“Buông tay súng, mà máu trào thành lệ,

      Lệ tuôn trào, lệ biển cả mênh mông..”

LINH DU.LÊ LỘ ĐỨC

                                                                                                                                                      *

  1.  Khối Chiến tranh Chính Trị.

Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù có nhiều khả năng tác chiến, đa hiệu, thường áp dụng ba chiến thuật, tuy có khác nhau về nhiệm vụ, quân số, vũ khí… nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau. Ba chiến thuật đó là: Thám Sát, phản Du kích và Trận Địa chiến.

  1. Thám sát.

Nhiệm vụ thám sát địch, tìm hiểu về hoạt động địch, lực lượng, đơn vị, căn cứ địa, kho tàng, vũ khí, khí tài, kế hoạch, mưu đồ, v.v…. Để có thể thâu lượm mọi tin tức nầy, các Toán Thám Sát đã được thả xuống hoạt động sâu trong lòng địch, thâm nhập vào các mật khu, hậu cứ địch, trên “đường mòn Hồ Chí Minh”, vùng Tam Biên (Việt Miên Lào), hay dọc theo biên giới Việt Miên Lào, khi cần có thể vượt qua biên giới… không cần hạ sát địch quân, cần bắt sống để khai thác tin tức.

Mỗi Toán Thám Sát gồm 6 người, được huấn luyện thuần thục võ nghệ, chuyên môn để có khả năng tác chiến, đặc biệt về do thám, quan sát, theo dõi, liên lạc, cứu thương và phá hoại, bao gồm cả nhiệm vụ tiền sát viên pháo binh, điều chỉnh phi pháo, bắt sống tù binh và mưu sinh thoát hiểm.. v.v…

Như Độc Giả thấy trong các bài tường thuật ở phần trước, những hoạt động có chính Tác Giả tham gia, chỉ huy, đã gặt hái được một số thành quả, thâu lượm nhiều tin tức chính xác, cấp thời cho các cấp Chỉ Huy Sư Đoàn, Quân Đoàn, Bộ Tổng Tham Mưu, để các nơi nầy có biện pháp, kế hoạch, kịp thời đối đầu, chận đứng hay tấn công tiêu diệt  địch quân.

      Biệt Cách Nhảy Dù, tùy từng thời điểm, và cũng tùy theo  nhu cầu, sự điều động của Bộ Tổng Tham Mưu, để đưa các   Toán Thám Sát  của các Biệt Đội tăng cường hoạt động đặc biệt ở các Quân Khu I, II, III. Số lượng tin tức thu hoạch  được, đã cung cấp cho các Phòng 2 của các Sư  Đoàn, Quân Đoàn và các vị  Tư Lệnh các Quân Khu, các Vùng Chiến Thuật không phải là ít.

  1. Phản Du Kích Chiến.

Chiến thuật du kích của Việt cọng là rập khuôn theo chiến thuật của Mao. Yếu tố chính trị, tuyên truyền là quan trọng, mục đích lôi kéo dân chúng về phía của chúng bằng nhiều thủ đoạn khác nhau. Về quân sự, Mao chủ trương rút lui để bảo toàn lực lượng khi bị ta tấn công, quấy phá khi    ta dừng quân, tấn công khi ta mệt mỏi, và truy kích khi ta   rút lui.

Kinh nghiệm chiến đấu, sự trui rèn, tôi luyện trong máu lửa, đã cho cấp chỉ huy Biệt Cách Dù những bài học hay. Do đó, chiến thuật của Biệt Cách Dù là“Gậy ông đập lưng ông”, có nghĩa là dùng chiến thuật du kích để đánh du kích, cùng lúc áp dụng các phương cách bảo vệ dân, giúp đỡ và tuyên truyền dân chúng đứng về phe chúng ta, ủng hộ chúng ta.

Độc giả từng thấy ở các phần trước, tại mặt trận Tha La, Trảng Bàng, dân chúng đã cung cấp những tin tức về các hoạt động của địch, hay tại Ngã Ba Cây Quéo, Cây Thị,  Gia Định trong Tết Mậu Thân, hay tại Bến Thế, Bình Dương, đồng bào đã đứng hai bên đường đón chào, hoan hô các chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù, cũng như tặng trái cây, quà bánh, như một biểu lộ bày tỏ lòng tri ơn sâu xa…

Để đánh đuổi bọn địch ra khỏi vùng chúng chiếm đóng hoặc đóng chốt, Biệt Cách Nhảy Dù dùng chiến thuật du kích phản du kích, có nghĩa là lấy chiến thuật của địch để đánh lại địch, tạo sự bất ngờ, gây hoang mang, hoảng loạn cho bọn chúng và nhờ vậy mà đã đạt nhiều chiến thắng bất ngờ, làm cho các đơn vị bạn phải nể phục. Đó là kết quả của các trận đánh ở Bến Thế, Xóm Đạo Tha La, Ngã ba Tân Phú Trung và Mật Khu Mây Tào.. v.v…

Căn bản của “Chiến tranh giải phóng” (chữ của cọng sản) là lấy Nông Thôn để bao vây Thành Thị, và áp dụng “chiến tranh du kích”. Về phía Quân Đội Việt Nam, trách nhiệm giữ đất khá nặng nề, mất tính cách di động, thường đóng Đồn, Bót. Chiến thuật nầy chỉ năng động về ban ngày, ban đêm rút vô phòng thủ trong Đồn Bót nên không bảo vệ được dân. Chiến thuật của Biệt Cách Nhảy Dù thì ngược lại. Thay vì đánh địch vào ban ngày, Biệt Cách Nhảy Dù lại dùng chiến thuật đánh đêm. Đánh đêm là gây yếu tố bất ngờ cho địch, kèm theo là chiến thuật phản du kích là bất ngờ thứ hai, vào tận sào huyệt Việt cọng để đánh chúng là bất ngờ thứ ba.

Chính vì lối đánh thần tốc, gan dạ và đầy bí hiểm nầy, nên Biệt Cách Nhảy Dù đánh đâu thắng đó, giải tỏa áp lực nhanh, nếu không muốn nói là địch thua dài, chạy dài…

  1.     Trận địa chiến.

Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù được thành lập và phát triển về sau này quân số lên tới ba ngàn Chiến Sĩ, được chia  thành ba Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật, mỗi Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật có bốn Biệt Đội, mỗi Biệt Đội có hai trăm chiến sĩ.

Nhiệm vụ chính yếu của Liên Đoàn là thả Toán Thám Sát vào các căn cứ địa, an toàn khu của địch, ngoài tầm yểm trợ của pháo binh, cách biệt hoàn toàn với các Quân Binh chủng bạn, để thu lượm tin tức, bắt cóc tù binh, chứ không phải để đánh các trận địa lớn như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến hay Biệt Động Quân.

Tuy vậy, trong một vài tình huống khẩn cấp, cần thanh  toán dứt điểm những nơi dầu sôi lửa bỏng, Bộ Tổng Tham Mưu vẫn phải tung Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù lâm trận, để giải quyết chiến trường như: Mậu Thân đợt 1 và 2 +n-ăm 1968, Bình Long (An Lộc), Quảng Trị (Cổ Thành) năm 1972, Tha La (Trảng Bàng) năm 1973 và Tân Phú Trung (Củ Chi) năm 1974, Phước Long năm 1975. Và Liên Đoàn đã  lập nên nhiều chiến thắng lẫy lừng, cho dù không thuộc sở trường tác chiến của Đơn vị.

Cũng có đôi lần, khi các Toán phát hiện các căn cứ địa, kho tàng, hậu trạm địch, có quân số đông cấp Đại Đội, Liên Đoàn có khả năng đưa các Biệt Đội vào thanh toán địch ngay tại địa điểm địch đóng quân hay chiến trường do Biệt Cách Nhảy Dù chọn lựa.

Đó là trường hợp Biệt Cách Nhảy Dù đã phục kích, tấn công Việt cọng tại thung lũng Ashau năm 1968, Đồng Xoài năm 1968 và Tam Biên năm 1971, sau khi các Toán Thám Sát phát hiện bọn chúng.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ngoài Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, còn có nhiều Toán Thám Sát của Lôi Hổ, Nha Kỹ Thuật, Sở Liên Lạc, Sở Công Tác, Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu v.v… cũng đảm nhận nhiệm vụ xâm nhập, hoạt động trong lòng địch như của Biệt Cách Nhảy Dù.

Tuy nhiên, các Toán Thám Sát nầy chỉ thu thập tin tức, ghi nhận “địch tình” rồi cung cấp lên các cấp Chỉ Huy mà họ tăng phái. Họ không có lực lượng, đơn vị có khả năng khai thác mục tiêu, tấn công địch. Biệt Cách Nhảy Dù thì hơn  hẳn, khi cần mở trận địa tiêu diệt địch có quân số lớn, Biệt Cách Nhảy Dù sử dụng ngay các Biệt Đội xung kích.

Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù sau khi nhảy vào An Lộc, sau gần ba tháng chiến đấu dũng cảm, góp công truy quét tiêu diệt giặc thù cọng sản, lấy lại các phần đất đã bị giặc lấn chiếm, thì được lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu, triệt thoái trở về Hậu cứ Liên Đoàn tại Ngã Tư An Sương, Hốc Môn, để bổ sung quân số, trang bị vũ khí đạn dược, nhằm tăng viện cho chiến trường Quảng Trị, ở địa đầu giới tuyến, vùng I chiến thuật.

Trong thời gian này, Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn đã được Đại Tướng Cao Văn Viên gọi đến trình diện tại Văn Phòng Tổng Tham Mưu Trưởng. Trong cuộc diện kiến, Đại Tướng đã hết lòng khen ngợi về ba hiệu năng và  sở trường chiến đấu của Liên Đoàn mà chưa có một Đơn vị, Binh chủng nào trong Quân Lực VNCH có được như:   – Thả Toán thâm nhập vào hậu tuyến của địch trong các mật khu bất khả xâm phạm K thuật và khả năng tác chiến, đột kích đêm Tham dự “trận địa chiến”cùng các đơn vị bạn trong các mặt trận lớn nóng bỏng và đầy cam go. Đại Tướng còn cho biết sẽ có kế hoạch nghiên cứu để gia tăng, bành trướng Liên Đoàn lớn hơn nữa.

(Nếu  kế hoạch này mà được Bộ Tổng Tham Mưu chấp thuận, Liên Đoàn dự trù trong tương lai sẽ có thêm khoảng 16 Biệt Đội, 04 Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật. Và song song với sự gia tăng và phát triển cấp số, thay đổi tính danh, thì các Ban cũng sẽ được nâng cao thành Phòng, riêng Khối Chiến Tranh Chính Trị vẫn giữ nguyên như cũ. Có thể Liên Đoàn sẽ được nâng lên cấp Lữ Đoàn, Chỉ Huy Trưởng sẽ là Tư Lệnh với cấp bậc Chuẩn Tướng.)

Trong chiều hướng phát triển nầy, trong khoảng giữa tháng 2 năm 1975,  Đại Tá Phan Văn Huấn đã bổ nhiệm tôi vào chức vụ Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị thay thế Thiếu Tá Phạm Châu Tài, vừa được đề cử nhiệm vụ mới là  Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Chiến Thuật.

Lý do thứ hai mà tôi được Đại Tá Chỉ Huy Trưởng chọn làm Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị, theo tôi nghĩ có thể phát xuất từ những Bài Thơ đề cao tinh thần chiến đấu uy dũng của các Chiến Sĩ Biệt Cách Dù, mà tôi đã gửi đăng  trên các báo của Quân Đội VNCH như: Tiền Phong, Chiến Sĩ Cộng Hòa, và một bài trên tờ Bích Báo của Biệt Đội 814, trong đó tôi đã đề cập về tâm sự của một Thương Binh Biệt Cách Dù, đã xả thân chiến đấu, để rồi bị trọng thương, phải nằm điều trị tại các Quân Y Viện, và trong suốt thời gian dài, Liên Đoàn miệt mài quân hành, nên không một ai trong đơn vị đến thăm viếng, ủi an, ủy lạo. Nỗi buồn cô đơn, sớm bị lãng quên, làm họ uất nghẹn và đau đớn tột cùng. Bài báo rất được anh em Binh Sĩ trong đơn vị hoan nghênh và Trung Tá Nguyễn Văn Lân, Chỉ Huy Phó Liên Đoàn lưu tâm…lưu ý..

Lý do thứ ba là ngay tại Doanh Trại Biệt Đội 814 tại Căn Cứ Hành Quân Suối Máu, hay bất cứ nơi đâu, tôi đều tổ chức các phương tiện ẩm thực, vui chơi cho Binh Sĩ trong Biệt Đội như Bún Bò, Phở, Hủ Tiếu, Bò Kho, các bàn “Bi-Da”, “Ping-Pong”, phòng đọc sách báo.v.v.. để anh em Binh Sĩ ăn uống, giải trí trong những ngày dưỡng quân. Họ có thể được “ghi sổ”, lãnh lương sẽ trả lại sau. Nhờ những phương tiện nầy, Binh Sĩ cảm thấy thoải mái, không còn buồn nản khi được nghỉ ngơi, không đi lang thang ra ngoài doanh trại, vừa tốn tiền, lại có thể gặp những việc không hay xảy ra trong thời buổi chiến tranh loạn lạc này.

Ngoài ra, tại vị trí đóng quân, tôi cho dựng Cổng Biệt Đội, thường xuyên cắt cử lính gát, làm hàng rào bao quanh, trồng hoa, cây cảnh trước mỗi dãy nhà của các Trung Đội   và cả trong khu vực Doanh Trại. Binh Sĩ những lúc rảnh  rỗi, có thể dạo chơi, ngồi hóng mát trò chuyện để vơi đi     nỗi nhớ về Cha Mẹ, Vợ con….

Nhờ vậy, mà Doanh Trại Biệt Đội 814 đã trở thành mẫu mực. Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn đã nhắc nhở các Biệt Đội khác nên làm theo. Trong một dịp Nhà Báo Minh Đức Hoài Trinh đến Căn Cứ Hành Quân để làm phóng sự, đích thân Đại Tá Phan Văn Huấn đã hướng dẫn Bà đến thăm Doanh Trại Biệt Đội 814 của tôi như là một lời ban thưởng.

Lý do thứ tư cũng có thể do từ một cuộc phỏng vấn của Báo Chí, Truyền Thanh, Truyền Hình, khi tôi được chọn là Chiến Sĩ Xuất Sắc về tham dự buổi tiếp tân tại Phủ Tổng Thống, đã được phổ biến rộng rãi khắp cả nước, tôi đã trả lời như sau:

“Suốt những tháng năm lăn lộn trên khắp các chiến trường, trận địa, trên ba vùng chiến thuật, sống chết như sợi chỉ treo mành, cũng chẳng làm tôi nao núng, nhụt chí. Bốn lần bị thương tích, 16 lần được tuyên dương công trạng, phải chăng đó là một ít công lao nhỏ nhoi, mà chính bản thân tôi đã đóng góp cho Tổ Quốc Việt Nam?. Biết bao Đồng Đội, Chiến Sĩ của tôi đã ngã gục, hy sinh để tôi được sinh tồn. Và cũng chính nhờ vào những xác thân, xương máu của họ đã tạo lập nên nhiều chiến công, mà hôm nay tôi mới được vinh hạnh trở thành một Chiến Sĩ Xuất Sắc của Liên Đn 81 Biệt Cách Dù để về đây tham dự Ngày Đại Lễ Quân Lực 19/ 6.

Hôm nay, đứng trước làn sóng của Đài Phát Thanh, Đài Truyền Hình, tôi xin kính cẩn cúi đầu tưởng niệm và bày tỏ lòng tri ơn sâu xa đến các Anh Hùng Tử Sĩ, các Thương Binh, các Chiến sĩ Biệt Cách Dù, đã chung vai sát cánh cùng tôi chiến đấu tiêu diệt giặc thù, bảo vệ Tổ Quốc, Đồng Bào cho đến hơi thở cuối cùng…Tôi xin muôn đời đội ơn !!!”

Sau khi đảm nhận chức vụ Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị của Liên Đoàn, tôi thực hiện ngay những điều tôi đã đề cập và ấp ủ bấy lâu: Thường xuyên thăm viếng, ủy lạo, tặng quà cho Thương Phế Binh tại các Quân Y Viện hay tại nhà riêng. Chăm sóc và giúp đỡ các Cô Nhi, Qủa Phụ trong đời sống, trong học hành. Củng cố và phát triển Trường Tiểu Học Biệt Cách Nhảy Dù. Can thiệp cho các em nhập học các Trường Văn Hóa Quân Đội và Quốc Gia Nghĩa Tử. Xin việc làm cho các cựu quân nhân tại Tổng Công Ty Thực Phẩm  và cùng Y Sĩ Đại Úy Nguyễn Thành Châu tổ chức gây Quỹ cứu trợ cho Thương Phế Binh của Liên Đoàn.

Cùng song hành với nhiệm vụ trên, để kịp thời bổ sung quân số cho đơn vị trước đà phát triển, theo lệnh của Đại Tá Chỉ Huy Trưởng, tôi đã đến các Trung Tâm Huấn Luyện Đồng Đế, Quang Trung, nơi các khóa Hạ Sĩ Quan và Tân Binh sắp mãn khóa để thuyết trình, tác động họ tình nguyện về phục vụ Liên Đoàn. Cứ sau mỗi lần chuyện trò cùng các khóa sinh chấm dứt, số xung phong gia nhập Biệt Cách Nhảy Dù vượt quá chỉ tiêu đã đề ra.

Sau khi tiếp nhận các Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ về đơn vi, Liên Đoàn tiếp tục huấn luyện họ về các khả năng tác chiến đặc biệt của một Chiến Sĩ Biệt Cách Nhảy Dù, ngoài ra Khối Chiến Tranh Chính Trị còn tổ chức các chương trình huấn luyện về chính trị, về thái độ, tác phong đối với dân chúng, không những chung quanh đơn vị đồn trú mà đặc biệt ở các nơi hành quân, hầu lôi kéo người dân về phía Quốc Gia, không để dân chúng bị Việt cọng lợi dụng, tuyên truyền, dụ dỗ, mua chuộc…

Từ giữa tháng 2 năm 1975, sau khi đảm nhận chức vụ mới, tôi say sưa với công việc, suốt ngày chăm chú tìm tòi, học hỏi, để công tác Chiến Tranh Chính Trị trở nên thực tế hơn, hữu ích hơn, và dễ đi vào đời sống từng người lính trong đơn vị, cũng như với dân chúng, ở những nơi mà  các Chiến sĩ  Biệt Cách Nhảy Dù phải tiếp xúc với họ.

&

  1. Tàn cơn Binh lửa.

Là một Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị, tôi có thì giờ và có nhu cầu theo dõi tình hình quân sự và chính trị nhiều hơn. Ngoài những hành động gây chiến giành dân lấn đất, bọn cọng sản đang thăm dò thái độ của Mỹ sau khi họ ký Hiệp Định Paris năm 1973.

Trước chủ trương “thay đổi màu da trên xác chết”, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa càng ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn về tình hình chiến đấu và tiếp liệu. Việc “một đổi một” không được thi hành vì theo lệnh của Ngũ Giác Đài, Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ cho VNCH. Tình hình chính trị kể từ đầu năm 1975 càng xáo trộn hơn, nhiều phong trào nảy sinh nhằm hạ uy tín của không những cá nhân Tổng Thống mà toàn bộ Chính Quyền Miền Nam. Đó là mục đích của Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, Ký Giả Đi Ăn Mày và Phong Trào Chống Tham Nhũng. Phong Trào nầy được tổ chức toàn cõi VNCH. Dĩ nhiên, tình hình xáo trộn nầy ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của Binh Sĩ VNCH, khiến họ phải suy nghĩ về việc làm của họ. Không lý họ chiến đấu cho một chính quyền tham nhũng, đang bóc lột người dân mà họ đang bảo vệ.

Quan trọng hơn nữa, viện trợ ảnh hưởng đến khả năng tác chiến của Binh Sĩ. Đạn dược, xăng nhớt thiếu, nên khả năng vận chuyển Binh Lính bị hạn chế. Tình trạng nầy ảnh hưởng trực tiếp đến các đơn vị Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, các Sư Đoàn Bộ Binh hơn là ở các lực lượng Tổng Trừ Bị, trong đó có Biệt Cách Nhảy Dù. Trong giai đoạn nầy, câu binh thư “Thực túc binh cường” ám ảnh trí óc tôi không ít. Binh Sĩ của Liên Đoàn còn đủ “thực túc”, nhưng gia đình họ gặp khó khăn không ít trong đời sống hằng ngày.

  1. Rút khỏi Căn Cứ Hành Quân, Biên Hòa.

Sau khi chiếm Phước Long ngày 6 tháng 1 năm 1975, quân cọng sản chiếm Ban Mê Thuột ngày 10 tháng 3 cùng năm đó. Rõ ràng, như trong bài trước đã trình bày, đánh Phước Long, là cọng sản thăm dò phản ứng của Mỹ. Thấy Mỹ bất động, lại còn cắt viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa, cọng sản thấy thời cơ đã tới, làm tới luôn, mở đầu chiến   dịch tổng tấn công miền Nam bằng trận đánh lớn kế tiếp: Ban Mê Thuột.

Mặc dù tình hình căng thẳng, ngày càng nặng nề, hoạt động của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn bình thường.  Theo lệnh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, Đại Tá Phan Văn Huấn đã cho rút Bộ Chỉ Huy nhẹ của Trung Tá Nguyễn Văn Lân, từ Tây Ninh về lại Căn cứ Hành Quân Biên Hòa, để lại Biệt Đội 813 do Trung Úy Lại Đình Hợi chỉ huy, tăng cường phòng thủ cho chiến trường Tây Ninh. Điều động    Bộ Chỉ Huy 3 Chiến Thuật, do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy, gồm ba Biệt Đội 811, 817 và 818 đến bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu.

Riêng tại Căn cứ Hành Quân Suối Máu Biên Hòa, Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn do Đại Tá Phan Văn Huấn chỉ huy và hai Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật 1 và 2, với quân số các Biệt Đội còn lại lên tới 2,000 Binh Sĩ, vẫn bố phòng ở mặt Bắc Phi Trường Biên Hòa, sẵn sàng chiến đấu. Các Toán Thám Sát vẫn được thả vào Chiến Khu D để do thám, thu nhặt tin tức các hoạt động của địch.

Trưa ngày 28 tháng 4, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III họp tất cả Đơn Vị Trưởng, Chỉ Huy Trưởng các đơn vị đang đồn trú ở địa phương. Trong buổi họp, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn thông báo tình hình quân sự tuyệt vọng ở Quân Khu III, và ra lệnh tất cả các   đơn vị rút về phòng tuyến mới, dọc theo Xa Lộ Đại Hàn,  Thủ Đức, để bảo vệ Thủ Đô Saigon. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù là đơn vị rút cuối cùng, có nhiệm vụ bảo vệ Cầu Biên Hòa, trên Quốc Lộ 1, gần ngã ba đường đi vào Núi Bửu Long, để toàn bộ Binh Sĩ rút qua khỏi cầu nầy được an toàn.

        Cũng trong ngày hôm ấy, Bộ Tổng Tham Mưu hầu như có kế hoạch cho Trực Thăng đến đón các cấp Chỉ Huy di tản khỏi Việt Nam. Nhưng đối với Đại Tá Huấn thì Ông đã từng tuyên bố khẳng định: “Tôi có vợ và tám con. Tôi có thể bỏ lại Gia Đình, nhưng không thể bỏ lại hai ngàn Chiến Sĩ của tôi để mà ra đi trong hoàn cảnh như thế nầy được.”.

      Và Đại Tá Huấn đã ở lại với Binh Sĩ của Ông, cho đến giây phút cuối cùng, khi có lệnh buông súng đầu hàng của tân Tổng Thống Dương Văn Minh, Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Ngay trong đêm 28 tháng 4, Đại Tá Phan Văn Huấn ra lệnh Biệt Đội 812 đến canh giử cầu Biên Hòa, để ngăn cản đường tiến quân của giặc cọng, không cho bọn chúng phá sập. Sáng sớm hôm sau, khi Liên Đoàn rời khỏi Căn cứ Hành quân Suối Máu, khi đoàn quân vừa rút qua khỏi Cầu, thì cũng vào lúc đó qua làn sóng Đài Phát Thanh Sài Gòn, đã nghe được lệnh của Tân Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu, người vừa lên thay thế cho Ông Trần Thiện Khiêm đã đào thoát sang Đài Loan, yêu cầu toàn thể người Mỹ phải cấp tốc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 24 giờ. Tin tức này đã gây hoang mang không ít đến tinh thần chiến đấu của Binh Sĩ.

Đoàn quân Biệt Cách Nhảy Dù, theo thứ tự được phân định từ từ di chuyển trên Quốc Lộ 1, hướng về Sài Gòn. Đến gần xế chiều, khi cánh quân vừa đến Tân Vạn, thì trời sập tối. Mặc dù, đang đứng trước tình hình bi đát, Đại Tá Phan Văn Huấn vẫn liên tục dùng máy truyền tin liên lạc nhiều nơi, từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, tới Bộ Tổng Tham Mưu,  cũng như các đơn vị bạn ở địa phương, nhưng hoàn toàn    im lặng vô tuyến, không một ai phản hồi. Như “rắn mất đầu”, Đại Tá Huấn ra lệnh cho Bộ Chỉ Huy và tất cả các Biệt Đội rút vào đóng quân qua đêm trong rừng Cù Mi, chờ lệnh thượng cấp. Nhưng suốt đêm lặng lẽ trôi qua, vẫn  chẳng có một tín hiệu liên lạc nào cả.

Sáng hôm sau, ngày 30 tháng 4. Đại Tướng Dương Văn Minh ra lệnh cho Quân Đội VNCH buông súng đầu hàng. Đại Tá Huấn liền cho đơn vị rời khỏi Rừng Cù Mi, băng rừng, vượt đồi, tiếp tục cặp theo Quốc Lộ 1, di hành theo hướng Nam đến Quân Lỵ Thủ Đức. Trên trục đường nầy, Liên Đoàn đã phát hiện, từ hướng Sài Gòn về Biên Hòa rất nhiều toán thanh niên chỉ mặc  áo lót, quần “xà lỏn”, tay cầm giấy tờ tùy thân, chạy chân đất hớt ha hớt hải. Chận một vài người lại hỏi mới biết họ là lính Bộ Binh và Địa Phương Quân, bị Việt cọng bắt tước vũ khí , cởi bỏ quân phục, mủ nón, giày vớ, mới thả cho về nhà. Sự kiện này có thể làm cho tinh thần binh        sĩ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù dao động!. Tuy nhiên, đây là một đơn vị Quân Đội thiện chiến và kỹ luật. Tất cả vẫn giữ nguyên đội ngũ, từ Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đến các Biệt Đội, bốn hàng  dọc  ngay hang  thẳng  lối chậm  rãi  bước đi. Từng đoàn xe Molotova, chở đầy bộ đội Việt cọng chạy song hành, chúng nhìn các Chiến Binh  81 Biệt Cách Nhảy Dù với những ánh mắt đầy kinh ngạc, sững sốt, lạ lùng.

Chiến Xa địch bị các Chiến Sĩ Biệt Cách Dù, bắn cháy ở Lăng Cha Cả trong ngày 30.4.1975
Chiến Xa địch bị các Chiến Sĩ Biệt Cách Dù, bắn cháy ở Lăng Cha Cả trong ngày 30.4.1975

Là một cấp chỉ huy gương mẫu, giữ kỹ luật nghiêm  minh, Đại Tá Phan Văn Huấn chấp hành lệnh của Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau khi đã  họp tất cả các cấp Chỉ huy Liên Đoàn, để cùng đi đến một quyết định chung.

Đoàn quân 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn hiên ngang tiếp bước trên Xa Lộ Đại Hàn. Đến gần trưa, khi qua khỏi Lăng Chú Hỏa chừng 100 mét, trong khi dừng lại nghỉ ngơi gần ngã tư Thủ Đức và Xa Lộ Đại Hàn, thì một đơn vị bộ đội Việt cọng đã đến gặp Đại Tá Phan Văn Huấn để nhận giao nạp vũ khí. Đại Tá Huấn đã nói với họ: “Chúng tôi đã ra đến nơi đây là chấp nhận đầu hàng. Chúng tôi sẽ bàn giao vũ khí, nhưng mong các Ông không bắt buộc chúng tôi phải ci bỏ Quân Phục như một số Quân Nhân các đơn vị bạn đang chạy qua đây…”.

Họ chấp nhận yêu cầu. Thế là từng Chiến Binh một tự tước bỏ vũ khí, đạn dược, nón sắt vào điểm chỉ định. Sau đó, họ ôm choàng nhau, siết chặt nhau, nhiều người đã bật khóc, để rồi lẳng lặng, ngậm ngùi, chia tay mỗi người mỗi ngả.

Trước một Đơn vị Quân Đội hơn một ngàn người, giữ kỷ luật, trật tự cho đến giây phút chót trong đời quân ngũ, quân cọng sản không thể không tỏ lòng kính trọng và nể phục. Một cấp chỉ huy của họ đến gặp Đại Tá Huấn, đề nghị để   họ cho xe đưa các Sĩ Quan của đơn vị về Saigon. Không muốn để cho các Sĩ Quan của mình đi thất thểu trên đường về nhà, trên một lộ trình quá xa và đầy rủi ro, Đại Tá đã đồng ý nhận lời.

Vài ba chiếc xe Molotova được điều đến, tất cả các Sĩ Quan cùng một số Binh Sĩ lên xe. Đến Làng Đại Học Thủ Đức, Đại Tá Huấn nghĩ lại, không thể để Sĩ Quan của mình vào Saigòn bằng xe Molotova của địch. Việc ấy có thể gây hiểu lầm và cũng không vẻ vang gì cho kẻ đầu hàng. Do đó, Ông yêu cầu dừng lại, các Sĩ Quan, Binh Sĩ rời khỏi xe,  cùng ôm chặt lấy nhau lần cuối, rồi tự động tản hàng, với  nỗi đớn đau ê chề bất tận.

Vậy là chấm dứt hai mươi năm quân ngũ, một đời chiến đấu vì Dân vì Nước của Ông Thầy tôi. Tôi không thể không nói đôi lời, tỏ bày lòng cảm mến của tôi đối với Ông Thầy:

Đại Tá Phan Văn Huấn, xuất thân Khóa 10 Võ Bị Đà Lạt, là một Sĩ Quan kỷ luật, tài ba, gặt hái nhiều chiến công trong cuộc đời 20 năm cầm súng chiến đấu. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đánh giặc giỏi, áp dụng nhiều chiến thuật thích ứng với chiến trường Việt Nam, bách chiến bách thắng, đến tới đâu đồng bào hoan hô, ngưỡng phục tới đó, cũng là nhờ ở Đại Tá. Không có Đại Tá Phan Văn Huấn, Biệt Cách Nhảy Dù không chắc đạt được các chiến thắng vang dội ấy trên khắp mọi chiến trường, ở Thành Phố cũng như trong các mật khu của địch.

Điều đáng nói hơn nữa là tấm lòng của Đại Tá đối với Anh em Binh Sĩ. Đại Tá quí trọng mạng sống của họ như của chính ông. Một đơn vị dù lớn hay nhỏ hành quân thất lạc trong rừng bao nhiêu ngày đêm, là bấy nhiêu đêm ngày Đại Tá trằn trọc không ngủ yên.

Đại Tá là một Sĩ Quan liêm khiết, trong sạch, tôn trọng quyền lợi của Binh Sĩ. Đại Tá quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của từng người lính, luôn luôn nghĩ đến họ, làm cách nào để họ có một đời sống vui tươi, nghỉ ngơi sau những ngày hành quân mệt nhọc mà vẫn văn ôn vũ luyện. Những ngày dưỡng quân là những ngày nghỉ ngơi nhưng cũng là những ngày tái huấn luyện cho thuần thục các khả năng tác chiến đặc biệt của người lính Biệt Cách Nhảy Dù.

Cái giá mà Đại Tá Phan Văn Huấn phải trả cho hai mươi năm chiến đấu cho Dân Tộc và Đất Nước là 13 năm tù cải tạo khổ sai ở Việt Bắc.

Đời sống Ông Thầy tôi và gia đình sau những năm tù trở về khá đạm bạc, nếu không nói là quá thiếu thốn, cơ cực bên cạnh một đàn con 8 đứa, bởi vì Ông không có gì để lại cho vợ con khi Ông bước chân vào vòng lao lý.

Hễ mỗi lần đến thăm Ông, nhìn tấm thân tiều tụy, đau đớn vì bị những vết thương chiến trận đang hành hạ, mà điển hình vào một dịp đến thăm, trong lúc trò chuyện thì cơn đau của Ông bộc phát dữ dội, thì chính tôi và Bác Sĩ Trắc, cựu Y Sĩ Liên Đoàn, đã cấp tốc nâng bồng Ông từ trong nhà ra xe hơi của Bác sĩ Trắc, để cùng đưa Ông đi cấp cứu ở Bệnh Viện Chợ Rẫy, lòng yêu kính Ông trong tim tôi như dâng trào. Tôi không khóc, nhưng có cái gì đó đã đè nặng trong thâm sâu đáy lòng, chỉ chực chờ là bộc phát.

Tôi cảm thấy hãnh diện vì Ông: Đại Tá Phan Văn Huấn, là cấp Chỉ Huy mà tôi đã được phục vụ, trong suốt quãng đời Binh Nghiệp, trong một đơn vị kiêu hùng, thiện chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đó là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù.

  1.    Tại Hậu Cứ An Sương.

Là một cấp chỉ huy tác chiến, đã từng đầu tên mũi đạn, sau khi bàn giao Biệt Đội để trở về hậu cứ trong trách vụ mới, với một thời gian còn quá ngắn, tôi khó mà quên được việc “điều binh khiển tướng” giữa các chiến trường phong  ba bảo táp thuở nào. Vì thế, đứng trước tình hình rối ren, quá ư bi dát đang diễn tiến từng giờ, từng ngày một của Đất Nước, tôi đã dành hết tâm sức, khả năng, kinh nghiệm để hợp sức cùng Thiếu Tá Trần Quang Huế, Chỉ Huy Hậu cứ lo tổ chức phòng thủ Doanh Trại, tung các Toán tiền đồn, lập các công sự tại Ngã tư An Sương chờ giặc đến, ngăn chận  và tiêu diệt chúng, không để cho chúng tiến công vào Sài Gòn một cách ngang nhiên.

Bên cạnh các vị trí phòng thủ đã có sẵn của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung ở Ngã ba Trung Chánh, dọc theo Quốc Lộ 1 và trên Xa Lộ vòng đai Đại Hàn, Biệt Cách Nhảy Dù đặt thêm các Tổ Đại Liên 60, M.72, Đại Bác và Súng Cối. Trong khi chúng tôi đang tổ chức phòng thủ, Binh Sĩ của Sư Đoàn 25, Binh Sĩ cũng như khóa sinh của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung rút chạy về đây thiếu trật tự, không cấp chỉ huy. Một số họ dừng lại đây, tự động cùng tổ chức phòng thủ bên cạnh chúng tôi. Lòng yêu nước và tự ái của người lính VNCH không cho họ rút về xa hơn nữa.

Ngày 29 tháng 4, sáu xe tăng T-54 Việt cọng từ hướng Củ Chi hàng một trên Quốc Lộ 1 tiến đến, nghênh ngang như chỗ không người. Khi đến gần Ngã tư An Sương, từ phòng tuyến của Hậu cứ Liên Đoàn, hai hỏa tiễn M.72 bay vụt tới, bắn đứt xích chiếc đi đầu, chiếc xe tăng bị quay nằm ngang. Quân cọng sản từ các xe tăng phía sau nhảy xuống  xe bố trí hai bên đường. Bọn chúng bắn ầm ĩ, loạn xạ, vừa trung liên, B.40, B.41 và AK.47 vào các công sự, các ổ kháng cự nằm trải dài hai bên đường, và vào cả Khu Gia Binh của Biệt Cách Dù, nằm ngay hai góc của ngã tư An Sương. Các Chiến Sĩ Biệt Cách Nhảy Dù và lực lượng bạn vẫn cố thủ, Đại Liên, M.79, không ngớt bắn vào đám địch quân đang cố tìm cách mở đường cho chiến xa của chúng tiến lên, xác địch rơi rớt trên Quốc Lộ 1 không phải là ít, các xạ thủ M.72 bắn cháy thêm một T.54 ngay Ngã tư đường Xa  lộ Đại Hàn và Quốc Lộ 1, những quả kế tiếp chẳng mang lại kết quả, nhưng dẫu sao cũng chận đứng được phần nào bước tiến quân của địch trên đường tiến vào Thủ Đô Sài Gòn.

Một số công sự chiến đấu bị đại bác xe tăng địch tác xạ tiêu hủy, nhiều xác chết của quân bạn bị văng ra nằm ngổn ngang bên vệ đường. Xe tăng của địch tiến lên, càn lên các công sự, Binh Sĩ bạn rút chạy hoảng loạn, địch càng lúc càng bắn phá dữ dội bất kể là nhà dân chúng. Hỏa lực đại bác trên các chiến xa của địch quá mạnh, và địch quân mỗi lúc mỗi đông, buộc lòng chúng tôi phải rời bỏ vị trí chiến đấu bên ngoài, để vào cố thủ trong Doanh Trại Liên Đoàn. Trong khi đó, một xe Jeep chở một vài Quân Nhân, từ trong Hậu cứ Liên Đoàn phóng ra, vừa quẹo trái hướng về Saigon, một xe tăng của địch quay nòng đại bác bắn theo, chiếc xe Jeep trúng đạn, bay tung lên, hai ba binh sĩ trên xe đều tử trận.

       Sáng hôm sau 30 tháng 4, xe tăng, bộ đội địch và du kích địa phương đã dốc toàn lực, đánh vào các ổ kháng cự còn lại trong và ngoài Hậu cứ Liên Đoàn. Trên Xa Lộ Đại Hàn, quân trang, quân dụng của tân binh quân dịch Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân tháo chạy đã bỏ lại đầy rẫy trên mặt đường. Đứng trước tình thế tồi tệ này, tôi dẫn số Binh Sĩ còn lại, phá rào đằng sau, rút về hướng Saigon. Vượt qua Cầu Tham Lương, đến Hãng Dệt Vinatexco, gặp một Tiểu Đoàn Nhảy Dù đang bố trí tại đây, tôi ra lệnh cho Binh Sĩ dừng lại, hợp tác phòng thủ cùng với họ. Nhưng không lâu sau đó, nghe lệnh Đại Tướng Dương Văn Minh kêu gọi, toàn thể Quân Nhân buông súng đầu hàng. Tất cả đều rụng rời, nhìn nhau trong nghẹn ngào, uất hận, xong tự động tan rã.

Trên đường về nơi tạm trú của một người bà con ở Quận Tư, Khánh Hội, nghĩ tới 9 năm đời Quân Ngũ, vào sinh ra tử bao nhiêu lần, chưa bao giờ tôi chùn bước, khuất phục trước quân thù. Vậy mà giờ nầy…   

  1.     Món nợ còn lại.

Ngày 30 tháng Tư, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn còn các Toán Thám Sát đang hoạt động trong Chiến Khu D. Tất cả các phương tiện liên lạc, truyền tin cũng như Trực Thăng đều không còn. Tuy nhiên, các Toán Thám Sát vẫn tiếp tục sứ mệnh của mình.

Lần hồi, lương thực hết, thời hạn hoạt động của các Toán cũng đã chấm dứt, lại thêm mọi sự liên lạc với Bộ Chỉ Huy đã bị cắt đứt, các Toán Thám Sát tự động triệt xuất khỏi mật   khu, theo phương cách mưu sinh thoát hiểm.

Ngày 5 tháng 5 năm 1975, hai Toán Thám Sát lần ra đến Ấp Thái Hưng, Xã Đại An, Quận Tân Uyên để tìm hiểu tình hình, họ được quần chúng cho biết Quân Đội Miền Nam đã buông súng đầu hàng, vậy là họ cùng ra đầu hàng. Nhưng bọn Việt cọng đã ra tay tàn sát hết tất cả rồi mang xác thả trôi sông.

Cho dù họ đã hy sinh, nhưng khí tiết, tinh thần chiến đấu bất khuất, kiêu hùng của họ,vẫn mãi sáng ngời trong Trang Sử  81 Biệt Cách Nhảy Dù.

1

Về sau này, vào năm 1995, Liên Đoàn đã đưa người về lại Ấp Thái Hưng, Xã Đại An để tìm cách di dời mộ phần các Tử Sĩ, nhưng không thực hiện được, trong dịp này,  qua trò chuyện tìm hiểu vói các cư dân nơi đây thì được   biết bọn giặc cọng đã bắn chết 12 người, một số đem thả   trôi trên sông Bé, số còn lại bọn chúng mang chôn trong  một cái giếng đã bỏ hoang lâu năm.

Ngày 7 và 8 tháng 5 năm 1975, Toán Thám Sát của Chuẩn Úy Phương, Biệt Đội 815 và Toán Thám Sát của Chuẩn Úy Nguyễn Minh (hiện đang định cư tại Dorchester. MA), rút ra khỏi Chiến Khu D, đã lần ra Ấp Thái Hưng, nhưng may mắn, hai Toán đã được dân chúng vào rừng làm nương rẫy, báo tin chính quyền VNCH không còn nữa,  Đại Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh buông súng đầu hàng, nên sau khi hai Toán đã giao nạp vũ khí, bọn Việt  cọng có lẽ sau khi tàn sát hai Toán Thám Sát trước, đã bị đồng bào địa phương bàn tán xôn xao, nên với hai      Toán này, bọn chúng chỉ bắt đưa vào trại tù gọi là “cải tạo”.

      Ngày 9 tháng 5 năm 1975, Toán Thám Sát cuối cùng của Chuẩn Úy Lê Xuân Hiền, Biệt Đội 812 (hiện đang định cư tại Annaheim, CA), rút ra khỏi Chiến Khu D, khi gần đến Ấp Thái Hưng, Toán này cũng nhờ qua thông tin của người dân trong vùng, nên thấu đáo tình hình, họ cải trang thường dân để bôn đào, nhưng bị bọn dân quân du kích tại đây phát hiện, bắt giải giao cho chính quyền Việt cọng, rốt cuộc Toán cũng bị bọn địch bắt đưa đi tù khổ sai ở trong Trại tù Bình Sơn, nơi rừng sâu  nước độc cùng với hai Toán Thám Sát trên.

Âu đó cũng là số phận chung của toàn thể Quân Cán Chính VNCH sau ngày mất nước.

&

 “ TÀN CƠN BINH LỬA ”. Sau khi quân thù giặc cọng đã cưỡng chiếm Miền Nam, vẫn còn những người Lính Biệt Cách Dù hoạt động trong lòng địch, họ chiến đấu cô đơn, âm thầm, để hoàn thành sứ mạng Thượng Cấp giao phó, dù Thượng Cấp đã không còn ai và cũng không ai còn để cho họ được nhắc lại lần cuối cùng câu tâm niệm: “ TỔ QUỐC – DANH DỰ – TRÁCH NHIỆM ”.

Không ít người đã hy sinh vào giờ thứ 25.

Đó là món nợ những người còn sống phải trả cho họ.

*

     Cho dù sau hơn 38 năm cuộc chiến đã trôi qua và cũng đang dần dần chìm vào quên lãng theo với dòng chảy của thời gian. Nhưng, đối với những Chiến Binh cầm súng chiến đấu để tiêu diệt quân thù, bảo vệ Tổ Quốc, những Chiến Sĩ Biệt Cách Dù đã vào sinh ra tử trên khắp các chiến trường, mật khu, căn cứ địa của địch, thì đó là một vết thương nặng, sẽ mãi mãi âm ỉ cháy bất tận trong đáy lòng họ. Bởi vì, có biết bao Đồng Đội, Chiến Hữu của họ đã hy sinh, đã trở thành phế binh, đang sống cuộc đời còn lại trong tận cùng đau thương, khốn cùng và tủi  nhục. Bởi vì, chính họ đã dâng hiến tuổi trẻ, xương máu, mạng sống, để bảo vệ  tiền đồ Tổ Quốc, nhưng cuối cùng, họ phải đành buông súng đầu hàng, trở thành kẻ chiến bại trước một bọn người vong bản, vô thần và vô nhân tính.

*

      Trong cuộc sống lưu vong nơi đất khách quê người, cứ mỗi lần tình cờ, coi lại những tấm ảnh cũ trong Đời Binh Nghiệp, với Bộ Áo Hoa Rừng ngụy trang, với Chiếc Nón Xanh huyền thoại, với bảng Phù Hiệu Con Đại Bàng khạc lửa, sải rộng cánh, bung móng vuốt tung hoành, tôi cảm thấy tự hào, hãnh diện vì mình đã từng được chiến đấu trong một đơn vi thiện chiến, hào hùng: “Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù”. Nhưng rồi, kèm theo đó, một niềm xúc cảm lạnh buốt, từ từ lan rộng khắp cùng trong cơ thể tôi, trước mắt tôi hình ảnh những vị Anh Hùng Tử Sĩ như: Lê Như Tú, Nguyễn Văn Tùng, Từ Bá Thọ, Hoàng Xuân Cường, Đặng Thiện Chẩn, Trần Phụng Tiển, Lương Hữu Yên, Lưu Huyên, Nguyễn Ích Đoan, Mã Thế Kiệt, Phan Ngọc Trường, Trịnh Văn Hùynh, Nguyễn Quang Khánh, Phạm Văn Cứ, Khưu Công Qúi, Nguyễn Phiêu, Nguyễn văn Thủy, Mai Xuân Hùng, Nguyễn Văn Dục, Nguyễn Kim Long, K.Tông, Đỗ Nguyên Sanh, Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Hữu Lộc, Phạm Viết Khải, Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Xuân Ánh, Trần Ngọc Bửu, Vũ Huy Cần, Trương Cự Chính, Nguyễn Văn Chuyên, Phạm Văn Chuyên, Trần Thanh Đồng, Nguyễn Văn Giỏng… ”, còn còn nữa, làm sao kể hết, cứ lần lượt hiện về. Họ nhìn tôi trong nỗi buồn cảm thông, nhưng không thiếu sự trách móc, khi tôi vẫn còn sống sót mà không bảo vệ được Tổ Quốc, mà không trả được món nợ máu mà quân thù đã mang đến cho họ: những đồng đội, chiến hữu của tôi.

                 …” Tôi cũng biết…

                       Dù các Anh đã chết …

                       Nhưng nỗi căm hờn còn mãi ở tâm linh,

                       Xin một mai khi Đất Mẹ thanh bình,

                       Tôi sẽ lấy máu quân thù tô vào nơi mộ chí.!!!

      Và…đó cũng chính là món nợ mà tôi, một Chiến Binh  81 Biệt Cách Nhảy Dù còn sống đang và sẽ phải tiếp tục trả cho họ.

Hy vọng đứa con đầu lòng, được viết bằng tất cả sự thật, từ thuở thiếu thời, đấu tranh và binh nghiệp, qua từng giai đoạn, từng trận chiến mà tôi đã trải qua, đã tham dự hay trực tiếp chỉ huy, sẽ được Đồng Đội, Chiến Hữu, Bạn Hữu đón nhận nồng nhiệt, thân tình và đầy vị tha.

                   “Là người lính Biệt Cách Dù,

                     Chưa bao giờ sợ mình cô đơn trong chiến đấu.

                     Nhưng tại sao bây giờ,

                     Lại sợ mình che dấu nỗi niềm riêng !

                     Sợ phải cưu mang bao nỗi muộn phiền !!!

                     Sợ phải sống trong triền miên khiếp sợ ????

***

Ngày tàn cuộc chiến
Ngày tàn cuộc chiến

Lê Đắc Lực – Tàn Cơn Binh Lửa