..“ Tha La vắng vì Tha La đã biết,

 Thương giống nòi, đau đất nước lầm than..”

                                                                    ( Vũ Anh Khanh )

Từ khi còn trẻ, tôi bị ám ảnh không ít về bài thơ “Hận Tha La” và mấy bài hát viết về Xóm Đạo nầy, một Xóm Đạo mà tôi, cũng như nhiều người chưa một lần đến đó.

Xóm Đạo đó phải là rất dễ thương, như Vũ Anh Khanh diễn tả trong Bài Thơ vậy không?. Ở Miền Nam thân yêu nầy, trái ngọt cây lành đâu chẳng có. Cũng không ít lần, các Mẹ, các Dì, các Chị  đem đến biếu tặng những người lính xông pha trận mạc như chúng tôi, đánh đuổi giặc cọng,    đem thanh bình an vui đến cho họ.

       Cái trách nhiệm của một công dân đối với Đất Nước     là điều người dân Tha La Xóm Đạo đã làm, khiến tôi phải  ngưỡng mộ họ:

               …  “Quì cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy

                  Lạy Đức Thánh Cha,

                  Lạy Đức Thánh Mẹ,

                  Lạy Đức Thánh Thần.

                  Chúng con xin về cõi tục làm dân”….

Chỉ làm dân, nhưng là người dân yêu nước. Đơn giản chỉ có vậy, như chúng tôi đang hành quân, tìm giặc, đánh đuổi chúng, đem lại an vui cho người dân vậy. Giữa chúng tôi và người dân Tha La Xóm Đạo có một sự đồng cảm, yêu Quê Hương mình, chiến đấu cho Quê Hương mình. Và… tôi hẹn với lòng sẽ làm một viễn khách “…về thăm một dạo, giữa mùa nắng vàng hanh”, để xem “Nắng hạ vàng, ngàn hoa  gạo rưng rưng” “..nghe mùa đổi gió, nhớ quanh quanh”.

                           &

Và rồi tôi đến thật, nhưng với súng đạn đeo bên mình.

Cuối tháng 3 năm 1973, Hiệp Định Paris chưa ráo mực, Việt cọng đã vi phạm giành dân lấn đất khắp nơi, trên toàn Lãnh Thổ Miền Nam Việt Nam. Điển hình là khu vực Xóm Đạo Tha La, Quận Trảng Bàng.

Quận Trảng Bàng nằm về hướng Tây Bắc Sài Gòn vào khoảng 40 kilômét. Xóm Đạo Tha La, thuộc Xã An Hòa, cách Chi Khu Trảng Bàng chừng 4 kilômét về hướng Tây.

Từ mật khu Ba Thu, Việt cọng vượt sông Vàm Cỏ, tiến vào bao vây Xóm Đạo Tha La, chiếm cứ Nhà Thờ, giết Cha Xứ và một số giáo dân. Bọn chúng trù tính, sẽ dùng Tha La làm bàn đạp, tung quân đánh vào Chi Khu Trảng Bàng, cắt đứt Quốc Lộ 1, nối liền Sài Gòn với Tỉnh Tây Ninh.

Tiểu Khu Trưởng Hậu Nghĩa, Đại Tá Mã Sanh Nhơn,  đã đưa một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân đến tăng cường, giải tỏa áp lực địch nhưng bất thành. Địch mỗi ngày mỗi tung hoành, gây nhiều thiệt hại về nhân mạng, tài sản cho họ Đạo nói riêng và cho quần chúng trong khu vực nói chung.

Trước tình hình mỗi ngày mỗi leo thang của Việt cọng, trước ngoan cố không tuân phục lệnh ngưng bắn của bọn chúng, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, đã phải điều động Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, đến thanh toán dứt điểm đám      cọng quân này.

Trung Tá Nguyễn Văn Lân, Sĩ Quan Phụ Tá Chỉ Huy Trưởng, chỉ huy ba Đại Đội: Đại Đội Thám Sát của Đại Úy Lưu Huyên, Đại Đội 2 của Trung Úy Nguyễn Ngọc Ánh và Đại Đội 4 của tôi, đã khẩn cấp lên đường, trực chỉ Quận Trảng Bàng.

Tại Trung tâm Hành Quân Chi Khu Quận Trảng Bàng. Trung Tá Ngô, Quận Trưởng đã thuyết trình đầy đủ, chi tiết về tình hình địch, bạn trong phạm vi trách nhiệm của Quận, và đặc biệt riêng tại địa phận Xóm Đạo Tha La.

Địch áp dụng đóng chốt trong nhà dân. Đánh chốt đã là căng, lại là chốt trong Nhà Thờ, trong nhà dân, lại căng hơn. Rồi cũng nhổ chốt được, dễ thôi. Tôi tin tưởng ở tôi, ở cấp Chỉ Huy và Binh Sĩ của tôi.

Trung Tá Lân, đã họp chúng tôi để bàn thảo kế hoạch, phân chia nhiệm vụ và vùng trách nhiệm cho ba Đại Đội. Và tất nhiên, để đối phó với kiền chốt của giặc cọng, Trung Tá Lân cũng đã chỉ thị cho chúng tôi phải triệt để áp dụng   chiến thuật du kích đánh đêm sở trường. Và đúng giờ “G” trong đêm nay xuất phát.

Đại Đội Thám Sát sẽ từ hướng Chợ Trảng Bàng, di chuyển theo hướng Tây, cặp theo Hương Lộ để truy diệt các chốt địch ở Chợ Xã An Hòa, ở Ấp Lò Rèn, sau đó sẽ tiếp   tục thanh toán các chốt của Việt cọng ở mặt sau Nhà Thờ,  rồi bố trí quân phòng thủ, án ngữ, bọc hậu tại hướng Tây Nam sông Vàm Cỏ, để chận đứng đường tăng viện hay tháo chạy của giặc cọng, đồng thời phối hợp cùng Đại Đội  4 để tấn công giải tỏa Nhà Thờ Tha La.

Đại Đội 2 là lực lượng trừ bị, sẽ đóng quân rải theo  Quốc Lộ 1 và phòng thủ cho Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Đại Đội 4 do tôi chỉ huy, sẽ di chuyển về hướng đi Tây Ninh khoảng 3 kilômét, gần Xã Gia Bình, từ vị trí này Đại Đội 4 sẽ tiến quân từ Bắc xuống Nam, theo con đường đất, chạy trên một đám ruộng khô, rộng hơn một mẫu, để tiến vào    địa  phận  Tha  La.

        Vượt khỏi đám ruộng khô, gặp một ngã ba đường mòn nằm ở mé trái, chạy dọc theo đường mòn có một số nhà    dân ở rải rác, thông với nhau bằng nhiều đường mòn nhỏ, dẫn từ nhà nầy qua nhà khác.

Qua ngã ba, con đường đất nở rộng hơn, xe hơi có thể di chuyển dễ dàng. Đường được trải bằng một lớp đất đỏ pha với sỏi cát, những bụi tre tầm vông được trồng san sát nhau hai bên đường. Con đường nầy là lối đi vào Xóm Đạo Tha La, khoảng cách độ chừng trên 3 cây số. Dân chúng trong vùng vẫn sinh hoạt bình thường, có lẽ địch chưa chiếm đến nơi đây. Đại Đội dừng lại đóng quân, chờ đêm xuống sẽ hành động theo đúng kế hoạch.

 Sau khi Binh Sĩ bố trí phòng thủ xong, tôi vào thăm một nhà dân, nằm thụt sâu bên trong ngã ba đường. Ngôi  nhà tuy cũ, nhưng kiểu nhà xưa kiên cố, cột gỗ, mái ngói. Bây giờ không biết sao, nhưng có lẽ trước đây, khi chưa  có giặc, gia đình nầy cũng thuộc vào thành phần khá giả. Trong chuyện trò trao đổi, mới biết đây là nhà họ “Ngô Đình…”. Tò mò, tôi hỏi:

    – “Bác có bà con gì với Tổng Thống Ngô Đình Diệm  quê ở ngoài Huế không?”

Nhà Thờ Tha La
Nhà Thờ Tha La

Ông già cười:

       – “Không có. Tổng Thống là người có Đạo còn Tôi người Lương”.

      Bất chợt, tôi nhìn vào gian giữa nhà. Trên Bàn Thờ đang thắp đèn và đốt nhang.

      Ông cụ có con trai trưởng đã đi lính Cọng Hòa, người  con gái út tên Sơn, đang là Giáo Viên của Trường Tiểu Học Trảng Bàng, vẫn đi dạy hàng ngày. Cô thứ hai, đã lập gia đình có 4 người con, ở ngôi nhà bên cạnh. Chồng Chị, Anh Ba Tài, có chiếc xe Daihatsu chở khách, chạy đường Trảng Bàng – Tây Ninh.

      Ông cụ còn cho biết, sau khi đánh chiếm địa phận và  Nhà Thờ Tha La, bọn Việt cọng thường hoạt động về đêm, chúng phối hợp cùng bọn du kích địa phương để chống trả lại quân ta. Tiểu Khu, Chi Khu đã đưa quân vào đánh mấy lần, nhưng không diệt được. Nếu không có chiến tranh, xóm nhà nầy yên vui, thanh bình lắm.

Sáng hôm sau, tôi họp các Trung Đội Trưởng, tổng kết lại tình hình một đêm qua và đưa ra kế hoạch sắp tới. Tôi ra lệnh mỗi Trung Đội, cho tung một hai lính giả trang thường dân, đi vào khu vực nhà dân trong Xóm Đạo, tìm hiểu, quan sát những con đường xóm, nhà dân, vườn tược v.v… Sau trưa, chúng tôi lại họp, bàn định phương thức hành động, ưu tiên phải tiêu diệt các tổ trinh sát Việt cọng, bọn dân quân du kích, nằm bên ngoài Nhà Thờ, trong địa phận Giáo Xứ.

Đêm đó, Đại Đội kín đáo tiến sâu vào Xóm Đạo Tha La thêm một cây số, mở rộng vòng đai đóng quân phòng thủ, rồi cho lệnh các Trung Đội tổ chức phục kích trên các đường mòn, các điểm tình nghi, bắt sống tù binh, để khai thác tin tức, nắm vững địch tình.

Kết quả 2 tên Việt cọng đã bị bắt sống. Chúng từ    hướng Nhà Thờ đi ra, Trung Sĩ Bự và Hạ sĩ Ân thuộc Trung Đội 3 của Chuẩn Úy Tuyền, đã nhảy ra, và bằng với một thế võ Vovinam đã quật ngã, bắt trói chúng một cách mau lẹ. Khai thác tại chỗ, bọn chúng cho biết hiện có một Đại Đội đang chiếm giữ Xóm Đạo Tha La, chúng bố trí hai Trung Đội ở hai gian nhà ở sân sau Nhà Thờ, một Trung Đội lưu động, còn một Trung Đội thì phòng thủ ngay trong Nhà Thờ, chúng đặt một cây Trung Liên nồi, hướng về con đường   đất, không có bọn nào ẩn núp trong nhà dân, ngoài trừ     đám du kích địa phương.

Con đường xâm nhập của chúng ở phía sông Vàm Cỏ, từ mật khu Ba Thu. Con đường nầy nếu kéo ra thì dài lắm. Mật khu Ba Thu tiếp nối với vùng Mõ Vẹt, bên kia biên giới Việt Miên. Về phía Đông, chúng có thể tiến về vùng Lương Hòa, Tỉnh Long An. Trong trận đánh Tết Mậu Thân, từ mật khu Ba Thu, Việt cọng xâm nhập Phú Lâm, phía Nam Saigon.

Nắm vững các thông tin do địch cung cấp, ngay trong đêm, tôi điều động Thiếu Úy Lại Đình Hợi, Trung Đội Trưởng Trung Đội 1, Chuẩn Úy Nguyễn Ngọc Lân, Trung Đội Trưởng Trung Đội 2 và Chuẩn Úy Thanh, Trung Đội Trưởng Trung Đội 4, đưa quân đến bố trí trên những con đường Xóm, hướng ra bờ ruộng phía sông Vàm Cỏ, trong các Xóm Ấp để phục kích tiêu diệt đám cọng quân còn lại.

Địch trúng kế chúng tôi. Chúng lọt ngay vào các vị trí phục kích, 4 tên du kích bị bắn hạ, thêm 2 tên bị thương, số còn lại khoảng bốn năm tên, bán sống bán chết, chạy thục mạng, ngược ra hướng Rạch Vàm Trảng.

Về hướng tiến quân Đại Đội Thám Sát, sau khi thanh toán các chốt chặn của Việt cọng nằm về hướng Tây Bắc Chợ An Hòa, Đại Đội tiêp tục tấn công vào Ấp Lò Rèn, trong lần đọ trận này Đại Úy Đại Đội Trưởng Lưu Huyên, Thiếu Úy Hoàng, Trưởng Toán Thám Sát và 6 Binh sĩ đã    bị trọng thương bởi đạn B.40, về phía bọn địch, chúng để   lại 10 xác chết tại hiện trường, tịch thu được 5 súng AK,       2 cây B.40 và 1 trung liên nồi.

Trung Tá Lân đã điều Đại Đội 2 lên thay Đại Đội Thám Sát, Đại Đội 2 đã rải quân phòng thủ ở mặt hông sau của Nhà Thờ Tha La. Tại đây Đại Đội 2 cũng áp dụng chiến thuật phục kích đêm, hạ sát tại chỗ 2 tên cán binh cọng sản, bắt sống được 2 tên, số còn lại cũng đã tháo chạy về hướng Sông Vàm Cỏ Đông.

Chặt đứt xong xuôi các dây mơ rễ má. Bây giờ là đến số phận những tên “sanh bắc tử nam” đang chiếm cứ trong Nhà Thờ. Hai Đại Đội cùng hợp đồng tác chiến. Đại Đội 2 là lực lượng yểm trợ và tiếp ứng, rải quân bao quanh mặt sau địa phận Nhà Thờ. Đại Đội 4 là lực lượng tấn công, sẽ lợi dụng đêm tối, đưa các Toán Thám Sát, men theo các lùm cây, bụi tre, tiến sát đến chân tường Nhà Thờ, ẩn núp quan sát, chờ lệnh. Các Trung Đội chia làm hai cánh, từ từ tiến lên trong các khu vườn nhà dân, để đến nằm án ngữ ở con đường ngay trước mặt Nhà Thờ. Đúng 2 giờ sáng, các Trung Đội bắt đầu khai hỏa, Việt cọng từ trong Nhà Thờ, từ hai gian nhà sau nổ súng bắn trả. Các Toán Thám sát phát hiện vị trí địch, đã bò đến tung lựu đạn triệt hạ. Sau hơn nửa giờ giao tranh. hơn một chục tên trong Nhà Thờ và hai gian nhà sau không còn cựa quậy, 8 tên bị thương xin đầu hàng, một số rút lui về phía nhà dân, sau lưng Nhà Thờ, nhưng cũng đã bị Đại Đội 2 án ngữ ở đó hạ sát và bắt sống.

Chúng tôi đem lại thanh bình cho Xóm Đạo. Tôi nhớ lại bài thơ của Vũ Anh Khanh:

                                “Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!

                             Hãy về thăm Xóm Đạo

                            Có trái ngọt cây lành.

                            Tha La dâng ngàn hoa gạo,

                            Và  suối mát rừng xanh …”

Giờ đây, hết giặc, Khách không về thăm mà lại ra đi. Ngày chia tay, vị Linh Mục và Giáo dân Tha La Xóm Đạo đã phối hợp cùng Trường Tiểu Học Trảng Bàng, với Cô Giáo Tươi và Cô Giáo Sơn, con Ông Cụ nhà họ Ngô Đình phụ trách tổ chức ủy lạo, tặng qùa cùng văn nghệ ca múa, do chính  hai Cô và các học trò đồng trình diễn.

&

Một năm sau, trên chiến trường Miền Đông Nam Phần, tại rừng Tân Uyên, vào một buổi chiều mưa, dừng quân bên bờ Sông Bé, cạnh con đường mòn dẫn vào Chiến Khu D, tôi bỗng nhớ về Cô Giáo Tươi của Trường Tiểu Học Trảng Bàng ngày ấy  Trong ba lô, tôi vẫn còn giữ kín những lá thư Cô đã viết cho tôi.

Bao tháng năm lăn lộn trên chiến trường, thư đã cũ, giấy đã ngã sang màu vàng. Tôi bâng khuâng hồi nhớ những ngày ở Tha La Xóm Đạo, tôi lấy thư ra xem và rồi mấy câu thơ tôi từng yêu thích mấy năm trước lại hiện về:

                “Đường mòn trơn ướt đất hành quân.

                  Nhưng không ướt những trang thư,

                  Của người em gởi người anh chiến sĩ.

                  Trong đêm dải chiến địa,

                  Buồn trong những chiều mưa.

                  Những chiều mưa đau tủi giận hờn….”

       Đau tủi, giận hờn….?

       Tươi ơi ! Cho tôi gởi một lời tạ lỗi và xin hãy quên tôi !!

***

“ Tha La Xóm Đạo ”

   Đây “Tha La xóm đạo”

  Có trái ngọt cây lành

  Tôi về thăm một dạo

  Giữa mùa nắng vàng hanh.

  Ngậm ngùi Tha La bảo:

– Đây rừng xanh rừng xanh

  Bụi đùn quanh ngõ vắng,

  Khói đùn quanh nóc tranh.

  Gió đùn quanh mây trắng,

  Và lửa loạn xây thành.

 – Viễn khách ơi!

 Hãy dừng chân cho hỏi,

 Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng.

 Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng,

 Có trái ngọt, cây lành, im bóng lá,

 Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ .         

 Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!

 Về chi đây? Khách hỡi? Có ai chờ?

 Ai đưa đón

 – Xin thưa, tôi lạc bước!

Không là duyên, không là bèo kiếp trước,

 Không có ai chờ, ai đón tôi đâu!

 Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,

 Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ,

 Nghìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió,

 Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.

 Nhìn cánh hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng.

 Tha La hỏi

 – Khách buồn nơi đây vắng?

 Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!

 – Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?

 Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn,

 Gió vi vút, gió rợn rùng, gió rít.

 Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:

 Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La!

 Bao người đi thề chẳng trở lại nhà.

 Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!

 Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán,

 Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa,

 Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa,

 Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh.

 Khách rùng mình, ngẩn ngơ người hiu quạnh.

 Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!

 Đây mênh mông xóm đạo với rừng già.

 Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.

 Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch,

 Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng.

 Đang đón mây xa khách bỗng ngại ngần,

 – Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?

 Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,

 Nhẹ bảo chàng:

– “Em chẳng biết gì ư?

 Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!

 Người nước Việt ra đi vì nước Việt.

 Tha La vắng vì Tha La đã biết,

 Thương giống nòi đau đất nước lầm than.”

 Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng,

Ngày hiu quạnh. Ờ.. ơ.. hơ tiếng hát.

Buồn như gió lướt lạnh dài đôi khúc nhạc.

Tiếng hát rằng:

Tha La giận mùa thu,

Tha La hận quốc thù,

Tha La hờn quốc biến,

Tha La buồn tiếng kiếm,

Não nùng chưa!

Tha La nguyện hy sinh.

Ơ.. ơ.. hơ.. có một đám chiên lành.

Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy.

Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:

 Lạy Đức Thánh Cha!

 Lạy Đức Thánh Mẹ!

 Lạy Đức Thánh Thần!

Chúng con xin về cõi tục để làm dân…

Rồi… cởi trả áo tu.

Rồi… xếp kinh cầu nguyện.

Rồi… nhẹ bước trở về trần…

Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!

Người hãy dừng chân.

Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!

Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ.

Trời Tha La vần vũ đám mây tan.

Vui gì đâu mà tâm sự?

Buồn làm chi mà bẽ bàng?

Ơ… ơ… hơ… ờ… ơ… hơ… tiếng hát

Rung lành lạnh ngân trầm đôi khúc nhạc.

Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!

Tha La thương người viễn khách đi thôi!

Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ.

Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ,           

Lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay.

Giờ khách đi Tha La nhắn câu này…

Khi hết giặc khách hãy về đây nhé!!

Hãy về thăm xóm đạo,

Có trái ngọt cây lành,              

Tha La dâng ngàn hoa gạo.

Và suối mát rừng xanh.                         

Xem đám chiên hiền thương áo trắng,

Nghe trời đổi gió nhớ quanh quanh.   

 Vũ Anh Khanh

“ Trảng Bàng – Tây Ninh ”
“ Trảng Bàng – Tây Ninh ”

Lê Đắc Lực – Tàn Cơn Binh Lửa