Lăng Ba Vành

(Ba ngày tết, nói chuyện Lăng vua Quang Trung)

            Ngày 31 tháng năm 1955 là ngày thi Trung Học. Vậy mà ngày 30, trước đó một hôm, tôi “đi biểu tình” ở Phú Văn Lâu để nghe ông Hồ Hán Sơn, từ Saigon ra nói chuyện với đồng bào Huế, việc truất phế ông Bảo Đại, “đuổi Tây về nuớc”.

            Người Huế rất yêu nước, muốn nước nhà độc lập nên cuộc biểu tình hôm đó “đông vô số kể” – Phú Văn Lâu “chen chân không lọt” – Sở dĩ người Huế “ủng hộ Ngô Chí Sĩ” vì ông Diệm là người chống Tây.

            Cũng hai hôm trước đó nữa, tôi và mấy đứa bạn rủ nhau “đi chơi lăng”. Ông chú tôi – “nơi tôi ở trọ”, bảo: “Đi chơi một chút cho thư giản, mày học quá, mụ người, vô phòng thi chẳng nhớ gì!” Quả thật mấy tháng trước tôi học dữ lắm, bởi tôi học băng một năm, sợ yếu sức học, dễ hỏng.

            Hôm đi chơi lăng, chúng tôi, khoảng một chục đứa, cũng không đông lắm, bởi bọn học trò Huế rất khoái “đi chơi lăng”, từ “hồi xưa”, trước 1945. Trong suốt cuộc chiến tranh 1945/ 54, “sợ Việt Minh” gán cho cái tội “giả bộ đi chơi lăng để làm mật thám cho Tây”, đã có một vụ “bị Việt Minh chém bêu đầu” ở Khiêm Lăng, nên ai nấy lạnh giò, có đi chơi, cũng quanh quẩn trong thành phố mà thôi.

            Sau hiệp định Genève 1954, học trò đi chơi lăng đã nhiều: Chủ nhựt, ngày vía Phật, ngày lễ, học trò Khải Định (tên trường Quốc Học hồi đó), Đồng Khánh, rủ nhau đi chơi lăng rất đông vui. Tôi cũng là người ham vui và bọn tôi cũng háo hức lắm, nhưng nhằm “năm thi” nên đành “nhịn”. Nay thì đi một chuyến.

            “Mấy đứa” đi hôm đó, tôi còn nhớ có Trần Xuân Mai, anh chàng học bên “Khải Định Nhỏ” (Trung học Đệ Nhứt Cấp), “rân ri cư Bắc Kỳ”, chưa từng đi chơi lăng bao giờ, – sau nầy anh làm giáo sư trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị, nay đang ở Nam Cali. Thứ đến là Vĩnh Châu, “dân hoàng phái” mà chẳng biết lăng tẩm là cái gì cả, nên cũng rất ham – trước 1975 là trung tá Quân Vận VNCH, nay không rõ ở đâu.

            “Đi chơi lăng”, bọn học trò thường đi ngã hữu ngạn sông Hương,  tức là đi theo con đường Xuân Diệu mô tả là “con đường Nam Giao thẳng mà không bằng”, rồi “tụi nó” lên Khiêm Lăng, (Lăng Tự Đức), gần nhứt, rồi qua lăng Khải Định (Ứng Lăng), lăng Thiệu Trị (Xương Lăng), đồi Vọng Cảnh, qua “bến đò Tuần” – ngã ba hai nguồn sông Tả Trạch, Hữu Trạch để thăm lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng) bên phía tả ngạn. 

            Thăm lăng Minh Mạng xong thi đã quá trưa, lo mau mau về chùa Sư Nữ (1) “ăn cơm chay” (cơm chùa), sợ tới trễ thì hết cơm. Hết cơm thì trở lại lăng nào đó, mua củ khoai, củ sắn gì đó ăn cho đỡ đói. Cũng có khi đi chơi lăng, ghé vào một ngôi chùa nào đó, chùa xa Huế như Tây Thiên, Viên Thông, hái trộm cây trái của chùa. Mấy “thầy” có bắt gặp cũng chỉ cười, niệm “Nam mô A Di Đà…”, chẳng la mắng gì đâu!

            Hôm đó chúng tôi theo một con đường khác với người ta. Thay vì họ đi heo ngã Nam Giao, bên hữu ngạn, thì chúng tôi đi bên tả ngạn, là theo ngã Chùa Linh Mụ.

            Qua khỏi chùa Linh Mụ, người ta gặp “đồn Văn Thánh”.

            Cũng như các triều đại trước, sau khi lên ngôi, vua Gia Long cho dựng Văn Miếu, còn gọi là Văn Thánh để thờ Khổng Tử, “thất thập nhị hiền”, tức 72 người học trò giỏi của ông Khổng, nên có khi người ta gọi là “Khổng Miếu”.

            Bảo rằng Tây lấy Văn Thánh để đóng đồn – nên người Huế mới gọi là “đồn Văn Thánh” cũng không đúng lắm đâu, vì ngay từ thời Chính phủ Trần Trọng Kim, khi luật sư Phan Anh làm bộ trưởng Thanh Niên, ông “quan hai” Phan Tử Lăng – gọi theo cách hồi đó – (2), phụ trách “Thanh Niên Tiền Tuyến (?)”, hai ông cùng nhau mở một “trường Quân Sự” để đào tạo cán bộ quân sự cho đất nước ở Văn Miếu. – Trong số các “học viên” (sau nầy thường gọi là sinh viên sĩ quan), có Trung Tướng (Cộng Sản) Cao Văn Khánh, hồi đó là giáo sư trường Thuận Hóa Huế, do ông Tôn Quang Phiệt làm hiệu trưởng.

            Để tránh khỏi sự dòm ngó của Nhật, trường nầy không có tên là trường quân sự, chỉ gọi là “trường đào tạo cán bộ” của “Thanh Niên Tiền Tuyến”, cải danh từ Thanh Niên Tiền Phong. Trong khoa học đầu tiên (và cũng chỉ có một khóa mà thôi), ông “quan hai” Phan Tử Lăng phụ trách giảng dạy và thực tập về quân sự, luật sư Phan Anh phụ trách dạy về chính trị. Văn thánh dùng làm trường sở.  Cuối năm 1946, sau khi chiến tranh Việt-Pháp nổ ra, Tây đóng đồn ở Văn Thánh. Bọn chúng đem hết “bài vị” của “Đức” Khổng Tử, cũng như 72 vị hiền thả trôi sông. Sư trụ trì chùa Linh Mụ vớt hết các bài vị đó, xếp cất ở hậu liêu của chùa. Cũng năm 1955, khi tôi lên thăm Chú Bình, bạn học, tu ở chùa nầy, chú có cho tôi xem các bài vị nầy, nhưng tôi không đọc được chữ Hán, nên không biết bài vị nào là của ông nào! Không rõ bây giờ, dòng đời đưa đẩy các bài vị nầy “trôi giạt” về đâu, hay còn nương náu ở chùa Linh Mụ. Thật tội nghiệp cho các vị “thánh / hiền. Đã là thánh hiền mà có qua khỏi cuộc đời khổ ải nầy đâu! “Tang thương đến cả hoa kia, cỏ nầy” (Cung Oán Ngâm Khúc) huống chi mấy cái bài vị bằng gỗ.

            Trong mấy năm chiến tranh, “bộ đội Việt Minh” cũng như du kích về hoạt động tận các đồn Tây – Ban đêm, lính tráng có dám ra khỏi đồn đâu! – nên các làng kế đồn Văn Thánh, về phía Tây – phía thượng nguồn sông Hương như làng Long Hồ, Ngọc Hồ bị súng đạn tàn phá dữ dội. Nhà gạch không còn vì đạn đại bác hay Việt Minh “tiêu thổ kháng chiến”. Con đường từ Văn Thánh đi ngược dòng sông Hương, bản đồ cũ ghi “Route Carrossable” nhưng khi đi dọc các làng nầy, theo con đường cũ sát bờ sông thì đường cũ đã hư hết, có nơi sạt, lở – đường rơi xuống sông mất rồi, dân làng phải “mở đường mòn mới” lấn vô vườn nhà người ta. Không còn một chiếc cầu, cầu đúc hay cầu gỗ. Dân dựng lại “cầu khỉ”- Tây đi lùng mà qua cầu khỉ thì coi như trở thành mục tiêu ngon lành cho Việt Minh, làm gì còn cảnh thanh bình: “Qua cầu ngã nón trông cầu.” bọn chúng tôi phải “vác xe đạp qua cầu khỉ”. Đi rất vất vả mà vui lắm.

            Hết làng Ngọc Hồ, gặp một “đồi chè” đẹp lắm. Sườn đồi thoai thoải, cây chè ngang đầu. Người ta không hái lá non để ướp trà như ở Blao mà hái lá già xanh đậm để nấu “chè Huế” như tục uống nước chè của giới bình dân Huế đấy.

            Bên kia dỉnh đổi chè, dốc đứng, rộn rã tiếng đàn, tiếng phách, nghe vui tai lắm. Nơi đó là “Diện Hòn Chén” đấy, nơi thờ “Thiên Tiên Thánh Mẫu”, là “Bà Chúa Liễu Hạnh”, là “người Mẹ của dân tộc Việt Nam”, một trong “Tứ Bất Tử” được các nhà văn hóa gọi là “tôn giáo nguyên thủy” của người Việt (3). Các bà, các chị đang “nhảy đầm” kiểu Việt Nam – thực ra là lên đồng đấy – các “thiên tiên” đang cúng và cũng đang “phê”!

            Chúng tôi chỉ đứng trên đồi nhìn xuống, không dám xuống vì bờ sông dốc đứng.

            Qua thêm một đoạn đường núi nữa – ở đây là núi, không còn đồi, là tới Hiếu Lăng (lăng Minh Mạng). Vào “chơi” lăng Minh Mạng một chút xíu thôi, chúng tôi vội vàng tiếp tục con đường mòn bên tả ngạn, lại qua núi, qua đèo để tới lăng Gia Long. Lăng xa nhứt, cách Huế 13km.

            Lăng tẩm ở Huế, cái nào cũng đặc biệt, mỗi lăng một nét riêng, biểu lộ cá tính của mỗi ông vua, nên lăng Minh Mạng, ông vua con, một đời thanh bình thanh bình, thạnh trị, khác với lăng Gia Long, ông vua cha, một đời chiến đấu, xông pha trận mạc, vào sinh ra tử…

            Có dịp sẽ trình bày (chia xẻ, nói theo kiểu Việt Cộng sau)

            Xế trưa, chúng tôi quay về.

            Đến bến đò Tuần – trước Hiếu Lăng – chúng tôi qua đò, không về theo con đường cũ, đã đi ban sáng, phía Tả ngạn, mà về theo phía Hữu ngạn để thăm lăng “kẻ thù không đội trời chung” với vua chúa nhà Nguyễn: Lăng Ba Vành (Lăng vua Quang Trung?)

            Trên đường về, gần tới Lăng Khải Định (Ứng Lăng), rẽ tay phải, chúng tôi đi ngược lên một con dốc cao, chúng tôi vào “thăm” Dòng Thiên An.

            Thật ra, chúng tôi còn trẻ, không thích lắm những nơi gọi là “Dòng”, ngoại trừ chùa. Chùa thì khác, không “âm u” như tu viện, nơi những chiếc áo đen ra vào lặng lẽ, âm thầm như những bóng ma, nên chúng tôi vào “đan viện Thiên An”, nằm trên một đồi thông dày, âm u tiếng gió thông reo như ở Đà Lạt. Chúng tôi chỉ mượn đường Thiên An để đi xuống vùng đất thấp, gần một con suối cạn, có một cái lăng nhỏ, người ta thường gọi là Lăng Ba Vành, dư luận nói là “Lăng Vua Quang Trung”.

            Lăng có ba cái “vành” (lăng), mỗi vành đều có cửa, cùng một phía liền nhau, chính giữa là “nấm”. Lăng xây bằng đá, gạch lẫn lộn, gắn với nhau bằng ba thứ chính (tôi đoán vậy): vôi, lá cây “ô dứa” và mật mía, chắc không thua gì xi măng. Vành và nấm có màu xám – màu đá, cát… “rêu phong”… Phía trong của nấm mộ, có một cái lỗ nhỏ, người ta có thể chui vào lọt. Có lẽ khi mới đào, cái lỗ còn rộng, nay “rêu phong” làm cái lỗ nhỏ lại. Theo cái lỗ, nhìn vào trong: tối thui! Một lúc quen mắt, mới thấy trong nấm trống rỗng. Quan tài hay xương cốt, người ta đã lấy đi rồi.

            Hồi ấy, vài đứa trong bọn chúng tôi, nghe dư luận, lăng Ba Vành là lăng vua Quang Trung. Ông Nguyễn Thiệu Lâu, học bên Tây về, làm giáo sư sử địa trường Khải Định trước 1945, đã cùng với học sinh của ông đi “khảo sát” cái lăng nầy, cũng nói rằng đây là lăng vua Quang Trung. Tuy nhiên, tôi không được đọc một bài văn nào của giáo sư bàn (chia xẻ, nói theo Việt Cộng) về đề tài nầy. Mãi về sau, khi tôi đi dạy học rồi, mới được đọc một bài của giáo sư viết (chia xẻ, nói theo VC), về lăng Ba Vành là lăng vua Quang Trung, đăng trên báo Bách Khoa khoảng năm 1960, tôi không nhớ báo số mấy.

            Thật ra, sau chuyến “đi chơi lăng” năm đó, cũng như các năm về sau, khi còn đi học, hay khi đã đi dạy, chúng tôi, trong đám bạn bè, ai đã đi coi lăng Ba Vành đều “thống nhất” (chữ VC đấy) với nhau vài ý kiến:

a)- So với những cái lăng vĩ đại khác như lăng Gia Long, lăng Minh Mạng, lăng Tự Đức, lăng Khải Định…. Thì lăng Ba Vành nhỏ quá, không thể là lăng của một ông vua “vĩ đại” như vua Quang Trung. Đó là nói theo cảm tính.

b)- Cỡ lăng như thế, có thể là lăng của một ông quan, cấp trung trở lên, chưa nói là lăng các ông quan đại thần. Trong các năm 1946/47, chạy tản cư qua nhiều làng, tôi từng thấy những cái lăng lớn hơn lăng Ba Vành nhiều, nhưng đó chỉ là lăng mấy ông quan. Mấy ông nhà giàu (địa chủ, cũng nói theo cách VC), cũng có thể có lăng to như thế hay to hơn thế.

c)- Sau khi thắng quân Thanh, vua Quang Trung tính chuyện cai trị lâu dài, lo xây dựng “Phượng Hoàng Trung Đô” là kinh đô của Bắc Bình Vương ở Nghệ An. Nếu lăng tẩm các vua Nguyễn được xây cất chung quanh kinh đô Huế thì, nếu vua Quang Trung có ý muốn xây lăng, thì lăng ông nằm ở Nghệ An hơn là ở Huế.

d)- Sau khi đánh đuổi quan quân nhà Nguyễn chạy vào Nam, Nguyễn Huệ cho đào mồ các chúa Nguyễn, từ chúa Tiên (?) lấy xương cốt quẳng xuống sông. Đây là hành động trả thù? Không hẳn như thế vì cac chúa Nguyễn đâu có “ân oán” trực tiếp gì với anh em nhà Tây Sơn. Có thể Nguyễn Huệ tin vào “phong thủy”, cũng như tin vào phong thủy nên vua Quang Trung đặt “Phuợng Hoàng Trung Đô” ở Nghệ An.

            Qua hành động trên, có thể vua Quang Trung cũng phải nghĩ tới “ngày sau” chớ! Biết đâu, một ngày kia chúa Nguyễn sẽ phục hưng, tìm xương cốt anh em nhà Tây Sơn mà quẳng xuống sông, như Nguyễn Huệ đã làm với xưong cốt các chúa Nguyễn. Chôn ở đâu? Vua quang Trung có nghĩ tới và đã chuẩn bị?! Có thể như thế lắm. Lăng Ba Vành không có cái “tính chất dấu kín” như tôi vừa nói. 

e)- Đó  là  cái “hậu họa” vua Quang Trung đã lo, nhưng tại sao Gia Long tìm được, xương cốt anh em nhà Tây Sơn (trong đó có xương cốt vua Quang Trung hay không?) đem quẳng xuống sông, còn sọ thì cho vào một cái vò, ràng xích sắt lại, rồi sai lính tiểu tiện vào những cái vò đó, cố ý làm cho ô uế, để dòng họ nhà Tây Sơn triệt tiêu, không tái sinh được nữa. Gia Long với con cháu được yên ổn trên ngai vàng.

            Người ta chê hành động nói trên của Gia Long là không anh hùng, không cao thượng. Cũng có thể nói rằng Gia Long làm những gì Nguyễn Huệ đã làm với các chúa Nguyễn trước kia. “Ân oán giang hồ”, coi như huề.

            Tuy nhiên, người ta cũng có thể nghĩ, Gia Long đã không tìm được mộ vua quang Trung. Ông là người mưu lược, biết chôn dấu kỹ lắm, nên họ Hồ không tuyệt diệt. Sau đời Hồ Huệ (Hồ Thơm, tức Nguyễn Huệ) còn đời Hồ Hữu Tường ở Cái Răng (Cần Thơ) và Hồ Tài Huệ Tâm ở Havard Hoa Kỳ.

            Sau một cuộc tang thương dài gần hai trăm năm (1802 đến 1975), ân oán giữa các vua chúa Nguyễn và dòng dõi anh em nhà Tây Sơn chắc chẳng còn gì, chắc cũng “hòa hợp hòa giải” từ hồi não hồi nào.

            Người ta oán ghét ông Hồ Chí Minh vì ông ta là một cán bộ Cộng Sản Quốc Tế, “cõng rắng cắn gà nhà” chớ không ghét ông vì ông thuộc dòng dõi ông Hồ Hưng Dật ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An./

hoàngloanghải.

  • Hồi xưa, chỉ có ở Huế mới có “Chùa Sư Nữ”. Khi vua băng hà, các “cung phi mỹ nữ” buộc phải lên ở lăng vua, để lo việc hương khói thờ tự. Khi các “bà” nầy già lắm, thì cho về tu ở Chùa Sư Nữ, chùa do vua lập nên. Về sau, có lẽ sư với vãi không chịu nhau, “Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay” nên vãi phải “tu riêng”, nhiều chùa sư nữ mới hình thành.
  • Ông quan hai (trung úy) Phan Tử Lăng là một người nổi tiếng ở Huế. Ông tốt nghiệp thủ khoa khóa học sĩ quan đầu tiên (khi Pháp bắt đầu cho người Việt làm sĩ quan trong quân đội Pháp sau khi Pháp bại trận 1940. Thời chính phủ Trần Trọng Kim, ông phụ trách đoàn “Thanh Niên Tiền Tuyến”, cải danh từ “Thanh Niên Tiền Phong” của chính phủ. Ông cùng luật sư Phan Anh, bộ trưởng Thanh Niên chính phủ nầy, mở trường đào tạo cán bộ (thực chất là cán bộ quân sự cho nhà nước. Sau đó, ông “theo Việt Minh”. Ông chỉ mang tới “loon” đại tá trong quân đội Việt Minh, làm “trưởng phòng tác chiến mà thôi, bởi vì ông có gốc là từng đi lính cho Tây, tiểu tư sản (tạch tạch sè). Nhiều người “học trò” của ông đeo loon thiếu tướng, trung tướng, như Cao Văn Khánh. Vợ ông, có một người con gái riêng, tên là Phan Lương Cầm, vợ ông Võ Văn Kiệt. Ông là rể của tiệm buôn Thái Lợi ở đường Trần Hưng Đạo, Huế.
  • Theo một số nhà nghiên cứu về tôn giáo và văn hóa Việt Nam, thì “Tứ Bất Tử” là “tôn giáo nguyên thủy” của người Việt Nam, được người Việt Nam thờ phụng nhiều nơi, rất trọng thể. Đó là:

a)-Thần núi Tản Viên (Sơn Tinh), thần lập quốc.

b)-Thần “Phù Đông Thiên Vương”, thần giữ nước.

c)-thần Chữ Đồng Tử và Tiên Dung, thần xây dựng đất nước.

d)-Bà Chúa Liễu Hạnh, người Mẹ của dân tộc Việt Nam.

       Bài đọc thêm:

Bí mật lăng mộ vua Quang Trung: Lăng Ba Vành là mộ của ai?

Có phải lăng vua Quang Trung có tên là Đan Dương. Đan Dương lăng chính là lăng Ba Vành?

Vua Quang Trung – vị hoàng đế có số phận rất đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Sự đặc biệt không chỉ ở sự xuất thân của vua từ một người nông dân áo vải cờ đào, không chỉ ở tài năng quân sự kiệt xuất, mà ngay cái chết của nhà vua cũng khác thường.

Cho đến bây giờ đã qua hơn 200 năm kể từ khi vua băng hà (1792), vẫn không rõ vua mất vì lý do gì, lăng mộ của vua nằm ở đâu. Hồ sơ này muốn trình bày lại toàn cảnh cuộc giải mã “bí ẩn lăng mộ vua Quang Trung” kéo dài ròng rã 75 năm qua.

Từ một gợi ý của linh mục Léopold Cadière – chủ bút tập san Đô Thành Hiếu Cổ (B.A.V.H) của Hội Những người bạn của Huế xưa, nhà khảo cứu Nguyễn Thiệu Lâu, giáo sư sử địa Trường trung học Khải Định (tức Trường Quốc Học Huế), đã tìm thấy một ngôi mộ hoang ở vùng đồi núi phía tây nam Huế vào năm 1941.

20 năm sau (1961), ông Lâu đã công bố kết quả cuộc tìm kiếm này trên tạp chí Bách Khoa (Sài Gòn) số 99 ngày 15/2/1961 với một khẳng định gây sửng sốt: đó là lăng mộ vua Quang Trung.

Gợi ý của linh mục Cadière

“Sở dĩ tôi đi tìm lăng ngài Quang Trung là do cha Cadière, một nhà khảo cứu, đã bảo tôi: “Le tombeau de Nguyễn Huệ est dans la région montagneuse, a l’Ouest de Hue. Cherchez le et vous en ferez une étude”. Dịch ra tiếng Việt như sau: Lăng Nguyễn Huệ ở trong miền núi, phía tây thành phố Huế. Ông hãy đi tìm lăng ấy và ông sẽ khảo cứu”.

Lăng Ba Vành với ngôi mộ hình mai rùa. Ba vòng thành bao quanh đã bị cây bụi phủ kín.

Tại vùng đồi gần lăng Khải Định, giáo sư Lâu đã tìm thấy một ngôi mộ hoang bị đào bới, bao quanh là ba vòng thành, có một tấm bia bằng đá bị ai đó dùng búa rập lên các chữ Hán. Giáo sư Lâu khẳng định đây là lăng vua Quang Trung đã bị vua Gia Long cho đào bới, đập phá.

Bài báo được viết theo kiểu bút ký nên không đưa ra các phân tích, đối chiếu tư liệu. Vì vậy, hơn hai tháng sau, cũng trên tạp chí Bách Khoa (số 101 ngày 1/4/1961), tác giả Bửu Kế – bấy giờ là quản thủ thư viện Viện Đại học Huế (sau này là một nhà Huế học rất nổi tiếng) – đã phản biện bằng bài báo “Từ lăng Sọ đến lăng Ba Vành”.

Số là sau khi đọc bài báo của nhà nghiên cứu Nguyễn Thiệu Lâu, ông Bửu Kế đã đi khảo sát các lăng mộ ở phía tây nam Huế, trong đó có lăng Ba Vành và xác định: ở Huế không có lăng của triều Tây Sơn.

Điều khiến người ta lưu ý nhất là việc tác giả Bửu Kế đã tìm thấy trong tu viện Thiên An, nơi cất giữ toàn bộ tư liệu của linh mục L.Cadière (trước khi ông qua đời năm 1955), một tài liệu quan trọng liên quan đến lăng Ba Vành.

Ba Vành là lăng của Ý đức hầu Lê Quang Đại?

Tài liệu quan trọng mà tác giả Bửu Kế tìm thấy là lá thư của linh mục L.Cadière gửi ông R.Orbanb – bấy giờ là quan hội lý Bộ Hộ (một chức quan cai trị của người Pháp làm việc trong Bộ Hộ của triều Nguyễn), trợ bút của tạp chí B.A.V.H – nhờ xác minh: ai là người được chôn trong lăng Ba Vành; vì sao có việc đào và đốt người dưới mộ, đập phá bia; ngôi mộ sau này đưa vào đó là của ai?

Ông R.Orbanb yêu cầu Bộ Lễ triều Nguyễn xác minh và bộ này đã trả lời bằng phúc thư, cho biết đã giao phủ Thừa Thiên hỏi làng Cư Chánh (địa bàn tọa lạc lăng Ba Vành). Lý trưởng làng Cư Chánh trả lời: vào năm Thành Thái 13 (1901), lý trưởng của làng là ông Nguyễn Bút đã cho phép ông Vũ Bá Khương, một vị quan của Cơ mật viện triều Nguyễn, đưa người thân của mình vào chôn ở đó (tức ngôi mộ nhỏ mới chôn sau này, nằm phía trước ngôi mộ bị đào – PV).

Công trình nghiên cứu của ông Nguyễn Hữu Đính

Ông Khương khai lăng Ba Vành nguyên là của vị quan thượng thư Hộ Bộ kiêm Binh Bộ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, tên là Lê Quang Đại, tước hiệu Ý đức hầu, người làng Đồng Di (huyện Phú Vang).

Từ các tư liệu này, tác giả Bửu Kế đi đến kết luận: “Ta tạm tin rằng lăng Ba Vành không phải là lăng của vua Quang Trung”. 13 năm sau, trên tạp chí Đại Chúng số 1-1974, tác giả Lê Văn Hoàng (thư ký hội đồng kiểm kê, sắp xếp văn thư của nội các triều Nguyễn thời Bảo Đại) lại tiếp tục “Nói về lăng Ba Vành”. Bài báo này tiếp tục khẳng định: “Ngôi mộ (Ba Vành) chắc chắn trăm phần trăm không phải là mộ của vua Quang Trung”.

Với lời khẳng định “chắc như đinh đóng cột” của hai học giả uy tín về lăng Ba Vành, tưởng rằng việc tìm kiếm lăng mộ vua Quang Trung phải chuyển sang hướng khác. Nhưng không phải như vậy.

Lời giải đầu tiên về lăng Ba Vành

Năm 1975, ngay sau ngày giải phóng, kỹ sư lâm học Nguyễn Hữu Đính – Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc TP Huế – đã trở lại khảo sát lăng Ba Vành mà theo lời ông là “có vị trí, hình dáng và quy mô rất kỳ lạ”. Đến thời điểm này đã có bảy bài báo viết về lăng Ba Vành, nhưng có đến sáu bài phủ nhận là lăng Quang Trung. Điều đó lại thôi thúc ông Đính vào cuộc một cách quyết liệt và bài bản hơn.

Niềm tin của ông Đính nhân lên khi ông gặp được một nhân chứng rất quan trọng, đó là cụ Hoàng Viếng – thư ký riêng của linh mục L.Cadière vào những năm cuối đời. Cụ Viếng cho biết một lần vào năm 1955, linh cảm vị linh mục này sắp ra đi, ông Viếng đã hỏi: “Thưa cha, người ta nói lăng Ba Vành là lăng Quang Trung phải không?”.

L.Cadière trả lời: “Phải, phải”. Độ một tháng sau thì L.Cadière qua đời (6/7/1955, tại Huế, thọ 86 tuổi). Ngày 17/4/1986, ông Đính hoàn tất công trình khảo cứu “Lăng vua Quang Trung ở đâu? Lăng Ba Vành ở làng Cư Chánh, Huế có phải là lăng vua Quang Trung không?”.

Một ngày đầu năm 2016, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Châu Phan cho chúng tôi xem bản thảo công trình nghiên cứu của thân phụ mình. Tác giả Nguyễn Hữu Đính đi đến kết luận: lăng Ba Vành không phải của vị quan có tên Lê Quang Đại.

Bởi vì quy mô lăng của một vị quan Hộ Bộ kiêm Binh Bộ không thể lớn hơn cả lăng các chúa Nguyễn, cũng như các vị quan đương thời có chức tước to hơn ông ta. Lăng Ba Vành là một ngôi lăng ngụy trang.

Theo ông Đính, ý đồ ngụy trang thể hiện qua việc sửa ngày tháng, niên hiệu phụng lập lăng ghi trên bia, khiến người ta tin rằng đó là lăng của Ý đức hầu Lê Quang Đại. Lăng Ba Vành chính là lăng của vua Quang Trung. Vua Gia Long khi chiếm lại ngôi từ nhà Tây Sơn đã cho quật mồ, lấy xác vua Quang Trung lên để trừng trị. Dấu vết ngôi mộ bị đào bới vẫn còn ở lăng Ba Vành.

Ông Đính còn đưa ra một phát hiện mới. Đó là các bài thơ của Ngô Thì Nhậm – một vị quan cận thần của vua Quang Trung – có một câu trong bài Cảm Hoài nhắc đến: “Đan Dương cung điện nhật tam thu”, một bài khác có tựa đề Khâm vãn Đan Dương lăng.

Như vậy, theo ông Đính, lăng vua Quang Trung có tên là Đan Dương. Đan Dương lăng chính là lăng Ba Vành. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Châu Phan cho biết ông Đính đã gửi bản thảo công trình nghiên cứu lăng Ba Vành đến các cơ quan chức năng. Nhưng ông không nhận được một phúc đáp nào cả cho đến khi qua đời năm 1995.

Tưởng rằng lời giải bài toán lăng Ba Vành cũng chìm vào quên lãng cùng với sự ra đi của cụ già Nguyễn Hữu Đính, nhưng đã có một người trẻ tuổi hăng hái nhập cuộc. Đó là một thầy giáo vật lý…

(Theo Minh Tự /Tuổi Trẻ)

Đã xem 1892 lần

Chúng tôi nhận thiết kế website hoặc hướng dẫn tạo website riêng với giá phải chăng.
Xin liên lạc Email: baotoquoc@hotmail.com

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.