Hồi ký của Tướng Đỗ Mậu :  “Thiệu trầm tĩnh, khôn ngoan, lại có khả năng về tham mưu đã từng được Đại tướng De Linares, Tư lệnh chiến trường Bắc Việt phê điểm rất tốt : Thông minh, sắc bén, siêng năng, có phương pháp và tỉ mỉ, sĩ quan hảo hạng.  Có ý thức tuyệt hảo về tổ chức và bảo mật”. 

Thiệu và Đỗ Mậu tại Đập Đá

Năm 1948, ngày 5-6, thỏa ước Vịnh Hạ Long được ký kết giữa Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân và Cao ủy Pháp Bollaert dưới sự chứng kiến của Quốc trưởng Bảo Đại..

Tổng trấn Trung phần Phan Văn Giáo dùng trường Hạ sĩ quan Đập Đá của Pháp để mở khóa đào tạo sĩ quan cho quân đội Quốc gia Việt Nam Khóa huấn luyện đầu tiên được tính là Khóa 1 Võ Bị Quốc Gia, có 63 khóa sinh theo học nhưng chỉ có 53 khóa sinh tốt nghiệp.  Trong số này có Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Văn Chuân,…Nguyễn Hữu Có là thủ khoa.

*( Trước Thế chiến 2 Pháp không có trường đào tạo sĩ quan tại Việt Nam, chỉ có người Việt quốc tịch Pháp mới được theo học khóa Võ bị tại Pháp.  Sau khi nước Pháp bị Đức chiếm thì nhà cấm quền thực dân Pháp mới mở trường huấn luyện sĩ quan cho người Pháp và người Việt có quốc tịch Pháp tại Tong, Sơn Tây. Nhưng chỉ mở được 1 khóa đầu tiên thì bị Nhật đánh bật quân Pháp ra khỏi VN ).

Đặc biệt trong 2 khóa đào tạo sĩ quan tại Đập Đá có một sĩ quan huấn luyện viên người Việt là Thiếu úy Đỗ Mậu, ông nguyên là Trung sĩ của quân đội Pháp, được Phan Văn Giáo phong cho cấp Thiếu úy để làm sĩ quan huấn luyện.  Đến năm 1950 trường Võ Bị Quốc Gia được dời về Đà Lạt thì Thiếu úy Mậu phục vụ trong Việt Binh Đoàn tại Quảng Trị.  Sau này các tướng Thiệu, Có, Chuân, … vẫn xem Đỗ Mậu như người thầy dạy vỡ lòng trong binh nghiệp.

Thiệu và Đỗ Mậu tại Hưng Yên

Năm 1953, ngày 1-6, Tiểu khu Hưng Yên được bàn giao cho Quân Đội Việt Nam.  Chỉ huy trưởng là Trung tá Dương Quý Phan.  Trung úy Đỗ Mậu làm Tham mưu trưởng.  Trung úy Cao Văn Viên làm trưởng phòng 2, tức là phòng tình báo.  Trung úy Nguyễn Văn Thiệu làm trưởng phòng 3, tức là phòng hành quân .

Sau này cả ba ông trung úy đều lên tướng nhưng ông Mậu lên tướng được có 1 năm thì bị các ông tướng trẻ, trong đó có Nguyễn Văn Thiệu, Cao Văn Viên bắt buộc phải giải ngũ vì lý do cao tuổi.  *( Các tướng trẻ lấy lý do Đỗ Mậu là tướng xuất thân từ quân đội Liên Hiệp Pháp nhưng

sự thực lúc đó các tướng trẻ biết Đỗ Mậu là người làm việc cho CIA nên tìm cách loại đi ).

Sau này ông Mậu qua Mỹ viết hồi ký đả kích ông Thiệu, nhưng trong hồi ký của ông thì nhân vật Nguyễn Văn Thiệu lần đầu tiên xuất hiện là lần Trung úy Đỗ Mậu bị Thiếu tá Dương Quý Phan, chỉ huy trưởng Tiểu khu Hưng Yên hạ tầng công tác và đổi ra Liên đoàn lưu động Việt Nam số 3 vì nhiều lý do, trong đó có lý do “vô lễ với cấp chỉ huy”.

Trong bữa cơm cuối cùng trước khi Đỗ Mậu ra đi, tại nhà ăn của sĩ quan Tiểu khu, Trung úy Nguyễn Văn Thiệu mở một chai champagne trước mặt Thiếu tá Dương Quý Phan mời Đỗ Mậu và nói mấy lời tiễn biệt làm cho Đỗ Mậu rất cảm động.  Không biết trong lời chia tay của Thiệu có đá móc gì tới Dương Quý Phan hay không mà vừa nghe xong thì Dương Quý Phan nổi giận nạt Thiệu. Theo lời kể của Đỗ Mậu thì lúc đó cử chỉ của Thiệu vừa ưu ái vừa khí phách ( Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương tôi, 1993, trang 83 ).

Ngoài ra Đỗ Mậu cũng nhắc tới nhận xét của tướng lãnh Pháp về Thiệu :

“Thiệu trầm tĩnh, khôn ngoan, lại có khả năng về tham mưu đã từng được Đại tướng De Linares, Tư lệnh chiến trường Bắc Việt phê điểm rất tốt : “Thông minh, sắc bén, siêng năng, có phương pháp và tỉ mỉ, sĩ quan hảo hạng.  Có ý thức tuyệt hảo về tổ chức và bảo mật”

Tướng De Linares quả thật đã biết rõ về con người của Thiệu, nhưng ông không biết Thiệu mang rất nhiều tham vọng chính trị ngay từ thời Thiệu còn là thanh niên, thời Thiệu còn học trường Pellerin Huế và trường Lysceé Yersin Đà Lạt” ( Hồi ký “Việt Nam Máu Lửa, Quê Hương Tôi” của Đỗ Mậu, trang 618 ).

Thiệu và Đỗ Mậu trong cuộc đảo chánh 1963

Muốn lật đổ Ngô Đình Diệm thì trước tiên CIA phải khử ông thần giữ cửa của chế độ là Đại Tá Đỗ Mậu, Cục trường Cục An ninh quân đội.  Tháng 4 năm 1963 CIA tính cho bùng nổ một cuộc biến loạn tại Huế cho nên họ mời Đỗ Mậu sang Mỹ để tham quan các cơ sở tình báo của Mỹ. Nhưng thực ra là để giữ chân Đỗ Mậu tại Mỹ để cho các tướng VN yên tâm tổ chức đảo chánh.

Nhưng khi sang đến Mỹ thì CIA xa gần báo cho Độ Mậu biết là họ muốn lật đổ NĐD và nều cần thì họ sẽ thanh toán Đỗ Mậu trước.  Đỗ Mậu thuận trở đầu theo Mỹ chống NĐD, ông ta đã gặp và trao đổi với các ông trùm CIA, trong đó có tướng Lansdale là người đã từng kiến tạo nên chế độ Ngô Đình Diệm.  Khi được hỏi về khả năng tướng tá nào có thể làm đảo chánh thì Đỗ Mậu giới thiệu Nguyễn Văn Thiệu và nhóm bạn của Thiệu mà lâu nay Đỗ Mậu đang theo dõi, đó là các ông Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Khánh.

Sau khi Đỗ Mậu về nước thì ông ta bắt liên lạc với Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính và  Phạm Ngọc Thảo, Nguyễn Bá Liên …để tổ chức đảo chánh.  Trong khi đó một cận tướng của Lansdale là Trung tá Conein theo đại sứ Cabot Lodge đến Việt Nam để bắt liên lạc với các tướng Trần Thiện Khiêm, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Dương Văn Minh

*( Đỗ Mậu cả một đời cúc cung tận tụy với gia đình họ Ngô.  Nhưng cuối cùng ông bất mãn vì Tổng thống Diệm không cho ông lên tướng.  Theo hồi ký của Linh mục Cao Văn Luận thì Tổng thống phê trong hồ sơ xét lên tướng của Tướng Mậu : “Anh đội Mậu cho lên Đại tá là quá lắm rồi, cho lên tướng người ta cười cho”.  Anh đội tức là trung sĩ, không thể phong tướng vì không có học thức).

Năm 1963.  Đảo chánh thành công Đỗ Mậu và Nguyễn Văn Thiệu cùng được thăng thiếu tướng.  Ngày 8-12, gia đình Thiếu tướng Khiêm, gia đình Thiếu tướng Thiệu cùng với ông Tổng trưởng Ngoại giao Phạm Đăng Lâm đi Đại Hàn dự lễ nhậm chức Tổng thống Đại Hàn của ông Phác Chính Hi.  Đây là sắp đặt của các tướng Minh, Đôn, Kim, Xuân, Đính nhằm đẩy băng thân Mỹ ra khỏi trung tâm quyền lực của quân đội. Lúc Tướng Khiêm trở về thì không còn giữ chức Tham Mưu Trưởng bộ TTM.

Tướng Đỗ Mậu báo động cho Tướng Nguyễn Khánh đang ở Huế về âm mưu của nhóm tướng lãnh thân Pháp.  Khánh báo cho CIA :

“Khi Peer de Silva đến Sài Gòn tướng Khánh muốn gặp để thông báo tin tức ông có về vụ các tướng âm mưu trung lập hóa miền Nam nhưng Peer de Silva chần chừ chưa muốn gặp. Tướng Khánh bèn chuyển tin cho một người quen cũ là đại tá Jasper Wilson thuộc phái bộ MACV rằng chính phủ Pháp đang vận động trung lập miền Nam qua tướng Mai Hữu Xuân ( CIA and The Generals, bản lược dịch của Trần Bình Nam ).

Mỹ bật đèn xanh cho Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên làm một cuộc đảo chánh thứ hai, bắt giam 5 tướng Đôn, Kim, Xuân, Đính, Vỹ.  Tướng Nguyễn Khánh lên làm Thủ tướng, Trần Thện Khiêm là Bộ trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng tư lệnh Quân đội.  Đỗ Mậu làm Phó thủ tướng đặc trách văn hóa, Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tham mưu Tưởng bộ TTM kiêm thư ký Hội đồng Tướng lãnh.

Năm 1964, ngày 8-7, Cabot Lodge về Mỹ tham gia cuộc vận động tranh cử tổng thống cho ứng cử viên Barry Goldwater. Tổng thống Johnson bổ nhiệm đại tướng Maxwell Taylor thay thế.

Năm 1964, ngày 16-8,  Tướng Nguyễn Khánh họp Hội đồng Quân đội Cách mạng tại Vũng Tàu, cách chức Tướng Dương Văn Minh và bầu Trung tướng Nguyễn Khánh làm Chủ tịch nước.  Đồng thời công bố Hiến chương mới.

Năm 1964, ngày 13-9, Tài liệu của CIA: “Ngày 13/9 một nhóm sĩ quan Công giáo miền Nam và Đại Việt cùng Chuẩn tướng (Thiếu tướng?) Nguyễn Văn Thiệu chuyển quân về Sài gòn định đảo chánh tướng Khánh, nhưng bất thành do sự can thiệp của tướng Kỳ, Tư lệnh Không quân

Kết quả Đại tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Dương Văn Minh,  Trung Tướng Đỗ Cao Trí, bị buộc phải ra khỏi quân đội và ra nước ngoài.  Ngoài ra còn có Đại tá Phạm Ngọc Thảo cũng bị buộc phải ra nước ngoài.

Năm 1964, ngày 20-12, Hồi ký của cựu đại sứ Bùi Diễm :

“Ngày 20 tháng 12,1964, trong khi tướng Taylor về Hoa Thịnh Đốn, …nhóm tướng trẻ ra lệnh bắt hết các thành viên của Thượng hội đồng và một số chính khách dân sự khác mang lên giam lỏng ở Pleiku.

Từ Hoa kỳ trở lại Sài Gòn, Tướng Taylor vô cùng phẩn nộ.  Ông yêu cầu đựoc gặp lại nhóm tướng trẻ gồm hai tướng Thiệu, Kỳ và một số tướng khác để than phiền về hành động của họ. …  Ông không ngờ rằng những lời lẽ thiếu tế nhị của ông đã đụng chạm mạnh đến lòng tự ái của người Việt, và hôm đó khi ra về, các tướng lãnh Việt Nam quả thực đã hết sức bất bình về thái độ của ông” (trang 207).

*( Trong vụ bắt giam Thượng hội đồng, các tướng trẻ còn bắt giam một ông tướng khác, đó là ông Đỗ Mậu.  Sở dĩ các ông giam Đỗ Mậu chung với Thượng hội đồng bởi vì trong các cuộc họp Hội đồng quân lực ông Mậu chuyên môn hô hào phải nghe theo lệnh của Washington, bất cứ việc gì ông cũng nói “Washington muốn như thế này, Washington chỉ thị như thế kia…” làm cho các tướng trẻ ngán ngẩm hành vi bợ đỡ của ông ta.  Nhưng người đứng đầu các tướng trẻ lại là Tướng Nguyễn Văn Thiệu, người mà Đỗ Mậu coi như con gà của ông )

Sau khi Nguyễn Khánh ra đi thì các tướng lãnh thả các nhân vật Thượng hội đồng và tướng Đỗ Mậu nhưng buộc tướng Mậu phải về hưu.  Sau đó bầu người có cấp bực cao nhất là Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch Hội đồng Tướng lãnh.

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - LUẬN VỀ NGUYỄN VĂN THIỆU