Kín cổng, cao tường

(Bài viết đầu năm Tây 2019,

nhân ngày “sinh nhật”)

“Bình an dưới thế cho người thiện tâm”

Khi còn trẻ, tôi có đọc một truyện ngắn, nói về một thằng bé con nhà nghèo, cha mẹ mất sớm hay đi vắng đâu đó, chiều ba mươi tết nó đi lang thang, ngang một biệt thự, dĩ nhiên người sống trong biệt thự giàu có. Thằng mẹ mệt, đói, ngồi ngoài cổng, hy vọng người trong biệt thự đem cho nó một món gì đó, ăn cho đỡ đói. Thằng bé chờ hoài, không thấy gì, và ngủ gục ngay tại cổng.

Tôi vốn con nhà nghèo, lớn lên học hành, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, văn gừng… thường có khuynh hướng xã hội, nên tôi cảm động lắm khi đọc câu chuyện viết về thằng bé đó.

Nhìn chung, người dân Việt ta vốn “nghèo là chính”, nên đề tài câu chuyện như kể trên, cũng là chuyện thường thôi. Đời nào chẳng có, thời nào chẳng có. Trẻ cũng nghèo, lớn cũng nghèo; đàn ông cũng nghèo, đàn bà không “kém chi”. Riết rồi, sự gian khổ ở đời làm cho tình cảm con người ta cũng trơ cứng đi. Trơ cứng tình cảm hay có khi vô cảm là điều đáng buồn, đáng sợ cho chính mình mà cũng là điều đáng buồn, đang sợ cho người đời, cho dân tộc, cho nhân loại.

Tuy nói vậy, nhưng lòng mình đôi khi cũng “thức tỉnh”. Đọc câu thơ “Có một người nghèo không biết tết, Mang lì chiếc áo độ thu tàn” của Chế Lan Viên, ta thấy thương cho một nhà thơ nghèo (1), tuy cũng đoán chừng nhà thơ chắc có “cương ẩu”. Thời Tây, làm “thông phán” cho Tây mà nghèo thế nào được.

Đến khi đọc “Cô bé bán diêm” của Anderson (2) thì tôi xúc động thật sự. Chuyện “cổ tích” mà đọc nghe như thật. Đến đoạn cuối, khi con bé chết lạnh phía ngoài cửa của một ngôi nhà ấm cúng, đêm Noel trang hoàng đẹp đẽ, đèn đuốc sáng trưng, thì lòng oán hận, tuy không nặng nề, nhưng cũng không thể không có được.

Tôi vốn là “dân Quảng Trị”, đến Huế năm 14 tuổi, Bắt chước mấy anh “học trò xứ Nghệ” của thế kỷ trước mà “tha phương cầu học”, “cơm hàng cháo chợ” bao nhiêu năm, cận tết mà chưa về nhà, đọc câu thơ của Nguyễn Bính, thì cũng buồn như những kẻ tha phương vậy: “Tết nầy chưa chắc em về được, Em gởi về đây một tấm lòng”. “Một tấm lòng” là điều người Huế hay nhắc nhở con cái, là điều cha mẹ dạy con. Cũng có lẽ vì vậy mà Nguyễn Văn Thương viết trong bài “Đêm Đông”. “Đêm đông! Ta mơ giấc mơ gia đình yêu đương”.

Bên cạnh những người nghèo khổ đáng thương thì bao giờ cũng có những người giàu sang, quyền quí mà độc ác. Có những con người trái ngược như thế, hình ảnh trái ngược nhau như thế mới gọi là “đời”. Đời là vậy! như người ta thường nói.

Biết là vậy mà người ta vẫn cứ phản ứng lại người đời. Cái đó mới hay, như khi ta đọc “Trương Chi, Mỵ Nương” vậy.

Đây là câu chuyện tình bi thảm và có trí tưởng tượng phong phú nhất, đến kỳ lạ trong kho tàng truyện cổ tích nước ta. (3 – xem phụ lục). Câu chuyện kết thúc bằng giọt nước mắt hòa trong hình ảnh chàng Trương trong chén trà, và chén trà – làm bằng trái tim hóa đá của Trương Chi – tan thành nước.

Tuy nhiên, trong “Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm”, Hoàng Cầm đã thay đổi phần kết của câu chuyện tình nầy. Thay vì quan Tể Tướng cho người đi tìm chàng Trương về lâu đài, thì ông ta, khi biết chàng Trương là một người thổi sáo, một nghệ sĩ, bèn cho bít khung cửa bán nguyệt, nơi mỗi chiều Mỵ Nương thường đứng tựa cửa để lắng nghe tiếng sáo Trương Chi, cho lấp khúc sông nơi Trương Chi thường chèo thuyền qua lại.

(Trích):

Hồng Hoa (tỳ nữ):

 

            Tướng công vừa truyền lệnh,

                        Khóa kín cửa lầu

                        Lấp kín dòng sông

                        Để không còn tiếng hát!

 

Mỵ Nương:

Còn dòng sông!

                        Chị van em đừng lấp

                        Hãy khơi dòng

                        Nước uốn đến chân lầu

                        Để thuyền chàng

                        Dù đi xa tắp

                        Cũng biết đường tìm đến

                        Buộc lòng nhau!

 

(Trích “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” của Hoàng Văn Chì, từ trang 235).

Đây là một vở kịch thơ mang tính cách “chống đảng”, hay nói cho đúng hơn là chống lại chính sách “cai trị văn nghệ” của đảng. Qua đó, giáo sư Hoàng Văn Chì giải thích quan Tể Tướng là vai trò của Đảng, trói buộc, đàn áp nghệ sĩ; Mỵ Nương tượng trưng cho vai trò Dân Chúng; Trương Chi là người Nghệ Sĩ.

“Kín cổng cao tường” là một thành ngữ trong ngôn ngữ của người Việt Nam. Nhà giàu thường sợ trộm cướp, nên nhà thường làm cổng bằng sắt, gỗ chắc chắn. Tường rào xây cao để trộm cắp không vào được. Người nghèo, kẻ ăn mày cũng không vào tận nhà để xin xỏ. Nói theo cách nhà văn Phạm Duy Tốn là “Sống chết mặc bây” trong câu tục ngữ “Sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi.” thường để chê mấy ông thầy bói: Thầy coi xong rồi, là xong, “tiền thầy bỏ túi”, còn trúng trật, thầy coi xong là coi như xong.

(Viết đến đây, tôi nhớ lại một chuyện cũ, tỏ rõ “lòng thương người” của người Việt Nam ngày trước. Mùa hè, nhà ông ngoại của các con tôi thường dọn ăn bữa cơm chiều ở hiên trước. Đang ăn, khi có một nguời ăn mày dừng lại ngay cổng để xin ăn, ông ngoại của các con tôi bỏ chén cơm xuống, ngưng ăn. Ông chờ đến khi các dì – chị của vợ tôi – đem một cái gì đó cho người ăn mày, người đó đã đi – thì ông ngoại mới cầm chén cơm lên tiếp tục ăn. Hình ảnh đó, bây giờ chắc không còn ở xã hội Việt Nam ngày nay!!!???)

&

Bây giờ nước Mỹ cũng xây tường. Tường xây thật cao, người di dân không thể nào leo qua được. Chiều chiều, có kẻ đi dạo mát bên nầy tường, nhìn lên đỉnh tường cao, không thấy ai leo lên tới đó, lòng có thấy “khỏe”, thấy “vui” chăng!? Còn bên kia bức tường cao, có ai đang đói, đang khát, đang than khóc cho số phận thì… “mặc kệ nó”, như đứa bé đói ăn ngất xỉu trước “ngôi biệt thự” hay “Cô bé bán diêm” của Anderson, chết cóng trong đêm “Chúa sinh ra đời”.

Vậy thì ông Trump là ông nào, là cái gì?

Có phải ông ta là “Chú Sam giàu có, mặc áo đuôi tôm, đội “mũ sọc dưa”, tiền vàng rủng rỉnh trong túi”. Đó là hình ảnh Ronald Reagan muốn dựng lại, đúng theo cách ăn mặc của Chú Sam, khi ông ta tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 40 của Hoa Ky, và đi bộ từ “Điện Capitol” về “Tòa Bạch Ốc” ngày 20 tháng 1 năm 1981.

Đó là hình ảnh “Nước Mỹ giàu có”!

Hình ảnh đó có làm cho người ta ngưỡng mộ bằng hình ảnh tướng Washington trong “Chiến tranh giành độc lập” của dân tộc Mỹ, hay Jefferson, tác giả “Bản Tuyên Ngôn Độc Lập”:

            “Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng, tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc. Rằng để bảo đảm cho những quyền lợi nầy, các chính phủ được lập ra trong dân chúng và có quyền lực chính đáng, trên cơ sở đồng ý của dân chúng, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó, phá vỡ những mục tiêu nầy, thì dân chúng có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó, và thành lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc, cũng như tổ chức, thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với sự an toàn và hạnh phúc của người dân.   

(trich một đoạn dịch trong “Bản Tuyên Ngôn Độc Lập” Hoa Kỳ.

Nhìn chung, chúng ta thấy ông Trump giống ai? Hay “chẳng giống ai” như câu người Việt chúng ta thường nói đùa về một người “kỳ cục” hay “lập dị” nào đó.

Thật vậy, ông Trump chẳng giống một vị cha già nào của dân tộc Mỹ như Washington, Jefferson hay Lincoln. Ông Trump “xa lạ và cô đơn” giữa một thủ đô có nhiều tượng đài được người Mỹ dựng nên để kỷ niệm những nhân vật lịch sử đầy lòng cao thượng và nhân đạo mà nhân dân các nước quanh địa cầu đều ngưỡng mộ.

Ông Trump cũng không giống hình ảnh ông Reagan ngày ông Reagan làm lễ nhậm chức tổng thống: Áo đuôi tôm, mũ sọc dưa…

Vậy thì ông Trump giống ai, khi ông đứng bên nầy bức tường cao, sung sướng nhìn lên đỉnh tường sừng sững! Ông ta có là người “thiện tâm” như tinh thần của dân tộc Mỹ hay không?!

Có lẽ ông ta giống ông chủ biệt thự kín cổng cao tường, có thằng bé đói mệt nằm ngất xỉu bên cánh cổng trong câu chuyện ngắn tôi đã đọc cách đây hơn nửa thế kỷ, hay ông chủ căn nhà giàu có, đèn đuốc sáng trưng đêm Noel, có “Cô bé bán diêm” nằm chết cóng bên ngoài như câu chuyện cổ tích của Anderson đã làm không ít người rơi nước mắt, khi nghĩ tới những nghèo khổ trong thế gian nầy.

Dù không phải là người thờ Chúa Giê-Su, tôi cũng xin đọc câu kinh: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm!”

hoànglonghải

1)-Chiều Xuân

Tác giả: Chế Lan Viên

Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Đem chi xuân l
ại gợi thêm sầu?
Với tôi, t
ất cả như vô nghĩa
T
ất cả không ngoài nghĩa khổ đau!

Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi nh
ững lá vàng?
V
ới của hoa tươi, muôn cánh rã,
V
ề đây đem chắn nẻo xuân sang!

Ai biết hồn tôi say mộng ảo
Ý thu góp l
ại cản tình xuân?
Có m
ột người nghèo không biết tết
Mang lì chi
ếc áo độ thu tàn!

Có đứa trẻ thơ không biết khóc
Vô tình b
ỗng nổi tiếng cười ran!

Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ!
Một cánh chim thu l
ạc cuối ngàn.

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Trước 1945, ông được Tây bổ dụng làm “thông phán” (nên người ta hường gọi là “Phán Viên” ở Phan Rang, nơi có nhiều “Ma Hời” (Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi” CLV) nên khi làm thơ ông lấy bút hiệu “Chế Lan Viên”- họ Chế, như danh ca “Chế Linh” vậy. Ông, Ma, Trà, Chế là bốn họ lớn của người Chàm. Sau 1945, ông theo Việt Cộng và… làm lớn.

2)-“Cô bé bán diêm” là truyện cổ tích do tác giả người Đan Mạch Hans Christian Andersen sáng tác. Truyện kể về một cô bé nghèo khổ phải đi bán diêm giữa mùa đông giá lạnh và từ giã cõi đời trong đêm giao thừa (có bản khác ghi là trong đêm Giáng sinh).

Truyện được xuất bản lần đầu tiên năm 1848 trong phần năm của quyển Nye Eventyr (Những truyện cổ tích mới) với nhan đề Den Lille Pige Med Svovlstikkerne (Cô gái bé nhỏ với những que diêm). Truyện này cũng đã được công bố ngày 30 tháng 3 năm 1863 như một phần của Fairy Tales and Stories (1863), Tập 2 (Eventyr og Historier) (1863).

(Trích từ Wikipedia)

3)- C tích 2

Ngày xưa có anh

Trương Chi

Từ một câu chuyện tình bi thảm…    

      Dân tộc nào cũng có những thiên tình sử. Tùy theo bản sắc của mỗi dân tộc, tình sử có những đặc điểm riêng của nó: hùng ca, tươi vui, đau khổ, bi tráng, v.v… Tuy nhiên, nhìn chung, gần hầu hết những những thiên tình sử đều có tính bi thảm. Cái kết cục bi thảm đó rất dễ gây những ấn tượng, xúc động cho người đọc, người nghe.

            Với phương tiện khoa học kỹ thuật tối tân ngày nay, nhiều thiên tình sử được viết thành tiểu thuyết, in thành sách, đóng thành phim, v.v… và phổ biến khắp cả địa cầu. Truyện Roméo-Juliette là một vở kịch của Shakespeare được quay thành phim và làm cho biết bao nhiêu trái tim thổn thức, bao nhiêu giọt lệt rơi xuống, tội nghiệp cho một cuộc tình. Câu chuyện tình đã quay thành phim đó phổ biến khắp cả thế giới và trở thành văn hóa của nhân loại.

            Văn học nước ta cũng có rất nhiều chuyện tình hay, không thiếu tính chất bi thảm và cũng đã làm cho biết bao nhiêu người thổn thức. Đó là truyện Kiều trong văn chương bác học hay Trương Chi Mỵ Nương trong văn chương bình dân.

            Trương Chi – Mỵ Nương là một chuyện cổ tích, nặng tính cách phân chia giai cấp xã hội, giàu nghèo, xấu đẹp, tài năng, bi thương, và giàu trí tưởng tượng, trở thành đề tài cho văn chương bác học.

            Chuyện cổ tích cũng như thần thoại của ta, nhìn chung, không phải là tác phẩm của một người. Một tác giả đầu tiên nào đó, từ hoàn cảnh thực tế, từ sự kiện lịch sử, từ trí tưởng tượng phong phú, đã sáng tác nên một câu chuyện. Do hoàn cảnh thiếu thốn và lạc hậu thời xa xưa, câu chuyện sáng tác trên không được ghi thành văn bản mà chỉ được kể đi kể lại, qua miệng nhiều người, qua nhiều thời đại, qua nhiều thế hệ, từ đời nầy sang đời kia. Cứ mỗi lần kể, câu chuyện được thêm bớt, sửa đổi, tinh lọc, cho phù hợp với thực tế của mỗi thời kỳ, mỗi hoàn cảnh, mỗi tâm lý thời đại, v.v… và cuối cùng trở thành câu chuyện ta được nghe ngày nay. Nó là tinh hoa nhất trong sự chọn lọc tinh hoa của tổ tiên, là di sản quí báu mà cha ông chúng ta để lại cho con cháu. Cùng với lãnh thổ và sức sống dân tộc, câu chuyện cổ tích theo dòng lịch sử trôi từ ngàn xưa cho đến ngày nay, và chúng ta được thừa hưởng một di sản quí báu khởi nguyên từ hàng ngàn năm trước.

            Thời gian trước, khi chiến tranh chưa lan tràn, trong cảnh thanh bình, những đứa bé lớn lên, những trưa hè, những đêm trăng thanh gió mát, khi cha mẹ bận công việc đồng áng hay đi chợ xa chưa về, thì đứa bé quẩn quanh bên ông bà, nghe ông bà vừa ru dỗ giấc ngủ, vừa kể cho nghe những câu chuyện cổ tích, như chuyện:

“Ngày xưa có

anh Trương Chi… “

*

“Ngày xưa có anh Trương Chi làm nghề đánh cá. Anh có tài thổi sáo hay tuyệt vời (có người nói là anh hát rất hay), làm cho nhiều người say mê thích thú. Thường ngày anh chèo thuyền qua lại trên một khúc sông nhỏ, bên bờ sông là một lâu đài nguy nga tráng lệ mà quan Tể Tướng đã cho xây lên để cho con gái của ông là Mỵ Nương ở.

Mỗi chiều, khi công việc đánh cá vừa xong, Trương Chi thả trôi thuyền trên con sông nhỏ, và cũng thả hồn trong tiếng sáo tuyệt vời của anh. Mỵ Nương, tuổi còn son trẻ và cũng mỗi chiều ngồi bên cửa sổ hình bán nguyệt, nhìn xuống khúc sông để lắng nghe tiếng sáo của anh thuyền chài.

Cũng như mọi người khác, Mỵ Nương yêu tiếng hát của Trương Chi, và rồi một ngày nàng sinh bệnh tương tư.

Thấy con gái bị bệnh, quan Tể Tướng lo ngại lắm, cho mời các danh y trong vùng đến chữa trị cho nàng. Bao nhiêu người đã đến, đã cho thuốc, nhưng tất cả đều chịu bó tay. Cơn bệnh của Mỵ Nương ngày càng nặng, thân thể hao gầy, nhan sắc tiều tụy. Nhìn con, lòng cha đau đớn vô hồi, tưởng thế là đành mất đứa con yêu quí.

Nhưng bỗng một hôm, có một vị lương y, râu tóc trắng như tuyết, từ trong vùng núi thẳm xa xôi ở cuối chân trời, chống gậy trúc đến xin chữa bệnh cho Mỵ Nương. Nhìn hình dáng vị lương y tiên phong đạo cốt, quan Tể Tướng những mừng thầm. Bắt mạch xong, cụ già ấy bảo rằng:

  • “Bẩm quan Tể Tướng. Đây không phải là thân bệnh mà tâm bệnh. Công nương đây tâm trí hỗn loạn, bởi vì công nương yêu mến một cái gì đó, một điều gì đó để đến nỗi thần trí hoang mang giao động, xúc cảm mà sinh bệnh. Bệnh nầy không có thuốc gì chữa được, chỉ tìm ra cái căn bệnh rồi từ đó mà lần tới việc giải bệnh. Chỉ có cách đó mới cứu được công nương mà thôi.”

Quan Tể Tướng liền cho tra hỏi các tì nữ mới hay Mỵ Nương vì yêu tiếng hát của Trương Chi mà nên nông nỗi nầy. Quan Tể Tướng liền sai binh lính dưới quyền đi tìm Trương Chi, bắt đem về.

Chỉ chốc lát sau, Trương Chi bị bắt về tới. Chàng được lệnh quan Tể Tướng thổi lên một khúc sáo ngay bên cạnh giường bệnh Mỵ Nương. Nghe tiếng sáo, Mỵ Nương choàng tỉnh dậy.

Mỵ Nương cảm thấy tâm hồn sảng khoái, thân xác nhẹ nhàng, bao nhiêu cơn phiền não nhớ nhung, buồn phiền theo tiếng sáo của Trương Chi mà bay bỗng vào không gian. Nhưng khi nhìn kỹ người nghệ sĩ, hỡi ơi! Nàng không khỏi đau lòng.

Mỵ Nương những mơ tưởng người có tiếng sáo tuyệt vời kia là một thanh niên tuấn tú, một tráng sĩ khôi vĩ, hiên ngang. Dè đâu, trước mặt nàng là một anh thuyền chài nghèo khổ, đen đủi, lưng khòm và mặt rỗ.

Thấy con mình khỏe mạnh trở lại, quan Tể Tướng bèn cho Trương Chi ra về.

Trớ trêu thay! Từ khi diện kiến Mỵ Nương là một trang quốc sắc thiên hương trong cõi trần ai, Trương Chi chưa bao giờ từng gặp. Chàng mê mẫn tâm thần, say đắm người đẹp. Mỗi chiều, chàng vẫn thổi sáo trước lâu đài tráng lệ của Mỵ Nương, nhưng bây giờ chàng để hết tiếng sét ái tình vào đó, đem tất cả thần trí và tấm lòng gởi theo tiếng sáo mà đến với người đẹp trên cửa lầu cao. Đêm đêm, chàng nằm co ro trên chiếc thuyền nhỏ, mơ tưởng tới giai nhân rồi sinh bệnh tương tư.

Khi con quan Tể Tướng giàu sang và quyền lực sinh bệnh, bao nhiêu người được gọi hay tình nguyện đến chữa trị cho nàng. Còn anh thuyền chài nghèo khổ kia, khi bị bệnh, đành nằm thui thủi trên chiếc thuyền con, không ai chăm sóc thang thuốc, không ai cho bát cơm bát cháo đỡ đần. Con người tài hoa và xấu số kia, một thân một mình thui thủi và một ngày kia, chàng từ giã cõi đời trong cảnh nghèo khổ và cô đơn lạnh lẽo trên chiếc thuyền con.

Sau khi Trương Chi ra người thiên cổ, bỗng Mỵ Nương mang bệnh trở lại. Kinh nghiệm như lần trước, quan Tể Tướng ra lệnh tìm bắt chàng Trương Chi. Than ôi! Chàng còn đâu! Quan Tể Tướng hoảng hốt trước cơn bệnh ngặt nghèo của con, bèn ra lệnh đào mồ chàng lên. Tất cả thân xác chàng đã tiêu tan, chỉ còn trái tim, trái tim của một món nợ tình, một nỗi niềm đau khổ vô biên và vô vọng đã biến thành ngọc đá.

Quân lính mang trái tim hóa đá của Trương Chi về trình lên quan Tể Tướng. Quan bèn ra lệnh đẻo viên ngọc ấy thành một chén trà.

Đêm đêm, Mỵ Nương rót trà vào chén, chợt thấy hiện lên trong đáy chén trà hình ảnh chàng Trương Chi thuở nọ. Chàng vừa chèo vừa hát. Một hôm, đầy lòng thương cảm, Mỵ Nương nhìn vào chén trà và khóc. Môt giọt nước mắt của giai nhân rơi xuống, khiến chén trà vở tan thành nước. Câu chuyện tình lãng mạn của tổ tiên chấm dứt ở đây nhưng dư âm vẫn còn vang vọng mãi trong mỗi tâm hồn trẻ thơ mỗi khi ngồi bên cạnh ông bà để nghe kể một câu chuyện tình cổ tích: “Ngày xưa có anh Trương Chi…”

Rất nhiều người yêu câu chuyện Trương Chi – Mỵ Nương nầy. Người ta đã dựng thành kịch, viết thành thơ, soạn thành nhạc, và dùng cả điển tích Trương Chi – Mỵ Nương trong tác phẩm văn chương bác học. Chẳng hạn như trong truyện Thúy Kiều của Nguyễn Du có câu:

Nợ tình chưa trả cho ai,

                  Khối tình đem xuống tuyền đài chưa tan

Chữ khối tình nói ở đây là ám chỉ trái tim của Trương Chi hóa thành ngọc. Dù chàng đã chết xuống tuyền đài, trái tim chàng vẫn chưa tan.

Văn Cao, cảm xúc câu chuyện tình này đã soạn thành ca khúc “Trương Chi”:

“Anh Trương Chi,

                        tiếng hát từ ngàn xưa còn rung.

                        Anh thương nhớ,

oán trách cuộc từ ly não nùng.

                        Đò trăng!

                        cắm giữa sông vắng.

                        Gió đưa câu ca về đâu.

                        Chìm xuống đáy nước sông sâu

                        thuyền anh đã về đâu”

 

Phạm Duy soạn nhạc sau Văn Cao, lời ca hay hơn:

 

“Đêm năm xưa,

                        khi cung đàn lên tơ,

                        hoa lá quên giờ tàn,

                        mây trắng bay từng đàn,

                        hồn nguời thổn thức trong phòng loan

                        Đêm năm xưa,

                        Nghe cung đàn gây mơ

                        Âu yếm nâng tà quạt

                        Hôn gió đưa về thuyền

                        Để người trên sóng ru thần tiên

 

(Khi Trương Chi hát thì hoa lá cũng say mê mà quên mất giờ tàn phai (thời gian ngưng đọng), mây trắng bay về đây để nghe tiếng hát, và người đẹp Mỵ Nương trong phòng loan thổn thức vì tiếng hát của người nghệ sĩ, nâng chiếc quạt lên, hôn vào quạt, nhờ gió đưa chiếc hôn về cho con người tài hoa trên sông)

Trong phong trào “Trăm hoa đua nở trên đất bắc”, năm 1956, Hoàng Cầm hoạt động tích cực trong nhóm Nhân văn Giai phẩm và được anh em gọi đùa là “Con ngựa chiến”. Ông có viết nhiều bài trong Nhân Văn để bút chiến với phe Đảng nhưng về thơ có hai bài đặc sắc nhất mà chúng tôi trích sau đây để giới thiệu nghệ thuật làm thơ của ông…  và một bài đăng trong báo Văn là một đoạn kịch thơ nhan đề là “Tiếng Hát” trong đó ông “dùng lời Trương Chi để kêu gọi nhân dân hãy nổi dậy đấu tranh chống Đảng.”

Trích báo Văn số 24 ra ngày 18-10-1957.

Tiếng Hát

Kịch thơ của Hoàng Cầm

 

Trích đoạn trong hồi thứ nhất vở kịch thơ dài Tiếng Hát Trương Chi

…………

Lớp II

Hồng Hoa – Mỵ Nương – Tiếng Hát

Mỵ Nương:

Hồng Hoa ơi!

                        Em hãy tìm về đây

                        tiếng hát của người …

                        Lòng chị như lò than cháy đ

                        Em hãy tìm về đây

                        Dòng sông đang trôi.

Hồng Hoa:

Chị đừng ra đây,

                        Gió sông lồng lộng!

                        Tiếng hát ngoài kia

                        đâu phải tiếng người!

Mỵ Nương:

Có một người

                        hát vang lừng trên sông.

Hồng Hoa:

Đó là lời than

                        cây cỏ bốn phương trời…

                        Chị đừng nghe…

                        Càng nghe càng nặng bệnh!

                        Mà… Lòng chị ra sao,

                        Thừa Tướng biết rồi!

Mỵ Nương:

                        Phụ thân ta?

Hồng Hoa:

                        Tướng công vừa truyền lệnh

                        Khóa kín cửa lầu,

                        lấp cả dòng sông

                        Để không còn tiếng hát!

Mỵ Nương:

                        Có thực không?

                        Chị van em. Em đi tìm tiếng hát

                        Dấu tướng công,

                        Em lót áo đem về…

Hồng Hoa:

                        Lót áo đem về,

Chị nói dễ nghe!

Mỵ Nương:

                        Còn dòng sông

                        Chị van em đừng lấp

                        Hãy khơi dòng

                        nước uốn đến chân lầu

                        Để thuyền của chàng

                        dù xa xa tắp

                        Cũng biết đường tìm đến

                        buộc lòng nhau

… … … …

(Trích Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc

của Hoàng Văn Chì từ trang 235)

 

Theo tôi việc Hoàng Cầm “kêu gọi nhân dân đứng lên chống đảng” như giáo sư Hoàng văn Chì nói ở trên là vì Đảng (tượng trưng là quan Thừa Tướng) độc tài, lấp dòng sông, khóa kín cửa lầu, chia cách nhân dân (tượng trưng là Mỵ Nương) với Nghệ thuật (tượng trưng là tiếng hát Trương Chi), đẩy dân tộc vào vòng nô lệ tối tăm.

Trong bất cứ một chế độ độc tài nào, dù độc tài phong kiến, phát xít hay cọng sản thì ba thực thể xã hội: giai cấp thống trị, giai cấp bị trị và những người hoạt động trong lãnh vực văn hóa nghệ thuật luôn luôn đối chọi. Giai cấp thống trị là vua quan, là đảng Cọng Sản đàn áp nhân dân – là giai cấp bị trị. Người nghệ sĩ (chân chính) đứng về phía giai cấp bị trị, đứng về phía nhân dân nổi lên chống lại giai cấp thống trị vì người nghệ sĩ chân chính là người phục vụ nhân dân. Trong ý nghĩa đó thì quan Tể Tướng (có khi gọi là Thừa Tướng) tượng trưng cho giai cấp thống trị, – trong vở kịch thơ nầy thì đó là đảng (Cọng Sản). Mỵ Nương tượng trưng cho nhân dân – nhân dân yêu thích và đi theo Nghệ thuật, tượng trưng là Tiếng Hát (Trương Chi). Người nghệ sĩ chân chính trong mọi chế độ độc tài luôn luôn bị đàn áp khắc nghiệt, bị tù đày, bị nhục hình: Tư Mã Thiên bị chặt chân, Lý Bạch nhảy xuống sông ôm trăng mà chết hay ông bị giết, Đỗ Phủ chết trong cảnh đói nghèo vì những bài thơ của ông chống lại chiến tranh tàn khốc do giai cấp thống trị tranh giành quyền lực mà gây ra, thơ ông đâu phải để phục vụ cho bọn thống trị. Một đêm ở Nghi Tàm, Phùng Quán đọc thơ Đỗ Phủ cho vợ nghe. Xúc động vì ý thơ, lời thơ, vợ ông khóc. Phùng Quán an ủi vợ:

 

Em ơi đừng khóc nữa!

Chuyện ngàn năm, ngàn năm

                        Hễ đi với nhân dân

                        Thì thơ không thể khác

                        Dân máu lệ khốn cùng

                        Thơ chết áo đắp mặt.

 

(Đêm Nghi Tàm đọc Đổ Phủ cho vợ nghe)

*

Những nhà phê bình văn học thường cho rằng mãi đến đầu thế kỷ 20, vì chịu ảnh hưởng văn chương lãng mạn Pháp chúng ta mới có những nhà thơ lãng mạn như Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử. Có lẽ điều đó đúng khi người ta nhận xét trên dòng văn học chữ viết. Tuy nhiên, trong văn chương truyền khẩu thì tính lãng mạn, trữ tình đã có từ rất lâu, từ trong truyện thần thoại, truyện cổ tích, trong ca dao, trước khi tổ tiên chúng ta có phương tiện để viết thành sử sách.

Thật vậy, qua những chuyện cổ tích như chuyện Trương Chi Mỵ Nương, Chữ Đồng Tử – Tiên Dung, chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh, chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy (Nỏ Thần), chúng ta thấy dân tộc chúng ta có những mối tình thủy chung rất đặc sắc, rất say đắm, tình cảm phong phú dạt dào mà chỉ có những dân tộc biết tôn trọng và duy trì một đời sống tinh thần mạnh mẽ mới có được. Những câu ca dao như: “Ra về để áo lại đây, Để khuya em đắp gió Tây lạnh lùng”, “Qua cầu ngã nón trông cầu, cầu bao nhiêu nhịp em sầu bấy nhiêu”, “Thuyền ai đi trước, cho tôi lướt tới cùng. Chiều đã về trời đất mông lung, phải duyên thì xích lại cho đỡ não nùng tiếng sương,” và biết bao nhiêu câu chuyện tình khác nữa, bao nhiêu câu ca dao khác nữa, biểu lộ đặc tính tình cảm trữ tình phong phú và lãng mạn của người Việt chúng ta, nói sao hết được. Nghe tiếng hát hay mà mê, trông thấy người đẹp chỉ một lần mà mê, rồi say đắm, rồi tương tư và chết. Chết rồi, tình cũng chưa hết. Tình biến thành đá, thành ngọc. Có lẽ tính chất trữ tình lãng mạn đó vượt quá mức Lamartine, Chateaubriand, Verlaine, Rimbeau trong thi văn lãng mạn Pháp. Về mặt phong kiến, chịu ảnh hưởng luân lý Khổng Mạnh, tính chất lãng mạn trong thi văn Việt Nam đã bị cấm đoán. “Đàn ông chớ đọc Phan Trần, Đàn bà chớ đọc Thúy Vân, Thúy Kiều.”  Có lẽ cái “chớ” tức là cái cấm đoán đó, không được người Việt Nam chúng ta tuân thủ lắm, ngoại trừ trong một số nhà quan quách vong bản, ưa làm ra vẽ đạo đức cao trọng, còn đa số bình dân thì việc cấm ấy chẳng mấy ai lưu tâm. Vì vậy những chuyện tình, những câu hò trữ tình lãng mạn vẫn tiếp nối truyền lưu trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam. Bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu đứa trẻ, vẫn chờ một đêm trăng thanh gió mát, nằm bên cạnh ông bà để được nghe câu chuyện tình bi thương: “Ngày xưa có anh Trương Chi…”

… đến giải phóng dân tộc

Trong suốt những năm sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, những năm dài trong trại cải tạo, trong trại tỵ nạn và những năm mới đến định cư ở Hoa Kỳ, tôi vẫn thường thắc mắc: Chúng ta chống Cọng trên những nguyên tắc nào?

Một điều ai cũng hiểu, dù là một việc nhỏ, khi thực hành ta cũng phải có phương sách, kế hoạch, nguyên tắc. Một người đi shopping cũng phải có sự sắp đặt tính toán. Việc lớn, chống Cộng sản để xây dựng một đất nước, không lý chúng ta không có một nguyên tắc nào, kế hoạch nào?

Trong tất cả chính phủ chống Cọng Sản ở Miền Nam VN, một cách tổng quát, chính quyền Ngô Đình Diệm chống cộng có nguyên tắc nhứt. Năm 1958, vừa bước chân vào nghề thầy giáo, tôi luống cuống vì Nghị Định thay đổi chương trình ngày 12.8.1958 của Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Các nhà văn trong “Tự Lực Văn Đoàn” được đưa vào chương trình Việt văn lớp đệ nhị, trở thành đề tài quan trọng trong các kỳ thi kỳ thi Tú Tài I. Đó là điều trước kia không có. Tôi không được học những tác giả nầy ở trung học cũng như đại học. Tuy nhiên, qua nhiều lần hội thảo và nhất là qua nhiều lần được nói chuyện và cọng tác với tạp chí “Rạng Đông” của giáo sư Lê Hữu Mục, tôi biết rõ thêm một nguyên tắc chống Cọng: Văn hóa tư sản chống văn hóa vô sản. Bấy giờ, công cuộc chống Cọng ở Miền Nam được nâng lên hàng quốc sách, cho nên việc chống Cọng cần đặt trên những nguyên tắc căn bản nhất: Hữu thần chống vô thần, tư sản chống vô sản, tự do chống độc tài. Trên ý nghĩa đó, dù sao miền Nam lúc ấy cũng có một học thuyết. Dù có chắp vá như thế nào đi nữa thì cũng có một học thuyết (Cần lao Nhân vị) để chống lại một học thuyết (Mác-Lênin)

Sau ngày 1.11.63, người miền Nam vẫn tiếp tục chống Cọng nhưng chẳng căn cứ trên một nguyên tác nào nữa cả. Báo chí hỏi thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ (thời Dương văn Minh) chương trình cách mạng của ông ở đâu thì ông chỉ vào bụng. Có lẽ ông muốn nói tới câu của người xưa: “Binh giáp tàng hung trung”. Còn ông Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ chống Cọng trên căn bản chủ nghĩa Quốc gia nhưng chắc chắn một trăm phần trăm các ông đó không rõ chủ nghĩa quốc gia đó như thế nào?

Trên một vài tờ báo đã cọng tác, tôi có đặt vấn đề cơ bản nhất nầy. Phải có một học thuyết để chống lại học thuyết cọng sản. Chủ thuyết Duy Dân của Lý Đông A, Chủ nghĩa Bình Sản của Trương Tử Anh, có mấy ai được đọc và thông suốt. Mới đây, trong một dịp may mắn gặp anh hùng Lý Tống, tôi lại đặt vấn đề với ông về học thuyết. Có lẽ ông là một nhà hành động hơn là một lý thuyết gia nên tôi cũng chưa được thỏa mãn lắm về câu trả lời của ông.

Trong chế độ phong kiến, các triều đại vua chúa của ta, nhất là thời nhà Nguyễn, rập khuôn Trung Hoa theo Tống nho trong việc cai trị, đã tạo nên một chế độ hà khắc phong kiến mà ngày nay, dưới ánh sáng chủ nghĩa tự do dân chủ đã phát huy rực rỡ từ Thế kỷ Ánh sáng bên châu Âu, nó đã trở thành một thứ vô cùng hủ lậu. Chế độ cọng sản nói chung, áp dụng chủ nghĩa Mác cọng thêm tư tưởng bá đạo Lê Nin (Lê Nin nổi tiếng bá đạo). Hơn thế nữa, khi chủ nghĩa Mác-Lê Nin ứng dụng vào chế độ Cọng sản Việt Nam thì còn cọng thêm “tư tưởng Mao”. Cũng như Lê Nin, “tư tưởng Mao” cũng là một thứ “bá đạo” cực kỳ phản động, bất nhân mà “học trò cưng nhất” của Mao là Pol Pot đã chứng minh điều đó trước thế giới trong thời gian y trị vì cái gọi là “Nước Kampuchia Dân chủ”, cũng tên đao thủ phủ diệt chủng nầy gọi Mao là “người thầy vĩ đại” (Xem “Anh Em Thù Địch” (Brother Enemy) của Nayan Chanda, tuệ chương dịch). Một cách nôm na, các anh em cải tạo trại Gia Rây gọi chủ nghĩa Cọng sản là gồm có Công An + Hộ khẩu, có nghĩa là Cọng Sản một tay cầm súng dí vào lưng dân, một tay cầm bao tử dân, cho dân no được no, cho dân đói phải đói. Đố người dân chống lại chế độ bằng cách nào. Nói theo sách vở thì chủ nghĩa Cọng sản là bao gồm Machiavelli+ Mác + Mao + Vệ ưởng + Tào tháo, v.v… nghĩa là bao gồm tất cả những tư tưởng bá đạo nhất của nhân loại Đông Tây Kim Cổ mà thành. Người dân nào có thể sống nổi với một chế độ như thế?

Trong thời gian bị tù côn đảo dưới chế độ nhà Ngô, Hồ Hữu Tường ngồi tư duy để soạn ra điều mà ông gọi là “Trầm Tư Của Một Người Tội Tử Hình”, sau nầy ông đặt tên là “Minh Đạo”. Tư tưởng xây dựng đất nước chất chứa trong tập nầy là một sự tổng hợp: Tinh hoa chủ nghĩa Mác – Ông gọi là văn minh chính ủy, tức là sự động viên và tổ chúc dân chúng, kết hợp với văn minh cơ khí Tây Phương. Hai thứ nầy không có linh hồn, nhân ái nên phải cọng với Từ Bi của đạo Phật, để có thể dẫn dắt dân ta đào núi lấp sông, xây dựng tương lai dân tộc. Trong “Minh Đạo” của Hồ Hữu Tường lại thiếu vắng một nguyên tắc căn bản nhất: Tự do Dân chủ. Đây là điểm căn bản trong đời sống tinh thần và xã hội Việt Nam. Từ ngàn xưa, làng xã là đơn vị căn bản của nước Việt. Sinh hoạt làng xã là sinh hoạt tự trị và dân chủ. “Phép vua thua lệ làng”. Lệ làng là hiến pháp của làng. Đó chính là yếu tố căn bản để giành lại tự chủ sau một ngàn năm Bắc Thuộc, một trăm năm đô hộ Pháp và đánh bại tất cả các cuộc xâm lăng. Chế độ Cọng Sản, Đệ nhất và Đệ nhị Cọng hòa đều vi phạm nguyên tắc căn bản nầy nên chắc chắn không chế nào tồn tại được lâu dài. Cũng từ ý nghĩa đó, “Minh Đạo” của Hồ Hữu Tường cũng mai một theo năm tháng, không để lại một dấu ấn sâu sắc nào trong tư tưởng những nhà lập thuyết sau nầy.

Tuy vậy, tôi vẫn thấy một nhãn quan đặc sắc trong tư duy của Hồ Hữu Tường. Trong thời Đệ nhất Cọng hòa, để định cư một triệu người di cư từ miền Bắc vào phía Nam vĩ tuyến 17, và để phát triển đất nước, nhất là về mặt nông nghiệp, ông Ngô Đình Nhu đã thiết lập các Khu Trù Mật và Dinh Điền. Theo một số người thì ông Ngô Đình Nhu xây dựng các khu kinh tế nầy cũng một phần mô phỏng theo các kolkhoz (nông trang) của Liên Xô và kibbuz (trung tâm nông nghiệp) của Do Thái. (Tôi không đề cập đến Ấp chiến lược vì sự nghiệp chưa hoàn tất và đặc biệt việc thi hành sai lạc của cán bộ địa phương). May mắn làm một người lính đi nhiều, gần khắp bốn vùng chiến thuật, lại đảm nhận nhiều công tác phải tiếp xúc với dân chúng, tôi từng đến các khu trù mật như khu trù mật Bắc Đậu ở tỉnh Quảng Đức cũ, khu Gia Kiệm có lẽ nhiều người biết đến và khu dinh điền Cái Sắn, suốt từ kinh G, kinh H đến tận kinh 5, kinh 6. Bất cứ ở đâu, thời gian đầu, người dân gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều người đã bỏ về thành phố. Nhưng cái gì đã làm cho số đông người ở lại, chịu khó vượt qua mọi khó khăn và không bao lâu sau họ đã thành công, trở nên khá giả. Đó chính là sự lưu tâm giúp đỡ của chính quyền Trung Ương. Phủ Đặc Ủy Dinh Điền không trực thuộc hội đồng bộ trưởng mà trực tiếp làm việc với ngay chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Điều đó cho thấy sự lưu tâm đặc biệt của Trung Ương như thế nào. Bên cạnh đó, các linh mục đã đóng một vai trò tích cực trong việc giữ dân ở lại, động viên người dân khai phá đất đai, phát triển nông nghiệp. Các linh mục cũng mở rộng các sinh hoạt hoạt giáo dục, y tế, v.v… để nâng cao đời sống tinh thần của họ. Có thể coi như từng sống với dân, chuyện trò thân mật với họ, nghe họ kể lại những gian nan vất vả từ lúc ban đầu, tôi có thể kết luận rằng nếu không có các linh mục đóng một vai trò quan trọng, thì không thể có các vùng dân cư trù phú như khu dinh điền Cái Sắn ngày nay. Dĩ nhiên có người không đồng ý với tôi về một vài hành vi của vài vị linh mục, nhưng với tôi, tôi nhìn vấn đề trên mặt tổng thể mà thôi. Thiếu hai yếu tố căn bản như tôi vừa nói ở trên, chương trình Kinh Tế Mới của Cọng Sản sau năm 75 chỉ là đem con bỏ chợ, hoàn toàn thất bại.

Thời gian hình thành các Khu Trù Mật và Dinh Điền, Hồ Hữu Tường gị giam ở nhà tù Côn Đảo. Do đâu ông ta phát triển tư tưởng của ông. Ông muốn hiện đại hóa Phật giáo, đưa tăng lữ Phật giáo vào cuộc sống xã hội. Ông chỉ rõ vai trò của tăng lữ Phật giáo phải đảm nhận công việc lãnh đạo tập thể trong việc xây dựng làng xã mới, xẻ núi lấp sông. Điều nầy tôi đọc ở ông (Minh Đạo) và khi cuộc đời lính đưa tôi đến các khu Dinh Điền, Trù Mật, tôi thấy các linh mục ở đây đã đảm nhận trọn vẹn công việc nầy rồi, tuy không trực tiếp như trong “Trầm Tư Một Người Tội Tử Hình” của Hồ Hữu Tường. Có phải từ tư duy đó mà sau nầy Phật giáo thành lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ở Chợ Lớn nhưng hoạt động không có kết quả là bao?

Đọc truyện Chữ Đồng Tử và Tiên Dung, cô công chúa bất chấp lệnh vua cha, lấy một anh chàng đánh cá nghèo đến nỗi không có cái khố che thân. Vậy mà hai người ấy đã làm cho vùng đất họ sinh nhai trở thành một nơi dân cư đông đúc trù phú, khiến vua cha phải đem lòng sợ hãi cho quân đến đánh. Không thể có tình trạng một nước trong một nước, không thể chống lại vua cha, hai người bèn dời hết cả làng lên cõi tiên, thay vì để nó tàn lụi như nhiều thành phố chúng ta thường thấy.

Làm cách nào mà nơi ấy trở thành phồn vinh, -đó là trong truyện cổ; làm thế nào mà cuộc sống dân ta càng lúc càng phát triển trong cuộc Nam tiến, cũng giống như người Mỹ trong cuộc Tây tiến của họ. Có lẽ tất cả điều tận mắt tôi thấy và tôi đọc như tôi trình bày ở trên, tôi đề nghị những nhà lập thuyết, những nhà lãnh đạo đất nước sau nầy hãy tìm hiểu, nghiên cứu cho tận tường.

Và Kinh Việt

Có người sẽ không ngạc nhiên lắm khi nghe tới hai chữ Kinh Việt, chủ xướng của một nhóm người Việt tỵ nạn hiện đang định cư tại Úc.

Họ không vay mượn tư tưởng từ bên ngoại mà kiến trúc một học thuyết để: xây dựng đất nước, giải phóng dân tộc trên căn bản tinh hoa tư tưởng, tình cảm và sức sống của dân tộc qua những chuyện cổ tích của tổ tiên chúng ta. Họ nghiên cứu, tìm tòi, sắp xếp, hệ thống tư tưởng thuần túy Việt Nam trong truyện cổ tích để xây dựng một học thuyết đặc thù cho dân tộc, xây dựng và phát triển đời sống dân tộc trên căn bản những tinh hoa của tổ tiên chúng ta.

Họ là những trí thức, có người là cựu linh mục, nhìn vấn đề theo một lăng kính đặc biệt. Nếu Kinh Thánh Cưụ ước là sự tích của một dòng họ, Tân Ước là sự tích (tư tưởng và hành trạng) của môt người, Chúa Dê-Su thì truyện cổ tích Việt Nam đưọc hệ thống thành Kinh Việt để làm kim chỉ nam cho người Việt Nam xây dựng lại và phát triển đất nước mình. Họ đem lăng kính nghiên cứu kinh thánh để nghiên cứu văn hóa dân tộc Việt qua những chuyện cổ tích và thần thoại.

Điều đó đúng chăng?

Có lẽ với một số nhà thần học, người ta sẽ không nhất trí. Kinh Thánh, nhất là Tân Ước không hẵn là tư tưởng và hành trạng của một người mà chính là của Thượng Đế, trong khi truyện cổ tích và thần thoại, dù không phải là tác phẩm của một người mà của cả một dân tộc thì chính nó cũng không phải từ một sự mặc khải của Thượng đế.

*

Nếu không đặt vấn đề trên căn bản so sánh như thế, chúng ta sẽ thấy được đặc sắc trong truyện cổ tích Việt Nam qua lăng kính Kinh Việt.

Kinh Việt nhận định phân tích và hệ thống hóa tất cả truyện cổ tích Việt Nam. Riêng về Trương Chi – Mỵ Nương, tác giả Nam Thiên nhận xét:

Bài 8

Kinh Trương Chi

1)- Chính kinh

… … … … … …

Diễn Kinh

2)- Giới thiệu tình Nam Nữ.

Đây quả là một thiên tình sử lãng mạn, khác hẵn quan niệm khắt khe về tình ái của Khổng học, mà chúng ta thường nghe nói là của người xưa. Thiên tình sử nầy được lưu truyền rộng rãi trong đại chúng suốt mấy ngàn năm, chứng tỏ văn hóa Việt có những nét đặc thù. Đặc điểm nầy khác hẵn bộ mặt khô cằn mà giới trí thức Tống nho đã cố ngụy tạo và giới phục vụ Tây học đã cố khai thác.

Cùng với tục ngữ và cao dao tình tứ tràn ngập trong đại chúng, thiên tình sử nầy đã phản ảnh đích thực quan niệm sống của dân tộc ta.

Trong suốt dòng lịch sử, Tổ Tiên ta chưa bao giờ coi rẽ hoặc gò bó tình yêu nam nữ. Nhiều nơi trong sử sách người Hoa cũng ghi nhận cách sống đặc biệt nầy, dĩ nhiên với những thêm thắt lố bịch như họ thường làm.


3)- Tình yêu và con người.

31)- Chuyện tình nam nữ.

Hình ảnh Trương Chi chèo đò trên sông nhắc nhở Chữ Đồng khi chưa gặp Tiên Dung. Cả hai đều sống vất vưỡng, cô đơn, túng thiếu và kiếm ăn nhờ sông nước.

Hơn nữa, Kinh Trương Chi và Kinh Chữ Đồng còn giống nhau ở chỗ cùng nói về chuyện gặp gỡ giữa một chàng và một nàng. Tuy nhiên hoàn cảnh, tâm trạng và kết cục của hai cuộc gặp gỡ lại hoàn toàn khác nhau.

Vì vậy, để thâm hiểu tình ý của Kinh Trương Chi, ta so sánh với Kinh Chữ Đồng.

32)- Tìm nhau tận tình.

a)- Trước hết, tuy hoàn cảnh giống nhau nhưng Trương Chi khác Chữ Đồng, điểm đầu tiên chàng đã bộc lộ tài năng ngay cả trước khi gặp nàng Tiên của chàng.

Tiếng sáo Trương Chi ngày đêm văng vẳng trên sông nước, khi thì réo rắt dìu dặt như gió thoảng mây bay, lúc lại dìu dặt hùng tráng như cuồng phong bão tố; khi thì bập bềnh trầm buồn da diết, lúc lại vút cao bay bỗng chín tầng mây… Tiếng sáo của chàng như Rồng thiêng vẫy vùng thỏa thích giữa sông nước mây trời.

Trách gì tiếng sáo huyền diệu đó đã ru hồn nàng Mỵ Nương hương sắc. Với trí tưởng tượng thần tiên của một thiếu nữ mới lớn, Mỵ Nương đã dệt tiếng sáo thành hình ảnh người tình muôn thuở. Mê mẫn trong tiếng sáo du dương, nàng đã hình dung ra chàng nghệ sĩ hào hoa phong nhã. Theo nhịp tim rộn rã với điệu nhạc trầm hùng, nàng mường tượng người tráng sĩ hiên ngang … Nàng lẫn lộn giữa mộng và thực.

Tiếng sáo bay lượn vùng vẫy của chàng Rồng nghệ sĩ đã làm cho nàng Tiên của chúng ta  ngã bệnh tương tư. Nàng tương tư người tình hào hoa chưa một lần gặp mặt.


b)- Đây cũng là điểm khác với cặp Chữ Đồng Tiên Dung. Ở Kinh Chữ Đồng, Tiên Dung bỏ cung điện xuống thuyền đi tìm Rồng, và Chữ Đồng cũng đã quanh quẩn trên bờ sông để kiếm nàng Tiên của chàng. Tiên đã bỏ đất xuống nước tìm Rồng. Rồng bỏ nước lên bờ tìm Tiên.

Đang khi đó, Rồng Trương Chi lại chèo đò, vui sống và trổ tài trên sông nước, còn Tiên Mỵ Nương thì kín cổng cao tường. Mỗi người đóng khung trong cuộc sống của mình, chỉ biết có mình.

Tiên Dung và Chữ Đồng đã chủ tâm đi tìm nhau, còn Trương Chi và Mỵ Nương thì không.


3.3)- Gặp nhau trọn vẹn.

a)-          … … …

b)- Trương Chi và Mỵ Nương thì không vậy. Đã không hề dấn thân đi tìm Rồng, Mỵ Nương lại tương tư một chàng trai huyền ão, đệt bằng tiếng sáo phiêu du. Lạ gì khi Trương Chi được mời tới thì dáng dấp người lái đò đã làm nàng thất vọng.

Trương Chi bằng xương bằng thịt thì làm sao có thể ứng hợp với người tình trong mộng của nàng tiểu thơ khuê các! Mỵ Nương bừng tỉnh trước thực tế phủ phàng.

Trương Chi còn tệ hơn. Chàng chỉ mới thoáng thấy hình bóng mỹ nhân trong giây phút  mà đã tưởng là duyên kiếp ngàn năm. Ngay từ phút đầu gặp gỡ, Trương Chi bỗng bị tiếng sét ái tình.

Từ đó chàng ôm ấp bóng hình người kiều nữ trong mơ mà không hề tìm hiểu con người và tâm trạng của nàng. Chàng mê đắm một bóng hình. Mà đã là bóng hình thì làm sao có thể đáp lại tình yêu!


34)- Trọn vẹn con người.

a)- … … … …

Trái lại, Trương Chi và Mỵ Nương mới chỉ yêu bóng yêu gió, nên cũng tan mau như tiếng sáo thoảng, và hão huyền như bóng hình.

b)- Gái tham tài, trai tham sắc.

Trai tài gái sắc gặp nhau thì thực đẹp duyên trời. Nhưng tài sắc không phải là tất cả. Tài Sắc hay bất cứ gì khác, phải là cửa ngõ dẫn tới sự gặp gỡ tâm hồn, tới trọn vẹn con người, trọn vẹn cuộc đời.

Biết bao nhiêu cuộc tình, bao cuộc đời đổ vỡ đắng cay cũng chỉ vì tự giới hạn ở tài sắc mà không thành tâm tìm kiếm và không thực sự gặp gỡ con người trọn vẹn của nhau.

Nói tình yêu là nói con người trọn vẹn. Yêu với trọn vẹn chính mình và yêu trọn vẹn người mình yêu.

4)- Tình Yêu và cuộc sống.

41)- Chết vì yêu.

Từ ngày mê đắm hình bóng Mỵ Nương và không được hình bóng đó đáp tình, Trương Chi sinh bệnh và hao mòn mà chết. Không đưọc yêu lại, Trương Chi gục ngã. Thân xác chàng đã không chịu đựng nổi thiếu vắng của tình yêu.

Ôi sức mạnh của tình yêu! Dầu chỉ là ão tưởng, dầu mới như bóng hình, tình yêu cũng đã ảnh hưởng sâu đậm tới con người. Không tình yêu, tình yêu không được đáp ứng, thì con người không thể sống.

Không có tình yêu, cuộc sống con người không có ý nghĩa, cuộc sống không còn đáng sống.


42)- Sống Trong Tình.

a)- Trương Chi đã chết. Nhưng trái tim chàng không tan rã mà lại hóa thành ngọc.

Cho trái tim, cho tình yêu của Trương Chi thành ngọc, Tổ Tiên ta đã xác nhận sự quí chuộng đặc biệt dành cho mối tình nầy. Thân xác chàng lái đò si tình không còn nữa nhưng tình yêu của chàng vẫn tồn tại. Trái tim ngọc còn đó, trong ngời, sáng đẹp.

b)- Viên ngọc nầy, khác với đá ngọc ở các Kinh khác, lại được gọt dũa thành chén trà.

Với chi tiết nầy, Tổ Tiên đã phân định giá trị của từng cuộc sống.

…  … … … …

c)- Tuy trở thành chén trà nhưng không phải là chén trà đất đá vô tri. Mỗi khi có trà, hình bóng Trương Chi chèo đò lại hiện lên và tiếng sáo thu hồn  của chàng lại văng vẵng.

Như thế, sau khi chết vì tương tư, Trương Chi vẫn sống trong trái tim của chàng. Óc diễn đạt của Tổ Tiên quả đã đến mức thần diệu. Không được đáp tình, Trương Chi gục chết. Nhưng trong trái tim, trong tình yêu, của chàng, chàng vẫn sống, vẫn chèo đò, vẫn thổi sáo, vẫn sống nguyên vẹn đời sống trước kia.


43)- Sống Chết Vì Tình.

Không còn hình ảnh nào đầy đủ và tài tình hơn để diễn tả ý nghĩa và vai trò của Tình Yêu trong Cuộc Sống Con Người. Không tình yêu, con người không thể sống. Trong tình yêu, con người vẫn luôn sống. Tình yêu quyết định sự sống chết của con người.Có tình yêu, đời sống con người mới thực là sống.

Ngày nay, văn minh vật chất đã nhận chìm tâm hồn con người trong máy móc cơ xưởng, trong rộn ràng của phương tiện truyền thông, trong vật chất bon chen… và biến con người thành những cái máy, những con vật phản xạ có điều kiện.

Các tà thuyết đủ loại đã chối bỏ tình yêu, thủ tiêu tâm hồn con người. Chúng lấy các phản ứng và cách sống đã khảo sát được ở thú vật để làm khuôn mẫu cho con người. Trong cái xã hội chỉ biết theo thú vật mà sống, mà cư xử, mà giao tiếp nam nữ … mà đấu tranh sinh tồn, mà mạnh được yếu thua, mà áp bức hận thù… thì trách gì con người đối xử với nhau như loài thú, kiếp người thua cả súc vật.

Không tâm hồn, không còn tình yêu, con người là ác thú tàn bạo nhất. Con người khác loài thú ở tình yêu, ở tâm hồn. Tình yêu làm cho con người đích thực là người.


5)- Đích Điểm Tình Yêu.

51)- Hòa một nhịp rung.

Trong trái tim ngọc, trong chén trà,

hoànglonghải

Đã xem 4222 lần

Chúng tôi nhận thiết kế website hoặc hướng dẫn tạo website riêng với giá phải chăng.
Xin liên lạc Email: baotoquoc@hotmail.com

1 Trackback / Pingback

  1. Kín cổng, cao tường – biển xưa

Leave a Reply

Your email address will not be published.