Năm Cam - canh bạc cuối cùng! - Thanh Trì
 21 Tháng 12 năm 2012. Ngày Tận Thế (?) - Nhất Hướng
 Tuổi ấu thơ - Lê Trung Cang
 Giấc ngủ trưa Hè - Lê Trung Cang
 Dị Ứng - Lê Trung Cang
 Diêm-vương, Ngài là ai ? - Lê Trung Cang
 Người phỉ báng Phật - Lê Trung Cang
 Mẹ và Chị - Lê Trung Cang
 Chị tôi - Lê Trung Cang
 Nội - Lê Trung Cang
 Quyền làm chủ - Lê Trung Cang
 Ba Anh Em - Lê Trung Cang
 Diêm Vương luận án - Lê Trung Cang
 Xin cho tôi thêm một đóa Hoa Hồng - Lê Trung Cang
 Thuyền Bát-Nhả - Lê Trung Cang




VanTuyen.net_______
Tac pham: 982
Trang: 2185
Tac gia: 380



Âm nhạc Bút ký Biên khảo Chuyện phiếm English Française Học làm người Hồi ký Huyền bí Kịch bản Kiếm hiệp Nhận định Pháp luật Phê bình Phỏng vấn Phiếm luận Quê hương Sức khoẻ Song ngữ Tài liệu Tùy bút Tạp ghi Tạp luận Tạp văn Tản mạn Tản văn Tập truyện Tự truyện Thương tiếc Tiểu sử Trang VĂN NGHỆ Triết học Truyện dài Truyện dịch Truyện ngắn Truyện vui Điểm nóng


vantuyen.net xin giới thiệu đến bạn đọc: MẢNH ĐỜI CÒN LẠI
Thể loại: Truyện ngắn
Tác giả: thụyvi

Thông báo: Những bài vở mới sẽ được đăng trên VĂN TUYỂN 2 và những bài đăng tiếp tục vẫn đăng trên VĂN TUYỂN 1.

 

Xin cho tôi thêm một đóa Hoa Hồng

» Tác giả: Lê Trung Cang
» Dịch giả:
» Thể lọai: Truyện ngắn
» Số lần xem: 8595

1. Xin cho tôi thêm một đóa Hoa Hồng

          Hôm ấy là một buổi sáng Chúa Nhật đẹp trời. Tôi dậy thật sớm, trong khi mọi người còn đang an giấc. Tôi lặng lẻ xuống phòng xem Tivi phía dưới nhà để xem tin tức, rồi một đoạn phim video. Mãi đến gần hai giờ sau mọi người mới thức dậy.


          Vì đã từ lâu không đi Chùa nên tôi ngỏ lời rủ vợ tôi đến Chùa lể Phật.


          Sau hơn một giờ lái xe, chúng tôi đến nơi. Nhìn thấy tấm biểu ngử giăng trước mái hiên Chùa, tôi mới sực nhận ra: hôm nay là ngày Lể Vu Lan.


          Khi bước đến ngỏ vào, bên hông Chùa, tôi gặp lại một ít bạn bè thân đã từ lâu không gặp. Sau vài lời thăm hỏi và cười đùa với nhau, chúng tôi bước vào phòng khách phía trước chánh điện.


          Vừa đặt chân vào phía bên trong thì có hai cháu phật tử, mặc áo dài tay cầm rổ nhỏ đựng hoa, bước đến hỏi một cách dịu dàng và lể phép.


_   “ Thưa Bác, Bác còn Mẹ ? “


          Tôi khẻ mĩm cười và gật đầu thay cho câu trả lời. Rồi tôi được cài một chiếc hoa Hồng màu đỏ trên túi áo trái. Nhìn sang, tôi thấy vợ tôi đang nhận một hoa Hồng màu trắng.


          Khi chiếc hoa vừa được cài xong trên áo thì vợ tôi bổng bật khóc. Tiếng khóc đã làm cho cháu gái, vừa cài chiếc hoa Hồng, ngạc nhiên và có phần bối rối. Vài người có mặt trong phòng khách cũng thoáng lộ vẻ ngạc nhiên và như đang tự hỏi: “ không hiểu vì lý do nào vợ tôi lại có thể xúc động mãnh liệt đến như thế khi nhận được chiếc hoa Hồng màu trắng ? ”


          Tôi thực sự hiểu rỏ lý do và sống trọn vẹn được với những cảm xúc mà vợ tôi đang có ấy.


......


          Khoảng chừng hơn hai tháng trước đó, Mẹ vợ của tôi vừa mới qua đời một cách đột ngột tại Viêt Nam. Vì đang ở trong giai đoạn mà hai quốc gia chưa thiết lập lại được một mối quan hệ ngoại giao nào, nên không ai có thể đặt chân về đến Việt nam được dù với bất cứ một lý do gì. Mọi liên lạc qua lại giữa thân nhân ở hai bên chỉ trông cậy vào đường thư tín. Đó là một thực tại chua xót phải đành chấp nhận.


          Mất Mẹ là một bất hạnh vô cùng to lớn và là nổi buồn thấm thía nhất của một đời người. Đã vậy, mất Mẹ qua một cơn bạo bệnh bất ngờ, ngắn ngủi; ngăn cách bởi một đại dương ngàn trùng xa thẳm, để không có được một ngày chăm sóc, một lời thăm hỏi, không được nhìn mặt Mẹ một lần cuối, không thắp được một nén hương trước linh cửu, không được tiển chân Mẹ đến nơi an nghỉ cuối cùng thì còn gì đau đớn và xót xa cho bằng. Vì vậy, khi nhận được chiếc hoa Hồng màu trắng tượng trưng cho lời nhắc nhở: Anh hay Chị đã thực sự mất Mẹ, xin chia buồn cùng Anh Chị, nhằm gây được sự tỉnh thức: còn có Mẹ là một diễm phúc to lớn tột cùng, vợ tôi đã không thể dằn được xúc động cho sự mất mát quá to lớn của chính mình.


........


          Sau khi cố nén xúc động, vợ tôi đã bước xuống tầng dưới của Chùa, nơi các phật tử đang tề tựu để chờ giờ hành lể trên chánh điện. Vợ tôi đã đến gặp và ngồi chuyện trò với vài người bạn thân đang có mặt. Thấy vậy, tôi vội bước lên tầng trên và đi ra ngoài, nơi bải đậu xe bên kia đường.


          Mở cửa xe, tôi bước vào ngồi trước tay lái. Tôi tháo chiếc hoa Hồng màu đỏ cài trên túi áo và đặt trên dashboard trước mặt. Tôi ngồi yên lặng một lúc khá lâu, đầu óc mông lung, trống trải với nhiều cảm xúc bồi hồi, lắng đọng. Do sự nung đốt của những cảm giác bâng khuâng, trí tôi lại lao vào vùng ký ức để lục ra dần những hình ảnh của một thời đã quá xa xôi chìm trong dĩ vãng....


......


Ngày tôi thành hôn với vợ tôi, Mẹ vợ tôi tuổi còn trẻ lắm, trẻ hơn tuổi của chúng tôi hiện nay, nhưng lại rất đầm thắm và chửng chạc.


          Là Mẹ của hơn 10 người con trong gia đình mà Cha vợ tôi chỉ làm đủ tiền để sống, chớ không dư giả chi cho lắm, Mẹ vợ tôi phải là người thật đảm đang mới quán xuyến nổi mọi việc trong nhà.


          Là người rể đầu tiên trong gia đình nên tôi sống thật gần gũi và trọn vẹn với cha mẹ, các em và họ hàng bên vợ. Mẹ vợ tôi lúc nào cũng vui vẻ, dịu dàng đối với tôi như một người thân yêu trong gia đình, không cách biệt, giữ gìn như đối với một con rể là người ngoài gia đình; mà cũng không khó khăn, nghiêm túc như đối với những người con khác trong gia đình. Đó quả là một nét đặc thù khó tìm thấy. Điều ấy đã tạo trong tôi những tình cảm kính yêu, thương mến.


          Ngoài xã hội, trong khi giao tiếp với những bạn bè thân thích ở những buổi tiệc tùng hay lể lạc, Mẹ vợ tôi lúc nào cũng vui vẻ, nhũn nhặn trong những lời thăm hỏi, chuyện trò; không bao giờ có lời lẻ nào mang tính cách ganh tị, soi bói, châm biếm hay sân si để có thể làm buồn người, dù là vô ý.


          Gần hai năm sau khi kết hôn, chúng tôi có được đứa con đầu lòng. Sau khi vợ tôi sanh nở và một ngày trước khi vợ tôi từ bảo sanh viện trở về nhà, Mẹ vợ  tôi đã xuống thăm Mẹ tôi và ngỏ ý:


“ ... Ngày mai, dâu và cháu nội của Chị sẽ trở về nhà. Tôi hiểu rỏ: Chị lúc nào cũng có đủ tình thương và phương tiện để chăm sóc cho con và cháu thật chu toàn, không thiếu thứ gì cần có. Mặc dù, con “nó” cũng hiểu rỏ tình thương ấy của Chị, tuy nhiên đôi lúc cũng có đôi điều không tiện ngỏ lời thẳng với Chị hay với bất cứ ai trong gia đình, vì sợ làm Chị bận tâm. Do đó, tôi xin Chị cho phép tôi được đưa con và cháu về nhà tôi để được nuôi nấng và chăm sóc cho đến khi cứng cát trở lại, chừng ấy tôi xin được mang con và cháu trả lại cho Chị và gia đình. Con “nó” cũng có cùng ý định, nhưng lại không dám “thưa” cùng Chị. Vì vậy, tôi xin Chị nhận lời và cho phép.”


          Trước lời nói thật tình và khéo léo ấy, Mẹ tôi đã phải nhận lời. Thế là vợ và con tôi đã được đưa về nhà Ngoại.


          Trong suốt khoảng thời gian ở nhà Ngoại, vợ tôi lại có dịp sống chung với Mẹ, với Cha và với các em dưới cùng một mái nhà y như nhũng ngày xưa cũ, trước khi bước lên xe hoa về nhà chồng.


          Hằng ngày, Mẹ vợ tôi lo cơm nước và chăm sóc mọi thứ; cách vài hôm lại giặt quần áo và tả cho em bé. Thấy vậy, các cô em vợ tôi đã xin được giặt thế cho Mẹ, nhưng Mẹ vợ tôi lại không đồng ý. Sau khi xin vài lần mà không được chấp thuận, các em đã không dám hỏi nửa.


          Khoảng vài ngày sau, trong một lần tiện dịp ngồi chung với đầy đủ các con, Mẹ vợ tôi mới thong thả nói:


          _ “ Các con có hiểu vì sao Mẹ đã không để cho các con giặt giủ cho chị và em bé không ? “


          Sau một lúc không nhận được một câu trả lời nào, Mẹ vợ tôi mới bắt đầu giải thích:


          _ “ Măïc dầu Mẹ biết rằng: các con vẫn thương Mẹ và thương Chị, nên muốn chăm sóc cho Chị và không muốn Mẹ phải cực nhọc trong khi giặt giủ quần áo như thế. Nhưng, Mẹ vẫn không thể để các con làm việc ấy là vì: hôm nay các con giặt quần áo cho Chị lúc Chị yếu sau khi sinh nở, đó là điều tốt, đáng quý. Nhưng mai kia, mốt nọ, sau khi các con lấy chồng rồi sinh nở như Chị các con ngày hôm nay. Chừng ấy đôi khi, vì đơn chiếc, các con cần người giặt quần áo hộ, thì Chị lại không có đấy để giúp lại cho các con. Mẹ tin là các con sẽ không trách cứ điều gì, nhưng có thể sẽ không khỏi thoáng buồn. Như vậy, thà cứ để Mẹ giặt giủ cho Chị, rồi cho các con sau nầy thì mọi sự sẽ được ổn thỏa và tốt đẹp. Vì là Mẹ, Mẹ chẳng bao giờ trách cứ và buồn phiền các con, dù chỉ trong một chốc thoáng qua. Các con có hiểu như vậy không ? “


          Theo ngày tháng dần qua, tôi lại có dịp gần gủi và hiểu biết thêm về Mẹ vợ tôi với thật nhiều thương yêu và quý mến.


......


          Mẹ vợ tôi đi lấy chồng khi tuổi còn rất trẻ. Sau ngày cưới, Mẹ vợ tôi về ở với đại gia đình bên chồng tại một vùng ngoại ô thành phố.


          Ngoài Bà Nội của vợ tôi, hai bà Dì, em ruột của Bà Nội, còn có gia đình của mấy người em chồng sống trong một ngôi nhà có chung một vách với nhau trong cùng một mảnh vườn thuộc của hương hỏa. Đó là hình ảnh của những gia đình trong tiểu thuyết của thời xa xưa, mặc dù sự cổ hủ qua lối đối xử có nhiều thay đổi tiến bộ hơn theo đà tiến của xã hội.


          Lẻ ra, Mẹ vợ tôi phải làm dâu với người mẹ chồng là Bà Nội. Đàng nầy, vì có hai bà Dì ở chung mà Bà Nội lại là người rất hiền lành, nên Mẹ vợ tôi phải xoay ra làm dâu cho hai Bà Dì theo lề lối của những thế hệ trước đây; không ít thì nhiều cũng mang tính chất phong kiến, hẹp hòi dù không quá gay gắt của những thời nằm trong “chuyện xư, tích cũ”.


          Hằng ngày, Mẹ vợ tôi phải dậy thật sớm và cứ như thế mà làm mọi công việc vặt vạnh trong nhà từ trong bếp đến ngoài vườn, từ nhà trước đến nhà sau, mãi đến lúc trời tối. Đó là những công việc làm mà không ai trong nhà ngỏ lời bó buộc, nhưng lại trở thành một bổn phận hằng ngày. Đây là một quy luật ngấm ngầm không được viết thành văn bản của xã hội cũ, dành cho những người làm dâu.


          Mẹ vợ tôi đã làm tròn bổn phận không một lời than phiền. Ngược lại, cũng chẳng có lời quở trách nặng nề nào đến từ hai bà Dì hay từ ai khác trong gia đình.


          Một hôm, Ngoại của vợ tôi đến thăm gia đình bên chồng của con đồng thời cũng để thăm con sau thời gian dài xa cách từ sau lể cưới.


          Hôm ấy, khi thấy Mẹ đến thăm, Mẹ vợ tôi đã thay quần áo và chải gở tươm tất, khác hẳn với mọi ngày trước đó, phải làm lụng lam lủ từ ban sáng.


          Sau khi ra chào Mẹ và thăm hỏi gia đình, Mẹ vợ tôi đã lui vào nhà sau để lo trà nước, trầu cau ... cho Mẹ và Mẹ chồng, rồi sau đó lại phụ việc bếp núc để lo buổi cơm trưa.


          Ngoại vợ tôi đã ở lại chơi đến gần xế chiều mới ra về. Sau khi Ngoại về, Mẹ vợ tôi đã đến gặp hai Bà Dì để ngỏ lời tạ lỗi. Mẹ vợ tôi đã thưa:


          _ “ Sáng nay, con đã không làm công việc nhà trọn vẹn như mọi hôm vì có Mẹ con đến chơi. Xin hai Dì tha lỗi cho con. Con chỉ muốn cho Mẹ con được nhìn thấy và an tâm cho những ngày con chung sống ở đây với Má và hai Dì.


          Vì con biết Mẹ con đang ở vào tuổi già nên thường hay nghĩ ngợi và lo lắng về nếp sống của các con, cho nên con phải làm như vậy mà thôi. Kể từ hôm nay, khi trở lại nhà, Mẹ con sẽ luôn luôn có cảm nghĩ tốt và sẽ không bận tâm lo nghĩ thêm ... Điều đó cũng đủ làm cho con được thấy an vui rồi. Con cám ơn hai Dì đã không quở trách con ”.


          Trước lời nói nhiều khôn khéo đó, hai bà Dì hẳn đã đẹp lòng.


......


          Rồi chúng tôi có thêm đứa con thứ hai. Lại một lần nửa, Mẹ vợ tôi đưa vợ và con tôi về nhà chăm sóc như đã làm trong lần trước. Các con tôi lớn dần lên trong tình thương yêu nhiều chăm sóc của Ngoại.


          Mặc dù, tôi chưa hề nghĩ: bên gia đình của tôi, tức bên Nội của các con tôi, không thương cháu nội nhiều, nhưng tôi phải nói rằng: hình như có tiềm tàng đâu đây một thứ truyền thống nào đó đã ăn sâu vào huyết quản của từng gia đình Việt Nam từ muôn ngàn đời, khó thể giải thích được bằng lý luận, minh chứng bằng dữ kiện là bên Ngoại luôn luôn biểu lộ tình thương đối với các cháu nhiều hơn bên Nội.


          Có lẻ Ông Bà ngày xưa cũng đã thấy được điều đó qua những kinh nghiệm lâu đời nên vẫn thường nói:


“ Bên Ngoại thương dại, thương dột; bên Nội không vội gì thương ”, “Tấn về Nội, thối về Ngoại ”  hoặc “ Cháu bà Nội, tội bà Ngoại ” …


Và có lẻ cũng vì lẻ đó mà trong những tác phẩm tiểu thuyết hay những bài thơ, các tác giả luôn luôn nói nhiều đến “ Quê Ngoại ” hoặc nhắc đến Ngoại, chớ ít ai lại nói đến “ Nội ” hay “ Quê Nội ”.


......


          Tiếp đến, biến cố 75 đã diển ra với nhiều biến đổi. Khoảng 3 năm sau, tôi quyết định vượt biển rời Việt Nam. Mọi việc được âm thầm sắp xếp. Sau đó, khoảng chừng nửa năm, chúng tôi được báo phải rời Saigon xuống tạm trú tại một tỉnh ở miền Tây để chờ ngày xuống thuyền.


          Đến ngày đi, chúng tôi đã đến nhà từ giả Cha Mẹ vợ tôi và các em. Riêng Mẹ ruột của tôi thì sẽ đưa chúng tôi đến tận nơi và chờ cho đến khi mọi việc xong xuôi mới trở lại Saigon.


          Trong lúc chúng tôi chào từ giả, cha vợ tôi đã không cầm được nước mắt. Riêng Mẹ vợ tôi thì vẻ mặt rất buồn, nhưng ráng giử bình thản như để cố tránh nhiều xúc động cho kẻ ở, người đi.


......


          Sau khi đặt chân đến Mỹ, bắt đầu lại mọi việc để ổn định cuộc sống, vợ tôi cũng như tôi lúc nào cũng mong ước một ngày về thăm lại quê hương và những người thân yêu, nhất là người Mẹ nhiều thương yêu, kính mến ấy.


          Tháng ngày vẫn dần trôi. Những năm tháng xa xứ ngày càng chồng chất mà ngỏ về quê hương vẫn còn mịt mù khuất nẽo.


          Cho đến một hôm ....


          Hôm ấy là một sáng Thứ Bảy, trong khi vợ tôi đang chuẩn bị cho buổi cơm trưa thì điện thoại reo. Vợ tôi nhấc điện thoại, và sau tiếng “ Hello ”, vợ tôi bổng kêu lên một tiếng thất thanh rồi bật khóc, khóc một các nức nở mà tôi chưa hề thấy từ ngày về chung sống với nhau. Tôi chưa kịp nhận rỏ ra điều gì đã xảy ra thì vợ tôi bổng quỵ xuống và ngồi mẹp luôn xuống sàn nhà, tiếp tục nghe điện thoại và khóc, không nói được thêm lời nào.


          Thì ra; Mẹ vợ tôi vừa từ trần sau mấy ngày bệnh đột ngột. Trước đó, hơn một tháng, chúng tôi có nhận được thư nhà và được biết; mọi người trong gia đình đều khõe mạnh, chẳng có ai bệnh đau gì, dù nhẹ. Thế rồi, hôm nay, Mẹ tôi lại vội vả ra đi mà không một ai có thể ngờ được.


          Đêm hôm ấy, gia đình chúng tôi vội tức tốc đi Montreal, Canada ngay để dự lể phát tang vào ngày hôm sau tại một ngôi Chùa bên ấy, vì tất cả các em vợ tôi và gia đình gồm mấy mươi người đều sinh sống tại thành phố nầy từ lúc mới sang.


......


          Sự ra đi đột ngột của Mẹ vợ tôi đã làm cho vợ tôi cùng các con tôi vô cùng đau đớn và buồn khổ. Kể từ đấy, mỗi ngày sau khi đi làm về vợ tôi thường ngồi khóc hay buồn rười rượi một mình; thỉnh thoảng lại nói chuyện với các con về Ngoại. Sự việc cứ diển tiến suốt gần mấy tháng trời mới có phần nguôi ngoai.


          Riêng tôi thì nổi buồn lại lặng lẻ thẩm thấu vào bên trong. Thỉnh thoảng, khi ngồi một mình tôi lại hồi tưởng và nhớ lại Mẹ vợ tôi ở những năm tháng trước kia, khi còn ở tại Việt Nam.


          Vì nhà tôi và nhà Cha Mẹ vợ tôi không ở cách xa nhau mấy, nên gần như mỗi ngày tôi đều đưa các con ra nhà Ngoại ở chơi suốt ngày, hoặc được các Cậu, các Dì đưa đi học. Chiều đến, tôi lại đưa vợ tôi ra nhà chơi và rước các con. Thỉnh thoảng, chúng ở lại ăn cơm chiều, vui chơi, trò chuyện đến sẫm tối mới về. Và vì vậy, tôi mới có rất nhiều hình ảnh về Mẹ vợ tôi, mà khi nhớ lại tôi không khỏi có nhiều luyến thương, bồi hồi, xúc động.


          Và rồi, có lần, khi ngồi một mình nhớ lại những hình ảnh xưa đó, tôi cảm thấy buồn nhiều và với dòng xúc cảm trào dâng, tôi đã ghi lại được thành những dòng thơ mà trước đó tôi không hề viết được.


          Cho mãi đến nay, tôi vẫn còn nhớ rỏ hình ảnh cuối cùng của Mẹ vợ tôi mà tôi đã ghi nhận và khắc sâu đậm nét vào ký ức, đó là hình ảnh nét mặt của Mẹ vợ tôi khi tôi và vợ tôi cùng hai con ra nhà từ giã ra đi, hình ảnh mà tôi sẽ mãi mãi không thể nào quên, hình ảnh mà tôi đã ghi lại được qua dòng thơ:


                             “ Ngày tôi từ giã ra đi
                               Mẹ nhìn tôi chẳng nói gì !
                               Tôi hiểu điều Mẹ nghĩ:
                               Nói được gì … , phút chia ly ! “


          Một đôi lần, khi nghe con tôi gọi: “ Mẹ ơi!  Mẹ... ”, vợ tôi bổng rưng rưng nước mắt. Thấy vậy, các con tôi lại hỏi: “ Chuyện gì vậy Mẹ... !?  Tại sao Mẹ khóc ? ”  Vợ tôi đã cố gượng cười và trả lời: “ Không có gì hết..., con... ”. Nghe như vậy, các con tôi cũng chẳng hiểu vì sao ?


          Riêng tôi thì hiểu rất rỏ. Vợ tôi đã thực sự cảm thấy buồn tủi khi nghe các con gọi: “ Mẹ... ”, vì các con tôi đã có diễm phúc còn có Mẹ để được gần gủi, để được chăm sóc và thương yêu, để còn được còn được gọi tiếng “ Mẹ” chan chứa tình thương, êm đềm và đầm ấm. Còn riêng  vợ tôi thì:


                                     Từ đây đến mãi muôn đời
                           Không bao giờ được gọi lời: “ Mẹ ơi ! ” ”


......


          Rồi đây, trong những ngày Lể Vu Lan sắp tới, nếu tôi có dịp đến Chùa và còn có được cơ duyên để các Chị, các Em, các Cháu cài cho chiếc Hoa Hồng. Ngoài chiếc Hoa Hồng màu đỏ dành cho Mẹ ruột tôi hiện còn sanh tiền, xin các Chị, các Em, các Cháu hảy rộng lượng cho tôi xin thêm một đóa Hoa Hồng dù “Đỏ” hay “Trắng”.


          Là hoa màu “Đỏ”, tôi sẽ được có cảm tưởng như Mẹ vợ tôi hiện còn đang sống bên kia bờ đại dương chờ ngày mở rộng vòng tay đón lại các con, cháu trở về sau những năm dài xa cách.


          Là hoa màu “Trắng”, chiếc hoa sẽ gợi lại cho tôi hình ảnh người Mẹ thân yêu, tuy đã thực sự vỉnh viển rời xa, nhưng vẫn còn mãi sống trong tôi.


Lê trung Cang
Một mùa Vu lan


2009-04-16 09:47:44



Rating: 4.4/5 (100 votes cast)

[1]

  • Xin lưu ý: Là một diễn đàn tự do, quanvan.net không chịu trách nhiệm về nội dung của những ý kiến đóng góp từ độc giả. Những ý kiến đóng góp có những lời lẽ không hay sẽ bị BBT xoákhoá IP vĩnh viễn. (khi bị khoá IP bạn sẽ không thể vô được quanvan.net nữa.)



Âm nhạc Bút ký Biên khảo Chuyện phiếm English Française Học làm người Hồi ký Huyền bí Kịch bản Kiếm hiệp Nhận định Pháp luật Phê bình Phỏng vấn Phiếm luận Quê hương Sức khoẻ Song ngữ Tài liệu Tùy bút Tạp ghi Tạp luận Tạp văn Tản mạn Tản văn Tập truyện Tự truyện Thương tiếc Tiểu sử Trang VĂN NGHỆ Triết học Truyện dài Truyện dịch Truyện ngắn Truyện vui Điểm nóng

 NGÀY 30 THÁNG TƯ - NỖI ĐAU KHÔNG TAN - James Dieu
 Gánh Đời Nghiệt Ngã Giữa Hai Lằn Đạn - Ái Ưu Du
  -
 BÍ QUYẾT BỎ THUỐC LÁ - Bs. Nguyễn Văn Đức
 MỘT GƯƠNG SÁNG CHO NHỮNG AI MUỐN TRỞ THÀNH LÃNH TỤ - Hồng Lĩnh
 Anh Hùng Tử Khí Hùng Bất Tử - Sinh Vi Tướng Tử Vi Thành - Ái Ưu Du
 Cảm nghĩ về hồi ký Kháng Chiến "Hành Trình Người Đi Cứu Nước" của cựu Kháng Chiến Quân Phạm-Hoàng-Tùng - Điệp Mỹ Linh
 ĐÔI DÒNG NHÌN LẠI Tổng Thống Việt nam Cộng hòa Ngô đình Diệm - Quỳnh Hương
 QUÁ KHỨ VÀ HẬN THÙ - Phạm Bá Hoa
 Ra Đi – Tàu Việt Nam Thương Tín - NgọHằng3D


 MẬU THÂN 1968 VÀ CUỘC THẢM SÁT TẠI HUẾ - Nhiều tác giả
 Những trận đánh lịch sử - Nhiều tác giả
 Năm Cam - canh bạc cuối cùng! - Thanh Trì
 Bức màn bauxite và âm mưu Tây Nguyên - Nhiều tác giả
 ĐÔI DÒNG NHÌN LẠI Tổng Thống Việt nam Cộng hòa Ngô đình Diệm - Quỳnh Hương
 FILM TRUYỀN HÌNH - CUỘC CHIẾN KHÔNG KHOAN NHƯỢNG - Nguyễn Minh
 Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi - Hoành Linh Đỗ Mậu
 TRẠI TÙ T4 - Quỳnh Hương
 Điệp-viên ZC 18 - Phương Duy TDC
 Cuộc Chiến Chưa Tàn - Trần Nhật Kim



trang chính    100 tác phẩm mới 



Thực hiện:  
Bùi Ngọc Tô, Huệ Thu, Tuấn Nguyễn, Phương Nguyễn, Tú Phương, Tâm Thơ, Long Nguyễn, Đăng Lê, Trần Thanh, Ngô Nguyễn Trần
(Hoa Kỳ - Pháp - Đức - Áo - Úc - Hoà Lan - Việt nam)