Mới sáng sớm, thiếu úy Sơn, trưởng cuộc Cảnh Sát xã An Hòa gọi máy truyền tin cho tôi:

  • “Đại úy! Tối hôm qua Việt Cộng lẻn về bắn chết ông Năm Trầu.”
  • “Năm Trầu là ông nào?” Tôi hỏi.
  • “Đại úy không biết đâu! Ông già ở ấp kinh 1, bên kia kinh Hà Tiên.” Sơn trả lời.
  • “Sao biết Việt Cộng giết ông ta?” Tôi lại hỏi.
  • “Dân họ nói vậy!” Sơn trả lời.
  • “Dân nói thì ba hồi trúng, ba hồi trật. Phải xem lại. Việt Cộng có để lại dấu tích gì không? Có để lại bản án không?” Tôi hỏi.
  • “Không” Sơn trả lời.
  • “Ông Năm bị giết bằng gì?” Tôi lại hỏi.
  • “Súng các-bin. Năm phát súng các-bin”. Sơn trả lời, chắc chắn.
  • “Sao biết súng các-bin.” Tôi hỏi.
  • “Còn lại năm vỏ đạn các-bin, rớt ở phía ngoài cửa sổ.” Sơn trả lời, rõ ràng.
  • “Vậy không xong rồi. Không phải Việt Cộng giết đâu! Theo lời khai của con Vân, con nhỏ mới chiêu hồi, trong mật khu Việt Cộng không dùng các-bin. Chúng chỉ có súng M-16 và AK. Ông lập biên bản, lấy lời khai thân nhân rồi vẽ hiện trường, xong về đây gặp tui.” Tôi dặn.

Vậy rồi Sơn lại ra nhà ông Năm Trầu, làm đúng bài bản như đã học ở học viện Cảnh Sát, cho mời ông Võ Minh, Trưởng chi Y tế khám nghiệm tử thi. Cố làm xong sớm để gia đình đem chôn.

Theo phong tục ở đây, nhà nào khá giả một chút thì đám để đôi ba ngày, bà con đến viếng, cúng quảy, ăn nhậu, có khi còn đàn hát. Nhà nghèo, sáng chết, chiều chôn, chẳng để lâu bao giờ.

Trưa hôm đó, tôi họp với thiếu úy Sơn, thượng sĩ Hai Râu, trưởng ban tư pháp và thiếu úy Kiệt, trưởng ngành Cảnh Sát Đặc Biệt quận. Tôi nói:

  • “Tui không tin Việt Cộng giết. Lý do tại sao thì tui đã nói với mấy ông rồi. Việt Cộng giết thì khỏi mất công nhiều. Còn như trường hợp nầy, phải tìm cho ra thủ phạm. Việc phức tạp, phải nhờ bên Cảnh Sát Đặc Biệt. Bên tư pháp vừa thiếu người vừa thiếu chuyên môn. Thiếu úy Kiệt đồng ý không?”
  • “Đại úy ra lệnh, tui thi hành.” Thiếu úy Kiệt nói.

Tôi cười:

  • “Kiệt nhớ phải nhờ mấy ông thổ công: Bảy Hùng, Sáu Tài, Năm Hưng và nhứt là Năm Hùng, họ phải góp tay.”

Năm Hùng là thổ công ở xứ nầy, tham gia chính quyền từ trưởng ấp lên hội viên cảnh sát xã, tới bây giờ là thượng sĩ. Ông ấy kinh nghiệm lắm.

Bốn người tôi mới nhắc tên, được gọi từ phòng cảnh sát đặc biệt qua tham gia buổi họp. Tôi hỏi:

  • “Ai có súng các-bin? Ông Năm Trầu bị giết bằng súng các-bin.”

Kiệt hỏi:

  • “Sơn báo cáo bị Việt Cộng giết mà?”

  • “Tui nghe dân chúng người ta nói vậy. Có lẽ không phải.” Sơn trả lời, thật thà.

Tôi giải thích:

  • “Không phải đâu. Thường Việt Cộng giết có để lại bản án. Tụi nó cũng không có các-bin, chỉ có AK và M-16 mà thôi. Năm Hưng nhớ lời khai con nhỏ mới hồi chánh không?”

Năm Hưng, thượng sĩ, trưởng ban điều tra, cười nói:

  • “Đại úy nói đúng. Con Vân khai Việt Cộng trong mật khu không có các-bin. Thời Việt Minh, ông già tôi bị chúng nó giết cũng có ghim một bản án nơi ngực áo.”

Tôi nhắc:

  • “Ông Ba Tiên cũng có một bản án ghim nơi đầu.”

Mao Thạch Tiên, tên thường gọi là Ba Tiên, người Tàu lai, cha là chủ điền thời Pháp thuộc. Những năm Việt Minh đánh Tây, họ giết ông ta, còn lại Ba Tiên và người chị, có quán chạp phô ở gần chợ Tròn. Bà chị có gia đình, có chồng con. Riêng Ba Tiên vẫn độc thân từ trẻ tới giờ, ngày ngày đi làm đồng, đốn tràm, giăng câu, đặt lợp…. Vì thù cha, Ba Tiên làm mật báo viên cho Quốc Gia. Việt Cộng biết, giết Ba Tiên bằng dao đốn tràm, rồi bêu đầu ở ngã tư kinh Xà Tón và kinh Kháng Chiến. Việt Cộng ghim vào tóc Ba Tiên một bản án “làm tay sai cho Mỹ Ngụy, chống phá Cách Mạng”. Ba ngày sau, bà chị Ba Tiên mới dám vào rừng tràm lấy xác và đầu em đem về chôn. Dân chúng ai ai cũng hoảng kinh việc nầy.

Tôi lại hỏi:

  • “Ở đây, ai có súng các-bin?”

Năm Hùng đáp:

  • “Chỉ có Nhân Dân Tự Vệ và cán bộ Xây Dựng Nông Thôn có súng các-bin.”

  • “Trong hai số đó, phía Nhân Dân Tự Vệ đáng nghi hơn. Điều tra bên phía Nhân Dân Tự Vệ trước, xem ai có súng các-bin. Người có súng đêm qua phải ở nhà. Nếu nó đi gác, cũng khó lẻn về giết Năm Trầu rồi đi gác lại. Dễ bị nghi.”

Năm Hùng lại nêu ý kiến:

  • “Nếu điều tra, phải điều tra Nhân Dân Tự Vệ cả hai xã An Hòa và An Bình. Nhà Năm Trầu ở Kinh 1, xã An Hòa, nhưng ấp nầy giáp ranh ấp Ngã  Ba, xã An Bình. Dân chúng họ biết nhau, biết điểm tập trung, canh gác. Nhân Dân Tự Vệ An Bình cũng có thể qua giết Năm Trầu được vậy.”
  • “Có lý.” Kiệt nói. “Về cả hai xã, đặc biệt ấp Ngã Ba và Kinh 1, điều tra xem ai có súng các-bin, từ đó phăng ra.”

  • “Nhà Năm Trầu gồm những ai?” Năm Hưng hỏi.

Sơn đưa tập hồ sơ mới đánh máy xong, nói:

  • “Tui lấy lời khai ba người. Vợ Năm Trầu, Năm Mà là em vợ Năm Trầu với con Hạnh, con gái lớn Năm Trầu.”

  • “Con Hạnh nầy hôm trước chú mầy rủ đi Rạch Giá phải không?” Tôi quay qua hỏi Sơn, cười.
  • “Đâu có đại úy!” Sơn cải chánh. “Bữa đó ra mắt đảng Dân Chủ ở Rạch Giá. Ai có vô đảng thì tham gia. Dân trong đó đi Rạch Giá đông lắm, con gái thì có cả chục đứa. Con nhỏ nầy cũng đi. Còn tui đi là vì nhiệm vụ phó xã trưởng an ninh (1) của tui.”

  • “Họ khai sao?” Tôi hỏi.
  • “Họ cũng nói là Việt Cộng giết, nhứt là Năm Mà, thằng cha nầy nói chắc vậy.”
  • “Nó nói chắc? Thằng nầy đáng nghi!” Tôi nói. “Tại sao nó ở đây, vợ con ở đâu? Nó làm nghề gì?”

Sơn giải thích:

  • “Thằng nầy cũng như vợ Năm Trầu, quê ở Sadec. Nó qua đây ở với anh rể để trốn quân dịch.”

Tôi nói, giọng gay gắt:

  • “Vậy mà ông cho nó ở được? Không sợ tội “tán trợ bất phục tòng?”

  • “Không” Sơn nói. “Nó làm căn cước ngoài tuổi quân dịch. Nghe nói chạy đâu bốn chục ngàn cho Trưởng ban Căn cước. Tui biết nhưng rút giây động rừng, sợ đụng mấy ông ở tỉnh, nhất là ông phó Thao, người ký căn cước.”
  • “Vậy nó làm gì?” giọng tôi vẫn chưa hết gay gắt.
  • “Nó làm rẫy cho ông Năm Trầu. Ông Năm khá giả lên cũng là nhờ em vợ. Thằng nầy chưa có vợ con chi cả.”

Kiệt hỏi:

  • “Thằng nầy có vào Nhân Dân Tự Vệ không? Nó có súng không?’

Sơn trả lời, giọng có vẻ mệt mỏi vì phải trả lời nhiều câu hỏi:

  • “Không. Nó chạy bên xã Long, khỏi vô Nhân Dân Tự Vệ, khỏi canh gác. Hình như nó khai là đau bệnh mắt, không thức đêm được. Tui cũng không để ý.”
  • “Thôi, được rồi. Bây giờ thiếu úy Kiệt chỉ huy tổng quát! Sơn làm phụ tá. Mọi việc biết cả rồi đó. Đó là những đầu mối. Cứ theo đó mà lần. Chắc rồi cũng ra.”

Rồi tôi kết thúc buổi họp bằng câu nói đùa, theo kiểu ở quân trường: “Tan hàng cố gắng!”

Hai ngày sau, thiếu úy Kiệt đề nghị tôi cho mở cuộc họp gồm những thành phần như hôm trước, có thêm thiếu úy Bạch, trưởng cuộc Cảnh Sát xã An Bình, sơ lược kết quả.

Thiếu úy Kiệt trưng ra khẩu các-bin tình nghi là đã được dùng để giết ông Năm Trầu. Theo xét nghiệm của thiếu úy Kiệt, nòng súng còn khói, nghĩa là súng mới dùng, chưa kịp chùi nòng. Súng của Nguyễn Trường, 17 tuổi, Nhân Dân Tự Vệ, toán 3 xã An Bình. Thiếu úy Kiệt cũng đã lấy lời khai của Trường. Đêm ông Năm Trầu bị giết, Trường tới phiên ở nhà, khỏi đi gác. Nhưng đêm đó, Trường đi nhậu suốt sáng, không đi đâu xa chiếu nhậu ngoài việc tiểu tiện. Lời khai của Trường được mấy người cùng nhậu xác nhận là đúng.

Kiệt nói:

  • “Tui nghi đúng là súng của thằng nầy, nhưng người khác dùng để bắn Năm Trầu.”

  • “Người khác là ai?” Tôi hỏi.
  • “Người khác đó là Năm Mà, em vợ Năm Trầu.” Thiếu úy Kiệt giải thích
  • “Vậy là em vợ giết anh rể? Có chắc không?” Tôi hỏi, e ngại.

Năm Hưng nói:

  • “Đúng đó đại úy. Tui nghi vậy.”

  • “Nhưng vì sao em vợ giết anh rể, ghê gớm vậy. Làm sao Năm Mà lấy được súng thằng Trường. Phải có quen biết nhau nên thằng Trường cho Năm Mà mượn súng chớ.”

Năm Hùng nói:

  • “Không có mượn chi cả. Năm Mà đang đêm lẻn vào nhà thằng Trường lấy súng.”

  • “Trong nhà không ai biết?” Tôi lại hỏi.
  • “Nhà thằng Trường chỉ có hai chị em. Nó đi nhậu, chị nó ở nhà. Khi đi nhậu, thằng Trường mắc súng lên kèo. Sáng về, súng dựng vào vách nhà. Thằng Trường khai vậy.” Năm Hùng giải thích thêm.

Tôi hỏi:

  • “Mấy ông có thấy có liên hệ gì giữa chị thằng Trường với Năm Mà không?”

Năm Hùng nói, vẻ hào hứng:

  • “Có chớ sao không? Con nhỏ nầy là bồ thằng Năm Mà. Vài đêm nó lẻn tới ngủ với con nhỏ nầy. Nên nó lấy súng thằng Trường đâu có gì khó mà thằng Trường chẳng biết mẹ gì cả.”

  • “Điều tra con nầy chưa?” Tôi hỏi.
  • “Chưa!” Thiếu úy Kiệt trả lời. “Mới điều tra lòng vòng, sợ bị động, thằng Năm Mà dọt mất là mất công toi. Bây giờ mình bắt con nhỏ điều tra, đồng thời theo dõi thằng Năm Mà, canh nó trốn. Khai thác con nhỏ, đủ yếu tố là mình bắt ngay Năm Mà. Đại úy chịu không?”
  • “Tuyệt diệu!” Tôi cười.

Thiếu úy Bạch về ngay xã mình, “nhẹ nhàng” mời con chị thằng Trường ra quận, làm như đi chơi. Thiếu úy Bạch và hai nhân viên, đi phía sau, xa xa, canh chừng.

Con nhỏ tên là Nguyệt. Nguyệt khai:

  • “Em với ông Năm yêu nhau nhưng chưa cưới. Ổng ấy hẹn chờ kiếm tiền rồi cưới.”

  • “Ông Năm có thiệt tình không?” Tôi hỏi.
  • “Chắc ổng không thiệt tình đâu! Ổng chỉ lợi dụng em mà thôi. Nếu thiệt tình thì ổng tính chuyện vào trỏng làm chi?”
  • “Vào trỏng? Theo Việt Cộng?” Thiếu úy Kiệt hỏi.
  • “Ổng nói cái ông trưởng ban ở tỉnh làm căn cước lớn tuổi cho ổng bị bắt rồi. Việc đổ bể, thế nào ổng cũng bị Cảnh Sát bắt thôi. Ông Tư Dân, ngoài Hòn Ngang, làm căn cước lớn tuổi cùng một lần với ông, bị Cảnh Sát bắt rồi.”

Tôi hỏi:

  • “Sao ổng chưa đi? Cô có biết bao giờ ông ta sẽ trốn vào trỏng không?”

  • “Ổng đang “chẩn” (chuẩn) bị. Mấy lâu nay ông đòi anh rể ông đưa tiền. Mấy chục công rẩy của Ông Năm Trầu là do ổng khai, trồng trọt. Nếu ổng có tiền, ông sẽ cưới tui, với việc làm căn cước lớn tuổi có đổ bể, ổng cũng có tiền chi cho Cảnh Sát. Ổng chẳng hề hấn gì đâu!”
  • “Nếu không có tiền thì ông dọt vô trỏng.” Tôi hỏi.
  • “Có vô trỏng, cũng phải có tiền ông mới dọt. Ổng không dại bỏ công không! Ông đang tính bán rẻ mấy chục công rẩy cho mấy người cùng xóm.”

Tôi hỏi:

  • “Ông ta có thường hay tới với cô không?”

  • “Cứ vài ba đêm ổng tới ngủ lại. Tui đuổi, ông cũng không về. Tới gần sáng mới về.”

Thượng sĩ Hưng hỏi:

  • “Bữa Năm Trầu chết. Ông ta có tới không?”

  • “Có!” Nguyệt trả lời.
  • “Ổng có ngủ lại không?” Năm Hưng vừa cười ranh mảnh vừa hỏi.
  • “Không!” Nguyệt nói, chắc chắn, tỉnh táo.
  • “Tại sao không ngủ lại, ngủ một đêm cho đời thêm vui.” Năm Hưng vừa cười vừa hỏi.
  • “Đâu biết?” Nguyệt trả lời, vẻ mắc cở.
  • “Không ngủ lại, sao biết là ông ta?” Năm Hưng hỏi tiếp.
  • “Cần chi hỏi. Nghe tiếng động biết ngay ổng.” Nguyệt trả lời.
  • “Ổng tới một lần thôi?” Năm Hưng lại hỏi.
  • “Không, hai lần.” Nguyệt trả lời.
  • “Mỗi lần cách nhau bao lâu?” Năm Hưng lại hỏi.
  • “Chừng một tiếng.” Nguyệt nói.

Tôi cắt ngang:

  • “Thôi, khỏi hỏi nữa, để sau. Vậy là rõ: một lần lấy súng, một lần trả súng. Cho bắt Năm Mà đi!”

Vậy là thiếu úy Kiệt, thiếu úy Sơn cùng nhân viên, liên lạc với nhóm đang canh chừng Năm Mà ở ngoài. Một lúc, thiếu úy Kiệt gọi máy về cho tôi:

  • “Kẹt rồi đại úy. Không bắt được.”

Tôi hốt hoảng:

  • “Nó trốn mất rồi à? Chết cha chưa?”

Tiếng thiếu úy Kiệt trong máy, với giọng đùa:

  • “Chưa chết! Chưa chết. Thằng chả còn đây nhưng đang nhậu với ông Phó Quận, làm sao bắt?”

  • “Để đó tui. Mấy ông cứ sẵn sàng đi.” Nói xong, tôi lên xe Jeep, phóng ngay ra quán ông Phó Quận đang nhậu. Thấy xe tôi, Kiệt đi tới, miệng cười cười như cái tật anh ta thường vậy. Tôi nói:
  • “Ông sai đứa nào vô nói với ông Phó Quận, tui chờ ông ngoài nầy có chuyện khẩn cấp. Hễ ông Phó rời tiệm, ông thộp ngay thằng chả, đem về.

Khi ông Phó Quận lên xe ngồi với tôi thì Năm Mà bị dẫn ra xe của thiếu úy Kiệt. Tôi nói với Phó quận:

  • “Tụi nó bắt thằng Năm Mà nhưng kẹt ông đang nhậu với nó. Thằng đó vừa giết anh rể nó.”

  • “Chắc không?” Ông Phó quận hỏi.

Tôi cười:

  • “Ông Phó không tin tui?”

  • “Xin lỗi. Tôi không rõ chuyện. Thằng chả mời tôi nhậu để xin tôi ký giấy bán mấy công đất do ông anh rể đứng tên.”
  • “Nó muốn kiếm tiền để dọt vô trỏng.” Tôi nói, rồi hỏi tiếp:
  • “Ông có biết tại sao nó giết anh rể không?”
  • “Không.” Ông Phó Quận trả lời.
  • “Cũng tiền mà thôi. Nếu kiếm được vố lớn, nó ở lại lấy vợ. Hận ông anh rể không cho tiền, không cưới được vợ, bèn cho ông mấy phát súng xong đời. Vét một ít tiền vô trong bưng mà sống.”

Ông Phó Quận hỏi:

  • “Tại sao nó không trốn về Sadec?”

  • “Về để chết à? Ở đây không ai biết nó, có cái giấy căn cước lớn tuổi, Cảnh Sát khỏi bắt đi quân dịch là xong. Về bên đó, người ta biết ngọn ngành nó, càng chết sớm.”

Ông Phó quận thở dài:

  • “Đời ghê thật. Anh em giết nhau vì tiền.” Rồi nói tiếp: “Ông làm sao để nó đừng có khai dính dáng gì tới tôi nghe!?

  • “Yên tâm! Yên tâm. Ông Phó đã ký giấy tờ gì cho nó đâu! Tui phát hiện sớm cũng khỏe cho ông Phó.”

Một lúc, tôi thở dài nói với ông Phó Quận:

  • “Cách mạng” tưởng gì hay hơn. Té ra cũng “rứa”. Mấy tháng nay, mùa khô, tụi nó thâu thuế, lấy tiền dân dữ lắm. Mình chẳng làm chi được.”

Ông Phó Quận nhận xét:

  • “Tụi trong đó vì tiền, thằng nầy cũng vì tiền mà muốn dọt vào trong đó. Bọn giết người đi với nhau, đúng là “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.”

hoànglonghải

(1) – Theo truyền thống, làng xã Việt Nam có tính cách tự trị hoặc bán tự trị, lý trưởng là do ban hội tề hoặc hương chức trong làng bầu ra. Chính quyền trung ương, xưa là vua, chỉ cắt cử quan cai trị đền quận, huyện mà thôi, không xâm phạm đến việc cai trị trong làng.

Việc tổng thống Thiệu chọn trưởng cuộc cảnh sát (viên chức nhà nước) làm phó xã trưởng an ninh là vi phạm tính cách tự trị của làng xã Việt Nam. Việc nầy gây nhiều bất lợi, nhất là mâu thuẫn giữ chính quyền trung ương và làng xã. Tuy nhiên, qua vai trò trưởng cuộc cảnh sát, việc thắng cử của tổng thống Thiệu hay phe nhóm ông chắc chắn hơn, dù có vi phạm tới tính truyền thống làng xã Việt Nam.

Cộng Sản lập cơ sở đảng (Chi ủy) tới tận làng xã. Chi ủy nhận lệnh từ trung ương, thành ra việc Việt Cộng làm, còn tệ hơn ổng thống Thiệu đã làm. Tổng thống Thiệu chỉ có trưởng cuộc cảnh sát kiêm phó xã trưởng an ninh là người của ông. Cộng Sản thì có toàn bộ, chủ tịch xã, hội đồng nhân dân xã, v.v… bất cứ người nào chức chưởng lớn bé đều là người do chi ủy chọn, tức là người của trung ương. Tính cách tự trị của làng xã hoàn toàn bị triệt tiêu.

Diễn Đàn Facebook
Advertisements

hoànglonghải - Hương Tràm Trà Tiên