Thú nhận của Henry Kissinger :

Rõ ràng hàng triệu bàn chân trốn chạy về vùng ông Thiệu kiểm soát tránh xa vùng đất CS chiếm đóng tức đã bầu cho ông ta rồi. Thói thường hay đổ tội chạy nạn chiến tranh là do việc dội bom của chúng ta nhưng sau này đã rõ một điều là chính do sự tàn ác của phía CS mà người dân bỏ chạy…”  ( Years of Upheaval. 1st ed. Boston: Little Brown, 1981).

Thiệu luôn luôn chủ động, trầm tỉnh và lịch sự

Năm 1968, một tuần sau trận Tết Mậu Thân, Tổng thống Thiệu xuất hiện trên đài truyền hình Mỹ qua chương trình “Face The Nation”.  Đại sứ Bunker ghi nhận :

“Ngoại trừ Bob Shaplan còn giữ được phong cách lịch sự, những người khác đều có thái độ hằn học khi chất vấn ông ta.  Với nghững câu hỏi đầy ác ý kèm theo các dẫn chứng thổi phồng, dường như để buộc tội hơn là để tìm biết sự thật, họ đã tỏ ra thiếu tinh thần tự trọng, đứng đắn, trong các mối tương quan giữa người và người chứ đừng nói gì, người mà họ đang chất vấn lại là một nguyên thủ quốc gia. 

Thế nhưng bằng những dẫn chứng xác đáng, bằng Anh ngữ, Thiệu đã trả lời trôi chảy mọi vấn đề.  Ông ta luôn luôn chủ động, trầm tỉnh và lịch sự ( Stephen Young, Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 190 ).

Ông Thiệu trầm tỉnh bởi vì ông ta nắm rõ tình hình và ông ta biết làm thế nào để đối phó với tình hình.  So với cuộc trả lời phỏng vấn trước đó của Tướng Westmoreland thì rõ ràng Tướng Thiệu bản lĩnh hơn.  Ông đã thuyết phục được giới báo chí bằng những lập luận có dẫn chứng và chứng minh.  Trong khi đó những câu trả lời của Westmoreland chỉ càng làm cho các phóng viên nghi ngờ thêm, cuối cùng thì họ kết luận rằng ông tướng nói láo.

Ngoài ra so với những công điện của Đại sứ Bunker trao đổi với Washington trong những ngày chiến cuộc mới nổ ra thì Bunker cũng không bình tỉnh và sáng suốt bằng Nguyễn Văn Thiệu.  Rõ ràng Tướng Thiệu bản lĩnh hơn cả Bunker, một nhân vật trầm tỉnh đến độ được báo chí quốc tế đặt cho biệt danh là “Ông già tủ lạnh”.

Năm 1968, ngày 8-2, Thượng nghị sĩ Robert Kennedy mở màn cuộc tranh cử chức tổng thống Mỹ với lời tuyên bố : “Đã đến lúc Hoa Kỳ phải đối diện với sự thật rằng một cuộc chiến thắng bằng quân sự chẳng bao giờ tìm thấy được và sẽ chẳng bao giờ xảy ra .  Cuối cùng ông kêu gọi thỏa thuận cho CSVN được tham gia chính quyền Miền Nam Việt Nam.  Đây là một đề nghị tưởng như là mưu tìm hòa bình nhưng thực chất là “phản bội Nam Việt Nam”.

Năm 1968, ngày 11-2, bình luận gia của đài truyền hình CBS Hoa Kỳ là Walter Cronkite đến Việt Nam để quan sát tình hình sau trận Mậu Thân.  Khi trở lại Hoa Kỳ ông  phát biểu trên đài truyền hình rằng “Hoa kỳ đã lún sâu vào chỗ không lối thoát”“Đó là hậu quả của một cuộc chiến bi thảm… Tôi sẽ làm mọi thứ có thể làm được để chấm dứt cuộc chiến”. ( 39 năm sau Cronkite trở lại Việt Nam và được Tướng Võ Nguyên Giáp cho biết là CSVN đã thua trắng tay trong trận Mậu Thân ).

Năm 1968, ngày 13-2, qua một cuộc điện đàm, Tướng Westmoreland yêu cầu Tướng Tổng tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ là Earle Wheeler tăng quân khẩn cấp cho chiến trường Nam Việt Nam.  Wheeler đến Sài Gòn để lượng giá yêu cầu tăng quân của Westmoreland, sau đó ông trở về Mỹ và tỏ ra bi quan :

“Wheeler cho rằng trong đợt tấn công đầu tiên, cộng quân gần như đã thành công trong việc chiếm giữ hằng chục thành phố, thị trấn, điều đó có nghĩa là, hy vọng một cuộc chiến thắng bằng quân sự của phe đồng minh còn trong mong manh, xa vời” (Stephen Young, Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 204 ). Tuy nhiên sau đó ông cũng chấp thuận đề nghị tăng 206.000 quân của Tướng Westmoreland.

* Chú giải : Con số 206 ngàn quân xin tăng thêm đủ chứng minh Westmoreland và Ngũ Giác Đài suy nghĩ gì vào thời đó.  Họ cho rằng CSVN chỉ mới tung ra một phần lực lượng cho cuộc chiến, trong khi đó theo ghi nhận từ trước tới nay của cơ quan tình báo chiến lược CIA cho thấy quân CSVN tại Miền Nam là 320.000. ( Đây là con số ảo do CSVN bịa ra ).

Theo CIA, những số liệu thu thập được tại chiến trường trong 25 ngày đánh nhau cho thấy CSVN mới tung ra 85 ngàn quân và họ bị bỏ xác tại chiến trường mới có 40.000 quân, vậy thì còn ít nhất 200 ngàn quân chưa được tung vào cuộc chiến, chưa kể trường hợp Hà Nội xua quân từ Miền Bắc tràn vào Nam (sic).

Trong khi đó sự thực CSVN đã tung hết quân mà họ có, và đã bị tiêu diệt 40 ngàn người; số còn lại đã bỏ ngũ trở về quê sinh sống, chỉ riêng tại Quân khu 9 (Miền Tây) con số bỏ ngũ là 12 ngàn ( Quân Khu 9, 30 Năm Kháng Chiến;  Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ).

Theo tài liệu báo cáo của Bộ Tổng tham mưu QLVNCH do Nha quân sử phổ biến thì trong tháng 2 năm 1968, nghĩa là sau 30 ngày nổ ra trận chiến, quân CSVN bỏ xác tại các chiến trường là 41.181 người;  bị bắt làm tù binh là 7.391 người.  Thống kê này không tính số xác được mang đi hoặc bị thương.  Và trong tháng 3 năm 1968 thì quân CSVN bỏ xác tại chỗ là 17.192; bị bắt làm tù binh 2.070 người.  Tổng cộng nội trong 2 tháng đã có 60.000 người chết và 9.400 người bị bắt

Trong khi đó cơ quan tình báo cao cấp nhất của quân đội VNCH là  Phòng 2 Bộ Tổng tham mưu QL/VNCH lại ghi nhận trước tết quân CSVN được ước tính khoảng 323.500 người (Tài liệu của Đại tá Hoàng Ngọc Lung, Trưởng phòng tình báo Bộ TTM/ VNCH.  Tài liệu này do Mỹ cung cấp ).

Như vậy theo như cơ quan tình báo cùa VNCH và HK thì sau tháng 2 năm 1968 quân CSVN còn 283.500 người.  Gồm 97 tiểu đoàn và 18 đại đội biệt lập.  Chia ra Vùng 1 chiến thuật 35 tiểu đoàn và 18 đại đội biệt lập.  Vùng 2 chiến thuật 28 tiểu đoàn.  Vùng 3 chiến thuật 15 tiểu đoàn. Và vùng 4 chiến thuật 19 tiểu đoàn ( Tài liệu của Trung tá Phạm Văn Sơn, Giám đốc Nha Quân sử/VNCH ).

Chính con số ước tính “dỏm” này đã khiến cho Tướng Westmoreland quyết định xin tăng thêm 206.000 quân.  Chuyện xin tăng quân làm cho ông mất uy tín đối với dân chúng Mỹ và cả với Tổng thống Mỹ.

Cũng theo tài liệu của Phòng 2 Bộ Tổng tham mưu QL/VNCH thì căn cứ vào lời khai của các tù binh tại các mặt trận người ta tính được tổng số quân CSVN tham dự trận Mậu Thân là 85.000.   Và 20 năm sau trong một cuộc hội thảo của các nhà quân sử CSVN tại Sài Gòn thì con số 85 ngàn quân là tất cả số quân hiện có vào thời đó của CSVN ( Không tính 1 sư đoàn chính quy Bắc Việt tại Tây Nguyên và 2 sư đoàn chính quy Bắc Việt tại Khe Sanh ).  So sánh con số ước tính 323.500 với con số thực tế 85.000 cho thấy cơ quan tình báo Hoa Kỳ và VNCH siêu đẳng tới mức nào.

Năm 1968, ngày 26-2, “Cơ quan tình báo CIA tại Hoa Thịnh Đốn đã đệ nạp chính phủ một bản  nghiên cứu tổng hợp nhằm tái lập chính sách tại Miền Nam Việt Nam từ A đến Z.  Bản báo cáo này đưa ra nhận định rằng chính quyền Miền Nam Việt Nam quá yếu kém, vì vậy trong tương lai không thể nào đủ khả năng để đương đầu với Cọng sản Hà Nội.

“Một bản phúc trình thứ ba, cũng tương tự như thế, CIA cho rằng, trong vài tháng sắp tới, tình hình nguy khốn sẽ xảy ra cả về phía quân đội lẫn chính quyền Miền Nam Việt Nam, vô phương cứu vãn” ( Stephen Young, Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 185 ).

Năm 1968, ngày 29-2, tân Bộ trưởng Quốc phòng Clark Cllipford thay thế cựu bộ trưởng MacNamara.  Ngày 1-3-1968, Clark Clifford nhận được một bản phúc trình của các chuyên gia quân sự tại Ngũ Giác Đài : “Phải thay đổi toàn bộ, nếu không thì không thể thực hiện (kịp) kế hoạch chấm dứt chiến tranh”. (  Tức là kế hoạch đầu hàng trong danh dự:  rút quân và điều đình chung tiền lấy lại tù binh ).

* Chú giải :  Theo hồi ký của MacNamara thì ông đã xin với Tổng thống Johnson được thôi chức từ đầu tháng 11 năm 1967 và Tổng thống đã chấp thuận.  Nhưng theo sách “Vietnam: A History” của Stanley Karnow thì tác giả quả quyết rằng Tổng thống Johnson yêu cầu MacNamara từ chức.

Nhưng sau này tài liệu mật của Tòa Bạch Ốc được giải mã cho thấy Tổng thống Johnson phát hiện McNamara đi đêm với Robert Kennedy, ngầm ủng hộ Kennedy tranh cử với Johnson trong nhiệm kỳ tới cho nên ông thông báo chia tay với McNamara, nhận được thông báo của Johnson, McNamara nộp đơn từ chức.

Tổng thống Johnson đề cử Clark Clipfford làm Bộ trưởng Quốc phòng vào ngày 19-1-1968, đến 30 tháng 1-1968 Quốc hội Hoa Kỳ mới chuẩn thuận đề nghị của Johnson.  Nhưng qua ngày hôm sau, trong cuộc tiếp tân chúc mừng tân Bộ trưởng, mọi người nghe đài phát thanh loan báo tin CSVN tấn công trên toàn lãnh thổ VNCH.  Vì vậy tin tức thay thế bộ trưởng Quốc phòng được hoãn loan báo cho công chúng.  Rồi do vì loan quá chậm mà dư luận cho rằng McNamara bị cách chức do vụ Mậu Thân.

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - LUẬN VỀ NGUYỄN VĂN THIỆU