Năm Cam - canh bạc cuối cùng! - Thanh Trì
 21 Tháng 12 năm 2012. Ngày Tận Thế (?) - Nhất Hướng
 Tuổi ấu thơ - Lê Trung Cang
 Giấc ngủ trưa Hè - Lê Trung Cang
 Dị Ứng - Lê Trung Cang
 Diêm-vương, Ngài là ai ? - Lê Trung Cang
 Người phỉ báng Phật - Lê Trung Cang
 Mẹ và Chị - Lê Trung Cang
 Chị tôi - Lê Trung Cang
 Nội - Lê Trung Cang
 Quyền làm chủ - Lê Trung Cang
 Ba Anh Em - Lê Trung Cang
 Diêm Vương luận án - Lê Trung Cang
 Xin cho tôi thêm một đóa Hoa Hồng - Lê Trung Cang
 Thuyền Bát-Nhả - Lê Trung Cang




VanTuyen.net_______
Tac pham: 982
Trang: 2185
Tac gia: 380



Âm nhạc Bút ký Biên khảo Chuyện phiếm English Française Học làm người Hồi ký Huyền bí Kịch bản Kiếm hiệp Nhận định Pháp luật Phê bình Phỏng vấn Phiếm luận Quê hương Sức khoẻ Song ngữ Tài liệu Tùy bút Tạp ghi Tạp luận Tạp văn Tản mạn Tản văn Tập truyện Tự truyện Thương tiếc Tiểu sử Trang VĂN NGHỆ Triết học Truyện dài Truyện dịch Truyện ngắn Truyện vui Điểm nóng


vantuyen.net xin giới thiệu đến bạn đọc: Cô Hằng Mỹ Thạnh
Thể loại: Truyện ngắn
Tác giả: Trần Văn Giang

Thông báo: Những bài vở mới sẽ được đăng trên VĂN TUYỂN 2 và những bài đăng tiếp tục vẫn đăng trên VĂN TUYỂN 1.

 

Nội

» Tác giả: Lê Trung Cang
» Dịch giả:
» Thể lọai: Truyện ngắn
» Số lần xem: 5497

1. Nội

          Trong Thi Ca và Văn Chương Việt Nam, hình ảnh về Ngoại lúc nào cũng có một vị trí sáng tỏ và trang trọng bên cạnh hình ảnh về Mẹ.


          Khi nói đến tình yêu bao la, sâu thẵm và không bờ bến là nói đến Ngoại, là nói đến Mẹ. Khi nói đến vùng đất quê hương lúc nào cũng mở ngỏ đón nhận những con hay cháu tìm lối quay về để tạm nương tựa, để có lại sự yễm trợ, bảo bọc đầy thương yêu, là nói đến quê Ngoại, là nói đến quê Mẹ.


          Khi viết về Mẹ, Thiền Sư Nhất hạnh đã đạt đỉnh cao với “ Bông Hồng Cài Áo ”. Riêng về Ngoại, nhà thơ Hồ Dzếnh, có Cha là người Minh Hương và Mẹ là người Việt Nam, được sinh ra và lớn lên tại Việt Nam đã viết tập thơ “ Quê Ngoại “ để nói về quê hương của Mẹ Ông và quê Ngoại của chính ông.


          Hầu hết mọi người mỗi lần đọc một đoạn văn viết về Ngoại, môt vần thơ viết về Mẹ đều cảm thấy lâng lâng một mối xúc động. Tôi cũng thường cảm thấy bâng khuâng khi đọc được một câu ca dao, một vài dòng thơ nói về Mẹ hay Ngoại, vì trong đó lúc nào cũng chan chứa những hình ảnh dạt dào yêu thương, hiền diệu.


          Tuy nhiên, khi nhìn lại cuộc đời của chính riêng tôi thì tôi bổng nhận ra rằng : những tình cảm yêu thương, những chăm sóc, bảo bọc không bờ bến và không điều kiện đã dành cho tôi trong suốt thời gian từ lúc chập chững biết đi và cho mãi đến sau nầy, khi đã trưởng thành đều không đến từ Ngoại hay Mẹ mà đến từ Nội.


                             ......


          Khi vừa lên ba thì Cha tôi đã mất Mẹ. Người Mẹ ruột của Cha tôi đã qua đời sau một cơn bạo bệnh bất ngờ và ngắn ngủi. Cha tôi vì còn quá bé nhỏ nên đã không thể ghi nhớ và lưu giử được một chút hình ảnh nào của người Mẹ đã sinh ra mình.


          Vì phải bận lo sinh kế, trong khi Cha tôi còn quá nhỏ dại cần phải có sự chăm sóc, thương yêu của một người Mẹ, nên vài năm sau Ông tôi đã hỏi cưới một người phụ nữ ở làng bên cạnh để về đãm đang mọi việc trong gia đình. Người phụ nữ mới cưới nầy đã trở thành kế mẫu của Cha tôi và là Nội của tôi sau nầy.


          Ông tôi sau khi làm việc cần cù trong nhiều năm và dành dụm một ít tiền làm vốn liếng, đã quyết định đưa gia đình lên Saigon tìm phương lập nghiệp.Trải qua những năm dài đầy khó khăn, vất vả của buổi ban đầu tại chốn thị thành, Ông tôi và gia đình đã tạo được một cơ sở làm ăn, buôn bán nhỏ đủ nuôi sống gia đình.


          Cha tôi giờ đây đã khôn lớn. Rồi do duyên đưa đẩy, Cha tôi đã gặp gở và cưới Mẹ tôi.


          Khoảng hai năm sau, tôi mở mắt chào đời giữa lúc cuộc Thế chiến thứ hai đang diển ra khốc liệt bên trời Âu. Phía bên nầy của bờ Thái Bình Dương, quân đội Thiên Hoàng Nhật đã đưa quân đánh chiếm các nước vùng Đông Nam Á.


          Khi tôi được chừng hai tuổi, Mẹ tôi sanh em gái tôi. Lúc em tôi gần đầy tháng thì quân Nhật lại dội bôm Saigon. Để tránh tai họa chiến tranh, Ông tôi đưa gia đình nhập đoàn người tản cư rời Saigon. Ông tôi quyết định về tá túc tại quê nhà nơi một làng nhỏ nằm bên kia bến bắc Hàm Luông thuộc xứ dừa xanh ngát. Muốn về đến nơi mọi người sẽ phải đi bộ hơn trăm cây số.


          Chừng hai ngày sau, khi đi được gần nửa phần đường, thì em tôi bổng phát bệnh nặng. Vì còn quá bé bỏng mà phải trải qua mọi vất vả của những ngày nắng, đêm sương, ngủ dưới lùm cây hoặc mái hiên nhà người; thiếu thốn đủ mọi thứ nên em tôi đã không chịu đựng nổi. Chưa đầy một ngày, em đã chết trên tay Mẹ tôi.


          Ông tôi đã đưa mọi người đến gặp người chủ nhà cư ngụ trên mảnh đất gần đó. Sau khi hiểu rỏ cảnh ngộ vừa xảy ra, người chủ nhà nhân hậu này đã cho phép Ông tôi được dùng một xẻo đất nhỏ để chôn xác em tôi.


          Dù đau khổ và xót xa mọi người cũng đành phải tiếp tục chuyến đi, sau khi bỏ lại người em gái bé bỏng của tôi nằm lẻ loi trong nấm mộ đơn sơ, đấp vội bên đường.                         ......


Tôi lớn dần theo ngày tháng và có thêm được mấy đứa em.


Khi tuổi tôi vừa tròn một giáp thì cuộc chiến Việt – Pháp tại Điện Biên Phũ chấm dứt, đưa đến việc ký kết Hiệp Đinh Genève về chiến cuộc Việt Nam.


Ông Ngô Đình Diệm được đưa về chấp chánh tại miền Nam. Trong những ngày đầu chuẩn bị cho việc thành lập nền Đệ Nhất Công Hòa, đã xảy ra nhiều cuộc chạm súng giữa những lực lượng vũ trang chống đối và đơn vị quân đội của chánh phủ.


Tại Saigon, vì mất quyền lợi to lớn trong việc khai thác hai sòng bạc Kim Chung và Đại Thế Giới, Tướng Lê Văn Viễn, thường được gọi là Bảy Viển, đã tung ra lực lượng Công An Xung Phong dưới quyền đánh trả và bắn phá vào vài địa điểm trọng yếu tại Saigon. Dân Saigon hoảng sợ tìm cách lánh nạn để tránh tai họa của súng đạn.


Một lần nửa, Ông tôi đã đưa gia đình về tạm trú tại nhà Ngoại tôi, cách Saigon chừng vài mươi cây số. Độ vài ngảy sau, tất cả mọi người đã trở về Saigon chỉ trừ Mẹ tôi và anh em chúng tôi ở lại với Ngoại.


Đây là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong đời, tôi đã về sống nơi quê Ngoại trong thời gian lâu dài nhất, khoảng gần một tháng.                                                ......


          Kể từ ngày tôi được sanh ra đời cho đến khi được gần mười lăm, mười sáu tuổi, lần đầu tiên do một sự tình cờ tôi mới được biết: người Mẹ đã từng nuôi nấng, dạy dỗ Cha tôi từ thuở bé lại không phải là Mẹ ruột của Cha tôi và cũng không phải là Bà Nội ruột của tôi. Và tôi đã đem việc nầy ra hỏi Mẹ; rồi nhân lúc rảnh rang chỉ có hai Mẹ con, Mẹ tôi đã kể cho tôi nghe mọi việc qua những gì đã nghe, biết và chứng kiến được kể từ ngày về với Cha tôi. Theo lời Mẹ tôi kể thì: Ông tôi là người quê ở Tiền Giang, vì công việc làm nên đã đến làm việc tại một Tỉnh ở Hậu Giang. Nơi đây, Ông tôi đã gặp và cưới Nội của tôi.


          Sau ngày Nội, người Mẹ ruột thân yêu của Cha tôi qua đời và Ông tôi cưới vợ khác, mọi người trong họ hàng, nhất là bên Ngoại của Cha tôi đều rất lo ngại là Cha tôi sẽ gặp phải cảnh  “ Mẹ ghẻ, Con chồng”. Nhưng rồi chuyện ấy đã không thực sự xảy ra. Người kế mẫu nầy, tức là Bà Nội của tôi hiện nay, đã thực sự thương yêu Cha tôi như con ruột. Nội tôi đã tận tình nuôi nấng Cha tôi nên người.


          Sau ngày Mẹ tôi về chung sống với Cha tôi, Nội tôi có được một nàng dâu. Khi ấy, Mẹ tôi chỉ ở vào khoảng mười chín, hai mươi tuổi. nên chẳng biết gì nhiều về cuộc sống, vì vậy Nội tôi đã hướng dẩn và chỉ dạy Mẹ tôi từng chút một. Từ thuở tôi còn bé cho mãi đến sau nầy, sau khi Nội tôi đã qua đời, tôi chưa hề nghe Mẹ tôi than phiền hay chê trách gì về Nội tôi cả.


          Sau khi sinh ra tôi, Mẹ tôi đã nuôi nấng và tận tình chăm sóc tôi đến khi tôi được ba, bốn tuổi, rồi vì hoàn cảnh cuộc sống Mẹ tôi phải thường rời nhà để phụ giúp cha tôi trong công việc làm ăn, mưu sống. Thế rồi, Nội tôi phải chăm sóc tôi thay thế Mẹ tôi trong những ngày Mẹ tôi vắng nhà.


          Vì lẻ đó mà bao nhiêu tình thương yêu, chăm sóc tôi đều nhận từ Nội tôi nhiều hơn cả, hơn bất cứ một ai trong gia đình. Về phần Ngoại tôi vì ở xa nên tôi ít khi được gặp, ngoại trừ những ngày giỗ, ngày Tết hay những lần về thăm viếng, do đó tôi ít có dịp gần gủi Ngoại tôi.


          Riêng Cha tôi thì thương yêu và kính trọng Nội tôi lắm, chẳng khác nào Mẹ ruột. Mỗi ngày, Cha tôi vẫn thường đến thăm hỏi và chuyện trò với Nội tôi. Khi rời nhà để lo công việc trong ít hôm hoặc đôi tuần rồi trở về, người đầu tiên mà Cha tôi đến gặp là Nội tôi. Cha tôi vẫn thường mua và mang về từ nơi xa những trái cây tươi hay bánh trái ngon để Nội tôi dùng.


          Mẹ tôi lúc nào cũng quí mến và ca tụng Cha tôi về đức hiếu thảo nầy. Hình ảnh của Cha tôi đối với Nội tôi đã khơi dậy trong tôi hình ảnh của câu ca dao tôi thường được nghe từ thuở bé:


                                      “ Mẹ già ở túp lều tranh,
                             Sớm thăm, tối viếng mới đành dạ con. “


          Mặc dù, biết rằng Cha tôi rất hiếu thảo với Mẹ, nhưng Ông tôi trước khi qua đời cũng đã để lại di chúc dặn dò Cha tôi thật chu đáo về việc chăm sóc Nội tôi lúc tuổi già. Chính Ông tôi đã viết trong bản di chúc mà Mẹ tôi đã đưa cho tôi đọc:


          “ .... Mẹ ruột của con đã qua đời khi con vừa mới lên ba. Người Mẹ hiện nay tuy không phải là Mẹ đã sinh thành ra con nhưng đã thương yêu, nuôi nấng và chăm sóc con từ lúc con mới chập chửng biết đi và dạy dổ cho con đến ngày khôn lớn. Do đó, mặc dù Mẹ con không có công sanh, nhưng có công dưỡng, sanh dưỡng đạo đồng.


          Vì vậy, Ba muốn con phải chăm sóc Mẹ con cho thật chu đáo và tròn đạo nghĩa cho đến ngày Mẹ con được trăm tuổi già. Con  hảy nhớ nằm lòng điều căn dặn nầy và không được lơ là, chễnh mãng dù bất cứ trong hoàn cảnh nào ... ”


          Cha tôi đã làm tròn bổn phận một cách hiếu thảo của người con đối với Mẹ. Cha tôi thường tâm sự với Mẹ tôi là: ước sao cho Nội tôi được sống lâu để Cha tôi có nhiều thời gian phụng dưỡng và báo hiếu. Nhưng rồi ước mơ nhỏ bé và chân thành ấy đã không bao giờ thành hiện thực.


          Cha tôi đã qua đời khi Nội tôi sắp tròn 80. Thật tôi nghiệp cho Cha tôi, hiếu cũ chưa đền trọn nay lại vì nghiệp duyên mà phạm thêm tội bất hiếu mới là đã đưa Nội tôi vào cảnh “tre già nay lại khóc măng”.


          Ngày Cha tôi mất và mãi đến mấy tháng sau đó, thỉnh thoãng tôi thấy: Nội tôi ngồi khóc một mình khi thương nhớ Cha tôi, người con thương yêu duy nhất đã sớm bỏ ra đi. Đôi khi, nhìn thấy Nội tôi khóc, tôi không thể nào quên được lời thơ về Mẹ của Nguyễn Bính:


“ Người Mẹ già kia tuổi đã nhiều,
Đã từng đau khổ biết bao nhiêu;
Mà nay lại khóc thêm lần nửa,
Nước mắt còn đâu, buổi xế chiều ! ”


          Vài năm sau, Nội tôi qua đời. Gia đình tôi đưa Nội tôi về an táng cạnh mộ Ông tôi nơi quê nhà.


          Nhìn lại suốt cuộc đời của Nội tôi, tất cả đều là hy sinh, tận tụy. Kể từ ngày về với Ông tôi, Nội tôi đã phải chăm sóc, nuôi nấng Cha tôi, chịu đựng mọi vất vả và gian truân trong những bước đầu xây dựng gia đình giữa thời loạn lạc. Nội tôi đã làm tròn bổn phận với tất cả tình thương yêu trong âm thầm, lặng lẻ và không bao giở than vãn.


Hình ảnh của Nội tôi cũng như những Nội, Ngoại khác trên quê hương Việt Nam đều mang trọn vẹn bên trong  một hình ảnh của Mẹ, vì Nội là Mẹ của Cha và Ngoại là Mẹ của Mẹ. Ngoài ra, dù là Nội, là Ngoại hay là Mẹ cũng đều chứa đựng tiềm tàng đức tính và thiên chức của người phụ nữ Việt Nam với tình yêu thương con dạt dào và không điều kiện; luôn luôn sống nhẩn nại trong gia đình bên chồng, chia xẻ tất cả khổ đau, vất vả với mọi người và lúc nào cũng sẳn sàng hy sinh mọi thứ riêng tư để bảo vệ cuộc sống và hạnh phúc cho con. Để rồi, đến khi nằm xuống lúc tuổi già sức yếu thì lại gởi xác nơi quê chồng cho tròn đạo nghĩa, chớ chẳng hề nghĩ đến hay mong ước được đưa về an táng nơi chốn “chôn nhao, cắt rún” giữa mồ mả Ông Bà, Cha Mẹ và họ hàng ruột thịt.


Thật khó có thể tìm được lời lẻ để diển tả trọn vẹn về đức tính nhẩn nại, hy sinh trong thiên chức cao quý nầy của người phụ nữ Việt Nam. Và, có lẻ vì nhận ra được những nét cao cả đó của người phụ nữ Việt Nam xuyên qua hình ảnh của Mẹ mình trên “Quê Ngoại”, nên nhà thơ Hồ Dzếnh đã ghi lại trong tập thơ của Ông:


“ Cô gái Việt Nam ơi !
Nếu chử “hy sinh” có ở đời
Tôi sẽ nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi ! ”


Lê Trung Cang 
Nhân ngày Lể Vu Lan   


2009-04-16 10:07:18



Rating: 4.4/5 (107 votes cast)

[1]

  • Xin lưu ý: Là một diễn đàn tự do, quanvan.net không chịu trách nhiệm về nội dung của những ý kiến đóng góp từ độc giả. Những ý kiến đóng góp có những lời lẽ không hay sẽ bị BBT xoákhoá IP vĩnh viễn. (khi bị khoá IP bạn sẽ không thể vô được quanvan.net nữa.)



Âm nhạc Bút ký Biên khảo Chuyện phiếm English Française Học làm người Hồi ký Huyền bí Kịch bản Kiếm hiệp Nhận định Pháp luật Phê bình Phỏng vấn Phiếm luận Quê hương Sức khoẻ Song ngữ Tài liệu Tùy bút Tạp ghi Tạp luận Tạp văn Tản mạn Tản văn Tập truyện Tự truyện Thương tiếc Tiểu sử Trang VĂN NGHỆ Triết học Truyện dài Truyện dịch Truyện ngắn Truyện vui Điểm nóng

 NGÀY 30 THÁNG TƯ - NỖI ĐAU KHÔNG TAN - James Dieu
 Gánh Đời Nghiệt Ngã Giữa Hai Lằn Đạn - Ái Ưu Du
  -
 BÍ QUYẾT BỎ THUỐC LÁ - Bs. Nguyễn Văn Đức
 MỘT GƯƠNG SÁNG CHO NHỮNG AI MUỐN TRỞ THÀNH LÃNH TỤ - Hồng Lĩnh
 Anh Hùng Tử Khí Hùng Bất Tử - Sinh Vi Tướng Tử Vi Thành - Ái Ưu Du
 Cảm nghĩ về hồi ký Kháng Chiến "Hành Trình Người Đi Cứu Nước" của cựu Kháng Chiến Quân Phạm-Hoàng-Tùng - Điệp Mỹ Linh
 ĐÔI DÒNG NHÌN LẠI Tổng Thống Việt nam Cộng hòa Ngô đình Diệm - Quỳnh Hương
 QUÁ KHỨ VÀ HẬN THÙ - Phạm Bá Hoa
 Ra Đi – Tàu Việt Nam Thương Tín - NgọHằng3D


 Năm Cam - canh bạc cuối cùng! - Thanh Trì
 Bức màn bauxite và âm mưu Tây Nguyên - Nhiều tác giả
 Những trận đánh lịch sử - Nhiều tác giả
 MẬU THÂN 1968 VÀ CUỘC THẢM SÁT TẠI HUẾ - Nhiều tác giả
 ĐÔI DÒNG NHÌN LẠI Tổng Thống Việt nam Cộng hòa Ngô đình Diệm - Quỳnh Hương
 Gánh Đời Nghiệt Ngã Giữa Hai Lằn Đạn - Ái Ưu Du
 Cuộc Chiến Chưa Tàn - Trần Nhật Kim
 Bạch Hổ Tinh Quân - Ưu Đàm Hoa
 Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi - Hoành Linh Đỗ Mậu
 Đơn Kiếm Diệt Quần Ma - Từ Khánh Vân



trang chính    100 tác phẩm mới 



Thực hiện:  
Bùi Ngọc Tô, Huệ Thu, Tuấn Nguyễn, Phương Nguyễn, Tú Phương, Tâm Thơ, Long Nguyễn, Đăng Lê, Trần Thanh, Ngô Nguyễn Trần
(Hoa Kỳ - Pháp - Đức - Áo - Úc - Hoà Lan - Việt nam)