Henry Kissinger nhận xét :

“Ông Thiệu luôn nhìn vào chuyện trước mắt là quan trọng nhất. Cái gần nhất với ông không phải là hòa bình sau cùng mà là địch quân trước mắt…”

“…Chúng ta biết rằng Băc Việt sẽ gia tăng sức ép, nhưng chúng ta đã không gia tăng lực lượng chống trả bởi vì Quốc hội (Mỹ) sẽ bắt buộc chúng ta bước ra khỏi cuộc chiến này vô điều kiện nếu chúng ta vượt quá giới hạn…” ( Years of Upheaval. 1st ed. Boston: Little Brown, 1981 )

Tổng thống Thiệu đã tiên đoán đúng

Năm 1968, cuối tháng 2. Tài liệu của Đại sứ Bunker do Stephen Young phổ biến :

“Thiệu ước tính, cộng quân sẽ không trở lại cuộc chiến du kích với những đơn vị lẻ tẻ tại nông thôn.  Ông ta nghĩ Hà Nội sẽ cố gắng tối đa để tung vào cuộc chiến nhằm buộc chính phủ Miền Nam Việt Nam lo bảo vệ tại các thành phố, trong khi đó, cộng quân tái thiết lập sự kiểm soát tại nông thôn để đưa vị trí của họ vào thế mạnh để đưa họ vào vị thế mạnh tại bàn thương thuyết.

“ Thiệu tiên liệu, Hà Nội sẽ ngồi vào bàn hội nghị vào cuối năm 1968 và đầu năm 1969.  Điều Thiệu tiên đoán đã xảy ra đúng” ( Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 199 ).

“Thiệu sau đó đã chỉ thị cho các đơn vị quân đội Miền Nam Việt Nam quay trở lại bảo vệ nông thôn” (trang 211).

* Chú giải :  Trong khi CIA và Ngũ Giác Đài hoảng hốt đến độ e rằng quân đội Hoa Kỳ sẽ phải tháo chạy trước khi kịp ngồi vào bàn thương thuyết với Hà Nội thì Tổng thống Việt Nam Cọng và ban tham mưu của ông thấy rõ rằng quân đội VNCH đang trên thế chủ động và CSVN không có gì đáng sợ như CIA và Westmoreland lo sợ.

Hơn thế nữa, Tổng thống Thiệu thấy trước thế mạnh và thế yếu của ta và địch trong bàn đàm phán sắp tới.  Vì vậy khi Westmoreland quyết định rút quân từ nông thôn về bảo vệ các đô thị là một quyết định trái ngược với yêu cầu của tình thế.

Rõ ràng là Tổng thống Thiệu có lý, thế nhưng nực cười là Washington chỉ nghe lời CIA;  và ngay cả Bunker ngồi tại Sài Gòn cũng không đếm xỉa gì đến Nguyễn Văn Thiệu hay các nhà lãnh đạo VNCH mặc dầu ông ta tận mắt chứng kiến những hành động đầy quyền biến của Nguyện Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ trong dịp tết Mậu Thân.

Nhận xét trên đây của Đại sứ Bunker đã cho thấy một sự so sánh chính xác về khả năng quân sự giữa Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Westmoreland, Tư lệnh quân đội Mỹ tại chiến trường Việt Nam.   Trong khi Westmoreland cuống cuồng co cụm quân đội Mỹ về thành phố và rút quân VNCH từ vùng rừng núi về bảo vệ xung quanh các thành phố ( Bảo vệ an toàn cho quân đội Mỹ ? ) thì Tổng thống Thiệu đã ra một lệnh ngược lại :  Chỉ thị cho quân VNCH trở lại bảo vệ nông thôn.

Tài liệu của CSVN sau này cho thấy Westmoreland phản ứng rất dở, chứng tỏ ông ta chỉ là một ông tướng văn phòng chỉ giỏi về tham mưu.  Quyết định gom quân VNCH về bảo vệ cho quân Mỹ là một quyết định không thể nào hiểu nổi đối với một nhà quân sự.

Trong khi tài liệu quân sử của phía CSVN cho thấy quân CSVN đã bị tiêu diệt hoàn toàn sau trận Mậu Thân.  Chính ông Võ Văn Kiệt thú nhận là quân CSVN bị chết đến 11 vạn, nghĩa là chết hết.  Vậy mà sau trận đó tướng Westmoreland lại xin tăng thêm quân Mỹ từ 319 ngàn lên 525 ngàn.  Chính việc xin tăng quân này đã khiến người Mỹ mất hết hồn vía.

Bắt quân VNCH phải tăng cường bảo vệ cho quân Mỹ

Cũng trong tài liệu của Bunker :

“Hoa Thịnh Đốn đòi hỏi Bunker phải áp lực tối đa để chính phủ Việt Nam phải nhận trọng trách nhiều hơn…. Bunker đáp lại, ông ta tin tưởng chính phủ Miền Nam Việt Nam có thể làm tất cả những gì mà họ thấy là cần thiết cho đất nước của họ.  Thế nhưng nếu chúng ta áp đặt thì chẳng bao giờ họ thực hiện những điều mà chúng ta muốn…”

“Từ đó nẩy sinh ra khuynh hướng chỉ trích, đả kích, cho rằng chính phủ Miền Nam Việt Nam đã không thi hành hết trách nhiệm của họ, một trách nhiệm mà ngay cả người Hoa Kỳ cũng không thể hoàn tất nổi”(trang 205).

Đây là một nhận xét cơ bản nhất và chính xác nhất về chính sách của Hoa Kỳ, không riêng đối với dân tộc Việt Nam, mà đối với bất cứ một dân tộc nào trên thế giới :  Một khi anh đã coi thường họ, không tin tưởng họ, và giành lấy công việc của họ;  thì cho dù họ biết rằng anh sai họ cũng vẫn làm sai cho anh trắng mắt ra, họ không dại gì tự sửa sai cho anh.

Không biết đến bao giờ các chính trị gia Hoa Kỳ mới nghiệm ra được bài học này trong công việc điều hành trật tự chung cho toàn thế giới.  Không riêng tại Việt Nam, mà ngay cả tại Anh, tại Pháp người Hoa Kỳ cũng vẫn mắc sai lầm tự cao tự đại khiến cho cuối cùng không có một dân tộc nào muốn hợp tác chân tình với Hoa Kỳ, họ chỉ hợp tác theo tinh thần con buôn.  Mà hễ là con buôn thì chỉ có lợi và hại, còn ân nghĩa chỉ là chuyện bịp.

Tổng thống Thiệu nói chuyện trước sinh viên

Năm 1968, giữa tháng 3, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu dự buổi lễ mãn khóa một lớp huấn luyện quân sự dành cho sinh viên tại vườn Tao Đàn, có 13 ngàn sinh viên tốt nghiệp.  Tài liệu của Bunker ghi lại :

“Trong buổi lễ hôm ấy Thiệu đã dành 15 phút để nói chuyện trước đám đông sinh viên.  Bài nói chuyện không soạn sẵn vì không dự tính sẽ có mục nói chuyện trong chương trình.  Thế nhưng chưa bao giờ Bunker thấy Thiệu nói chuyện hùng hồn và hấp dẫn như hôm ấy.  Đến đỗi Bunker không nghĩ người đang nói chuyện trước đám sinh viên kia là Thiệu.

Trong 15 phút, sinh viên đã vỗ tay hoan nghênh ông đến 9 lần, và khi chấm dứt, ba lần sinh viên đã đứng lên ngồi xuống liên tục hoan nghênh ông” (Stephen Young, Victory Lost, bản dịch của Nguyễn Vạn Hùng trang 211).

Năm 1968, giữa tháng 3, văn bản xin tăng thêm quân Hoa Kỳ của Tướng Westmoreland bị một nhân viên dân sự làm việc trong Bộ Quốc phòng tiết lộ cho tờ báo New York Time ( Sau này được xuất bản với tên “The Pentagon Papers” ).  Dư luận Hoa Kỳ nổi lên công kích Westmoreland dữ dội, cho rằng ông ta đã lừa bịp khi đứng trong khuôn viên tòa đại sứ tuyên bố rằng CSVN sẽ thất bại khi mở cuộc tổng công kích.

Vậy mà nay ông ta lại âm thầm xin tăng thêm 206 ngàn quân, vậy thì từ trước tới nay ông ta đã thiếu thành thật đối với dân chúng Hoa Kỳ.  Và văn bản này là một chứng minh cho thấy quân Hoa Kỳ sắp sửa đầu hàng tại Khe Sanh giống như quân Pháp đã đầu hàng tại Điện Biên Phủ.

Tin tức bay về Hà Nội, Lê Duẩn quyết định xua 2 sư đoàn Bắc Việt (16.000 quân) tấn công căn cứ Khe Sanh đang được 5.000 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ và 1.000 Biệt động quân VNCH trấn giữ. Washington rúng động, phóng viên báo chí quốc tế đổ xuống sân bay Huế để săn tin về một trận Điện Biên Phủ thứ hai.

Năm 1968, ngày 23-3, Tướng Westmoreland được thông báo chuẩn bị rời chức vụ Tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam để về Washington nhận nhiệm vụ Tham mưu trưởng Lục quân.

Năm 1968, ngày 31-3, Tổng thống Hoa Kỳ Johnson đọc diễn văn loan báo giảm ném bom Bắc Việt, kêu gọi hòa đàm;  và tuyên bố không ra tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ 2.  Nghĩa là Washington chấp nhận thua cuộc.

Tuyên bố của Johnson khiến cho cả thế giới thú vị, lần đầu tiên trong lịch sử quân Mỹ thua trận.  Hà Nội lừng lên đầy khí thế.  Nhưng không ai ngờ lúc đó người lãnh đạo CSVN tại Miền Nam là ông Võ Văn Kiệt đã nhiều lần bật khóc.…, quân của ông đã chết hết.  Vậy mà Lê Duẩn thúc giục ông xua quân tổng tấn công đợt 3, đợt 4 !  Ông điếng người báo cho Hà Nội hay rằng ông không còn quân.  Lê Duẩn hứa đưa quân Cọng sản Bắc Việt vào điền thế nhưng không làm.

Rốt cuộc bộ chỉ huy quân sự CSVN tại Miền Nam phải rút về Bắc để “chữa bệnh”.  Mãi tới tháng 10 năm 1971 Lê Duẩn mới cho quân Miền Bắc mon men vào điền thế để cho Mỹ tưởng rằng quân CSVN hiện diện dày đặc khắp mọi nơi.

BÙI ANH TRINH

Bùi Anh Trinh - LUẬN VỀ NGUYỄN VĂN THIỆU