởng toán cùng mấy ông thượng sĩ, trung sĩ phòng tư pháp, trong số có trung sĩ Lê Văn Lời. Anh nầy lấy thuốc ra thử, xác nhận đây chính là bạch phiến, rồi lập biên bản xác nghiệm. Sau đó, tôi giao hết tất cả tang vật và tội nhân cho họ. Riêng xe Taxi, họ chưa nhận, tôi cho tài xế Trang lái về cơ quan tôi, để trong garage.

Mới vào, quan sát chung sự việc đâu đó rồi, thiếu tá Thao nói với tôi:

– “Được việc nầy, ông trung tá rất mừng. Năm nay bốn vùng thi đua bài trừ ma túy. Vùng 1, vùng 2, vùng 3 đã có kết quả. Có vùng đã bắt được bạch phiến số lượng lớn. Riêng vùng 4 chưa có gì hết nên nghe tin nầy, ở Cần Thơ cũng mừng để có kết quả với các nơi. Nghe tin, đại tá Lê Cảnh Vệ (2) cũng mừng. Ông sẽ xuống thăm, chúc mừng anh.”

Tôi hỏi:

– “Nghe nói tháng trước ở Phú Quốc có bắt được thuốc phiện mà?”

– “Nhiều lắm!” Thiếu tá Thao nói. “Vậy mà cuối cùng chẳng ai báo cáo gì hết. Chỉ là tin đồn.”

– “Tìn đồn?” Tôi hỏi. “Tôi nghe nói có mấy bao thuốc phiện bị sóng biển trôi tấp vô Dương Đông.”

– “Cũng tin đồn thôi! Không ai bao cáo bắt được gì hết. Ai nghĩ sao thì nghĩ.”

Một lúc, thiếu tá Thao nói với tôi:

– “Đại úy chưng công khai ra như vậy là không nên. Gốc của nó là ở Hà Tiên. Đây làm ầm ầm như thế nầy, bọn Hà Tiên biết bị động, dời ổ. Lên đó, chắc tôi không đạt kết quả lớn.”

Thế rồi đám ở Rạch Giá đi, sau khi nhận bàn giao của tôi, kéo nhau lên Hà Tiên. Lên đó, họ bắt được một anh chàng Thái Lan. Trong ví anh nầy, có tấm hình một người đàn bà Việt Nam đang cư trú trên đó. Bà nầy lại là bồ hay gì đó với trung sĩ Sáu Lương, trưởng ban nhân viên bộ chỉ huy Cảnh Sát Hà Tiên. Thế là cả đám bị đưa ra tòa án ở Saigon. Hai người bị 10 năm tù là Vũ Văn Đặng, tài xế. Người đi với ông ta cũng y án, tôi không nhớ tên. Mấy người kia cũng vài ba năm gì đó.

Mấy tháng sau, tôi nhận tiền thưởng. Chia phần cho những người có công tham gia xong, tôi lấy máy bay hãng ximăng Hà Tiên cho nhà tôi đi Saigon, mang theo một triệu đồng xà chơi!

Trong khi đó thì các người phạm tội buôn bạch phiến còn ngồi trong tù? Vui hay buồn đây. Đời biết sao nói được?!

hoànglonghải

(1) Tứ đổ tường là danh từ rất phổ biến thời tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông muốn triệt tiêu hoàn toàn bốn thứ “hại dân hại nước” nầy: một là bạch phiến, thuốc phiện; hai là rượu chè; ba là cờ bạc; bốn là đĩ điếm.

(2) Đại tá Lê Cảnh Vệ, cùng quê Quảng Trị với tôi. Khi ông làm trưởng ty Công An ở đó, năm 1948-49, tôi còn là “học trò thò lò mũi xanh.” Năm 1971, khi được biệt phái qua ngành Cảnh Sát, cùng với Trương Tâm Như, Dương Trường Hội như tôi có kể phần trước, tôi đến gặp Thượng Nghị Sĩ Hoàng Xuân Tửu, – cũng quê Quảng Trị và anh một người bạn rất thân, vã lại nhà tôi là học trò cũ của ông; trước kia, vợ chồng tôi thường đến thăm ông -, về việc phải đổi đi xa. TNS HXT trấn an tôi, bảo cứ về Cần Thơ, ông sẽ nhắn với ĐT LCV, có khó khăn gì, ông ấy sẽ giúp cho. Tôi nghe lời. Trước khi nhận nhiệm vụ ở Kiên Tân, tôi có đến cám ơn. Qua quan hệ đồng hương, tôi được giúp đỡ. Vì vậy, khi nghe tin tôi làm việc có kết quả, ĐT LCV rất mừng. Quả thật, vài tháng sau, ông xuống thăm, mừng tôi.

Diễn Đàn Facebook
Advertisements

hoànglonghải - Hương Tràm Trà Tiên