Đã kể thì kể cho hết những chuyện xảy ra ở vùng cuối của miền đất Hậu Giang nầy, để khi gấp sách lại, tôi hy vọng độc giả hiểu cho rằng, té ra, ở một nơi gọi là quê hương Việt Nam nầy, có những chuyện như thế, những con người như thế, và có những tình cảnh như thế, khốn khổ cho dân tộc nầy biết bao nhiêu!

            Bao nhiêu người đau khổ và bao nhiêu người sống trên sự đau khổ của người khác, vậy thì từ bi ở đâu, bác ái ở đâu, công lý ở đâu, lương tâm ở đâu?

            Khoảng giữa các năm 1950, tôi có đọc một truyện ngắn trong tập san “Chỉ Đạo” – “Cơ Quan Trung Ương Chỉ Đạo Chiến Dịch Tố Cộng” – một truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc, truyện “Rung Cây Dừa”. Truyện kể có anh chàng, trong khi toàn dân tham gia Nam Bộ Kháng Chiến, chống Pháp, thì anh ta, lúc đó cũng chưa vợ chưa con chi cả, – để khỏi nại cớ nặng gánh gia đình mà trốn tránh nhiệm vụ của người dân – anh chàng bỏ đất liền ra sống ở ngoài một hòn cù lao nhỏ, tránh xa cảnh bom đạn đang xảy ra ngày đêm trên đất liền.

Ở hòn cù lao nầy, chỉ có mấy gia đình. Mỗi khi tầu thủy Tây từ xa, từ hướng Rạch Giá hay Phú Quốc chạy tới, thì anh ta leo lên cây dừa rung các ngọn lá, báo động cho đồng bào biết, chạy trốn lên núi.

            Ở trong vịnh Thái Lan nầy, có rất nhiều hòn đảo lớn nhỏ. Lớn nhứt thì có Phú Quốc, hồi ấy được lập thành một quận: Quận Phú Quốc, với hai xã là Dương Đông và xã An Thới, có trại tù binh Việt Cộng lớn. Đảo nầy không thuộc phạm vi của tôi, nên tôi không bàn tới.

            Thứ hai là Hòn Tre. Hòn Tre cũng từng đi vào văn chương, truyện “Kho Vàng Hòn Tre” của Sơn Nam. Ở đây cũng có căn cứ khá lớn của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa. Xa hơn nữa là Hòn Lại Sơn, còn gọi là Hòn Rái, cũng là xã Lại Sơn. Hai hòn đảo nầy, thuộc phạm vi quận Kiên Thành. Quận nầy đóng ở Rạch Sỏi.

            Khu vực tôi có Hòn Nghệ là lớn nhứt. Kế đó có Hòn Đầm, Hòn Ngang, (trong bản đồ ghi là hòn Đội Trương), Hòn Heo…. Ngoài ra còn một số đảo nhỏ nữa, có hòn có người ở, có hòn thì không. Lý do: Nhiều hòn không có nước ngọt, không ở được.

Những hòn lớn có nước ngọt là nhờ khi mưa, nước thấm vào núi, chảy xuống thành những khe suối, khe mội (khe nước ngầm, từ trong núi chảy ra). Những hòn nhỏ quá, giữ không đủ nước, khi mùa khô tới, nước đã cạn, không có nước.

Tuy nhiên, trước khi nói về các hòn đảo ngoài biển, tôi nói qua về vài đặc điểm vùng nằm dọc theo bờ biển.

            Gần ranh giới giữa hai quận Hà Tiên và Kiên Lương là một dãy đồi không cao lắm. Từ hướng nhà máy ximăng Hà Tiên đi lên thị trấn Hà Tiên, qua khỏi ấp Xà Ngách thì tới các ấp Cần Thăng, ấp Bãi Ớt, ấp Hòn Heo, ấp Bãi Chà Và thuộc xã Dương Hòa.

Qua khỏi ấp Cần Thăng là lên một cái giốc không cao lắm của mấy ngọn đồi thấp nằm liền nhau, kéo tới bờ biển, kết thúc bằng một ngọn đồi nhỏ. Đây chính là ấp Hòn Heo. Tại đây là một ngã tư, giao lộ của quốc lộ 8A Rạch Giá – Hà Tiên và phía kia là một con đường đất, một đi về hướng Cản – Cản là những cọc cây cắm trên kinh để cản tầu chiến của Pháp hồi chiến tranh 1945-54, – trên kinh Kiên Lương – Hà Tiên. Qua khỏi kinh nầy là vùng kinh thiên nhiên, dẫn vào mật khu Trà Tiên; ngược lại là hướng ra biển, thường gọi là đường Hòn Heo. Con đường nầy chạy theo bờ biển rồi vòng lại bọc quanh một ngọn núi nhỏ nói ở trên.

Gần ngoài bờ biển có một ngôi chùa cổ, có thầy trú trì còn trẻ. Chúng tôi rất ngại ông thầy chùa nầy. Mấy ông thầy chùa ở nhà quê, thật thà, dại dột, phần đông ít ông nào tránh khỏi bị Việt Cộng lợi dụng, bắt làm tay sai. Gần chùa là một xóm nhà trù phú, phần nhiều là chủ ghe, như Hai Hồ, Sáu Đụt. Hầu hết con trai của họ đều trốn quân dịch. Mỗi lần bị lục soát, bọn chúng nhảy xuống ghe, phóng ra biển. Phía quân đội và cảnh sát, không có ghe tàu đuổi theo, chỉ lõ mắt… ngó theo.

Ngoài lý do đi lính sợ chết, còn lý do chính trị nữa. Họ thiên Cộng, hay theo Việt Cộng như Quách Thị Hoa, cựu can phạm. Quách Thị Hoa ở tù Côn Đảo về khoảng cuối năm 1973. Một năm sau, Quách Thị Hoa liên lạc với Nguyễn Thị Vinh, – bố Nguyễn Thị Vinh và chính Thị cũng là cựu can phạm, tù Côn Đảo, về cũng khoảng thời gian với Quách Thị Hoa. Một năm sau, cả hai Thị liên lạc với nhau, “tái hoạt động”.

Ngành đặc biệt chưa kịp bắt thì cả hai Thị chạy trốn lên Rạch Giá rồi Cần Thơ. Chỉ ít tháng sau, thì “đứt phim”. Coi như hai Thị thoát nạn, nhưng sau 30 tháng Tư, cũng chẳng được Việt Cộng ban phát gì, lại về quê làm ruộng.

            Gia đình Nguyễn Thị Vinh rất lộn xộn. Bố thị là cựu can phạm, bị tù thời Ngô Đình Diệm, được tha về. Ông ta không hoạt động gì nữa. Thằng con trai lớn, thoát ly vô mật khu. Vợ tên nầy đi theo, rồi có bầu. Khi gần đẻ, Thị lại rời mật khu về lại ở ấp Lung Lớn, nhà cha chồng, ở chung với em chồng là Nguyễn Thị Vinh. Khi thị sinh đẻ, có bệnh viện phe quốc gia đỡ đẻ, chăm sóc cho. Có lẽ bệnh viện của Nguyễn Tấn Dũng trong mật khu không có khu “sản khoa”.

“Y sĩ” Nguyễn Tấn Dũng không biết đỡ đẻ, nên cho thị về để quốc gia lo giùm.

Hôm thượng sĩ Năm Hưng, trưởng ban điều tra, trình bản cung của “bà bầu” nầy cho tôi xem, vừa cười vừa nói thêm: “Tụi nó đè nhau ra chơi cho sướng, khi có bầu bắt Quốc Gia nuôi đẻ. Xứ nầy thiệt buồn cười!”

            Tôi nói:

            – “Buồn cười nhưng không đau lòng! Sai lính đi đánh Việt Cộng rồi chở gạo, chở thuốc vô mật khu nuôi Việt Cộng mới đau lòng!”

            Nói câu đó là vì tôi nhớ tới câu nói của anh trung sĩ thuộc Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát bị tôi bắt, như tôi có nói ở phần trước.

            Gia đình nầy còn một thằng con trai nữa, sợ không dám theo Việt Cộng, cũng không dám đi lính sư đoàn hay Nhảy Dù, Biệt Động Quân, v.v… bèn xin vào Nghĩa quân. Như tôi có nói ở trước, vào nghĩa quân đâu có… dễ

Khoảng cuối năm 1974, Danh Chịa, trung đội trưởng nghĩa quân giỏi nhất của chi khu Kiên Lương bị mìn chết ở gần chùa ấp Hòn Heo. Cái chết của Danh Chịa làm cho không ít người trong chúng tôi lo lắng và tiếc thương.

Quận Long cho một trung đội hành quân cuối ấp Hòn Heo, nơi Danh Chịa bị mìn để đem xác anh ta ra, đưa về xã Dương Hòa, liệm tại đó, rồi chở về bản quán anh ta ở Giục Tượng. Hôm đó, tôi cũng có mặt tại xã, đứng bên ông Quận Long. Mắt ông ta đỏ hoe. Tôi biết Quận Long thương Danh Chịa lắm, một trung đội trưởng nghĩa quân giỏi và tư cách đàng hoàng.

Ông Quận Long nói tới tôi:

– “Thấy cái xác nó, tôi khóc liền.”

Tôi ngại, không nói thêm lời an ủi nào mà lại nhớ hôm ông rủ tôi xuống xem kết quả trận đánh Việt Cộng tấn công và đồn Lung Lớn và thảm bại.

Ông ta kể: “Quá nửa đêm, ban hành quân thức tôi dậy, báo cáo tụi nó tấn công đồn Lung Lớn. Tình hình nguy ngập vì cả đồn chỉ có một tiểu đội với 4 ngoe. Tôi liên lạc với bọn nó, biểu rút lui ra ngõ sau. Chờ khi Việt Cộng chiếm đồn xong, tôi cho pháo dập. Tui nó thiệt hại nặng lắm.”

Sáng hôm sau, khi tôi và Quận Long xuống tới đồn, cảnh vật khá kinh hoảng. Chỉ còn chơ vơ 4 cái cột của lô-cốt ở giữa, mái tôn bay mất. Ngoài hàng rào, trong cổng đồn, Việt Cộng chết nằm co quắp cả chục xác, nhiều xác cháy đen, nhiều xác máu đã đọng lại đen thành vũng, ruồi nhặng bay ù ù, tung lung.

Vào sân đồn chưa được 5 năm phút, Quận Long kéo tôi ra lộ, nói:

– “Tui là người vào sinh ra tử hàng trăm lần, bây giờ thấy máu me cũng ngán.”

Câu nói của một viên thiếu tá nổi danh đánh giặc giỏi của Sư Đoàn 9 Bộ Binh không khỏi làm tôi suy nghĩ. Nhiều người biết cái danh của ông “đánh giặc hay lắm”. Cũng phải nói thêm, theo nhận xét của tôi là ông ta “kinh nghiệm đầy mình.” Vậy mà bây giờ ông ta thấy nãn vì cảnh máu đổ xương rơi!?

Tại sao ông ta thấy nãn? Vì bây giờ ông giàu có nên sợ chết, sợ mất hưởng thụ cái tài sản ông thu kiếm được. Không hẳn thế, bởi vì, – hơi tò mò đời riêng một chút – là ông ta, theo tôi biết, không giàu. Giàu mới lo hưởng thụ. Không giàu thì hưởng thụ cái gì? Có thể là chiến tranh kéo dài quá, ai ai cũng nãn. Cái con ông, cũng như các con tôi, cũng đã lớn, đã vào bậc trung học. Nhìn con, nghĩ tới tương lai chúng, người ta cũng sợ chứ. “Lỡ khi mình không còn…” không những “thương người vợ chờ…” Vợ có thể đi lấy chồng khác nhưng con mình thì ai nuôi?!

Gần mười năm xông pha trận mạc, cận kề cái sống, cái chết, chứng kiến bao cảnh đau lòng, rên xiết vì bị thương, cảnh đồng đội, em út, và cả kẻ thù hấp hối… Dù với kẻ thù, người miền Nam vẫn thấy đau lòng trước những nỗi thống khổ, đau đớn, chết chóc của những người “Sinh bắc tử nam”. Nói cho cùng, họ cũng là nạn nhân cả đấy.

Người miền Nam còn mang nặng bản chất dân tộc, trong đó, dù Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Tiểu Thừa, Đại Thừa, v.v… bản chất đó vẫn là hiền hòa, là từ bi, là lòng nhân ái thương yêu của đạo Phật, của văn hóa dân tộc… Người ta khó bỏ đi, không thể bỏ đi cái bản sắc dân tộc ở trong lòng mình.

Tại ấp Hòn Heo, trên đỉnh các ngọn đồi nầy, khoảng năm 1974, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa dự trù dựng một thành phố mới, làm tỉnh lỵ cho tỉnh mới: Tỉnh Kiên Hà (Lấy tên từ Kiên Giang và Hà Tiên). Tỉnh dự trù sẽ thành lập, gồm các quận Kiên Lương, Hà Tiên, Phú Quốc và Giang Thành (quận mới). Thiếu tá Philip Bùi Văn Đạt, chỉ huy trưởng Cảnh Sát Phú Quốc được dự trù chọn làm chỉ huy trưởng Cảnh Sát tỉnh mới nầy. “Sư phụ” tôi hỏi tôi có muốn làm chỉ huy phó không? Tôi lắc đầu!

            Trước hết, khi lập một tỉnh mới, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa có chủ đích. Chủ đích gì thì cũng không ngoài chia nhỏ để dễ kiểm soát dân chúng, triệt hạ Cộng Sản.

            Dĩ nhiên Việt Cộng sẽ phản công. Chúng sẽ tập trung quân tấn công vào đây. Tỉnh mới thành lập, hệ thống phòng thủ chưa vững, kế hoạch phòng thủ chưa hoàn hảo, phối hợp các ban ngành dân quân chưa chặt chẽ. Tình hình tỉnh mới nầy, như tỉnh Phước Thành là tỉnh mới thành lập năm 1961 thời “Ngô Tổng thống”. Việt Cộng, hồi ấy còn yếu, tập trung đánh một trận, Thiếu tá Tỉnh trưởng Nguyễn Minh Mẫn bị giết. Chính phủ dẹp bỏ tỉnh nầy luôn. Vậy, nếu tôi chui vài đây là chui vào rọ, chui vào chỗ chết!

            Nghe tôi trình bày như vậy, Trung tá Nguyễn Ngọc Thiều cười nói, không rõ thiệt hay giỡn:

            – “Nếu chú có nhận xét và kinh nghiệm như vậy, tui bắt buộc đưa chú về đây!”

            Tôi cũng cương:

            – “Nếu Trung tá ra lệnh, tôi thi hành. Trung tá nhớ nếu tôi có “Tổ Quốc Ghi Ơn” thì Trung tá nhắc nhở chính phủ đừng bỏ quên vợ con tui.”

            Công việc thành lập tỉnh mới đang tiến hành, chậm chạp chưa ra cơm cháo gì cả thì “tan hàng.”

            Tuy không có ý đảm nhận chức vụ gì ở đây, tôi lên ấp Hòn Heo để quan sát địa hình, coi lại địa hình để phỏng đoán hoạt động của Việt Cộng vùng nầy sẽ như thế nào!

            Vùng nầy Việt Cộng không mạnh, lâu lâu, chúng về tuyên truyền, thu thuế ruộng muối, vài chủ ghe đánh cá, đặt mìn, v.v… Nếu muốn tấn, Việt Cộng có điều “Huyện Đội” về cũng chưa ăn thua. Ít ra, chúng phải điều “Tỉnh Đội”.

&

            Một hôm, đám “Xã đội” của Hai Ngộ lén về giật sập cầu Dương Hòa, còn gọi là cầu Ba Hòn.

Cầu ngay cạnh trụ sở xã, có canh gác đàng hoàng, kỹ lưỡng mà cũng bị Việt Cộng phá được? Không rõ bên An Ninh Quân Đội có phát hiện tên nghĩa quân nào làm nội tuyến hay không. Bên chi khu, có đại úy Danh Lol làm việc giỏi nhứt. Ông nầy gốc là nghĩa quân viên, có nghĩa là lính trơn. Trung sĩ Tư Khấu của tôi hồi ấy là trung đội trưởng của Danh Lol. Vậy mà bây giờ, Danh Lol mang loon đại úy, còn Tư Khấu, trung sĩ vẫn cứ trung sĩ, cái loon đeo lâu ngày đã mốc. Tôi cứ chê Tư Khấu việc nầy hoài. Ham chơi, ham nhậu, làm sao cuộc đời thăng tiến được. Bị mắng, Tư Khấu chỉ nhăn răng cười.

Sau đó, từ Nghĩa Quân, Danh Lol xin chuyển qua Địa Phương Quân rồi theo học khóa đặc biệt. Tôi không rõ trình độ văn hóa của ông ta như thế nào, có thể không cao, nhưng đánh giặc thì kinh nghiệm và giỏi lắm, và cũng “chì” lắm. Như tôi kể trong bài trước, nhờ “chì” nên sau ba ngày tấn công, Việt Cộng với hai đại đội, không chiếm được cầu Vàm Rầy với một “trung đội trừ” phòng thủ, là nhờ công của ông ta.

            Hôm cầu sập, tôi lên xem, bực mình hỏi xã trưởng Hồ Văn Chánh:

            – “Trong ta ông có mấy trung đội Nghĩa Quân, vậy mà để cầu sập!”

            Xã Chánh giải thích:

            – “Điều động Nghĩa Quân là do Chi Khu, em có quyền gì! Bọn thằng Hai Ngộ cũng ghê lắm. Tụi nó lặn xuống từ xa kia. – Y đưa tay chỉ về hướng đường vào núi Nai, đường xâm nhập của Việt Cộng –  Nó mang đá vào người cho nặng, đi bộ dưới đáy kinh, ngậm ống nylon mà thở, tới núp dưới chân cầu gài mìn. Trời tối lắm, linh không thấy được.

            Lúc ấy, chúng tôi đang ngồi trong cái quán cóc gần cầu. Bàn bên kia có “một thằng mắt xanh mũi lõ” còn trẻ, sau mới biết nó người Ăng-Lê. Một anh sinh viên trẻ đi theo làm thông dịch viên. Cả hai người nầy đi xe đò từ Saigon về Hà Tiên, tới đây cầu sập, chưa đi được, ghé lại uống nước.

            Anh sinh viên trẻ nghe xã Chánh kể, thuật lại câu chuyện du kích Việt Cộng đi chìm dưới nước phá cầu cho tên Ăng Lê nghe. Tới chữ du kích, anh ta không biết chữ du kích dịch như thế nào, bèn quay qua bàn tôi hỏi:

            – “Đại úy! Du kích tiếng Anh là gì, đại úy biết không?”

            – “Guerrilla.” Tôi nói.

            Không rõ tại anh ta nghe không rõ, hay tôi nói không rõ, anh ta dịch ra tiếng Anh là Gorilla. Thằng Ăng Lê láu cá, nghe anh ta dịch thế, nó bèn đứng dậy, bước ra khỏi bàn, vừa đi vừa làm bộ như con khỉ đột, miệng nói “Gorilla, gorilla”. Thấy vậy, tôi nói với anh sinh viên Việt Nam:

            – “Thằng chó nầy nó nhạo anh đấy. Nó nghe lầm guerrilla thành gorilla. Gorilla là con dã nhân bên châu Phi. Nó phải hiểu rằng tiếng Anh đâu phải là tiếng mẹ đẻ của mình. Nó phải rán hiểu chớ!”

            Anh sinh viên dịch lại cho nó nghe, lại nói thêm với nó là tôi chê nó không thông cảm người ngoại quốc nói tiếng Anh rõ. Nóng mặt, y hỏi tôi “Tại sao Việt Cộng đi dưới nước được mà những người phe Quốc Gia không làm được.”

            Biết thằng nầy là tay quá khích, tôi nói:

            – “Dù du kích, chúng nó cũng là người Việt Nam. Chúng tao cũng là người Việt Nam. Người Việt chịu khó, việc gì khó khăn mấy cũng cố gắng làm được. Sung sướng như bên Âu Mỹ, quen hưởng thụ nên mới không làm được mà thôi.”

            Chưa hết giận, nghĩ tới đồng đội và đám Thám Sát Tỉnh của Đại úy Hà cũng lội tuốt vô mật khu đặt mình claymore tấn công Việt Cộng, một lúc tôi nói thêm:

            – “Tại sao mầy nghĩ rằng bọn tao không làm được như chúng. Tại sao mầy nghĩ rằng chúng ta không vô tới mật khu Việt Cộng như chúng tao đã từng làm!”

            Thấy tôi nói có vẻ căng thẳng, tên Ăng-Lê làm thinh.

            Bí thư xã Dương Hòa, hồ sơ trận liệt ghi tên là Dương Nganh, tự Xà-Rum, bà con với Dương Yếp, là nhân viên cảnh sát của tôi đang phục vụ tại xã địa phương, – xã Dương Hòa. Đã lâu, tin tức tình báo không ghi nhận gì về tên bí thư già nầy.

            Một hôm, tôi hỏi trung sĩ Dương Yếp:

            – “Mày về bảo Sarum ra chiêu hồi đi. Có gì tao lo cho! (Thật ra, đúng danh từ là Hồi Chánh, nhưng dân chúng thường gọi là Chiêu Hồi, tên của ty hay chi Chiêu Hồi).

            Dương Yếp trả lời:

            – “Ổng đi mất tiêu rồi. Người Miên, Việt Cộng đâu có xài.”

            Tôi hỏi:

            – “Việt Cộng cũng kỳ thị?”

            – “Kỳ thị quá cha Quốc Gia?” Dương Yếp trả lời.

            Tôi cười, hỏi:

            – “Tao thì sao?”

            – “Đại úy thì… Tui nói chuyện với đại úy tự nhiên, tui có thấy chi khớp đâu.”

            Sau đó, tôi thấy Dương Yếp đọc một cuốn truyện bằng tiếng Khmer, hình bìa là một cô gái ở truồng. Tôi cười bảo: “Tao thích đọc truyện nầy. Anh dạy tiếng Miên cho tao.” Y nhận lời, mỗi ngày một giờ, y tới văn phòng tôi mà dạy cho tôi.

            Hôm đi lên ấp Bãi Ớt, tôi có gọi xã trưởng Hồ Văn Chánh, Dương Yếp và vài người ở cuộc Cảnh Sát nầy đi theo.

            Về dân địa phương, toàn là người Miên, họ không theo Việt Cộng, trừ khi bị bắt buộc, đe dọa, v.v…

            Ấp Bãi Ớt và Bãi Chà Và nằm dọc theo bờ biển, dân chúng làm vườn nhiều hơn làm lúa vì vùng nầy đất khô, cao, ít ruộng. Vả người Miên cũng không quen làm ruộng như người Việt. Có nhiều hàng dừa rất tốt, dù là dừa lão, tức là tuổi cây dừa cao, trên 50 năm. Ở ấp Bãi Ớt, sát bờ biển, còn lại một cái nền gạch lớn lắm. Hỏi ra, hồi xưa có ông Tây thực dân mắt xanh mũi lõ nào đó dựng một căn nhà gạch lớn nghỉ mát ở đây với vợ con. Ông Tây cùng gia đình đi mất từ thời Nhựt đảo chánh Pháp. Căn nhà thì Việt Minh “tiêu thổ kháng chiến” đã lâu, chỉ còn cái nền nhà!

            Biển ở đây có rất nhiều cá trích. Dân đánh cá trích, được mùa, bán không kịp, đem phơi khô, làm mồi nhậu rất bắt. Phải chi không có chiến tranh, số lượng cá trích ở đây đủ dựng một nhà máy cá hộp, ngon không kém gì cá Sumaco bên Ma-Rốc. Hôm tôi đến ấp Hòn Heo, tình cờ gặp ông Trần Văn Xinh, hiệu trưởng trường tiểu học Kiên Lương. Ông thầu quét vôi cho ba lớp học của ấp nầy. Thấy tôi, ông kéo vào nhà dân nhậu chơi, bia với loại cá trích ngon tuyệt nầy.

            Ranh giới giữa hai quận Hà Tiên và Kiên Lương là một cái đèo nhỏ vì có hòn núi không cao lắm ra tới biển. Đèo đó, tên là mũi Hòn Cọp.

            Xưa lắm, khi còn yên bình, vùng nầy còn nhiều thú rừng. Có một con cọp chiều chiều thường ra ngồi trên đèo, ngó mông ra khơi cho đến khi trời tối hẳn cọp mới về rừng.

            Cung cách mỗi chiều leo lên đèo ngồi ngó ra biển cho ta thấy có thể chú cọp nầy có… tâm hồn một nhà văn hay một nhà thơ lãng mạn, hoặc cũng có thể vợ chết, con chết nên hay ngồi ở đây để vơi buồn đi chăng? v.v…

            Việc cọp cứ mỗi chiều ra ngồi trên đèo làm cho người ta sợ. Đi qua, – hoặc bên này đèo qua thăm bà con bên kia đèo, thì nhớ về sớm, trước khi “nhà thơ rằn ri” ra ngồi trên đỉnh đèo.

            Vậy rồi một hôm có ông già nhà bên kia đèo đi ăn giỗ nhà bên nầy đèo. Mãi vui chén rượu, chiều đến lúc nào không hay. Khi sực nhớ thì ông ta phải về. Bà con can ông: “Thôi, giờ nầy “ông” cọp ra ngồi trên đèo, về là gặp, nguy lắm!”

            Đang say rượu, ông già làm gan:

            – “Tao mà sợ cọp? Cọp sợ người chớ sao người sợ cọp?”

            Thế rồi ông già khăng khăng cắp dù ra về, ai cản cũng không được.

            Tuy nhiên, khi lên đèo, gió biển mát, làm ông già tỉnh rượu. Ông nghĩ thầm: “Chết rồi, lỡ gặp ổng thì biết làm sao?”

            Sợ thì sợ, nhưng không lý trở lui vì trót nói gan.

            Lên tới đỉnh đèo, ông già thấy “ông ba mươi” đang ngồi đó, ngó ra biển. Cọp cũng không biết có ông già đang đi lên.

            Bỗng con cọp ngó về hướng ông già. Thấy cọp ngó mình, hoảng quá, ông già bèn chụp cây dù đang cặp bên nách, chống dù lên, la to một tiếng, thủ thế.

            Trời cũng đã nhá nhem. Cọp vừa thấy có người đi lên, bỗng nhiên, con người biến thành một khối to đen sì, lại có tiếng la. Khối đen đang lù lù tiến tới.

Cọp chưa định thần được, cũng hoảng hồn, phóng mất vô rừng.

Từ đó, ông già nổi tiếng là người đuổi cọp chạy. Tên mũi Hòn Cọp có lẽ cũng có từ đấy!

&

Ngay tại Ba Hòn, phía sau miếu Bà Chúa Xứ, – người ta nói miếu nầy linh lắm, – Không linh thì làm sao đám nhân viên của tôi bắt được nửa triệu bạc giả? – là một ngọn núi đá không cao lắm, đường đi lên rất giốc.

Quá lưng chừng núi, có một cái hang, trong hang thờ Phật, Không rõ chùa nầy có từ hồi nào. Có ba ni nô, tuổi không già, cũng không còn trẻ, thỉnh thoảng cả ba cô kéo nhau về tụng kinh gỏ mõ trên chùa nầy. Được vài ba hôm, ba cô không còn “đội gạo lên chùa” nữa, vì chùa không có sư thúc hay vì thiếu nước ngọt, không ở lâu được.

Thỉnh thoảng mấy ông có loon lá bên quân đội, kiếm đâu đó vài ba “em gái hậu phương”, tổ chức vui chơi nhậu nhẹt ở cái sân nhỏ trước cửa hang. Không rõ từ hồi nào, người ta đã trồng ở sân nầy mấy cái cây để lấy bóng mát. Tôi cũng đã từng leo lên chùa nầy, một lần, cho biết rồi thôi.

Những năm tình hình không được yên ổn lắm, tôi biểu trưởng cuộc cảnh sát xã Dương Hòa, thiết lập một trạm quan sát trên lưng chừng núi, ngó vô hướng rừng Trà Tiên canh chừng. Chỗ nầy quan sát rất tốt, hễ thấy Việt Cộng ra hoạt động, thì báo cho ngành đặc biệt vào “hỏi thăm sức khỏe.”

Mấy ông linh mục ở đây thường hay dựng thánh giá ở nơi nào… có lợi hoặc thắng cảnh. Chẳng hạn như cha Nguyễn Thượng Hiền dựng thánh giá ở núi Trầu, phòng khi nhà máy ximăng Hà Tiên có phá núi Trầu lấy đá làm ximăng thì phải bồi thường cho cha như tôi có kể ở trước.

Cha Lương Công Đại, ngay xứ Kiên Lương, biết điều hơn. Chỗ nào, dù thắng cảnh, nhưng đã có chùa Phật như ở Ba Hòn nầy thì cha không đụng tới. Chỗ nào chưa có chùa Phật mà cảnh đẹp, cha dựng thánh giá ở đó. Việc nầy chẳng cần xin phép, chính quyền cũng như dân chúng chẳng ai thắc mắc.

Tuy nhiên, trong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, non nước mênh mông, ở xứ Á  Đông da vàng mũi tẹt bỗng hiện lên hình ông chúa Giê Su hay mẹ Maria mắt xanh mũi lõ, thấy không hợp chút nào!

Tôi có ý nghĩ nầy là bởi ông chú họ tôi, là người từng theo cụ Ngô (Ngô Dình Diệm) từ khi cụ mới từ chức thượng thư. Vậy mà sau nầy, khi cụ Ngô lên làm Tổng thống, nhiều người bỗng bỏ bàn thờ ông bà, treo thánh giá trong nhà để được thăng quan tiến chức. Một hôm đang ăn cơm, ông nói với vợ ông và tôi, (Có lẽ không nói với các con vì mấy đứa ấy, lúc đó còn nhỏ lắm):

– “Tui theo cụ Ngô vì cụ Ngô chống Tây. Bây giờ theo đạo sao được. Nếu ông chúa Giê Xu đừng mắt xanh mũi lõ như thằng Tây thì có thờ chúa cũng chẳng sao.”

Lúc ấy có người khuyên ông theo Đạo để được Cậu Cẩn cho đi làm quận trưởng nhưng ông không chịu. Tôi biết ông cực đoan, nhưng quả thật tôi cảm thấy khó chịu khi bỗng nhiên giữa chốn hùng vĩ nầy, mọc lên một bức tượng lẽ loi.

Một hôm, tôi đi với cha Đại vô hang Tiền. Hang Tiền cách trụ sở xã Dương Hòa không xa. Tôi nhờ xã trưởng mượn giúp chiếc ghe để tôi với cha Đại đi theo đường biển. Mấy thầy chú của tôi, để giữ an ninh, họ lội qua mấy ngọn núi đá nhỏ, theo phía đất liền, đến cửa hang.

Khi “Gia Long tẩu quốc” – Cách nói của dân Nam bộ như thế – Nói theo sử là Nguyễn Ánh bị Nguyễn Huệ đánh bại, bỏ chạy sang trốn bên Xiêm La (Thái Lan ngày nay), bỏ lại một số binh lính, của cải. Hang tiền là nơi Nguyễn Ánh chôn dấu tiền ở đó trước khi bỏ chạy. Dân gian cũng nói đó là cái hang ngày xưa Nguyễn Ánh đúc tiền, nay còn lại những khuôn đúc bằng đá.

Đứng từ ngoài biển ngó vô, người ta đã thấy một cái thập tự giá lớn, dựng ngay cửa hang. Khi nước thủy triều lên, ghe nhỏ có thể vào sâu trong hang được. Hôm tôi đi, cũng vào sâu trong hang và không thấy khuôn đúc tiền đâu cả. Nó bị chìm dưới nước hay người ta bàn ẩu. Tôi chỉ thấy vài con kỳ đà khá lớn. Thấy người, chúng bỏ chạy, chui vào mấy cái kẹt đá. Tôi nói đùa với cha Đại:

– “Ngoài cửa hang thì Chúa đứng canh, trong nầy thì “Kỳ đà cản mũi”. Chuyến nầy chắc không thành công. Thôi về đi cha!”

Cha Đại là người hiền lành, nghe tôi nói, chỉ cười, rồi quay về. Đây cũng chỉ là một chuyến đi để biết. Có điều ngạc nhiên. Đây là một di tích lich sử thời Nguyễn Ánh chống Tây Sơn. Tại sao thời nhà Nguyễn không chỉnh đốn làm một thắng tích cho đàng hoàng. Không lý mấy ông vua nhà Nguyễn không thuộc lịch sử. Họ cũng bỏ quên nơi nầy như quên mấy bà bị Nguyễn Ánh bỏ lại ở Thới Bình(1) khi “Gia Long tẩu quốc”.

Từ Hang Tiền vào núi Hòn Chông không xa.

Hòn Chông, ngày xưa là căn cứ của Ông Nguyễn Trung Trực, người lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp. Sau khi bị thua ở Gò Công, ông rút quân về đây, trú ẩn trong ngọn núi nầy.

Sau khi Ông Nguyễn Trung Trực ra hàng để cứu mẹ (2) nghĩa quân tan rã, chỉ riêng vùng núi Hòn Chông nầy, Pháp thành lập một quận, đặt tên là quận Hòn Chông, để dễ kiểm soát dân chúng, không cho nghĩa quân tái lập căn cứ.

Từ Ba Hòn đi vào, theo con đường đá xe chạy được, tới đầu núi Hòn Chông, con đường chia làm hai. Theo tay mặt thì đi tới chùa Hang, tay trái thì đi tới cuối ngọn núi, chỗ có một cái ấp dân khá đông, gọi là ấp Rạch Đùng. Con đường nầy tiếp tục đi vòng quanh núi, dọc bờ biển rồi lại nối với con đường đi ra chùa Hang.

Tại Rạch Đùng, trước 1945 có một tu viện Thiên Chúa giáo, bỏ hoang từ lâu, và một họ đạo, cùng tên Rạch Đùng, có nhà thờ đã bị Việt Minh phá hỏng hồi mới đầu Nam Bộ Kháng Chiến.

Linh mục Lương Công Đại, người Bắc, đi tu ở Ma Cao, sau khi thụ phong, về làm linh mục ở xứ nầy, thời Tổng thống Ngô Đình Diệm. Sau khi mấy ông tướng hè nhau giết anh em ông Diệm rồi, “mấy chả” ở Saigon lo việc đảo chánh giành nhau ghế ngồi hơn là lo đánh giặc nên vùng Rạch Đùng bị Việt Cộng chiếm. Dân chúng cũng như cha Đại, phải ở với Việt Cộng. Lâu lâu, chúng tổ chức biểu tình, “Hoan hô cách mạng”, “Đá đảo Mỹ Ngụy”, Việt Cộng “yêu cầu” cha Đại lên phát biểu. Cha kể với tôi: “Tôi cũng phải nói hàng hai cho xong chuyện. Nói sao cho khỏi thẹn với quốc gia mà Việt Cộng cũng không có lý do bắt tôi bỏ tù được.” Đấy, một cổ hai tròng là như vậy đấy.

Sau nầy, quốc gia chiếm lại vùng nầy, đặt đồn nghĩa quân canh gác, cha Đại đổi về họ đạo Kiên Lương, an toàn hơn, nhưng thỉnh thoảng cha cũng về “trong ấy” – tức là ấp Rạch Đùng để thăm bổn đạo cũ, như tôi đã kể trong chuyện con nhỏ Hoàng Thị Vân trốn theo Việt Cộng vì “tình yêu”?.

Khi hiệp định Paris mới ký, vùng Hòn Chông khá an ninh. Việt Cộng rút về mật khu Trà Tiên hết, nên có một thời gian ngắn, mấy ông sĩ quan bên quân đội xách xe chạy quanh núi Hòn Chông bắn khỉ. Bắn khỉ thật sự, chứ không phải nói theo nghĩa bóng của giới nằm bẹp là hút thuốc phiện. Vùng Hòn Chông rất nhiều khỉ.

Vùng chân núi đất khá tốt. Năm hiệp định Paris mới ký, ông Tân Nam Dương ở Rạch Giá, một ông Tầu lai, bỏ tiền phá đất đã bị hoang hóa trồng cà phê. Tôi chưa từng gặp mặt ông Tân Nam Dương nầy nhưng từng thấy cây trong đồn điền cà phê của ông lên khá tốt. Mấy năm sau, khi tình hình an ninh bết bát, ông Tân Nam Dương không dám lui tới thăm đồn điền vì sợ Việt Cộng bắt đóng thuế, đồn điền cà-phê của ông bị bỏ hoang, cỏ mọc nhanh hơn cà phê. Ông Tân Nam Dương mất trắng tay.

Nghĩ tới những chuyện làm ăn tương tự như thế, bao giờ tôi cũng lấy làm tiếc, nhứt là khi so sánh cuộc “Cách Mạng Xanh” ở Mỹ, chính phủ giúp dân mở đất trồng trọt, còn xứ mình thì tư nhân tự xây dựng lên rồi, bao nhiêu công sức tiền bạc, lại đem bỏ hoang.

Suốt mấy chục năm chiến tranh, núi Hòn Chông cũng bị bỏ hoang, chẳng ai khai thác gì cả. Sau hiệp định Paris 73, nhiều người đốn cây, đốt lò than chở về Rạch Giá bán kiếm tiền. Một hôm, trung sĩ Chơn, phó cuộc Bình Trị ra gặp tôi nói:

– “Chỉ huy trưởng hùn với em năm ngàn, đốt lò than, bán có lời, em trả lại cho chỉ huy trưởng cả vốn lẫn lời.”

– “Lời bao lăm mà phải “xông pha” vậy? Không sợ người ta dị nghị sao?”

– “Dị nghị chi? Người ta đốt lò than tùm lum trong đó. Ông quận cũng có, ông xã cũng có, nghĩa quân cũng có. Mình đốt một lò thôi, kiếm tiền nhậu chơi.” Trung sĩ Chơn giải thích.

– “Tui không quen nhậu chơi, nhưng ông cần, tui đưa ông tiền. Nhớ đừng làm tui mang tiếng.” Tôi nói.

– “Tiếng gì đâu. Rừng nầy coi như rừng hoang, chẳng ai cấm đoán gì cả. Chỉ huy trưởng lo gì.”

Nghe trung sĩ Chơn xúi dại, tôi đưa năm ngàn cho anh ta. Mấy bữa sau, nghe anh ta than lò than bị cháy. Khi người ta hầm than, mồi cho củi cháy rồi, người ta bít cửa hầm lại, thiếu không khí, củi cháy ngầm thành than mà thôi. Anh ta cho chất củi như thế nào mà lò bị sập, không khí vô tự nhiên, củi thành tro cả. Năm ngàn tôi đưa cho anh ta, cũng thành tro luôn. Số tôi không có mạng buôn bán hay làm thương gia!

Có lần tôi vào chùa Hang, đi chơi hơn là công tác gì. Con đường đá dẫn vào chùa phía bên nầy, ngược với hướng biển nên cửa hang tối. Cuối hang có bàn thờ và tượng Phật, đèn dầu đang thắp, nhang đang cháy. Bàn thờ không lớn nhưng cảnh hang sâu và rộng trông khá uy nghiêm, hùng vĩ. Hang còn có một cửa phía bên kia, phía biển, gió biển lồng lộng thổi vào mát lắm.

Tôi đi ra phía đó, ra khỏi cửa hang là một quang cảnh đẹp lạ lùng. Gần cửa hang là những tảng đá lớn, có gác chuông và trên các vách đá, không ít “tao nhân mặc khách” viết tên của mình cũng như tên các bạn đi cùng – có thể là bồ bịch – lên đó. Xem ngày tháng họ ghi lại: Họ đến đây đã lâu, những năm giữa và cuối thập niên 50, nghĩa là cùng một thời với những lần tôi còn đi chơi lăng và chùa ở Huế. Thế rồi bẵng đi bao nhiêu năm, không thấy ai đến đây nữa. Có nghĩa là từ cuối 1950, sau khi “Việt Cộng Đồng Khởi”, hơn mười năm giặc giã, chiến tranh, người ta không còn đến viếng Chùa Hang nữa. Bao nhiêu năm ấy, Chùa Hang cũng như lăng tẩm, chùa chiền ở Huế, trở thành nơi vắng lặng, buồn bã.

Các nhà sư, các chú tiểu, ở những chùa xa phía tây nam Huế, trong bao nhiêu năm khách hành hương không đến viếng chùa, khung cảnh trở nên vắng vẽ, buồn tênh. Và rồi những đêm mưa dầm, các thầy và các chú tiểu, nằm nghe mưa rả rích trên mái chùa cũ kỹ, lòng họ buồn như thế nào nhỉ? Và các thầy ở Chùa Hang nầy, cũng trong hơn 10 năm giặc giã, chùa Hang trở thành một cõi cô liêu thì mỗi đêm, các sư nằm nghe tiếng sóng vỗ rì rầm từ ngoài cửa hang vọng lại, họ nghĩ gì về một cõi ta bà buồn bã thế gian!?

Tôi cố gạt ra khỏi trí tôi những ý nghĩ vẩn vơ đó, ra đứng sát bờ nước, nhìn ra xa. Ngoài kia, phía hai đầu là hai tảng đá lớn vươn lên, một hòn cao, một hòn thấp, giữa hai hòn đá cao đó là một hàng đá thấp hơn, chỉ cao hơn mặt nước chút ít.

Nước ta có rất nhiều núi Mẹ Bồng Con: Nàng Tô Thị ở Đồng Đăng, Hòn Vọng Phu ở Nha Trang và đèo Mẹ Bồng Con ở Long Khánh. Ở đâu cũng là hình ảnh và câu chuyện của những người đàn bà bồng con chờ chồng.

Tại sao ở đây, không phải là câu chuyện của các bà mẹ, không là Hòn Vọng Phu? Hòn đá lớn có thể là mẹ, hòn đá nhỏ gọi là con? Người ta gọi khác đi: Người đàn ông và cậu con trai, gọi chung là Hòn Phụ Tử. Một bên là cha, một bên là con. Có câu chuyện truyền kỳ nào về Cha Con khác với chuyện nàng Tô thị?

Ngưởi Việt – Và người Tầu – đến dây từ trước thời Mạc Cửu, đã mấy trăm năm. Mạc Cửu là người nhà Minh, chạy qua nước ta, trấn giữ và khai khẩn vùng Hà Tiên, rồi đem đất nầy mà dâng cho chúa Nguyễn, năm 1708, tính ra chưa tới ba trăm năm, chưa đủ lâu để có thể có những huyền thoại về cuộc Nam Tiến của dân tộc ta hay sao?

Người ta thường nói đất phương Nam là đất chúa Nguyễn. Kể từ sau Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa 1558, chúa Tiên, tức Nguyễn Hoàng và các đời chúa tiếp sau, lo mở mang đất đai về phương Nam, mãi đến tận Cà Mâu, Hà Tiên thì chấm dứt. Chúa chọn các quan giỏi đưa ra cai trị vùng đất mới, chiêu dụ dân chúng đến đào kinh, vỡ đất làm ruộng. Người ta từng coi chúa như cha, chúa coi dân như con. Có thể đó là nguồn gốc của danh xưng Hòn Phụ Tử?

Thực tế hơn, khi vào vùng đất mới, trong nhiều gia đình, người vợ ở nhà lo chăm sóc việc nhà, cha con ngày ngày vác phảng ra đồng, phá rừng làm ruộng. Cha con cùng nhau chia xẻ gian khổ, chan hòa mồ hôi, nước mắt. Khung cảnh sinh hoạt đó cũng có thể là nguồn gốc của danh xưng Hòn Phụ Tử?

Dù nhìn vấn đề qua lăng kính lịch sử hay thực tế xã hội, những điều tôi nói ở trên cũng chỉ là những giả thuyết chủ quan. Hòn Phụ Tử không có một huyền thoại như Hòn Vọng Phu. Ngay khi tôi làm việc ở đó, cách Hòn Phụ Tử không bao xa, vậy mà tôi chưa từng nghe ai, kể cả các ông già bà lão kể về sự tích Hòn Phụ Tử nầy.

Năm ngoái có tin Hòn Phụ đã bị sóng đánh đổ xuống nước, nay chỉ còn Hòn Tử. Một người bạn, quê ở Long Xuyên, từng làm việc ở Kiên Lương, đi Việt Nam, có ghé thăm Chùa Hang, về lại Mỹ kể cho tôi nghe rằng dân địa phương, sau vụ Hòn Phụ đổ ùm xuống nước, có câu hò ru em:

                        Than ôi! Hòn Phụ đổ rồi,

                   Dũng còn chi nữa mà ngồi khóc than.

Câu ca dao nói cái gì? Phụ là ai mà tử là ai, hay là Dũng, thủ tướng Việt Cộng. Có sự giàu sang bất chính nào mà không kết thức bằng bi thảm? Câu phải câu hò nói trên là một tiên đoán linh ứng về số phận của những người tàn ác, bất nhân?

“Ai” là ai chưa biết nhưng câu chuyện của ông cựu xã trưởng Châu Ai, của xã Bình Trị thật đáng tội nghiệp vì “ai” đó ở Tòa Án Quân sự  vùng 4 “Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.”

Khi chợ trời biên giới Hà Tiên trở nên tấp nập vì hàng Thái Lan tuôn vào ồ ạt thì những cái đuôi của nó, như đĩ điếm, cướp bóc đi theo…

Đĩ điếm, dĩ nhiên chỉ có ở Hà Tiên, nhưng cướp bóc xảy ra không ít ở xứ tôi.

&

Đầu tiên là hai tên cướp “Cọp bay”.

Hôm ấy, tôi từ mũi Hòn Cọp lái xe về quận, ngang ấp Bãi Ớt thì thấy dân chúng ở đó la ơi ới: “Cướp! Cướp!”

Mấy người đàn bà Miên đang đứng bên đường, vẻ hớt hãi. Thấy tôi dừng xe, họ chỉ tay về phía trước mặt tôi, nói: “Cướp đó! Cướp đó.”

Theo hướng họ chỉ, tôi rượt xe theo, vừa lo lắng, vừa thấy buồn cười. Tôi nói với tài xế Thành của tôi, đang ngồi bên cạnh: “Mày coi! Người Miên không biết nói tiếng Việt, vậy mà khi có cướp, sao họ la “cướp cướp” rõ vậy?” Biết tôi hay nói đùa, Thành chỉ cười, tay lăm lăm cây súng M-18. (Tôi mua được cây M-18, vừa là súng M-16 ngắn nòng, lại có gắn súng M-79 – đại bác 40 ly cầm tay).

Được một lúc, tôi thấy phía trước có hai người đàn ông đang chở nhau trên chiếc xe Honda 67. Đường xấu mà chúng nó chạy xe như bay. Tôi bóp còi xe liên hồi cho chúng sợ. Thành vói cổ ra khỏi xe la to: “Đứng lại, đứng lại!” Hai người vẫn cố chạy. Thành nói: “Hai thằng ăn cướp!” Khi xe tôi gần tới, tên ngồi sau, quăng một cái gì đó, bóng loáng, vào bụi cây bên đường. Thấy vậy, tôi nói: “Nó vụt cái gì?”

Khi xe ngang chúng, tôi cho xe chậm lại, ép hai tên cướp vào bên đường. Thành vội vàng nhảy xuống, chỉa súng vào tên lái xe, bảo: “Tốp”. Hai tên dừng lại. Thành biểu chúng: “Xuống xe.”

Tôi bắt hai tên ngồi bệt xuống đất, cầm súng chỉa vào chúng. Thành tới còng hai đứa lại. Vì không chuẩn bị nên tôi chỉ có một cái còng. Tôi biểu Thành: “Cho hai đứa đeo chung cái đồng hồ” (Tức là cái còng). Xong, tôi nói với Thành: “Ông tới xe gọi máy bảo Cuộc Dương Hòa lên tăng cường.”

Năm phút sau, bốn thầy chú của tôi ở xã lên tới nơi. Tôi biểu họ lấy còng còng riêng từng đứa, choàng tay chúng vào cái khung sắt mui xe Jeep để tôi chở về.

Khi hai tên cướp đã ở trên xe, còng lại xong, tôi giao cho một người đứng canh, rồi tôi dẫn hai nhân viên quay lại chỗ tên ngồi sau ném một vật gì ra, tìm xem là cái gì. Một lúc thì chúng tôi tìm được một cây súng Colt, loại quân đội thường dùng, nhãn hiệu Con Ngựa Bay. Cây súng nầy được xi mạ, sáng bóng.

Rút băng đạn ra, tôi giơ khẩu súng lên trước mặt hai tên cướp, nói:

– “Rõ ràng chưa? Súng nầy dùng để đi ăn cướp, vậy mà nảy giờ cứ bai bải kêu oan! Oan mẹ gì nữa!”

Vậy mà hai tên cướp vẫn cứ kêu oan.

Tôi cười nói với nhân viên:

– “Trên đời nầy, không ai chịu nhận tội mình cả. Đi ăn cướp, tang vật rành rành cũng kêu oan. Tiếp tế cho Việt Cộng, tang vật rành rành cũng kêu oan. Ai cũng kêu oan, vậy là mình làm bậy. Mai mốt chết xuống âm phủ, Diêm Vương cho đầu thai làm người lần nữa. Khổ cái thân nầy.”

Tôi đem hai tên cướp về, giao cho tư pháp điều tra, lập hồ sơ giải tòa. Hai tên cướp khai rất buồn cười: “Hồi nầy chợ trời biên giới kiểm soát gắt gao quá, không làm ăn gì được, bèn tìm vào những xóm vắng vẻ, bắt dân khảo lấy tiền xài chơi, xui gặp mấy người đàn bà Miên dữ quá, lại gặp “ông trưởng” (ý nói là tôi), chạy xe ngang qua mới nên mới ra cớ sự như vầy.

&

Xưa là quận Hòn Chông, sau nầy là xã Bình Trị, có nghĩa là bình định và trị an. Tôi không rõ người đặt tên cho xã nầy như vầy là bị ám ảnh bởi cuộc khởi nghĩa của ông Nguyễn Trung Trực hay núi Hòn Chông cũng là vùng hoạt động của Việt Minh hồi 9 năm (1945-54).

Xã gồm có mấy ấp quanh Hòn Chông và mấy hòn đảo ngoài vịnh Thái Lan. Ông Châu Ai, người Việt lai Miên làm xã trưởng ở đây, trước Huỳnh Luân. Lúc nầy, khi tôi làm việc ở đó, xã trưởng là Nguyễn Vĩnh Xương. Ông Châu Ai nghỉ làm xã trưởng. Con trai ông là nghĩa quân đóng ở cái đồn đầu Hòn Chông.

Thế rồi nhà ông Trần Ghét Xe bị cướp. Ông ta vừa bán cặp heo chín chục ngàn. Chiều hôm đó, khi trời mới nhá nhem, có hai tên cướp, bịt mặt xông vào nhà ông ta biểu đưa tiền. Trần Ghét Xe nói không có tiền. Một tên nói: “Vừa bán hai con heo, sao nói không. Tiền dấu ở đâu? Đưa đây!” Y vừa nói xong, đưa cây súng Colt lên. Trần Ghét Xe sợ quýnh, lật chiếc chiếu lấy chín chục ngàn đưa cho chúng. Hai tên cướp lấy tiền xong, dọt mất.

Trần Ghét Xe nghi con trai của cựu xã trưởng Châu Ai, là một trong hai tên cướp. Chỉ có con trai Châu Ai, đóng đồn ở gần đó mới biết y vừa bán cặp heo xong. Vả lại, cũng có “ân oán giang hồ”. Khi ông Châu Ai làm xã trưởng, Trần Ghét Xe bị Cảnh Sát bắt vì tội làm kinh tài cho Việt Cộng, bị tù 9 tháng. Y nghi ngờ chính xã trưởng Châu Ai báo cáo y. Nay gặp dịp, vu tội cho thằng con, trả thù người cha.

Việc thưa bên An Ninh Quân Đội. Không biết mấy thầy chú bên đó làm ăn như thế nào, bắt con trai Châu Ai giải về tòa án quân sự Vùng 4 đóng ở Cần Thơ.

Chiều 29 Tết, toán tuần tiểu cảnh sát xã An Bình bắt được hai tên cướp đang làm ăn ở gần cầu Cống Tre. Nghi vụ nầy có liên quan đến ba vụ cướp khác xảy ra một ở xã Bình Trị, hai ở xã Dương Hòa, tôi nói với thiếu úy Bạch, trưởng cuộc Cảnh Sát An Bình: “Ông điều tra xong, khoan giải ra tòa, đưa lên cho tôi, coi thử bọn nầy có liên hệ đến các vụ cướp trước đó hay không!”

Té ra chúng có những ba tên: hai tên đi cướp, một tên chỉ điểm mục tiêu. Tên chỉ điểm mục tiêu là một tên lái heo. Ngày ngày, tên lái heo lang thang qua các ấp, các xã mua heo về giao cho lò heo của ông Tư Đến và lò heo Chín Thịt tại quận lỵ.

Mua heo trả tiền xong, y chở heo về. Xong, y báo cho hai tên cướp, tới ngay nhà y mới mua heo, nhận bao nhiêu tiền, v.v…. Khổ chủ nói không có tiền cũng không được.

Hai tên cướp là dân Long Xuyên qua, còn tên lái heo, nhà ngay quận. Nghe báo xong, tôi cho bắt tên lái heo. Tên nầy nhanh chân. Khi nghe hai tên cướp bị bắt, y dọt về xã Giục Tượng, xã người Miên. Y cũng gốc Miên. Liên lạc với Giục Tượng, không bắt được y vì y vô ở tuốt trong vùng xôi đậu.

Tôi cho dẫn hai tên cướp diễn lại cảnh trạng các nơi bọn y đã cướp, ngay cả nhà của Trần Ghét Xe.

Biết sự việc, xã trưởng Châu Ai làm đơn thưa Trần Ghét Xe vu cáo cho con ông tội cướp. Tòa án Quân Sự vùng 4 yêu cầu tôi gởi hồ sơ vụ cướp nầy lên cho họ. Muốn giải oan cho con của cựu xã trưởng Châu Ai, vả tôi cũng có cảm tình với ông già Miên nầy, chân thật, thiệt thà, nên tôi làm liền những gì họ yêu cầu.  Vậy mà con của ông Châu Ai cũng không được ra khỏi tù. Ông ta lên xuống Cần Thơ hỏi thăm Tòa án Quân Sự vùng 4 những mấy bận. Họ biểu chờ. Trần Ghét Xe cũng lên xuống tòa án nầy những mấy bận, thậm thọt chuyện gì, ai biết được!

Một bên thì cố khiếu nại cho con được tha, một bên thì chạy tiền cố giữ cho con Châu Ai không được tha. Tha thì Trần Ghét Xe bị kẹt tội vu khống.

Trần Ghét Xe là “cựu can phạm”, đang bị ngành đặc biệt của thiếu úy Kiệt theo dõi “tái hoạt động”. Tiền đâu mà y “kinh tài” mạnh như thế? Năm Hùng tổng kết: Y bỏ vốn đốt gần hai chục lò than ở vùng bất an ninh, tức là vùng núi Hòn Chông, phía bờ biển. Đốt xong, y cho than xuống ghe, chở thẳng ra Rạch Giá bán. Y cũng bỏ vốn làm muối: San đất làm ruộng muối gần chùa Hang, cạnh tranh với ông Sáu, bố của phó xã trưởng Dương Hòa, người từng làm muối xưa nay ở đám ruộng muối ở ấp Ba Hòn. Gom chưa đủ chứng cớ, nên thiếu úy Kiệt chưa đề nghị bắt y.

Cuối cùng, “Nén bạc đâm toạc tờ giấy.”

Mãi đến ngày 30 tháng Tư, con trai Châu Ai mới được “Cách mạng giải phóng”. Bấy giờ Trần Ghét Xe, từng làm kinh tài cho Việt Cộng, hướng dẫn “cách mạng” ra tiếp thu các xã Bình Trị, Ba Hòn và quận lỵ Kiên Lương. Nhờ có công, y yêu cầu cho Châu Ai đi học tập cải tạo vì từng làm xã trưởng “ngụy”.

Con ra tù, cha lại vô tù. Có xứ nào công lý “sáng ngời” như xứ Việt Nam nầy không, dù chế độ “Việt Nam Cộng Hòa” hay “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”?

Xã Bình Trị chưa hẵn là xã xôi đậu, nhưng vì mật khu Việt Cộng ẩn trú ở Hòn Chông, khi trốn trên đỉnh núi, khi quanh núi, nhất là những cái hang đá trên con đường chạy dọc theo bờ biển, khoảng cuối 1974, về sau, vùng nầy hoàn toàn không kiểm soát được, quân đội ta không tới được nên Việt Cộng đi lại tự do.

Tuy nhiên, chúng thường ẩn núp trong hang, tối ngủ trong hang. Một hôm, nhân được bản tin của cảnh sát đặc biệt của thiếu úy Kiệt, chỉ rõ cái hang Việt Cộng đang ẩn núp, quân số, cán bộ chúng nó chỉ khoảng vài chục, tôi bèn báo cáo với đại tá Nguyễn Hữu Kiểm, tư lệnh phó sư đoàn 21. Ông ta không có cách nào tiểu trừ chúng được. Binh lính không đủ để hành quân. Mấy năm trước, khi vừa ký hiệp định Paris xong, Việt Cộng hoạt động yếu, thiếu tá Sầm Long còn cho nghĩa quân hành quân dọc theo đỉnh núi hòn Chông. Bây giờ thì bó tay.

Trong bản tin của Cảnh Sát Đặc Biệt có nói thòng một câu, những đêm mùa hè, trời nóng, thay vì bọn chúng ngủ trong hang thì chúng treo võng nằm ngủ ngoài cửa hang, chỗ có nhiều cây rừng. Tôi gặp Trung tá Nhan Trừng Lâm, tiểu đoàn trưởng pháo binh của sư đoàn 21, ban chỉ huy đóng bên cạnh tiểu khu, đề nghị ông nửa đêm chụp cho chúng ít quả. Nổ chụp như người đánh cá chụp nơm, kẻ nào trong tầm sát hại cũng lảnh miểng như chơi.  Chọn một đêm tối trời nóng nực, chúng tôi chơi trò chơi đó, cầu âu, như “cò ỉa miệng ve”. Ai ngờ tối hôm đó “trúng mánh”. Tin tình báo dân chúng cho biết chúng nó khiêng võng mấy mạng đi ngược từ Hòn Chông lên mật khu Trà Tiên để vô “nằm” bệnh viện huyện đội Hà Tiên của Nguyễn Tấn Dũng.

Trụ sở xã Bình Trị, trụ sở cuộc Cảnh Sát xã Bình Trị bị Việt Cộng phá sập hồi trận đánh năm 1972 tới lúc bấy giờ vẫn chưa dựng lại được. Không có ngân sách. Vả lại, xã trưởng Nguyễn Vĩnh Xương, cũng như bên cảnh sát thấy có trụ sở thì phải canh gác, gìn giữ thêm phiền. Xã trưởng thì cứ quanh quẩn trong mấy cái quán gần trụ sở xã cũ, cảnh sát cũng theo đuôi. Chiều tối lại cả đám rủ nhau vô tá túc ngủ đêm trong đồn nghĩa quân gần đó, khỏi canh gác gì hết. Hễ Việt Cộng tấn công thì mỗi người một tay súng, lực lượng thêm đông, càng thấy yên lòng.

Hôm tôi dẫn hai tên cướp tới nhà Trần Ghét Xe để diễn lại cảnh trạng đêm chúng vô cướp nhà nầy, tôi ghé lại quán hủ tiếu bên cạnh xã. Chủ quán là người Tầu, chỉ nói tiếng Việt với người Việt, trong nhà thì nói với nhau bằng tiếng Tầu. Chủ quán có người con trai đăng lính nhảy dù và có hai cô con gái tuổi 17, 18 gì đó, khá đẹp. Khi một cô bưng càphê ra cho tôi, tôi thấy bàn tay cô ta to quá khổ bình thường. Tôi bỗng thấy rùng mình. Sách tướng nói bàn tay to là tướng giết người. Tôi không nghĩ cô ta có thể giết người, nhưng dân Tầu lai Miên ở đây không ít là con cháu những tên hải tặc gốc Hải Nàm ngày xưa, nổi tiếng trong vịnh Thái Lan mà tôi đã có lần nói tới trong một bài trước. Có phải đó là cái gène, cái tướng tổ tiên truyền giống để lại. Có tên cướp biển nào mà không giết người!?

Hình ảnh hai bàn tay to của cô gái làm cho tôi nhớ tới lời Quận Long khi ông mới nhậm chức, đến thăm tôi: “Đối với người Miên ở đây, mỗi tháng chơi với họ 29 ngày thôi.” Có nghĩa là phải để riêng một ngày đề phòng họ phản mình. Tôi không nghĩ đó là nhận xét riêng của Quận Long. Ông ta sinh đẻ ở Hà Tiên. Do đó, câu nói của ông là kinh nghiệm của người dân Hà Tiên đấy. Đâu có phải của riêng ông ta!

Thật ra, dân ở đây không ít người ác. Trước khi tôi về nhận việc ở đây, một anh Cảnh Sát Dã Chiến nửa đêm bỗng kêu la đau bụng. Bụng mỗi lúc mỗi to, cho đưa về bệnh viện Rạch Giá. Bác sĩ tìm không ra bệnh gì. Hai ngày sau thì chết. Một anh lính Biệt Động Quân cũng bị chết trong hoàn cảnh tương tự. Cả hai đều có hành quân ở Hòn Chông, không làm gì sai quấy, chỉ có một việc là tới bữa, hái ớt của một ông già Miên lai Tầu để ăn cơm. Người ta đồn họ bị ông già “thuốc” chết.

Trên cao nguyên, người ta gọi là “thư”, tức là người mọi “thư” cho bệnh mà chết. Thư cái búa hay con dao vô trong bụng. Ở đây, không có thư, thỉ “thuốc”. Lần đầu tiên vào Hòn Chông, thượng sĩ Lâm Ngọc Sương, từng phục vụ ở đây từ vài ba năm trước, nói với tôi: “Ông thầy nhớ chỉ ăn uống ở mấy tiệm hủ tiếu nầy thôi. Ai mời chi cũng từ chối. Đừng ăn đừng uống chi cả.”

Tôi nói đùa: “Bắt tay được không? Họ có truyền máu qua bắt tay cho mình được không?”

Hỏi thượng sĩ Lâm Ngọc Sương về vụ “thuốc”, ông ta nói:

– “Không đoán được! Người ta nói ông già chôn một cái đầu rắn hổ dưới gốc ớt. Ai ăn ớt thì trúng.”

– “Ông ta có ăn ớt đó không?” Tôi hỏi.

– “Ai ăn cũng trúng hết, không kể chủ hay khách.” Thượng sĩ Sương trả lời.

Nghe nói, tôi cũng sợ. Xét về khoa học thì có vẻ vô lý nhưng lý hay không lý, chết như thế thì thật… vô duyên.

Việc nầy không đổ tội cho Việt Cộng được. Đây chỉ là cá tính của một số người địa phương mà thôi.

Tôi không rõ căn cứ vào luật lệ nào mà ông quận trưởng Kiên Lương cấp ông Tư Hạt một cây súng Carbine M-1. Ông Tư Hạt, một người, như tôi thường nghĩ chính ông là nhân vật trong truyện “Rung Cây Dừa” của Bình Nguyên Lộc.

Ông Tư Hạt là người già nhất ở Hòn Heo. Hòn Heo tôi nói ở đây là một hòn đảo nhỏ ngoài biển, cách bờ khoảng hơn 5Km, không phải ấp Hòn Heo ở trong đất liền như tôi có nói ở phần trên.

Ông Tư Hạt là người già nhất đảo Hòn Heo, mà cũng có thể là già nhất trong các hòn đảo thuộc quận Kiên Lương nầy. Không ai rõ ông tới ở trên đảo nầy từ lúc nào, bởi khi người ta tới ở đây thì thấy ông đã sống ở đó rồi. Những người thuộc thế hệ ông ở đảo Hòn Heo nầy, nay chẳng còn ai. Vợ con ông cũng chẳng có. Ông sống một mình, nay đã gần tám chục tuổi! Vì vậy, tôi thường gọi đùa ông là “Chúa đảo.”

“Chúa đảo” Tư Hạt ốm nhom, da đen, không hẳn gốc da ông đen mà có lẽ vì sóng gió biển, – mấy ai được trắng, nhất là những người sống ở biển đã nhiều năm.- lưng hơi còng, – đó là hậu quả nhiều năm ông khom lưng kéo lưới, chưa kể, nếu ông có đi khám bệnh, bác sĩ sẽ tìm ra nhiều đốt xương sống phát triển lệch lạc vì công việc kéo lưới nấy, – nhưng ông đi đứng vẫn còn nhặm lẹ.

Hôm ra Hòn Heo chơi, ông đem cây Carbine cho tôi xem. Cây súng được gìn giữ kỹ lưởng, báng súng sáng bóng, nòng súng cũng sáng bóng, màu thép đen ánh lên trông đẹp mắt.

Tôi hỏi đùa:

– “Ông Tư “chúa đảo”! Ông bắn chết tên Việt Cộng nào chưa?”

Một cách thành thật, ông ta trả lời:

– “Chẳng có Việt Cộng ở đây. Tụi nó không dám tới. Ai chứa chấp mà tụi nó tới.”

– “Vậy “Chúa đảo” giữ súng làm chi?” Tôi hỏi. Ông cũng cười khi nghe tôi gọi ông là “Chúa đảo”.

Ông Tư Hạt trả lời:

– “Không có cây súng, tụi nó không sợ. Quậy lắm.”

Chưa hiểu, tôi hỏi tới:

– “Đám nào vậy?”

– “Bọn làm công cho Somaco.”

Vậy là tôi gọi thiếu úy Nguyễn Văn Nhâm, trưởng cuộc Cảnh Sát xã Bình Trị, hôm đó cùng đi với tôi.

Thiếu úy Nhâm, “một ông tu xuất”, thầy ba hay thầy tư, không được “ơn kêu gọi” bèn hoàn tục, học đại học được hai năm rồi thi vào ngành sĩ quan Cảnh Sát, còn thật thà và… “ham chơi”, thường cùng xã trưởng Nguyễn Vĩnh Xương, “nhảy dù” lên Hà Tiên chơi bời qua đêm, từng bị tôi cự nự:

– “Bộ ông muốn chơi bù mấy năm đi tu hay sao mà bỏ cơ quan lên Hà Tiên hoài vậy?”

Nhâm chỉ cười.

Tôi cũng cự nự xã Xương:

– “Ông là thằng cha quỉ quái. Người ta mới tu hành ra, ông dẫn đi chơi bời hoài; phải thúc đẩy cho nó làm việc chứ?” Xã Xương cũng chỉ cười.

Sau khi nghe tôi bảo điều tra vụ Somaco, thiếu úy Nhâm báo cáo, nội dung như sau:

Ông Đặng Văn Lân, là chủ 2 hãng Somaco, một cái ở Hòn Heo, một cái ở Phú Quốc, là em bác sĩ ĐặngVăn Sung. Ông Lân tốt nghiệp hàng hải ở Pháp về, có công việc gì đó ở Saigon. Lâu lâu, ông ta mới về coi sóc hãng Somaco của ông. Ở Hòn Heo, ông giao cho ông Hoàng làm quản lý, cho thu mua loại cá phân, sấy, xay thành bột rồi xuất khẩu qua Nhựt Bản, lời lãi như thế nào không rõ nhưng qua một thời gian, công việc làm ăn của hãng nầy cũng bình thường. Cá phân là loại cá nhỏ, người ta không dùng để ăn. Trước khi có hãng Somaco, dân làm biển dùng để nuôi vịt, hoặc phơi khô bán vô đất liền để làm thực phẩm gia súc, v.v…

Từ khi có hãng Somaco, một số thanh niên các hòn đảo chung quanh tới làm công cho hãng. Phần đông bọn chúng là thanh niên trốn lính, hoặc lính đào ngũ. Vài quán nhậu mở ra cho bọn thanh niên nầy, kể cả gái chơi, v.v…

Tôi không có cảm tình với những người làm ăn kiểu như vầy, tạo thành một nơi dung dưỡng cho thành phần bất hảo, như các thanh niên nói trên, kể cả các quán nhậu và chủ chứa trá hình. Hơn nữa, trước đó không lâu, trong một buổi họp ở Rạch Giá, tôi có nghe câu chuyện lộn xộn suýt xảy ra xung đột giữa ông chủ hãng và thiếu úy Dương Tấn Hải vì anh chàng nầy chọc ghẹo một cô gái khá đẹp, do ông chủ mang từ Saigon về theo, khi ông đi thăm hãng của ông ta.

Tuần lễ sau, tôi gọi thiếu úy Nhâm về gặp tôi, biểu anh ta ra Hòn Heo dẹp hết những quán nhậu và ổ điếm đó đi. Nếu cần tăng cường, tôi sẽ cho một trung đội Cảnh Sát Dã Chiến ra đảo vây bắt sạch đám đào binh và trốn quân dịch nầy.

Thiếu úy Nhâm sợ đụng chạm với ông chủ hãng, cù cưa công việc nầy hoài. Cuối cùng, tôi phải nhờ tới thiếu úy Kiệt, cho cảnh sát đặc biệt của anh ra phục sẵn ở các con đường lên núi, chờ khi Cảnh Sát Dã Chiến của thiếu úy Ký hành quân, bọn đào binh trốn quân dịch, tên nào chạy lên núi đều bị tóm gọn cả. Xong, lấy lời khai bọn bị bắt, rồi đưa chủ nhân Somaco ra tòa về tội “tán trợ đào binh và bất phục tòng.”

Ông chủ là người có thế lực, không ra hầu tòa. Chẳng ai làm gì được ông ta. Người “thế mạng” là ông Hoàng, quản lý. Vụ nầy dây dưa khá lâu. Ông quản lý có gặp tôi xin giúp đỡ, nhưng tôi không làm được. Sau vụ đó, nhà máy Somaco không còn xuất cảng hàng sang Nhựt Bản được vì hàng không đạt tiêu chuẩn, bột xay không được nhuyễn, nên nhà máy đóng cửa luôn, “chờ” Việt Cộng vô tiếp thu.

Mới nhận chức vụ được ít lâu, tôi cùng thiếu úy Kiệt cùng thượng sĩ “thổ công” Năm Hùng thêm vài nhân viên nữa, ra các đảo “thăm dân cho biết sự tình”. Quả thật, từ nhỏ, ra tới bờ biển thì tôi đã đi nhiều lần nhưng ra đảo thì chưa, nên lần nầy tôi muốn đi cho biết.

Cách sinh hoạt cư ngụ của dân chúng ở tất cả các hòn dảo đều giống nhau, dù đảo lớn hay nhỏ. Giữa đảo là ngọn núi, có vài con đường mòn dẫn lên núi. Ở những hòn núi lớn, có nhiều khe suối nước từ trên núi chảy xuống nên dân chúng có nước ngọt để dùng. Những con suối nầy về mùa nắng thường bị cạn, tạo ra nhiều khó khăn cho dân chúng trong đời sống thường ngày. Tuy nhiên, ở biển nhờ lượng mưa nhiều, người ta hứng nước mưa để uống, có khi suốt năm.

Núi cũng là nơi để cho bọn trốn quân dịch và đào binh ẩn núp. Khi bị săn đuổi, chúng chạy trốn lên núi, khó có thể đuổi bắt chúng được.

Đôi khi thăm hỏi hoàn cảnh vài gia đình, người ta cũng thấy nhiều khó khăn cho những gia đình nầy: Phần đông họ làm nghề biển, cần có trai tráng sức lực để chạy ghe, keo lưới. Một hôm tôi gặp một ông già, – cũng chưa quá 60 tuổi, hạng tuổi có thể xin cho con miễn dịch (khỏi đi lính) – Ông ta bảo ông sắp bán ghe. Lý do: Thằng con trai đi lính rồi, không ai coi ghe! Bán ghe thì lấy gì sinh nhai? Đành chịu. Đó là chưa kể khi có con đi lính, cha mẹ phải gởi thêm tiền bạc. Lương lính đâu đủ tiêu xài. Một gia đình khác: Chồng đi đánh cá gặp tai nạn, rớt xuống biển. Ba ngày sau, xác nổi lên, dân đảo vớt đem về chôn. Rồi đứa con trai đi lính. Cô con gái lớn về làm dâu nhà ông trưởng ấp Nô, trưởng ấp Bà Lụa, – ấp Bà Lụa gồm Hòn Heo và vài hòn đảo nhỏ chung quanh -. Nhà còn bà mẹ với hai đứa con trai nhỏ, lấy gì ăn?

Những chuyện gọi lính, bắt lính như thế thường làm cho tôi nhớ tới bài thơ Thạch Hào Lại của Đổ Phủ(3):

Van rằng: “Có ba trai
Thành Nghiệp đều đi thú.
Một đứa gửi thư nhắn,
Hai đứa vừa chết trận.
Đứa chết đành thôi rồi,
Đứa còn đâu chắc chắn!
Trong nhà không còn ai,

            Những câu thơ nầy tôi thuộc lòng khi còn đi dạy, thường đọc và giải thích học trò nghe khi tôi giảng về “mặt trái” trong “Chinh Phụ Ngâm”…

            Hầu như trên 90 phần trăm thanh niên ở các hòn đảo nầy đều trốn quân dịch.

            Trên núi không có nhà. Nhà dân chúng tập trung quanh chân núi, chỗ gần biển. Đó là một khoảng đất trống đầy cát. Nếu khoảng đất nầy rộng thì nhiều nhà tập trung, chen chúc như nhà ổ chuột. Gặp chỗ đất hẹp thì chỉ có một hai nhà. Xem ra, nhà nằm dài theo chân núi. Đi một vòng chân núi, là đi từ nhà nầy qua nhà khác, ngoại trừ có chỗ núi ra tận biển, không có một mảnh đất nào để có thể làm nhà được.

            Dân chúng ở đây làm nghề biển hoặc phụ với nghề biển, chẳng hạn như mấy bà và con gái thì luộc tôm, phơi tôm, đập cho vỏ tôm nát ra, chỉ còn con tôm khô không vỏ, có người thu mua chở vào Rạch Giá hay lên Saigon bán. Con tôm bằng ngón tay (người ta gọi là tép) khi phơi khô, teo lại bằng mút đũa, đỏ thắm là nhờ khi luộc tôm, người ta thêm phẩm đỏ vào, nhìn đẹp mắt. Các bà nội trợ cũng như dân nhậu rất thích loại tôm nầy. Vỏ tôm thường dùng làm phân hay trộn với thực phẩm gia súc tăng cường lượng vôi (calcium).

            Phía ngoài Hòn Heo, xa hơn chút là Hòn Đầm.

            Một hôm tôi gọi thiếu úy Nhâm ra Hòn Heo gặp tôi, khi tới nơi, thiếu úy Nhâm rủ tôi đi Hòm Đầm chơi. Vui chân, tôi cùng đi với Nhâm.

            Như tôi nói ở trước, thiếu úy Nhâm là tu xuất, mới từ học viện Cảnh Sát xuất thân, tuy ham vui nhưng tính tình chân thật, vui vẻ. Tôi có nghe nhân viên báo cáo: Ông Huỳnh Luân muốn chọn thiếu úy Nhâm làm nghĩa tế. Hỏi Nhâm, anh ta chỉ cười. Tôi nói đùa:

            – “Ông có đạo, con nhỏ người lương, lỡ lấy nhau không được, con nhỏ nhảy xuống biển, đố ai cứu được. Tội của ông nặng lắm, biết không?”

            Nhâm cười, giải thích:

            – “Bây giờ đời mới rồi đại ca, đạo ai nấy giữ.”

            – “Mấy cha có chịu không?” Tôi hỏi.

            – “Chịu hay không là việc của mấy ông cha. Khi đám cưới có làm lễ ở nhà thờ cho phải phép, xong rồi thì thôi. Đi lễ là việc của em, cô ấy đi hay không thì tùy cô ấy.”

            Tôi cười:

            – “Anh nầy ghê thiệt, vậy là bàn kỹ với nhau rồi mà tôi không biết gì hết.”

            – “Ba má em cũng không biết, huống gì đại ca. Cứ như việc xong rồi, ông bà không chịu cũng phải chịu.” Thiếu úy Nhâm giải thích.

            Tôi nói:

            – “Ông tu tới thầy mấy rồi mà nói thế. Đúng là “Gần chùa gọi bụt bằng anh.”

            Huỳnh Luân là người ở đảo đã lâu, tuy học hành không bao nhiêu nhưng làm ăn giỏi, khá giả. Hòn Đầm có nhiều bãi chứa toàn thùng “phuy” là phương tiện chứa dầu cặn của Huỳnh Luân.

Thời Ngô Đình Diệm, khi tới tuổi quân dịch, ông ta trình diện đi lính 18 tháng cho đủ thời hạn luật định rồi xin giải ngũ. Khi chiến tranh trở nên dữ dội, chính phủ ra lệnh động viên, ông ta ứng cử hội đồng xã, vận động để làm xã trưởng. Khôn lanh như ông ta, đạt được mục tiêu nầy không khó. Làm xã trưởng để khỏi bị động viên chớ chẳng có ý gì khác. Sau mấy nhiệm kỳ, quá tuổi động viên, ông ta về tiếp tục làm nghề biển. Ông ta có bốn chiếc ghe lớn, hai chiếc mới đóng, khá hiện đại, có hầm lạnh giữ tôm để con tôm được nguyên đầu đuôi, bán cho nhà máy tôm ở Rạch Sỏi hay chở lên Saigon được giá cao. Mỗi ghe loại mới nầy đi biển mỗi chuyến 15 ngày mới về. Nhờ đó, ông ta thu nhiều lợi. Ngoài ra, ông ta còn buôn dầu. Tất cả các ghe ở Hòn Đầm và ghe các hòn lân cận đều được ông bán chịu dầu, có tôm cá đem về bán lại cho ông, trừ tiền dầu. Đây cũng là mối lợi lớn thứ hai của ông.

            Theo tôi biết, các ghe ở biển vùng nầy đều mua dầu của Huỳnh Luân là dầu từ tàu Hải Quân tuồn ra. Tôi tránh không đụng chạm đến công việc nầy. Hôm ra Hòn Đầm chơi, Huỳnh Luân hỏi tôi có biết Trung tá Trần Văn Hãn cùng quê Quảng Trị với tôi hay không? Trần Văn Hãn, – chúng tôi thường gọi là Hãn đen -, bạn học với tôi năm đệ nhị 1956-57 ở Quốc Học. Huỳnh Luân kể Trung tá Hãn thường đến nhậu chơi với ông ta nhiều lần ở Hòn Đầm. Hãn có nói với Huỳnh Luân sẽ ghé Kiên Lương thăm tôi, nhưng chưa kịp thì tới 30 tháng Tư. Hôm đó, người ta kể, Hãn ở dưới tàu, bắc loa gọi ai là dân Quảng Trị hãy xuống tàu của ông ta để rời Việt Nam.

            Dĩ nhiên, cũng vì biến cố 30 tháng Tư, chuyện thiếu úy Nhâm làm rể ông Huỳnh Luân không thành. Sẵn ghe, Huỳnh Luân đi Úc, còn thiếu úy Nhâm về Saigon trốn “học tập”. Sau khi đi tù cải tạo về, tôi gặp lại “ông thầy tu phá giới” nầy. Nhâm tuy có già và gầy, nhưng tính tình vẫn vui vẻ và chân chất như khi ông còn trẻ vậy. Và vẫn chưa vợ con gì cả!!!

            Hòn đảo lớn nhứt và đông dân nhứt ở khu vực nầy là Hòn Nghệ, tên chữ là hòn Minh Hoa.

            Hòn Nghệ có một trưởng ấp, đại diện cho chính quyền quốc gia, nhưng coi bộ ông trưởng ấp chẳng làm gì cả, ngoại trừ mỗi năm ký vài chục tờ lý lịch cho mấy cô gái tới 18 tuổi đi làm giấy căn cước. Con trai khỏi làm căn cước, chúng sợ đi lính, coi như bọn chúng là “công dân bất hợp pháp”. Tôi cũng chưa từng gặp ông trưởng ấp nầy bao giờ.

            Tuy nhiên, “đại diện” cho dân chúng là một người đàn ông ngoài 40 tuổi. Ông ta chẳng có một chức phận gì ở xã ấp cả, nhưng khi ai cần gì, chẳng hạn như xin giấy phép đóng ghe, hay giấy tờ gì đó, tôi không rõ, thì có ông ta từ Hòn Nghệ vào gặp ông quận trưởng, phó quận trưởng… Ngay cả những công việc của ngôi chùa ở Hòn Nghệ, ông ta cũng thay mặt cho ông thầy chùa ở đây đi liên lạc với chính quyền. Dĩ nhiên, mỗi lần đi “công tác” như vậy, ông ta đều được đồng bào “trả tiền tàu xe”. Tiền tàu xe nầy không rẻ nên ông ta mang tiếng ăn chận khi làm những công việc nầy, thay vì ông được người ta cám ơn. Tuy nhiên, những công việc nầy, đối với dân ở đảo, bao giờ cũng khó khăn, rắc rối, họ không thể tự làm lấy được, dù chính quyền quận hồi ấy không có “thủ tục đầu tiên” và việc xin giấy tờ không có gì khó khăn cả.

            Ông thầy chùa Hòn Nghệ thuộc vào loại “Lỗ Trí Thâm đời nay” dù chùa nầy thống thuộc giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt. Thượng Sĩ Năm Hùng nói với tôi rằng ông thầy chùa nầy chẳng bao giờ ăn chay, – không biết có ăn thịt chó hay không! Mỗi ngày, ông tham gia các buổi nhậu với dân chài rất tận tình, rượu “ít ly” (y lít), sạch dĩa mồi trên “chiến trường” và ông thầy chùa rút lui về chùa thường có hai dân nhậu đi kèm hai bên cho ông thầy chùa khỏi… ngã. Về cờ bạc, ông cũng ít khi chịu thua mấy bà đánh bài “cao tay” trên đảo, thậm chí cả việc nói… tục. Có lần thượng sĩ Năm Hùng thuật lại câu ông ta nói: “Tôi tố một phát cho bà tè ra tại chỗ bây giờ!”

            Tuy nhiên, hôm mấy bà lớn ở Saigon đi trực thăng về đảo để chuẩn bị việc khai thác gỗ trên núi Hòn Nghệ, ông ta ra đón mấy bà rất lễ phép và mời mấy bà về chùa để ông làm lễ cầu an cho mấy bà và “quý bửu quyến”. Bữa đó, thùng phước sương của ông thầy chùa “no dữ”. Mấy bà cũng khen thầy rối rít và khuyên thầy nên “chịu khó tu hành nơi xa xôi” nầy để “hoằng dương chánh pháp.”

            Đời có nhiều chuyện tiếu lâm.

Đây cũng là một chuyện tiếu lâm vậy.

Sau 30 tháng tư, ông thầy chùa tự xưng là “đại úy tuyên úy” nầy bỏ chùa đi mất. Ông sợ Việt Cộng bắt ông đi tù cải tạo vì “can tội đại úy” (tuyên úy) như trong lệnh tha thường ghi. Bấy giờ chính quyền quốc gia không còn để bắt ông ta đi “quân dịch quân gà” nữa.

            Trưởng Cuộc Cảnh Sát trước Thiếu úy Nhâm là Thiếu úy Ngô Thiện Bôn Mỗi khi nhắc tới ông nầy, tôi vẫn khen ông “tuổi trẻ tài cao” nhưng trái ngược hoàn toàn với thiếu úy Phan Trí Huệ, người đã hy sinh tại xã Đức Phương vào tối 18 tháng năm 1974, khi Việt Cộng tấn công vào xã nầy, để “mừng ngày sinh nhựt bác” như tôi thuật lại trong một bài trước.

            Hai người cùng ra trường một lần và cùng về trình diện nhận việc, một người ở Đức Phương, một người ở Bình Trị. Thiếu úy B. lạnh giò khi về xã nầy nên ông ta vận động về Saigon. Việc ấy ông chẳng cho ai hay. Tới khi biết chắc sắp có sự vụ lệnh về Saigon, ông thiếu úy Ngô Thiện Bôn đi một vòng quanh đảo để “thăm dân” nhưng không phải “cho biết sự tình”.

            Ông nắm vững tất cả những gia đình nào có người trốn “quân dịch quân gà” hay đào binh. Vòng quanh chân núi Hòn Nghệ khoảng môt ngàn ngôi nhà, ít ra một nửa những gia đình đó có người trốn lính. Ông ta tới những nhà đó, than rằng cấp trên bắt ông đi học bổ sung vài tháng thì về (Ông không nói sắp thuyên chuyển, bất lợi!). Nay kẹt tiền đi học, ông xin giúp đỡ. Từ ngày về xã nầy tới giờ, ông ta chưa từng bắt “quân dịch quân gà”, để đồng bào yên ổn làm ăn. Dĩ nhiên, đồng bào thương ông, mỗi nhà gom cho ông ta vài ba ngàn làm “sở phí để đi học”. Tổng cộng, đi một vòng quanh đảo Hòn Nghệ, nhà nào có người trốn lính ông cũng vào thăm hỏi và than sắp phải đi học, tổng cộng ông ta có bao nhiêu tiền? Số tiền ông kiếm được, có lẽ cao hơn số tiền ông đã chạy cho cấp trên để được về Saigon. Ông ta còn “siêu” hơn cả Hồng Thất Công của Kim Dung

Nghe thiếu úy Kiệt kể chuyện nầy, tôi nói: “Tuổi trẻ tài cao. Những tay ăn hối lộ phải tôn thiếu uý B. làm sư phụ.” Hốt một mớ biết bao nhiêu tiền mà chẳng ai thưa gởi gì cả. Dân miền Nam, làm khó, đòi tiền sẽ bị thưa “tới tấp” như thiếu úy R., còn mềm mỏng “xin bà con giúp đỡ” như thiếu úy Bôn thì khỏe re, tối ngủ vẫn yên giấc, không ai quấy rầy!?

            “Ông thầy tu phá giới” thế chỗ ông thiếu úy Bôn mà chẳng biết phát huy sáng kiến người tiền nhiệm gì cả. Lâu lâu, kẹt tiền, ông về Kinh 1, Cái Sắn xin cha mẹ hay nhờ ông bố vợ tương lai cho tiền đi nhậu.

            Người phát huy sáng kiến của thiếu úy Bôn là ông chi khu trưởng. Ông ta cho một anh trung sĩ ra Hòn Nghệ đóng đô ở đó, với danh nghĩa là “phụ tá trưởng ấp đặc trách an ninh”. Mỗi người trốn lính phải đóng hụi chết cho nhân vật “đặc trách” nầy. Đóng cho ông “đặc trách”, không đóng cho ông lớn hơn, ông chi khu trưởng có mang tiếng gì đâu!

Trong một buổi họp tại văn phòng tôi, tôi nói với mấy ông sĩ quan, khi nghe báo cáo chuyện nầy: “Mấy ông đừng hậm hực. Họ làm gì kệ họ. Tranh ăn là sinh chuyện, mà hễ sinh chuyện thì “Trai cò tranh nhau, ngư ông được lợi”. Chúng ta tố qua, bên kia tố lại, bọn thanh tra no nê. Đừng dại như thế. Vả lại, như mấy ông biết đấy, sở dĩ tôi nói câu nầy không phải vì ông chi khu trưởng đã từng đe dọa cho thám báo chi khu giả dạng Việt Cộng giết tôi vì tôi chống lại ý ông về việc đặt trạm thâu tiền mãi lộ xe đò.”

            Quả thật Hòn Nghệ là thiên đường của đào binh, trốn quân dịch. Ông Tư Sậm, chủ ghe, nhà ở cuối kinh Vàm Rầy (xã Đức Phương), sau vụ con trai ông bị thưa tội hiếp dâm như tôi đã kể, bấy giờ con ông cũng đã lớn tuổi, lớn xác, không dùng giấy khai sinh nhỏ tuổi được nữa; ông thiếu úy R., người “bảo trợ” cho con trai ông cũng đã bị thuyển chuyển; ông bèn dọn nhà ra Hòn Nghệ, con ông khỏi đi lính.

            Sau vụ Việt Cộng tấn công xã Tín Đạo, vợ con thiếu úy Đước chết cả, Danh Điểm, cảnh sát của thiếu úy Đước, sợ chết, cũng đào ngủ ra ở Hòn Nghệ cho được an toàn tính mạng.

            Tàu hải quân thường tuần tiểu vùng nầy, lính tuần cũng thường lên đảo nhậu chơi với bọn nầy. Để “giúp đỡ” nhau, mỗi khi tàu hải quân thấy ghe cảnh sát ra đảo, thường rú còi, báo động cho bọn trốn quân dịch, đào binh biết để chạy trốn.

            Việc giáo dục ở vùng nầy và đảo là điều đáng buồn cho tương lai trẻ con ở đây.

Khi mới về nhận việc ở đây, một hôm, xã Tín Đạo giải giao một thằng bé tên là Danh Sơn, mười ba tuổi, can tội “làm giao liên cho Việt Cộng”. Xem qua lời khai, tôi thấy ghi ở mục trình độ học vấn: Dốt. Tôi hơi ngỡ ngàng. Hồi còn đi dạy ở ngoài Huế, mấy “con ở” nhà tôi, đứa nào cũng dốt. Nhưng chúng nó là con gái. Đây là một đứa con trai. Tổ chức giáo dục ở nước ta như thế nào mà thằng bé nầy dốt? Tại sao bọn trẻ không được đi học? Thiếu trường, thiếu thầy hay thiếu ăn?

Thật ra, chúng nó thiếu cả ba thứ. Thiếu trường, thiếu thầy. Ở ấp thường chỉ có lớp 1, lớp 2. Nhưng thầy cô nào dám về dạy ở những nơi bất an ninh nầy? Hầu hết chúng thiếu ăn. Thằng bé nầy có mẹ và hai đứa em. Bố nó sợ đi lính quốc gia, trốn theo Việt Cọng làm du kích cho gần nhà, bị quân đội Việt Nam Cộng Hòa tấn công, bắn chết. Các “đồng chí” của cha nó cho nó được đốn tràm, giăng câu, đặt lợp kiếm tiền giúp mẹ nuôi em nhưng phải tiếp tế cho chúng, phải mua bột ngọt, thuốc rê, càphê đem vào cho chúng. Vì vậy, thằng bé 13 tuổi bị bắt vì can tội “làm giao liên cho Việt Cộng.” Trên thế giới ngày nay – ngày nay là khoảng thời gian đó – có nơi nào bọn trẻ bất hạnh như vậy không?

            Ở đảo Hòn Heo có một lớp học, nhưng không có thầy giáo. Người ở đất liền không chịu ra dạy ở đảo, không ai muốn sống trong cảnh xa nhà, buồn tẻ. Người ở đảo không ai có đủ trình độ để dạy trẻ con lớp 1, lớp 2. Chỉ lớp 1, lớp 2 đó thôi cũng không có thầy. Vì vậy, tiền viện trợ Mỹ bỏ ra để xây một lớp học, vách gạch, lợp tôn ở Hòn Heo trở thành nơi chứa tôm, cá phơi khô, làm chỗ “tạm trú” khi trời mưa bất chợt.

            Ở Hòn Nghệ cũng có hai lớp học, cũng xây dựng bằng ngân sách viện trợ Mỹ, cho học trò lớp một, lớp hai. Hai giáo viên ở đây, ban đầu lãnh lương từ Cố vấn Mỹ, về sau, khi người Mỹ rút bớt về nước thì họ nhận lương ở Sở Học Chánh Kiên Giang. Tuy nhiên, tiền đó cũng là tiền viện trợ Mỹ, nhờ ty tiểu học trả giúp chứ không thuộc ngân sách quốc gia. Có điều buồn cười. Mới đây, một trong hai thầy giáo cùng gia đình được định cư ở Mỹ với danh nghĩa “Nhân viên sở Mỹ trên 3 năm.” Có phải đó là một sự đền bù cho một ông thầy giáo hơn ba năm sống cuộc đời cô quạnh ở đảo vì “tương lai con em chúng ta”?

            Một hôm, tôi tổ chức một cuộc “du lịch Hòn Heo” có ông bà Phó Giám đốc, mấy cặp vợ chồng các ông Chánh sở Nhà Máy ximăng Hà Tiên cùng vợ chồng tôi.

Biết chúng tôi đi chơi, đám thanh niên trốn quân dịch ở đây coi như “không có việc gì xảy ra”. Tôi đến xem hai người đang ngồi lắp ráp một cái máy tàu cũ. Họ tháo banh cái máy ra, thay thế bộ phận cũ, rồi ráp lại. Hỏi học sửa máy ở đâu, tôi mới biết chẳng học ở đâu cả. Bọn họ dạy lẫn nhau. Chỉ cần một người vào học thợ máy ở Rạch Giá, là “nghề nghiệp” lan tràn cho nhau khá nhanh. Tôi cùng vài ông kỹ sư đứng xem, kể cả vài ông kỹ sư cơ khí. Họ cũng nhìn nhận rằng thanh niên Việt Nam thông minh thật. Nếu học hành tới nơi tới chốn, họ sẽ giỏi hơn nhiều.

            Tôi nói hoc hành tới nơi tới chốn vì phần đông họ chỉ biết đọc biết viết. Họ không thể học cao hơn lớp 1, lớp 2. Có trường ốc nào đâu! Vả lại, dân chúng thấy sự học không cần thiết. Biết vài ba chữ, đọc viết tàm tạm, cần nhứt là thanh niên có sức khỏe, chạy ghe, kéo lưới.

Có đứa bé nào kéo lưới từ lúc năm, mười tuổi mà sống lưng không bị vẹo. Đó là lý do để ăn welfare ở Mỹ sau khi họ vượt biên và định cư ở đây.

            Nhờ sinh sống ở vùng bờ biển như Vàm Rầy, Rạch Đùng, Ba Hòn, hoặc ở ngay ngoài đảo như Hòn Heo, Hòn Ngang, Hòn Đầm… trong vịnh Thái Lan, họ được móc nối tổ chức vượt biên, đưa người vượt biên và rồi họ cũng… vượt biên. Phần đông, họ tụ tập về đây, thành phố tôi đang ở, là vì có linh mục Lương Công Đại, trước từng làm cha xứ họ đạo Rạch Đùng, họ đạo Kiên Lương. Cha Đại rời Việt Nam trưa ngày 30 tháng Tư. Sau đó, cha gởi thư về Việt Nam, nhắn khéo với đồng bào họ đạo cũ, nếu vượt biên, hãy về thành phố nầy, có cha giúp đỡ.

Vậy rồi họ về đây, kẻ đi trước kéo người đi sau, tạo thành một cộng đồng người cũ trên vùng đất mới và… “Họ bỏ cha rồi!” như có lần cha than với tôi, như tôi có kẻ trong một bài trước.

            Tôi sinh ra và lớn lên ở thành phố. Thôn quê, đối với tuổi thơ của tôi, là đẹp đẽ và hấp dẫn qua những trang sách trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư mà anh chị tôi đã học hồi tiền chiến: Đó là tiếng chim sơn ca, đó là “Ai bảo chăn trâu là khổ, Chăn trâu sướng lắm chứ…” hoặc lũy tre làng xanh ngắt ở cuối cánh đồng, là “Ngoài kia, qua một lớp vườn hoang là cánh đồng bao la. Buổi chiều, trẻ con thả diều, người lớn thong thả dạo mát. Cuộc đời êm đềm và không một chút đổi thay như trong tranh vẽ” của Tô Hoài trong “Xóm Giếng Ngày Xưa”.

            Lúc mười tuổi, tôi theo gia đình chạy giặc hai năm, ở miền núi Trường Sơn hơn một năm, ở nhà quê chưa tới một năm. Thành ra, cái thú nhà quê như đi bắt dế, ăn trộm mía, lội song… kéo dài chưa hết một mùa hè. Với lại, với trí óc trẻ thơ của một đứa bé mười tuổi, tôi chưa có nhận xét gì nhiều về một khung cảnh thanh bình nơi cỏ nội hoa đồng.

            Khi đi học, ở thị xã Quảng Trị hay ở Huế, tôi chỉ biết cảnh thôn quê qua “Nhà Nghèo”, “Quê Người”, “Xóm Giếng Ngày Xưa” của Tô Hoài, “Nhà Quê” của Ngọc Giao; “Sợ Sống” của Lê Văn Trương, hoặc phải học và làm bài nghị luận về “Con Đường Sáng” của Hoàng Đạo, “Lạnh Lùng” của Nhất Linh; “Hồn Bướm Mơ Tiên” của Khái Hưng, “Hai Buổi Chiều Vàng”  của Khái Hưng và  Nhất Linh, “Nhà Mẹ Lê” của Thạch Lam…Đối với thôn quê miền Nam, dĩ nhiên tôi đã đọc “Ngọn Cỏ Gió Đùa”, “Cha Con Nghĩa Nặng”… của Hồ Biểu Chánh, và “Đồng Quê” của Phi Vân và những tác phẩm làm cho nhiều người say mê của Sơn Nam như “Hương Rừng Cà Mâu”, “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang”.

Cảnh thôn quê Việt Nam trong văn chương nhiều khi rất tuyệt vời, làm cho người đọc thích thú và xúc cảm không ít, và cũng làm cho đứa bé chưa quá tuổi dậy thì như tôi hết sức mơ mộng, và cũng đã có lần chảy nước mắt vì cái chết của cô Thơm trong “Sợ Sống” của Lê Văn Trương hay đứa con gái nhỏ đi bắt ếch bị rắn cắn chết như trong “Nhà Nghèo” của Tô Hoài.

Biết bao nhiêu tác phẩm viết về đồng quê với bao cảnh tươi vui hạnh phúc, và cũng không ít cảnh đói nghèo chết chóc rất đáng thương tâm của đồng quê Việt Nam.

Như độc giả thấy, tôi say mê tác phẩm của Sơn Nam đến nỗi tôi đặt tên cho tác phẩm nầy của tôi là “Hương Tràm Trà Tiên”. Ai bảo “Huơng Rừng Cà Mau” không có “bà con” với “Hương Tràm Trà Tiên”? Một tác phẩm nói về cuộc “mở đất Nam Tiến” của ông cha ta ở mấy trăm năm trước và một tác phẩm nói về “giữ đất Nam Tiến” của dân tộc ta thời hiện đại.

            Có những điều trong thời “Hương Rừng Cà Mâu” hay “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang” ngày nay không còn nữa, như câu chuyện về săn cá sấu, “Mùa Len Trâu”, “Hát Bội Giữa Rừng”, “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư”. Dân nhậu gần như đã triệt tiêu loài cá sấu, và như tôi kể trong truyện nầy, dân nhậu bây giờ khoái thịt rắn, cháo rắn. Hết rắn tới rùa, tới kỳ đà, tới cần đước…Chúng đang trên đà “diệt vong” vì các tay “sáng xị, trưa xị, chiều xị”.

Xị là chai xá xị của hãng BGI ở Saigon. Người nhà quê dùng chai xa xị để đựng rượu trắng. Nhiều thì mua một lít rượu, mua một “ít ly” là “y lít’. Ít thì sai đứa nhỏ ra quán mua một “xị rượu” đủ để lai rai một buổi chiều, sau khi “đi làm đồng” (Ra đồng làm ruộng) về.

            Nhân nói chuyện rượu, tôi “bàn” một chút về việc uống rượu của dân Nam Bộ.

            Đọc thơ cổ, người ta thấy cụ trạng Trình (Nguyễn Bỉnh Khiêm) viết:“Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp.” Ai viết lộn chữ “nhắp” thành chữ “nốc” là sai ghê gớm lắm! Nốc rượu chỉ dành cho những bợm rượu như Phạm Thái, người tình của Trương Quỳnh Như, hay Nguyễn Sinh Huy, bố đẻ Hồ Chí Minh, can tội “Say rượu đánh chết dân”.

            Dân Nam Bộ không nhắp rượu, không nốc rượu mà “dô”, “dô”…Lần thứ hai vô Saigon, ăn đám cưới Hùng Móm, ở nhà hàng Động Phát, bên phía nhà gái là dân Nam Bộ chính cống, và dĩ nhiên cũng dọn một bàn riêng cho đám lóc nhóc. Thấy bọn nhóc cười nói vui vẻ, cầm ly la to “dô”, “dô” tôi không hiểu bọn chúng nói cái gì.

Hỏi ra, mới hay chúng la to “vô”, “vô” là uống vô. Tiếng miền Nam “V” thanh “D”, giống như lão ký giả thể thao Huyền Vũ la to trên đài phát thanh hai tiếng “Diệt Dị”. Người miền Trung mà nghe “Diêt Dị” đố ai hiểu là cái gì! Suy ra thì hai tiếng đó là “Vượt (Việt) khỏi Vị (Dị) trí qui định trong luật đá bóng, tiếng Pháp là “hors-jeux” hay “off-side” trong tiếng Anh. Sau 1975, tù cải tạo về đi xem đá banh, ngồi ở khán đài B sân Cộng Hòa, gần mấy ông cán bộ răng hô mã tấu, nghe họ la “Liệt vị”, tôi lại càng thấy họ “dốt vô cùng tận” chớ không phải “giỏi vô cùng tận” như họ khoe khoang.

            Khi cha ông chúng ta vô khai khẩn Miền Tây Nam Bộ, là vùng đồng lầy hoang vu, trên trời dưới nước, vùng đất khô không nhiều để dựng nhà lập vườn, cuộc sống nắng mưa dễ sinh cảm sốt, bệnh tật nên rượu là một phương thuốc trị bệnh thần kỳ.

Rượu làm tăng cường sinh lực, lưu thông máu huyết, xua đuổi bệnh tật và cả đánh đuổi… tà ma. Vậy thì: nên làm một ly trước khi ra đồng, và một ly trước khi phủi cẳng lên giường nằm ngủ. Phương thức trị bệnh của cha ông dần dà trở thành cái thói nhậu dô dô của con cháu đời nay. Đó là một diễn biến rất “lô gíc” theo “duy vật biện chứng” vậy.

            Việc nhậu “lai rai ba sợi” không riêng gì trong dân chúng, trong binh lính, cảnh sát, cán bộ. Nó là một phương cách thể hiện sự bình đẳng, hòa hợp, vui vẻ giữa mọi người với nhau, không phân biệt dân – quân – cán – chính hay dân ngu cu đen. Và không ít người trở nên hào phóng sau khi rót vào mồm vài ba chai 33. Ông trung tá Trần Lý H. khi nhậu với lính thì “để tao cởi áo, nhậu là không có lon lá gì cả.” Ông chủ ruộng mở túi áo trên rút vài ngàn đưa cho gia chủ đi mua thêm “mồi”, hay vui vẻ hứa với “ông chính quyền” rằng “Khi nào thanh tra về, ông không có tiền đãi khách, cho lính ra gặp tui.” Vì ham “vui vẻ” nên không ít lính tráng đòi chủ rượu mỗi chiều phải mở tiệc rượu khiến đưa tới vụ Võ Văn Minh tự Út Giàu ở xã Tân Hội phải đi tù như tôi đã kể.

            Việt Cộng nhậu cũng không kém gì… Quốc Gia. Có đứa cũng vì nhậu mà tiêu hết tiền quĩ của xã phe Quốc Gia, sợ bị tù bèn trốn vô rừng theo Việt Cộng như Bảy Móc, sau làm bí thư xã Đức Phương, như cựu trưởng ấp Ngã Ba Nguyễn Văn Thôn tự Tiếu (Hai Tiếu) sau là bí thư xã Bình An, ra tiếp thu quận Kiên Lương hồi 30 tháng Tư, 1975.

            Không ít người làm giao liên Việt Cộng khi bị bắt có mang theo vài lít rượu vô rừng, hay ông chủ lò rượu ở Vàm Rầy, chở rượu lên Châu Đốc qua ngã Giang Thành “cúng cho thầy chú” vài can rượu khi qua đồn Trà Phô cũ, nay Việt Cộng đóng chốt ở đó.

            Bên cạnh những câu chuyện mới của “Hương Rừng Cà Mâu” thời giặc giã, như thu thuế, phục kích, đắp mô, gài mìn, ám sát, cấm “Đốn tràm khô đâm mồ chiến sĩ, đốn tràm xanh rước mỹ về nhà”… thì cảnh cũ vẫn còn đấy như “Mùa Trăn Hội”, “Mùa Cá Đồng”, làm muối hay “trồng dưa hấu một mùa, đủ tiền vui chơi cờ bạc một năm.”

            Một hôm, tôi về Vàm Rầy, thấy “phông” màn giăng một đầu nhà lồng chợ, hỏi ra mới biết có gánh cải lương Hồ Quảng mới đậu ghe lại đây. Gánh cải lương di chuyển bằng ghe nhỏ, không bằng xe hơi như các gánh cải lương Saigon.

            Thấy gánh hát lèo tèo, có vẻ nghèo nàn, tôi hỏi thiếu úy Ra: “Nầy, khách xem hát có đông không? Hát ở xã có khá không?”

Thay vì trả lời tôi câu đó, thiếu úy Ra nói khác: “Cô đào trẻ đẹp lắm.” Hỏi ra thì cô là vợ không biết thứ mấy của ông bầu. Ông bầu đã trên năm mươi mà cô ta chưa tới hai mươi. Một chốc, ông bầu dẫn cô gái bồng đứa bé từ dưới ghe lên ăn hủ tiếu ở bàn bên cạnh tôi và thiếu úy Ra đang ngồi. Thấy cô ta vạch vú cho con bú, tôi thấy “nãn vô cùng” cho cô đào hạng nhứt của gánh hát. Tôi hỏi thiếu úy Ra: “Vậy mà chú mầy cho là đẹp, đen không thua con Miên.” Ra cười trả lời: “Hôm qua khi hát, cổ đánh phấn, có thấy đen đâu!”

Hết rồi, thời kỳ “Hát Bội Giữa Rừng” của Sơn Nam. Bây giờ chỉ có “lựu đạn nổ nửa chừng” như mới xảy ra, cách bữa đó không lâu, khi Thành Được, Út Bạch Lan về hát ở đình Tân Hiệp, Cái Sắn.

Trong thời gian nầy, tôi lại về Vàm Rầy, vì đây là nơi Việt Cộng hoạt động mạnh nhứt vì nhiều lý do: Trên kinh Kháng Chiến, đường giây di chuyển 1-C của Việt Cộng. Bên kia kinh Kháng Chiến là quận Tri Tôn của tỉnh Châu Đốc, Việt Cộng cũng hoạt động mạnh. Và là vùng ruộng cũ rất lớn của ông Chủ Ry, ông Thầy Ban, nay đang được nông dân các tỉnh khác về, dân Long Xuyên, Cái Sắn, Xóm Mới Saigon về vỡ đất làm ruộng trở lại, là món lợi lớn cho Việt Cộng thu thuế.

Rồi một hôm, tôi gặp một ông nhà thầu đến đào giếng ở đây, lấy nước ngọt cho nông dân theo một hợp đồng với ty Thủy Nông tỉnh Kiên Giang. Tò mò, tôi hỏi chuyện ông nhà thầu.

Té ra, nhiều cái hay lắm!

Ông ta từ Saigon về đào giếng ở đây, loại giếng đóng. Dĩ nhiên, loại giếng đóng ít mất công hơn loại giếng xây, có thể lấy nước tưới ruộng rất tốt. Xài một thời gian, khi cạn nguồn nước ngầm, đóng giếng khác. Loại giếng đóng không phụ thuộc vào mùa nước nổi. Nước nổi là nước sông Hậu đổ về mỗi khi tuyết tan đầu nguồn ở Hy Mã Lạp Sơn, thường có nhiều phèn, không uống được vì nước nầy thường làm hư răng. Thợ trồng răng miền Tây thu lợi nhiều tiền là vì dân chúng uống nhiều nước phèn.

Hỏi ông nhà thầu về việc đào kinh lấy nước như ở dinh điền Cái Sắn, ông ta cho rằng làm như thế là thất bại.

Vùng Cái Sắn, cần đất cho dân định cư, nên cần đào kinh để lấy đất đắp vườn, làm nền nhà. Phần đất còn lại, chia cho nông dân làm ruộng, mỗi gia đình ba mẫu. Việc làm nhà và làm ruộng, nhu cầu ngang nhau. Tuy nhiên, việc đào nhiều kinh ngang dọc, làm cho việc di chuyển máy cày từ vùng kinh nầy qua vùng kinh khác rất trở ngại. Người ta phải đóng những cái “trẹt” – một loại phà nhỏ, vừa chỗ cho một chiếc máy cầy – để đưa máy cày qua kinh. Đào nhiều kinh, ruộng bị chia nhỏ ra, không lợi.

Ở những khu vực nông nghiệp lớn, như một nông trường ở Mỹ chẳng hạn, việc đào kinh ngang dọc như vậy làm trở ngại cho các xe cơ giới máy cày, cấy, gặt đập. Người ta chia nông trường ra làm nhiều lô, mỗi đội nông nghiệp, phụ trách một hay nhiều lô, lo việc cày cấy gặt đập vô bao và chuyên chở về kho. Nhờ đó, lực lượng nông nghiệp ở Mỹ chỉ chiếm 5 phần trăm dân số, vậy mà số lương thực sản xuất vẫn đủ nuôi dân và xuất khẩu. Nếu chia ruộng thành nhiều kinh, công việc của các đội nông nghiệp trở ngại rất nhiều.

Không đào kinh, việc lấy nước tưới ruộng nhờ vào những giếng đóng. Giếng không chiếm nhiều diện tích trồng trọt, lại không gây cản trở cho xe cơ giới hoạt động, nước giếng không có phèn mà lại rửa phèn cho ruộng khá nhanh.

Tôi từng đọc tờ báo Thế Giới Tự Do của phòng Thông Tin Hoa Kỳ, từng học lịch sử và địa lý nước Mỹ, từng xem nhiều phim và tranh ảnh về sinh hoạt nông nghiệp Mỹ, từng học đạo luật 480, đạo luật căn bản cho cuộc “Cách Mạng Xanh” của Mỹ, vậy mà tôi vẫn thích thú ngồi nghe chuyện ông nhà thầu giếng đóng, mà các giáo sư dạy địa lý nước Mỹ cho tôi, chưa ai giải thích rõ bằng ông ta, trong khi tôi không rõ sức học của ông ta tới đâu..

Độc giả thấy không! Trăm hay không bằng tay quen, và hôm đó, tôi học được điều ông cha gọi là “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.”

Về sau, khi đi “tù cải tạo” về, thấy việc đào kinh các công ty, xí nghiệp thủy lợi của Việt Cộng, thấy khung cảnh các khu  kinh tế mới Lê Minh Xuân, Phạm Văn Cội kinh đào chia ngang xẻ dọc, tôi nhớ tới ông nhà thầu đóng giếng ngày trước. Dĩ nhiên, tôi thấy Việt Cộng làm nông nghiệp sai rồi, làm sao tôi không khỏi buồn khi thấy ruộng đồng bị chia xẻ thành nhiều mảnh bằng những kinh thủy lợi.

Khi nhận sứ vụ lệnh về miền quê, tôi không khỏi lo. Dĩ nhiên, ở thành phố an ninh hơn, tối có đèn điện khỏi dùng đèn dầu, mưa nắng có xe, khỏi lội bùn, khỏi phải sống những nơi dân địa phương gọi xứ họ là “nắng bụi mưa bùn”.

Ở thành phố, khó có khi bất thần gặp một tên Việt Cộng, khỏi bị phục kích, đặt mìn, khỏi tao ngộ chiến, hoặc nói như Trịnh Công Sơn, “đêm đêm đại bác vọng về…” Ở đây, không có đại bác “vọng về”.  Các khẩu đội đại bác đặt cách nhà tôi ở không bao xa, đạn pháo kích của địch có khi nổ ở sân trước, sân sau và biết đâu, một hôm, nổ ngay trên ngôi nhà tôi đang ở. Cái sống, cái chết đan chéo nhau, không phải từng ngày mà từng giờ từng phút…

Hết rồi, tiếng chim sơn ca. Tôi không thấy nó, không nghe nó hát ở đâu cả.

Bây giờ chỉ là tiếng chim mỏ nhác, mỗi đêm nếu nghe nó bay và kêu quàng quạc ở trên không, có nghĩa rằng có thể Việt Cộng đang di chuyển đâu đó.

Loài chim nầy, mình giống như loại cò, lông đỏ, chân dài, không ngủ trên cây mà ngủ duới đất, chổng cẳng lên trời. Một đám năm bảy con sống với nhau. Hễ thấy động mạnh, tiếng người đi hay trâu heo chạy qua, chủng hoảng hốt phóng ngay lên trời, vừa bay vừa kêu. Ở các đồn bót, người ta tìm cách làm sao cho loài chim nầy làm tổ ngoài vòng rào. Việt Cộng mò tới, chim thấy động bay lên kêu to, cũng là báo động cho lính tráng đề phòng.

Cũng không còn “Ai bảo chăn trâu là khổ…”, “Mùa Len Trâu” và đàn trâu ông Chủ Ry hai trăm con cũng không còn nữa.

Bây giờ là máy cày. Sinh sống ở Vàm Rầy, đêm đêm người ta có thể thấy ánh đèn xe, nghe tiếng xe máy cày, cày ì xèo trong ruộng cũ của ông Chủ Ry, ông Thầy ban. Không ai thấy con trâu nào cả. Trâu nào đủ sức cày trên cánh đồng rộng cả trăm, cả ngàn mẫu như ở đây!

Nông thôn nước ta thay đổi rất nhiều, nhưng cảnh “Nhà Mẹ Lê” thì ngày xưa đã thế mà giờ đây cũng thế. Không chừng bây giờ nhiều gia đình “Nhà Mẹ Lê” hơn ngày xưa. Đàn ông đi lính hết, con trai đi lính hết, không Quốc Gia thì cũng theo Việt Cộng, còn thanh niên nào ở nhà để cày ruộng, gánh lúa, đập lúa vui như ngày hội. Làm gì còn “Gạo Trắng Trăng Thanh”. Thay vì giả gạo thì người ta bỏ lúa lên ghe chở tới nhà máy chà để lấy gạo về. Làm gì còn cái cảnh Lam Phương ca hát: “Hò là hò lơ hó lơ hò lơ. Nầy anh em ơi! Giã cho thật đều, giã cho thật nhanh. Giã cho khéo kẻo trăng phai rồi, khoan hò khoan tiếng chày khua vang mãi trong đêm dài.”

Hết rồi, “Quê hương là chùm khế ngọt”, làm gì có cảnh thanh bình để “Mẹ về nón lá nghiêng che”, không còn con đường nào “có bướm vàng bay”, cũng không còn “hoa cau nở trắng đầu hè”.

Đi suốt con đường dài gần một trăm  ki-lô-mét từ Rạch Giá tới Hà Tiên, khó ai tìm được những ngọn cau còn chút nắng chiều vướng trên ngọn cao như trong bài “Hoàng Hôn” của Xuân Diệu. Hai bên đường, không mấy khi tìm thấy ngôi nhà ngói, nhà tôn với khói lam chiều lẩn quất không chịu bay xa, mà chỉ liên tiếp nhau những mái tranh nhỏ bé, rách nát, thủng dột, những đứa bé rách rưới, bụng ỏng, sườn lưng lòi cả xương sống vì thiếu ăn, thiếu mặc.

Đâu đâu cũng chỉ là cảnh tình trong bài tập đọc của tôi khi tôi còn bé “Đoàn Thôn là một phố chợ tồi tàn…”. Những điều Duy mong muốn trong “Con Đường Sáng” kéo dài đã hàng chục năm nay, đâu có thấy gì đâu!? Những điều ông Ngô Đình Nhu vẽ vời trong “Quốc Sách Ấp Chiến Lược” như phát triển và kết hợp giữa các ngành y tế, giáo dục, văn hóa, v.v… nay lại là Xóm Đạo của ông chủ chùa Phạm Bình An, đệ tử ông thầy thuốc Bắc ở phủ Cây Tùng.

Chiến tranh thật độc ác! Nó có thể làm cho mạng sống của tôi, chốc nữa sẽ không còn nữa, nếu chiếc xe Jeep của tôi cán phải mìn, hay một tên Việt Cộng nào đó bên kia kinh bắn sẻ sang… Cái chết đó, đâu chỉ có mình tôi là nạn nhân, mà tất cả những người dân sống ở đây, không chừa một ai, dù đó là một người lính đang cầm súng chiến đấu hay một người đàn bà vô tội, chỉ lo kiếm gạo nuôi con, không tham gia bên phía nầy hay bên khác.

Cảnh nhà quê nghèo khổ, đói khát, lam lũ, vất vả mà chẳng có một thú vui, một thú giải trí nào cả. Có chăng, thì chỉ là một gánh hát cũng nghèo nàn, màn phông rách nát như gánh hát ghé lại Vàm Rầy, khán giả chỉ vừa thấy đào kép đã ngán ngẩm rồi, hoặc ở Xóm Chài Vàm Rầy có năm bảy nhà có TV chạy bằng bình điện, để mấy đứa con gái ham coi cải lương tối thứ bảy đi coi về khuya, như con Sáu Lánh, trên đường khuya khoắt bị con quỉ râu xanh già đời chưa trót thế, hay con trai Tư Sậm hiếp dâm một cách tàn bạo.

Có môt dịp về Saigon, vào rạp Mini Rex xem phim “La fille de Ryan”, tôi bỗng thấy thương con tôi một cách xót xa. Chuyện phim kể một cô nữ sinh thôn quê khá xinh đẹp. Cô nữ sinh ao ước muốn được lên Dublin, thủ đô Ái Nhĩ Nhan, để được đi xem Opéra, để được nghe hòa tấu nhạc Beethoven, Mozart, … Nỗi khao khát đó đã thúc đẩy cô kết hôn với thầy giáo của mình, một người thường giảng cho cô về văn minh thành thị. Nhưng cô ta thất vọng, vì dù ông ta có biết thêm gì về thành thị hơn cô ta thì chồng cô vẫn chỉ là một ông giáo làng. Niềm thất vọng đó đưa đầy cô đi xa hơn trên con đường lầm lạc: ngoại tình với một viên thiếu tá của quân đội Anh Hoàng đang cai trị Ái Nhĩ Lan. Kết quả, cô ta bị dân làng trừng trị bằng cách cạo trọc đầu vì tội phản bội tổ quốc và xâm phạm thuần phong mỹ tục. Không còn ở với dân làng được nữa, vợ chồng cô đành bỏ làng ra đi. Trong làng, chỉ có một người thông cảm cho tình cảnh cô gái, tới giờ phút cuối cùng. Y tiễn chân cô lên tận xe để ra đi. Người đó, lại là một kẻ mắc bệnh câm bẩm sinh.

Xem phim rồi, tôi không dứt khỏi suy nghĩ và thương các con tôi. Chúng nó sinh ra và lớn lên ở thành phố, theo cha mẹ về sống nơi nắng bụi mưa bùn nầy, nơi thị trấn nhỏ bé nhiều súng đạn mà không có một phương tiện giải trí nào.

Thế rồi, tôi nghĩ tới câu chuyện vài ba con nhỏ ở đây. Một cô nào đó, đẹp gái, cặp với một ông nhà thầu, nhà thầu Bảo, vì ông ta nhiều tiền. Ông nhà thầu Bảo đi rồi thì con bé trở thành một thứ đồ  chơi “uống nước trả tiền” cho viên quận trưởng. Hoặc vài ba con nhỏ bỗng nhiên trốn nhà đi theo gánh hát. Thế là xong: “Mẹ già cuốc đất trồng tiêu, Con theo hát bội mẹ liều con hư.” Có đứa bỏ nhà đi một thời gian rồi trở về, dáng vẻ “văn minh” hơn nhưng phẩm giá thấp hơn. Có những đứa không về. Chúng đang làm gì ở Saigon, Cần Thơ, Cam Ranh, Phú Bài? Có lẽ, điều chắc chắn hơn, chúng đã trở thành những cô bán Bar Mỹ ở bên ngoài một căn cứ nào đó của một thứ quân đội được gọi môt cách văn vẻ là “Đồng Minh.”

Nhân một dịp lễ Noel, tôi đem các con về Saigon, đi xem lễ ở nhà thờ Đức Bà, xem ciné ở rạp Rex, tới xem sách ở Thư Viện Quốc Gia. Chúng nó lớ ngớ sợ sệt đến tội nghiệp.

Không, tôi không thể tiếp tục ở nơi nầy khi các con tôi đang lớn dần lên. Chúng cần có môi trường sống khác, qua đó, việc học hành, tài năng có điều kiện phát triển nhiều hơn.

Điều đáng buồn, tôi chưa kịp về Saigon thì đại tướng Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng.

Chiều ngày 30 tháng Tư, tôi lên ghe cùng vợ và các con chạy ra biển. Trên chiếc ghe nhỏ, còn có 4 kỹ sư nhà máy ximăng Hà-Tiên, gồm cả anh Lê Hữu Phước, giám đốc, một ông cựu giám đốc về công tác, và hai ông chánh sở cùng đi với tôi.

Đường ra biển, cách hạm đội 7 không xa? Chưa tới hai giờ ghe chạy, chúng tôi có thể lên tàu Mỹ.

Nhưng! Ở hay đi? Bốn ông kỹ sư nhà máy không ai muốn đi! Quê hương mình, mình ở. Ai nỡ bỏ mà đi! Tôi nghĩ tới mẹ tôi, anh, chị và các em, các cháu, đang tập trung ở Saigon, không có con đường nào để họ có thể rời Việt Nam. Hay là, tôi ở lại vớ mẹ, anh chị em? Tôi mồ côi cha khi còn nhỏ, lớn lên trong cảnh nghèo khó, quây quần bên mẹ, bên anh chị. Qua bao nhiêu năm gian khổ, mẹ tôi đã làm tròn trách nhiệm và tình thương của bà hiền mẫu nuôi con ăn học, nên người.

Công ơn trời cao biển rộng ấy nói sao cho hết? Bây giờ, tôi làm sao bỏ mẹ, bỏ anh chị em và các cháu ở lại Việt Nam mà ra đi một mình.

Đêm đó, neo ghe bên cạnh Hòn Tre, tôi và mấy người bạn làm ở nhà máy ximăng chạy theo tôi trong cơn nguy biến, không ai ngủ được. Sáng hôm sau, tất cả chúng tôi quyết định trở lại với quê hương mình để đóng tiền… đi ở tù.

Có lẽ không có một ai trong chúng tôi hối hận việc mình không thể bỏ lại gia đình và quê hương để ra đi. Đó là tình cảm thiêng liêng và cao quí. Tại sao chúng tôi lại phải hối hận, dù phải gánh chịu sự đày đọa nghiệt ngã của kẻ thù!?

Đầu mùa thu 2008

hoànglonghải

(1)-Theo truyền thuyết thì Nguyễn Vương (tức là vua Gia Long sau nầy) bị Nguyễn Huệ đánh cho nhiều trận thất điên bát đảo, không ít lần chạy về Sadec, Ca-Mâu rồi chạy ra các hòn đảo như Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu… ở trong vịnh Thái Lan và cũng có lần chạy tuốt qua Xiêm La.

Có khi bị đuổi gấp, Nguyễn Vương bỏ lại binh tướng và luôn cả các “mỹ nữ” của ông. Các “mỹ nữ” ở lại Thới Bình, trên ranh giới hai tỉnh Kiên Giang và Cà Mau. Thới Bình là nói chung, bao gồm cả các vùng Tân Bằng, Cán Gáo và cả Cạnh Đền (?).

Thế rồi, hình như nhà vua quên hẳn các người đẹp, sau khi lên ngôi vua. Có lẽ họ đã già chăng? Tính ra, thời gian Nguyễn Vương bị Nguyễn Huệ đánh bại là các năm 1778 đến 1783. Gia Long lên ngôi năm 1802, là khoảng gần 20 năm sau. Khi Nguyễn Vương bỏ các “mỹ nữ” chạy trốn thì các “nường” ấy tuổi dưới 20. Hai mươi năm sau thì các “nường” ấy đã 40 tuổi. Bốn mươi tuổi thì “mỹ nữ” gì nữa. Có phải vì vậy mà Gia Long “đành quên sao” hay sao?

Thới Bình là một xứ có nhiều hậu duệ của cá mỹ nữ ấy. Có điều lạ, hầu hết các cô đều bị bệnh “phung” (phong cùi). Cô nào cũng đẹp, cũng trắng trẻo, nhưng tay áo bao giờ cũng buông dài, để che các ngón tay bị cùi ăn lở.

Vài người bạn tôi, ở Thiết Đoàn 9 Kỵ Binh hay thuộc các đơn vị tiểu khu An Xuyên (Cà Mau), hành quân qua vùng nầy chẳng ai dám đụng đến hậu duệ các “nường”.  Không lý đó là một “biệt lệ” để bảo vệ các “nường” cho vua, mặc dù nhà vua không còn màng gì đến họ nữa!

Xứ Cạnh Đền ở đây, cũng là nơi công Chúa Ngọc Hạnh của Nguyễn Vương nhuốm bệnh nặng mà qua đời. Vùng nầy có quá nhiều đĩa và muỗi. Ca dao có câu:

            Xứ đâu như xú Cạnh Đền

     Muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội lền như bánh canh.

 

Con gái xứ khác không muốn về làm dâu xứ nầy. Cũng vì vậy, lại có câu ca dao:

            Mẹ mong gả thiếp về vườn,
Ăn bông bí rợ dưa hường nấu canh.

Má ơi đừng gả con xa,
Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu?

Thương chồng phải lụy cùng chồng,

            Đắng cay phải chịu, mặn nồng phải theo.

HƯƠNG RỪNG

Sống ở rừng U Minh Hạ từ lâu rồi mà Hoàng Mai hãy còn có cảm giác như lạc loài tận đâu đâu, bước chân đi không vướng đất. Ví nàng như cánh bèo rày đây mai đó thì không đúng lắm: có lẽ nàng như đoá hoa sen, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Nhưng loại hoa sen thông tục quá, lại thường lọt vào tay phàm! Ðằng này, bẩm sinh nàng thuộc về một phẩm chất thanh cao hơn.

– Tằng tổ nhà ta vốn họ Trần, nhờ dày công phò chúa từ Thuận Hoá đến đây nên được cải ra họ Nguyễn, Niên mỗ, ngoạt mỗ, quân Tây Sơn đến mãi tận chốn rừng già này, chúa Nguyễn đành ra khơi tìm nơi cứu viện. Thảm hại thay! Tằng tổ nhà ta tuổi già, nhuốm bịnh không vượt biển hộ giá được, đành cam lỗi đạo quân thần, giả dạng lê dân, nương náu nơi chốn thanh lâm u cốc. Người được phong đến chức ngự y. Gia phổ ghi chép rành rành, nói xứ này, chỉ dòng họ ta là có gia phổ, đó con.

Cha của nàng thường nhắc nhở như vậy.

– Là quan ngự y, cớ sao tằng tổ ta không tự chữa bịnh được. Hẳng là bệnh nan y! thưa cha…

Bao lần nàng ướm hỏi như vậy nhưng không dám. “Thuộc dòng hoàng phái nhưng sao triều đình không chú ý tới mà ban cho chút bổng lộc?”. Ðó là nỗi thắc mắc triền miên của nàng khi thấy cha già chuốt tre đan giỏ mà độ nhựt hoặc ngồi buông cán câu bên bờ trúc, giữa trăm bầy muỗi rừng.

Thỉnh thoảng, cha nàng nói khẽ như thanh minh, tự an ủi:

Hoàng đế đang tức vị thuộc dòng ngụy, do tân trào dựng lên. Giọt máu hùng anh của tiên vương này đã bị lưu đày nơi hải đảo Bòn Bon, bặt tăm nhàn cá. Nhận chức hương giáo trong ban hội tề làng Khánh Lâm sở tại, chẳng qua là cha muốn bưng bít dư luận. Bổng lộc của tân trào, cha nào màng, chỉ nguyện làm bạn bầu với cây cỏ, gió trăng.

Ngày ngày lớn khôn, Hoàng Mai càng yên tâm tin tưởng nơi dòng máu quí phái của mình. Cội hoàng mai cổ thụ trước sân, há chẳng là một bằng cớ? Bao năm rồi, nó vẫn bền gan khoe sắc khi gió Tết thổi về; vùng U Minh này mấy ai biết thưởng thức giống hoa vương giả lạc loài! Bản Nam Bình réo rắt trong ruột cây đàn thập lục chỉ để riêng cho nàng thông cảm đó thôi… Nhưng cơ trời không ai ngờ được, tránh được. Mây đẹp của đỉnh Ngự còn có khi tan, nước yên làng của dòng Hương thường bị gợn những làn sóng nhỏ. Năm ngoái, năm kia, khi vừa quá tuổi trăng tròn, một buổi chợt soi mặt vào lu nước mưa, nàng bắt gặp cái màu trắng trong leo lẻo của dàn da mình. Miệng chúm chím hàm tiếu, nàng vuốt mớ tóc đen huyền; bàn tay ngà đặt trên má đỏ hây háy, mơn man chuyền suối tóc về trên sau lưng gầy. Nhưng… lạ kìa! Hàng chục sợi tóc thi nhau tuôn xuống.

Gió nhẹ thoảng qua; chân tóc lấm tấm đung đưa, vướng bận chưa chịu bay đi như còn than van niềm biệt ly vô cớ. Nàng cau mày trở vào phòng, cầm lược chải kỹ. Nàng toan rú lên. Lược đùa đến đâu là tóc rụng đến đó như lá úa trên cành đến độ gió trở mùa. Nàng e thẹn. Nàng giận dỗi.

Thân phụ nàng – Ông hương giáo – chạy tới. Nàng soi gương, không day lại rồi trả lời về tiếng rú khi nãy:

– Không gì lạ đâu, thưa cha.

Ông hương giáo đã hiểu nguồn cơn. Mớ tóc rối nằm cuộng đống trên bàn khiến ông xúc cảm, không che giấu được cơn buồn. Chiếc gương mờ soi đôi má ửng của Hoàng Mai, màu ửng đỏ lạ thường, không biến đổi dầu khi nàng sợ hãi.

– Từ hồi tấm bé, làn da của Haòng Mai mịn quá, bóng quá. Trăm sự đều do đó mà ra…

Ông thở dài, cũng như ông đã thở dài hồi mấy năm trước, tuy gió bấc về không lạnh lắm nhưng Hoàng Mai đòi đốt lửa để sưởi rồi dẫm chân lên than hồng mà cưòi. Ðêm đến, ông nghe tiếng rên khe khẽ. Ngỡ là con gái nhuốm bịnh, ông đến gọi cửa đôi ba lần. Hoàng Mai nằm đó, tỉnh mà như say, hơi thở hổn hển, đôi mắt úp vào chiếc gối mềm như trốn tránh mấy sợi tơ trăng buông xuống từng hồi, khi gió rạt rào khẽ rung làm hở ra mấy mí lá che trên đầu vách.

Bịnh của nàng, ông doán được, ngặt không muốn nói rõ tên ra: bịnh nan y – bịnh cùi. Ông chỉ khuyên con gái năng đi duốc vì ở rừng này… “phong” nhiều lắm. Quyển gia phổ ngủ từ lâu đời dưới lớp bụi trên bàn thờ được vời xuống. Lật ra kính cẩn dưới ánh nến bạch lạp. Hơn trăm năm qua, kiếng họ Nguyễn chưa ai nhiễm chứng ấy, rõ ràng không phải bịnh di truyền. Ông suy luận:

– Có thể nhà mình đắp nền trên ngôi mộ xưa của ai. Và tự ngày xưa, ai dám, chối rằng khu rừng này không là bãi sa trường mà người thắng kẻ bại đều lẫn lộn trong đống xương Vô Ðịnh đã hóa ra cát bụi:

Trang phụ lục thứ sáu của quyển gia phổ thứ nhứt còn thố lộ vài chi tiết khó hiểu, viết bằng chữ nôm:

“Ðến Ngạc Ngư Ðàm tức Ðầm Sầu, Ao Sấu, hơi sương lạnh buốt, chướng khí xây thành. Khách hỏi: loại Ngạc Ngư (cá sấu), từ đâu lạc vào đầm? Kẻ thổ dân thưa: không ai rõ. Chúng đến đây như án ngữ nẻo đường qua truông quỉ. Nơi ấy, muôn nghìn ma quái như ẩn, như hiện. Lại có loài ong dị thường năng về là ổ; lạo ong này lưng nhuộm ngũ sắc, vượt thiên lý để hái nhụy trăm hoa đem về luyện Ngọc. Người phàm chưa ai đến gần được.

Chúng không sợ khói, hửi nhằm hơi kim khí ở trược là chúng ào ra như giông tố giết cho kỳ được kẻ ngạo mạn. Quan ngư y họ Trần biết được tin ấy bèn sai quân sĩ bày mưu kế hòng cướp ổ ong nọ, đoạt loại Ngọc thiên nhiên hiếm có đem về luyện thuốc trường sinh…”

Tư Lập, tay thanh niên khét tiếng về nghề ăn ong ở xóm Cán Gáo được ông hương giáo mời về nhà, bày rượu thịt thết đãi, đối xử như thượng khách.

Trang gia phổ lại giở ra, đọc nho nhỏ vừa đủ cho Tư Lập nghe. Tư Lập gật đầu.

Trong rừng già này, bên kia Ao Sấu, thỉnh thoảng loài ong ngũ sắc ấy trở về. Ban đầu chú Tư dùng con dao xương nai mà cạo lấy mật nhưng không hiệu quả. Lần sau, chú mài miếng xương người, dẹp như cây dao, theo ý muốn của ông hương giáo. Ngọc ong đã lấy được, đem về. Chú bán tín bán nghi vì thấy “ngọc” chỉ là mớ nhụy bông quế lại thành ké mà loài ong dự trữ bên góc ổ. Từ đấy, ông hương giáo mời Tư Lập ở luôn trong nhà cho có bạn. Ngày đêm, ông chong hàng chục ngọn nến bạch lạp chung quanh mớ “ngọc” để luyện, hy vọng rằng khi đúng một ngàn ngày nó sẽ trị được bịnh nan y của Hoàng Mai. Tư Lập như không chú ý đến điều vô lý đó, cứ ra vào nhìn trộm hình dáng giai nhân rồi nằm trằn trọc… mãi đến một đêm nọ, lúc đứng ngắm thẫn thờ cội mai già trước sân, chú nghe hơi thở nào ấm nồng, nhồn nhột sau gáy:

– Anh Tư ở đây vui chớ? Nãy giờ em không dám hỏi.

Chú nhìn kỹ: không phải là dạng hồ ly tinh trêu cợt, chính là Hoàng Mai cô gái con ông hương giáo mà bấy lâu nay chú trộm nhớ thầm thương.

Nàng nói tiếp:

– Cha của em dặn em gọi bằng anh. và đừng làm gì anh buồn.

Chú hiểu ý. “À té ra bấy lâu nay ông hương giáo thương mình”. Chú đánh bạo tìm bàn tay nàng. Nàng lắc đầu:

– Em hơi mệt, như vậy…

Rồi nàng nâng tay áo lên, thứ tay áo lỏng thỏng quá rộng quá dài:

– Anh nắm cái chéo tay áo này, em cũng đủ vui rồi.

Cảm đông làm sao! Ngạc nhiên làm sao! Một mùi hôi hám từ trong tay áo bay ra. Khi níu cái chéo tay áo của người đẹp. Tư Lập thấy rõ ràng bên trong: ngón tay của nàng rụng mất hồi nào, chỉ có năm cuộn vải nhỏ vấn khéo léo thay thế.

Hôm sau, chú viện cớ ra đi lúc mùa bông tràm nở trắng rực. Chú không thèm làm nghề ăn ong nữa. Hàng trăm tấm kèo bằng cây mun, chú giao lại cho ông hương giáo. Chú về ở long Xuyên. Nhưng hương rừng có ma lực quyến rũ. Lúc mới đến thì vui. Ở lâu lại sanh buồn. Xa cách lâu ngày thì đâm ra nhớ không nguôi, không trở lại thì không được.

Chú lại trở về.

° ° °

Sông Trèm Trẹm bắt nguồn từ xóm Cán Gáo chảy về phía Nam, qua xóm Tân Bằng rồi đổ ra sông Ông Ðốc, hòa mình vào vịnh Xiêm La.

Thằng Kim nóng lòng, không biết Tư Lập muốn dừng lại làm ăn ở khúc nào. Giây lâu, Tư Lập nói:

– Rừng U Minh còn nhiều bí mật! Ðừng lo mà. Tao hứa dẫn mày tới chỗ này vui lắm, đừng sợ chết đói. Có tao.

Xuồng ngừng lại giây lát nghỉ trưa rồi mái dầm lại tiếp tục khoát dòng nước đỏ ngòm, tuy chảy mạnh nhưng tứ bề khuất gió nên không gợn sóng. Ðôi bờ quanh co, hoa lá nghiêng mình lại, gioa đầu, bắt tay nhau che kín bóng mặt trời.

Khách đi đường ngỡ mình lạc lối trong hang, thứ hang thiên nhiên, bất tận. Có tiếng vượn hú. Từ bên này, con vượn bồng con, nắm sợi dây rau câu, lấy trớn đu mình sang nhánh ở bờ bên kia để hái trái rừng. Trái quá chát, vỏ quá dày, vượn nhăn mặt, bực tức ném mạnh. Trái vừng sa vào giữa lưới nhện giăng hờ, lơ lửng. Lưới rung rinh không đứt hẳn; con nhện hoảng hốt, thả sợi tơ dài, sa xuống. Chợt thấy mặt nước, nó toan rút lên. Nhưng trể quá rồi! Con cá bông phóng mỏ theo, táp mạnh. Thằng Kim ngỡ đó là con trăn. Cá lớn bằng cây cột nhà, vảy xanh vảy trắng thêu từng vòng ngời lên khắp thân mình. No mồi, cá lặn sát đáy, lội nhanh. Bầy cá con hối hả di chuyển theo mẹ, hàng trăm con lấm tấm như rắc cườm đầy mặt nước, mất dạng trong bóng mát đằng kia. Bờ sông im lìm, mặt nước thẫn thờ trả lại bóng dáng hiền hòa của cây chồi mọc sát mé bãi; bông vừng buông thõng xuống từng xâu chuỗi hường, chen lấn, nối tiếp nhau như bức mành mành. Nhánh vừng khó cắn, lá vàng rụng mất hẳn. Ðôi đọt non nhú lên, mỏng mịn, chưa nhuốm được màu xanh vì thiếu nắng; ở xa, trông như những cánh bướm khổng lồ đang phập phồng, ngứa ngáy, chưa đậu yên chỗ là đã chớm bay.

– Kim, mày biết nước sông này màu gì không?

– Ở dưới sông, giống như màu máu bầm. Múc lên tay coi thì như nước trà pha đậm.

Tư Lập day lại:

– Hồi xưa, có người nói nó giống như cà phê đen. Ờ… mày uống cà phê lần nào chưa?

– Chưa, chú Tư à.

– Bán thiếu gì, tại chợ Thới Bình. Dân ở chợ là người mới tới mua bán lập nghiệp, họ chưa dám đi sâu vô rừng làm ăn như tụi mình bây giờ. Họ nể nang dân phía này lắm.

– Sao vậy, chú Tư?

– Vì dân này là dân cố cựu, phá sơn lâm, đâm Hà Bá dọn đường cho họ tới sau làm ăn. Con nhà tướng đi mở đường máu mà!

Tư Lập vừa nói vừa vói tay đập sau lưng. Thằng Kim đã hiểu nghĩa mấy tiếng “mở đường máu”. Ba bốn đốm máu đỏ ngời: mấy con muỗi vừa bị đè nhẹp xác.

Nó sực nhớ tới bầy muỗi bu quanh nó từ mấy ngày rày. Ban đầu, nó bực mình, đập giết thẳng tay, phải buông dầm khiến xuồng lủi vô bờ. Mổi lần như vậy, Tư Lập day lại:

– Cứ bơi lẹ, muỗi cắn ít hơn. Ở lầy quầy mình bị cắn nhiều mà không đi tới đâu hết. Xuống xuồng để bơi chứ đâu phải để đập muỗi!

Nghe lời Tư Lập, thằng Kim bấm môi chịu đựng.

Vài tiếng gà gáy văng vẳng, hưởng ứng nhau phá tan bầu không khí tĩnh mịch. Vòm cây lần lần trống trải nắng rớt từng mảng, ngưng đọng không chịu trôi theo dòng nước ngày càng chảy hăng. Bên bờ, nước đổ róc rách theo con lạch nhỏ, vỏ tràm trôi lềnh bềnh trắng. Thằng Kim nôn nức:

– Tới chỗ nghỉ chưa, chú Tư?

– Chưa. Hai voi nữa. Mày nhớ không, hồi sáng tới giờ mới qua có sáu voi.

Hai voi, đường còn xa. Thằng Kim yên lòng vì sẽ đến chỗ nghỉ trước khi trời sụp tối:

– Chú có bà con ở đây hả?

Tư Lập cau mày không trả lời, mở gói thuốc ra vấn hút. Ðó là gói thuốc mà chú hứa tiết kiệm, để dành hút khi tới nơi.

Thằng Kim đoán chừng Tư Lập đang suy nghĩ nhiều. Chú lẩm bẩm:

– Ừ, bà con hay là người dưng, chuyện đó không quan hệ. Nhắc tới tao buồn quá, muốn quày trở lại bây giờ. Nhưng đã tới đây rồi không lẽ lại trở về. Tao không muốn kiếm nhà quen. Ở gần xóm đông thì bất lợi, ở xa quá cũng hại. Mày tin tao. Tao không dại gì trở lại đây mà tìm cái chết… Ờ, mày họ gì? Mấy ngày rày, tao quên hỏi.

– Họ Trương hay họ Trần gì đó, tôi quên rồi. Nghe nói hồi đó ba tôi đổi họ.

– Ối! Họ gì cũng được, miễn tới chừng người ta hỏi thì đừng trả lời lập dập. Nói vậy chớ ai xét hỏi. Tao có quen với vua. Hồi xưa, có người ở xóm này được cải ra họ Nguyễn cho giống với họ vua… Họ nói vậy hay lắm.

Thằng Kim ngơ ngác hỏi:

– Bà con với vua sao lại ở đây?

Tư Lập không trả lời. Chú bơi mạnh, mũi xuồng quẹo vô bờ, phía trái. Vàm mương nhỏ hiện ra. Chú nói:

– Mày nghỉ tay đi. Tới phiên tao rồi…

Ngồi trước mũi, chú bơi phía mặt vài dầm rồi trở lẹ qua bên trái, bơi vài dầm. Xuồng lướt tới ồ ồ. Gặp dây, gặp nhánh cây cản mũi, chú bứt, bẻ rôm rốp. Gặp nước cạn, chú đứng mà chồng hoặc quì trên sạp xuồng, ngả mình tới lấy trớn. Thằng Kim vui sướng quá. Lúc này nó khỏe tay, dầu muốn tiếp sức với Tư Lập cũng không được. Mũi xuồng quá nhỏ, nào đủ chỗ để hai người cùng ngồi ngang nhau. Hơn nữa, bơi xuồng theo lối mới này nó chưa quen. Mặt trời sụp xuống thấp, rọi thẳng từ trước mặt. Con rạch quá nhỏ, uốn ngoằn ngoèo như ruột ngựa nối liền qua những lung, bào, tròn tròn méo méo như hình mấy cái bao tử, gan, lá lách… Sậy mọc khỏi đầu.

Hương rừng ngào ngạt, mùi hương xa lạ nhưng rất quen thuộc. Thằng Kim hít mạnh để hửi cho kỹ, để nhớ cho rõ nhưng nhớ mãi không ra. Chợt ngẩng đầu lên, nó trố mắt. Rừng cơ hồ không còn chiếc lá nào cả! Trên hàng vạn nhánh nhỏ, bàn tay thần nào rắc lấm tấm hằng hà sa số đợt bông gòn, không phải riêng trước mặt mà khắp các tứ phía. Rừng sáng lạn, ai dám nói là rừng âm u? Bông kết oằn sai, mịn màng, trắng tuyết; đài, cánh đâu không thấy chỉ thấy toàn là nhụy ngọt.

Nó buột miệng:

– Rừng cây gì vậy? Chú Tư.

Tư Lập day lại cười vang:

– Thằng quỉ! Hửi mà không biết mùi mật ong sao? Tràm chớ giống gì! Muôn ngàn hũ mật ong của trời ban xuống cho trần gian còn treo lủng lẳng như mù sương trên nửa lừng đó. Hửi vô thì say. Say thì không tỉnh được. Có người toan dùng nó mà luyện thuốc trường sinh, từ trăm năm nay…

° ° °

Tư Lập ngâm mình dưới bưng nãy giờ khá lâu rồi. Nước dâng lên nửa ngục. Hai tay chú quậy dưới bùn, chân bò tới lui, bọt nước sôi ùng ục. Chú rút lên một cây búa to tướng, nói huyên thiên:

– Nó còn nguyên, mới tinh. Bộ trái đấy xoay tròn sao mà! Hồi năm ngoái tao nhớ rõ ràng, nhận ở gần gốc cây tràm bên kia. Bây giờ nó chạy qua bên này. Ðể tao rửa sạch cho mày coi. Cam đoan không có một bợn sét, khuất dưới lớp bùn non, mưa nắng không sao thấu tới. Sét ăn hư hõng là khi nào mình giữ không kín. Lòng người cũng vậy… Mày chưa hiểu hả?

Thằng Kim thật tình không hiểu câu nói lắc léo của Tư Lập. Nó không cần tìm hiểu. Cây búa khiến nó ngạc nhiên hơn: cán dài cỡ năm tấc, lưỡi cao hơn hai tấc, bề ngang lưỡi búa trên một tấc rưỡi, lớn như mấy cây búa thần mà các ông tướng hát bội thường vác ra khi đánh trận.

– Cầm thử coi nặng không? Tay anh hùng mới cử nó được. Tạo ra lúa gạo, xuồng, chèo là nhờ nó. Nên nhà nên cửa, nên đất nên vườn, nên chồng nên vợ, xưng hùng xưng bá cũng nhờ nó.

Tư Lập nói tiếp:

– Ðói bụng chưa?

– Hơi đói. Nãy giờ tôi lưỡng lự; gạo còn chừng hai nắm, không lẽ nấu cháo. Hay là mình kiếm nhà nào mượn đỡ.

– Mượn gạo mà ăn, xưa quá! Ở xứ này, tao không muốn gặp mặt ai hết. Con người ta chết… không phải vì thiếu gạo. Tới lớn, mày hiểu câu nói đó. Bây giờ đi với tao tìm nhà quen, bảnh thì mày đi trước một lần coi!

Nói vậy chớ tư Lập bước trước, đạp lên choại, lên dớn nghe sột soạt. Thay vì đi thẳng lại phía rừng tràm trắng tih, thơm ngào ngạt, Tư Lập quẹo trở về phía rừng thấp lè tè, cây cối mọc so le hỗn loạn. Bùn non ngập mắt cá. Muỗi bay lợn cợn, vướng vít dưới chân cây còn u tối. Tư Lập khuyên nhủ:

– Ráng chịu cực vậy! “Lô” rừng tràm đằng kia là của người ta. Rừng chồi phía này mới là của mình. Vắng hai năm nay, tao ngán rồi, không muốn nhớ lại cái mùi nhụy tràm.

– Sao vậy?

– Ðừng hỏi nữa. Tao muốn lánh mặt người quen. Mai chiều, có lẽ mình qua nơi khác. Gió thổi hiu hiu, buồn quá.

Tư Lập thẫn thờ đôi mắt rồi bỗng nhiên khoát tay, ra dấu im lặng. Chú ngồi nép xuống. Thằng Kim cũng bắt chước, cúi đầu, ái ngại. Tư Lập cầm tay nó mà nói khẽ:

– Ðừng động đậy, thở nhè nhẹ. Nó kìa…

Thằng Kim ngớ ngẩn, liên tưởng đến thứ tai nạn khủng khiếp:

– Co… ọp hả?

– Nói bậy xui xẻo! Ong mật.

Và nó định thần khi Tư Lập nói rõ thêm:

– Ong mật… đi ăn bông. Bay rề qua rề lại, thấy chưa, thấp chủn trên đọt sậy kìa.

Thằng Kim mừng rỡ:

– Ngộ quá! Ổ nó ở đây đây, hả chú. Làm sao kiếm được? Ý! Nó lớn bằng hai con ruồi.

Om sòm cái miệng! Về chống xuồng lại đây mau, tao chờ! Nhớ cái hộp quẹt máy. Thằng Kim hối hả làm y lời. Trở lại chỗ cũ, nó chợt nghe tiếng “hì” ở phía rừng tràm. Té ra nãy giờ Tư Lập lội tắt qua mương đi lại đằng ấy.

Chú vội ngồi lên xuồng, chụp cây dầm, hờm sẵn:

– Bậy quá! Nó “đi bông” tới đây rồi mất dạng. Chờ một hồi nữa coi.

– Ði bông là gì? Chú Tư.

– Là đi hút nhụy bông… kìa mê quá!

° ° °

Một con ong rồi hai con ong bay qua sát ngọn cỏ, lưng ngời những rằn xanh đỏ, hai chân sau quặp lại kẹp hai đốm vàng sậm mà thằng Kim đoán là nhụy bông. Ong vừa qua khỏi chừng mươi thước. Tư Lập hối hả bơi xuồng theo. Nhưng hai con ong nọ lại đáp xuống, mất dạng. Chú nói:

– Ðây là trạm thứ nhì của tụi nó. Rán chờ chút nữa. Chém chết tao cũng ăn được ổ này.

Sau đôi ba lần theo dõi rồi dừng lại như vậy, Tư Lập bỗng cười vang, múa men tay chưn như đứa trẻ thấy kẹo. Hàng trăm con ong bay chập chờn trước mặt, đáp xuống, vọt lên cao, không dời chỗ. Chú ngóng xem hướng gió trên ngọn cây, ra lịnh cho thằng Kim đứng im rồi chú đi khuất, chập sau mang về một nắm rễ cây gừa.

Hộp quẹt bật lửa lên. Nắm rễ gừa ngún cháy, khói bay đều.

Chú nói nhỏ:

– Ði theo tao, đừng chạy bất tử nghe!

Chú phồng má thổi mạnh, khói tung bay mịt mù chưa tan là chú thổi thêm lần nữa, chân bước nhanh tới. Hiển hiện sau lớp khói mỏng kia, vật gì lạ thường như một trái cây khổng lổ, lớn bằng cái nia, đen ngòm rực rỡ như nạm muôn ngàn hột thủy tinh chấp chóa…

Thằng Kim há miệng:

– Ổ ong hả? Ong đâu hết rồi?

– Cả triệu con kết lại, nằm sắp lớp đen ngời, chớp cánh lia lịa đó, không thấy sao! Ổ ở bên trong. Lên xuồng đi. Rủi bề gì tao với mày thối lui, lặn dưới mương, úp chiếc xuồng này lại mà che…

Tư Lập cầm nhánh cây khô gạt mạnh vào ổ; ong rớt xuống cỏ từng mảng, lần lần tan ra. Ổ ong khoe mày trắng tinh như sáp, treo trên khúc cây gác nghiêng; cây kèo.

Chú quát:

– Chống xuồng lại. Tao với mày khiêng nguyên ổ xuống. Dầu sao mình cũng mang tiếng ăn cắp của thiên hạ rồi.

Ðặt dưới xuồng, ổ ong nứt ra, mật vàng tươi chảy đọng vũng. Tư Lập chụp cây dầm, bơi trối chết, lướt qua sậy, qua năn. Thằng Kim cúi đầu sát ván, nhắm mắt, e nhánh hai bên quật nhằm. Nó cười tươi khi thấy mái chòi hoang hiện ra trước mặt, Tư Lập trao cây dầm cho nó thò tay xé tàn ong:

– Trời ơi! Tao hại tao! Tao ăn cắp… của tao.

– Chú nói gì?

– Miếng kèo bằng cây nhum. Hồi năm ngoái tao gởi nó lại cho người quen. Chữ “điền” tao khắc làm dấy rành rành.

Cây rừng chuyển răng rắc. Ðâu đây có tiếng chưởi thề ỏm tỏi, xen vào tiếng dầm khuấy nước. Tư Lập cau mày.

– Họ đi theo dấu bắt tụi mình. Không khéo lại xảy ra đâm chém, uổng mạng. Nhiều khi họ mạo nhận là của họ để hăm dọa mình. Lát nữa, mày đứng yếu bóng vía… Cứ cãi lại cho tao.

Thằng Kim giựt mình:

– Chú đi đâu? Một mình tôi không dám…

– Tao núp sau hè. Họ tới kìa! Cầm búa lên! Ðụng độ thì tao ra ăn thua.

Nhanh như chớp, Tư Lập bước lui, ngồi khuất sau bụi mật cật. Thằng Kim nhìn trước mặt. Hàng cây rung rinh, rẽ ra. Một người vạm vỡ cầm búa, bước tới:

– Khôn thì chịu tội. Thằng kia, mày ở xóm nào tới?

Thằng Kim cố giữ sắc trầm tĩnh:

– Tôi ở đây, mần ăn…

– Ăn cắp chớ mần ăn? Tao theo dấu tụi bây nãy giờ. Công trình mấy tháng nay toa tạo sẵn để mày hưởng! Ðã ăn cắp mà lại còn gỡ luôn tấm kèo, chẳng khác nào ăn trộm rồi đốt luôn nhà của tài gia.

– Tôi không biết gì hết…

– Chém chết mẹ chớ không biết!

Lưỡi búa của khách hươi lên. Thằng Kim cũng nâng cây búa một cách vụng về. Khách nhìn nó, ngạc nhiên rồi nhìn cây búa:

– Mày ăn trộm búa nữa hả? Ráng mà đỡ. Nè!

Hoảng hốt, Tư Lập nhảy ra, nắm cườm tay người khách lạ:

– Tao ở nhà ông hương giáo hồi xưa đây mà. Chú mày đến sau nên không biết rõ tao là ai.

Khách trố mắt:

– Trời! Cậu Tư. Về hồi nào! Trời… nãy giờ thấy cây búa, tôi hồ nghi là của cậu. Sao không lại thăm cô Hoàng Mai?

Tư Lập vuốt mồ hôi trán:

– Thôi! Về đi. Nhắn với ông hương giáo rằng tối nay tao tới.

Khách nói:

– Buồn lắm! Cô Hoàng Mai yếu nhiều.

Tư Lập thở dài:

– Vậy hả? Ðừng nói nữa. Về trước đi.

Khách rút lui. Tư Lập nói ngậm ngùi:

– Trốn mà không khỏi. Trốn Tây ta là chuyện dễ; trốn người quen là chuyện khó hơn. Ta ăn cắp ổ ong khi nãy mà chi? Nghề ăn ong có nghiệp chướng… Ðâyu là ổ ong cuối cùng của tao trong nghề…

Thằng Kim hỏi:

– Sao vậy? Ai đau nhiều vậy chú? Cô Hoàng Mai là người bà con…

– Bà con không phải bà con. Người dưng không phải người dưng. Tối nay mày thay mặt tao, lại đó mà thăm ông hương giáo. Phần tao, tao phải xa rừng này. Ở lại đây, mày có dịp học khôn. Ðừng buồn. Ðể tao nói lại đầu đuôi sự tích, hồi năm trước…

° ° °

Nghe xong thằng Kim đi từng bước chẫm rãi đến nhà ông hương giáo. Câu chuyện tình của Tư Lập hãy còn lâng lâng trong trí nó. Gió chiều nhẹ thổi. Mùi bông tràm ngào ngạt. Nó nhìn từng gốc cây, lắng nghe từng tiếng lá trở mình mà khoang khoái trong lòng. Rừng U Minh này đối với nó cơ hồ không là còn gì bí mật khó hiểu nữa.

Ðến nhà ông hương giáo, nó được thết đãi cơm nước tử tế. Ông hương giáo không nói chuyện nhiều. Nó nói dối rằng… chừng lát nữa Tư Lập sẽ đến. Nhưng Tư Lập có đến đâu! Ðêm đó, nó được nằm ngủ trên ván gõ, trải chiếu bông, giăng mùng rộng rãi. Nửa đêm, nó chợt tỉnh vì ánh đèn chói mắt.

Ông hương giáo nói:

– Chú em thức hả? Kìa! Trên bàn thờ, từ bao năm rồi, tôi luyện “ngọc ong” để trị bịnh. Bịnh gì, chắc Tư Lập nói sơ cho chú em hiểu rồi. Tôi buồn quá. Tư Lập không trở lại nhà này nữa đâu. Chú em cứ nói thiệt. Phải vậy không?

Thằng Kim nói:

– Dạ cháu không biết. Chú Tư không nói rõ…

– Ta hiểu lắm. Dầu sao, trở về lần này, Tư Lập cũng đã tỏ ra có nghĩa! Ai nỡ câu thúc chí trai của mình trong một xó để đổi lấy chữ nhàn? Ai nỡ bỏ cái danh dự để mua chuộc một chức tước quí phái huyền hão. Từ xưa, tằng tổ của ta cũng vì khí khái ấy mà phò Chúa, xiêu lạc đến đây! Bây giờ ta yếu lắm rồi. Dầu muốn bắt chước Tư Lập, ta cũng không còn đủ sức lực mà bắt chước. Gia thế của ta, thiên hạ đã rõ. Câu thúc Tư Lập ở mãi tại đây chăng? Ta chỉ là người hương giáo, quyền hạn gì? Ừ! Tôi là tôi cho Hoàng Mai. Năm nay, nó ngồi một chỗ, không còn đủ sức mà ra thăm cội hoàng mai trước ngõ như hồi Tư Lập biết.

Sáng hôm sau, thằng Kim từ giã ông hương giáo rồi đến ngồi bên mé rạch. Bông vừng tươi thắm, cây cối hai bên bờ giao đầu lại, mát mẻ. Nó chờ đón bất cứ xuồng ghe ai, đi về đâu cũng được, để quá giang. Sau lưng nó, trên thềm nhà, trong bóng mát, hình dáng của Hoàng Mai với đôi mắt và mớ tóc trùm kín trong chiếc khăn. Chiếc tay áo của nàng lòng thòng che khuất mấy ngón tay, từ từ nâng lên như tiễn đưa một hình bóng…

(Trích “Hương Rừng Cà Mau” của Sơn Nam)

(2) Tháng 9 – 1868 giặc Pháp và bọn Huỳnh Công Tấn biết tin, đem quân tấn công chiến khu Cửa Cạn, đồng thời sai người tìm bắt Mẹ ông để làm áp lực. Ông vì chữ hiếu, và cũng để bảo toàn lực lượng cùng thường dân trên đảo, Nguyễn Trung Trực đã tự nạp mình!! (Có chỗ cho rằng Mẹ của Ông rất phiền lòng v/v Nuyễn Trung Trực tự nạp mình cho giặc để cứu Mẹ, giống như Mẹ của Từ Thứ trong Tam Quốc Chí). Ông bị xử chém tại Rạch Giá.

(3)-Thạch Hào Lại

(Đỗ Phủ – Khương Hữu Dụng dịch)

Chiều ghé xóm Thạch Hào,
Quan bắt người nửa đêm.
Ông già vượt tường trốn,
Bà già ra cửa nhìn.
Viên lại quát đà dữ!
Bà già van đà khổ!
Van rằng: “Có ba trai
Thành Nghiệp đều đi thú.
Một đứa gửi thư nhắn,
Hai đứa vừa chết trận.
Đứa chết đành thôi rồi,
Đứa còn đâu chắc chắn!
Trong nhà không còn ai,
Có cháu đang bú thôi.
Mẹ cháu chưa rời cháu,
Ra vào quần tả tơi.
Tuy sức yếu già đây,
Xin theo ngài đêm nay,
Đến Hà Dương còn kịp,
Thổi cơm hầu buổi mai.”
Đêm khuya lời đã tắt,
Dường nghe khóc ấm ức.
Sáng ra chào lên đường,
Chỉ cùng ông lão biệt.

hoànglonghải - Hương Tràm Trà Tiên